Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Chỉ  Nguyệt  Lục

(Nam Tuyền Ngữ Lục)

 

Nguyên Tác Hán Văn
Việt Dịch: Tỳ Kheo Thích Duy Lực

 

Tŕ Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư (C.N. 747-834) quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Ḥe Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc. Ban sơ theo Pháp Tướng Tông, học giáo lư và giới luật, sư đi các nơi nghe giảng Kinh Pháp, như kinh Lăng Già, kinh Hoa Nghiêm v.v. rồi đi sâu vào Trung Quán Luận, Bách Môn Luận, sư thấu suốt diệu nghĩa của tất cả kinh luận. Sau cùng đến Thiền hội của Mă Tổ Đạo Nhất Thiền Sư tham vấn, bỗng nhiên được khai ngộ, đắc du hư tam muội. Sư làm hành đơn (chức làm trong pḥng ăn) nơi thiền hội Mă Tổ.

Một ngày kia, sư đang dọn cháo cho chư tăng, Mă Tổ hỏi:

- Trong thùng (đựng cháo) là cái ǵ?

Sư đáp:

- Ông già này, bịt miệng đi, nói lời thế này!

Mă Tổ bèn thôi.

Từ đó, các đồng tham chẳng ai dám cật vấn sư.

 

Năm mười một niên hiệu Trinh Nguyên nhà Đường (C.N. 795), sư làm trụ tŕ ở Tŕ Dương, ba mươi mấy năm chẳng xuống núi Nam Tuyền. Các ṭng lâm tôn ngài là một vị thiền sư nổi bật.

Dưới núi Nam Tuyền có một am chủ; có người nói với am chủ rằng:

- Gần đây có ḥa thượng Nam Tuyền ra đời, tại sao không đi để yết kiến.

Vị am chủ nói:

- Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dẫu cho ngàn Phật ra đời, tôi cũng không đi.

Sư nghe rồi, sai đệ tử là Triệu Châu đi khám xét.

Triệu Châu đi từ đông qua tây, từ tây qua đông, am chủ cũng chẳng màng.

Châu nói:

- Thảo tặc đại bại!,

Rồi buông rèm xuống đi về, kể lại với sư.

Sư nói:

- Xưa nay ta nghi ông này!

Ngày hôm sau, sư cùng sa di đem một b́nh trà với ba cái chén đến am, liệng xuống đất, rồi nói:

- Hôm qua đó, hôm qua đó.

Am chủ hỏi:

- Hôm qua đó là ǵ?

Sư đánh vào lưng vị sa di một cái và nói:

- Chớ gạt ta! Chớ gạt ta!

Và liền quay đầu trở về.

Sư thượng đường (thăng ṭa) rằng:

"Phật Nhiên Đăng đă nói rồi, nếu do tâm thức suy nghĩ sanh ra các Pháp, đều hư giả chẳng thật. Tại sao? V́ tâm c̣n chẳng có, làm sao sanh ra các Pháp, giống như lấy h́nh ảnh để phân biệt hư không, như lấy âm thanh để trong rương, cũng như thổi mạng lưới muốn cho đầy. Nên Lăo Túc (Mă Tổ) nói: "Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật" để dạy các anh em thực hành.

Căn cứ lời Phật, thập địa bồ tát trụ Thủ Lăng Nghiêm tam muội, đắc pháp tạng bí mật của chư Phật, đắc tất cả thiền định giải thoát, thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới phổ hiện sắc thân, thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, chuyển đại Pháp luân, nhập niết bàn, đem vô lượng nhập vào một lỗ chân lông, giảng một câu kinh trải qua vô lượng kiếp, nghĩa cũng chưa hết, giáo hóa vô lượng chúng sanh, đắc vô sanh pháp nhẫn, c̣n bị gọi là sở tri ngu, cực vị tế sở tri ngu, toàn trái với đạo, thực khó! thực khó! Trân trọng (cáo biệt)." (Nếu chấp theo những lời kể trên làm sở tri, th́ bị gọi là sở tri ngu)

 

Sư thượng đường rằng:

"Các ông, lăo tăng từ 18 tuổi đă biết cách làm kế sống, nay hễ có kẻ nào cũng biết cách làm kế sống th́ ra đây cùng nhau thương lượng. Phải là người trụ núi mới được." (Người trụ núi nghĩa là người sau khi ngộ). Lương cửu (cách một lát sau), sư nh́n khắp đại chúng, hiệp chưởng (chắp tay) nói: "Trân trọng, vô sự hăy mỗi mỗi tự tu hành đi." Đại chúng đứng yên chẳng giải tán.

Sư nói:

- Thánh quả rất đáng sợ, người siêu việt số lượng c̣n chẳng nại hà (giống như không có cách nào đối phó), ta lại chẳng phải nó, nó lại chẳng phải ta - nó làm sao nại hà ta - những nhà kinh luận nói pháp thân là cùng tột, gọi là lư tận tam muội, nghĩa tận tam muội. Như lăo tăng, khi xưa bị người dạy cách phản bổn hoàn nguyên, hiểu theo như thế là việc tai họa.

Các anh em, gần đây thiền sư quá nhiều, muốn t́m một người ngu độn chẳng thể được. Chẳng phải hoàn toàn không có, nhưng mà rất ít, nếu có th́ ra đây cùng ta thương lượng. Như thời không kiếp, có người tu hành hay không? Có hay không? Sao chẳng ai đáp? Các ông b́nh thường lưỡi như dao bén (biện luận rất hay), nay ta hỏi đều không mở miệng, tại sao không ra đây nói?

Các anh em, chẳng kể việc lúc Phật ra đời. Mọi người hiện nay cứ gánh Phật trên vai mà đi, nghe lăo tăng nói: "Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo" bèn tụ nhau suy đoán. Lăo tăng chẳng có chỗ để các ông suy đoán, nếu các ông rút hư không làm cây gậy, đánh được lăo tăng, th́ mặc kệ các ông suy đoán.

 

Lúc ấy có tăng hỏi:

- Từ xưa chư tổ cho đến Giang Tây Mă Tổ đều nói: "Tức tâm là Phật, b́nh thường tâm là Đạo." Nay ḥa thượng nói Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo, khiến học nhơn rất sanh nghi hoặc, xin ḥa thượng từ bi chỉ dạy.

Sư lớn tiếng đáp rằng:

- Ông nếu là Phật, th́ c̣n ǵ để nghi Phật như thế. Lăo tăng chẳng phải Phật, cũng chẳng gặp Tổ Sư, ông nói như thế hăy tự t́m Tổ Sư đi.

Tăng nói:

- Ḥa thượng dạy thế này, bảo học nhơn làm sao hội tŕ được,

Sư nói:

- Ông mau dùng tay nâng hư không đi.

Tăng nói:

- Hư không chẳng tướng động làm sao nâng?

Sư nói:

- Ông nói chẳng tướng động đă là động rồi, hư không làm sao biết nói chẳng tướng động, đây đều là kiến giải, t́nh chấp của ông thôi.

Tăng nói:

- Hư không chẳng tướng động c̣n là t́nh chấp, vậy hồi năy bảo con nâng vật ǵ?

Sư nói:

- Ông đă biết chẳng nên nói nâng, c̣n tính ở đâu hộ tŕ nó?

Tăng hỏi:

- Tức Tâm là Phật, Tâm ấy làm Phật được chăng?

Sư đáp:

- Tức Tâm là Phật, Tâm ấy là Phật thuộc về t́nh chấp, đều do suy tưởng mà thành. Phật là trí nhơn, tâm là chủ chiêu tập nghiệp. Lúc đối vật mới có diệu dụng, Đại đức chớ nhận tâm nhận Phật. Nếu nhận được là cảnh, bị gọi là sở tri ngu. Nên Giang Tây Mă Tổ nói, chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, để dạy người đời sau thực hành. Hiện nay kẻ học đạo đắp y đi khắp nơi, nghi việc không đáng kể như thế này c̣n được chăng?

Tăng nói:

- Đă chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, nay ḥa thượng c̣n nói Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo, thật chưa rơ là thế nào?

Sư nói:

- Ông chẳng nhận tâm là Phật, Trí là Đạo, lăo Tăng th́ chẳng đắc tâm, vậy c̣n dính mắc chỗ nào?

Tăng nói:

- Thảy đều không được, đâu khác ǵ thái hư.

Sư nói:

- Đă chẳng phải vật, so thái hư cái ǵ? Lại bảo khác hay chẳng khác.

Tăng nói:

- Chẳng lẽ cũng không có "chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật chẳng phải Vật" luôn chăng?

Sư nói:

- Ông nếu nhận cái này th́ lại thành Tâm thành Phật rồi!

Tăng nói:

- Xin Ḥa thượng giải thích.

Sư nói:

- Lăo tăng tự chẳng biết.

Tăng nói:

- Tại sao chẳng biết?

Sư nói:

- Bảo ta nói ǵ?

Tăng nói:

- Chẳng lẽ không cho học nhân hội đạo?

Sư nói:

- Hội đạo nào? Làm sao mà hội?Tăng nói:

- Con không biết!

Sư nói:

- Không biết th́ tốt. Nếu chấp lấy lời lăo tăng th́ gọi là người y thông (y là dựa theo). Nếu gặp Di Lặc ra đời, th́ sẽ bị ngài nắm tóc.

Tăng nói:

- Làm sao dậy kẻ hậu học đời sau?

Sư nói:

- Ông hăy tự khán, chớ lo người đời sau!

 

Tăng nói:

- Hồi năy không cho con hội đạo, nay lại bảo con tự khán, thực con chưa rơ.

Sư nói:

- Âm thầm hội, diệu hội. Cho ông hội thế này.

Tăng nói:

- Thế nào là diệu hội?

Sư nói:

- C̣n muốn học lời lăo tăng! Dẫu nói được, cũng là lời của lăo tăng, ông c̣n muốn làm sao?

Tăng nói:

- Con nếu tự hội được th́ chẳng phiền ḥa thượng. Nay con xin ḥa thượng dậy bảo.

Sư nói:

- Chẳng lẽ chỉ đông chỉ tây để gạt người. Lúc ông c̣n mới bập bẹ sao không đến hỏi lăo tăng, nay lại làm tài khôn nói ta chẳng hội, mong muốn cái ǵ? Ông ló đầu ra nói ta xuất gia làm thiền sư, vậy lúc chưa xuất gia đă từng làm cái ǵ? Hăy thử nói xem, ta sẽ cùng ngươi thương lượng.

Tăng nói:

- Lúc bấy giờ con không biết.

Sư nói:

- Đă không biết th́ nay nhận được này nọ là phải chăng?

Tăng nói:

- Nhận được đă chẳng phải, chẳng nhận phải chăng?

Sư nói:

- Nhận với chẳng nhận là lời nói ǵ?

Tăng nói:

- Đến chỗ này con càng chẳng hội được.

Sư nói:

- Ông nếu chẳng hội ta c̣n chẳng hội hơn.

Tăng nói:

- Con là học nhân nên chẳng hội, c̣n ḥa thượng là thiện tri thức th́ phải hội.

Sư nói:

- Ông này! Đă nói với ông chẳng hội th́ c̣n ai mà luận thiện tri thức. Chớ làm tài khôn! Xem khi Mă Tổ c̣n tại thế, có một học sĩ hỏi "Như nước không gân xương, nâng ghe muôn ngàn tấn. Lư này là thế nào? Mă Tổ nói: Ở đây chẳng nước cũng chẳng ghe, luận ǵ gân xương." Học sĩ liền thôi. Như thế phải ít phí sức không? Cho nên ta thường nói: "Phật chẳng hội đạo, ta tự tu hành, vậy cần biết làm ǵ?

Tăng nói:

- Thế th́ làm sao tu hành?

Sư nói:

- Không thể suy lường được.

Nói với ngươi tu như vậy, hành như vậy, thực khó.

Tăng nói:

- Vậy c̣n cho học nhân tu hành hay không?

Sư nói:

- Lăo tăng chẳng thể chướng ngại ngươi.

Tăng nói:

- Con làm sao tu hành?

Sư nói:

- Muốn hành th́ hành, cứ t́m hỏi người khác.

Tăng nói:

- Nếu chẳng nhờ thiện tri thức chỉ thị, làm sao hội được. Như ḥa thượng thường nói tu hành cần phải hiểu mới được. Nếu không hiểu th́ e lọt vào nhân quả, chẳng có phần tự do. Chưa rơ tu hành thế nào mới khỏi lọt vào nhân quả.

Sư nói:

- Chẳng cần thương lượng. Nếu nói đi tu hành, chỗ nào không đi được.

Tăng nói:

- Làm sao đi được?

Sư nói:

- Chẳng lẽ tùy người mà t́m được.

Tăng nói:

- Ḥa thượng chưa nói, bảo con làm sao t́m?

Sư nói:

- Dẫu cho nói, đi chỗ nào t́m? Như ông từ sáng tới chiều đi đông đi tây, thương lượng với ai? Được hay không được. Người khác làm sao mà biết.

Tăng nói:

- Lúc đi đông đi tây đều không suy nghĩ, phải chăng?

Sư nói:

- Lúc ấy ai nói phải với chẳng phải.|

Tăng nói:

- Ḥa thượng thường nói "Ta ở tất cả nơi mà vô sở hành, tất cả nơi câu thúc ta chẳng được, gọi là biến hành tam muội, phổ hiện sắc thân", tức là lư này chăng?

Sư nói:

- Nếu kẻ tu hành chỗ nào chẳng đi được, chẳng nói câu với bất câu, cũng chẳng nói tam muội.

Tăng nói:

- Vậy khác ǵ có pháp để đắc bồ đề đạo?

Sư nói:

- Chẳng kể khác hay chẳng khác.

 

Tăng nói:

- Cái thuyết tu hành của ḥa thượng siêu việt và khác với đại thừa, chưa rơ thế nào?

Sư nói:

- Chẳng quản khác hay chẳng khác. Ta chưa từng học. Nếu muốn xem giáo th́ có tọa chủ, kinh luận. Các nhà giáo môn thật rất đáng sợ. Ông hăy đi nghe tốt hơn.

Tăng nói:

- Rốt cục khiến học nhân làm sao mà hội.

Sư nói:

- Theo sự hỏi của ông vốn chỉ ở bên nhân duyên, thấy ông c̣n chẳng nại hà. Duyên là nhận được vật trên sáu cửa. Ông hăy hội bên Phật rồi đến thương lượng với ta. Chớ truy t́m thế này, chẳng phải thế này, chớ lấy lời cổ nhân hành hạnh bồ tát. Duy có một người hành thiền, ma Ba Tuần lănh các quyến thuộc thường theo dơi sau lưng bồ tát, t́m chỗ tâm hành khởi lên liền chấp ngă. Nhưng trải qua vô lượng kiếp t́m chỗ một niệm khởi cũng chẳng thể được, mới cùng quyến thuộc l tạ, tán thán cúng dường, ấy c̣n là cấp bậc tiến tu, người trung hạ căn lại chẳng nại hà, huống là chỗ tuyệt công dụng, như Văn Thù, Phổ Hiền th́ khỏi cần nói. Thế nào là đạo hành của ông? Là có hay không? T́m người hành một ngày cũng chẳng thể được. Hiện nay cứ từ đầu năm đến cuối năm đi khắp nơi chỉ là t́m cứu cánh làm cái ǵ? chỉ là đầu môi chót lưỡi sinh ra kiến giải.

Tăng nói:

- Lúc bấy giờ chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh, khiến con làm sao suy nghĩ thực hành.

Sư nói:

- Ông nói chẳng tên Phật chẳng tên chúng sanh đă là suy nghĩ rồi, cũng là nhớ lời người khác.

Tăng nói:

- Nếu như thế tất cả đều thuộc về việc lúc Phật ra đời, chẳng thể không nói.

Sư nói:

- Ông làm sao nói?

Tăng nói:

- Giả sử nói, nói cũng không tới.

Sư nói:

- Nếu nói là nói không tới, là lời tới. Ông uổng công truy t́m, ai làm cảnh cho ông t́m.

Tăng nói:

- Đă không v́ làm cảnh, ai là người bên kia?

Sư nói:

- Nếu ông không dẫn chứng giáo lư th́ nơi nào để luận Phật. Đă chẳng luận Phật, lăo tăng luận với ai mà nói bên đây bên kia.

Tăng nói:

- Quả dù chẳng trụ đạo, nhưng đạo hay làm nhân, là nghĩa thế nào?

Sư nói:

- Ấy là lời cổ nhân. Hiện nay không thể không tŕ giới. Ta chẳng phải nó, nó chẳng phải ta. Cứ làm theo như con trâu con chồn! Hễ nổi lên một niệm thấy khác th́ khó mà tu hành.

Tăng nói:

- Một niệm thấy khác th́ khó mà tu hành là thế nào?

Sư nói:

- Mới một niệm thấy khác liền có hai gốc tốt xấu. Chẳng phải t́nh kiến đuổi theo nhân quả họ, lại c̣n có phần tự do ǵ?

 

Tăng nói:

- Thường nghe ḥa thượng dậy Báo thân Hóa thân đă chẳng phải Phật thật, vậy Pháp thân là Phật thật chăng?

Sư nói:

- Đă là Ứng thân rồi!

Tăng nói:

- Nếu như thế này th́ Pháp thân cũng chẳng phải Phật thật.

Sư nói:

- Pháp thân là thật hay chẳng thật, lăo tăng không lưỡi, không nói được, ông bảo ta nói là được th́ được.

Tăng nói:

- Ngoài ĺa tam thân, pháp nào là Phật thật.

Sư nói:

- Ông này! Cùng ông già tám chín chục tuổi chửi lộn, nói với ông rồi đó, c̣n hỏi ǵ ĺa, chẳng ĺa, bộ muốn đem đinh đóng hư không hay sao?

 

Tăng nói:

- Theo kinh Hoa Nghiêm là Pháp thân Phật thuyết, là thế nào?

Sư nói:

- Ông vừa nói lời ǵ?

Tăng nhắc lại.

Sư nh́n qua nh́n lại rồi than:

- Nếu là Pháp thân thuyết, ông hướng vào chỗ nào để nghe?

Tăng nói:

- Con chẳng hội.

Sư nói:

- Thực khó, thực khó. Ông xem Tọa chủ Lượng là người Tứ Xuyên biết giảng ba mươi hai bộ kinh luận, lúc đang giảng ở tỉnh Giang Tây, có dịp đến tham vấn Mă Tổ trong Khai Nguyên Tự. Mă Tổ hỏi: "Nghe nói Tọa chủ hay giảng kinh, phải chăng?" Tọa chủ nói: "Không dám". Mă Tổ nói: "Đem cái ǵ để giảng?" Tọa chủ nói: "Đem tâm để giảng". Mă Tổ nói: "Tâm như người múa rối, ư như người ḥa nhạc, làm sao giảng được?" Tọa chủ nói: "Vậy có lẽ hư không giảng được chăng?" Mă Tổ nói: "Đúng là hư không giảng được". Tọa chủ quay lưng đi liền. Mă Tổ lớn tiếng gọi: "Tọa chủ!" Tọa chủ quay đầu lại. Mă Tổ lớn tiếng: "Là cái ǵ?", tọa chủ liền khai ngộ. Ông xem thử, mau không?

Tăng nói:

- Căn cứ lời ḥa thượng tức là Pháp thân thuyết pháp.

Sư nói:

- Nếu hội như thế đă là Ứng thân rồi.

Tăng nói:

- Đă là Ứng thân há chẳng có người thuyết pháp?

Sư nói:

- Ta không biết.

Tăng nói:

- Con không hội.

Sư nói:

- Không hội th́ tốt, khỏi cùng nó phân giải nữa.

Tăng hỏi:

- Trong kinh nói chỗ Pháp thân Đại Sĩ hội ngộ tức thấy Pháp thân Phật. Địa vị bồ tát tức thấy Báo thân Phật. Nhị thừa chỉ thấy Hóa thân Phật là lư này chăng?

Sư nói:

- Mắt ta chưa từng xem kinh giáo, lỗ tai cũng chưa từng nghe. Ông tự xem lấy. Nếu ghi nhớ như thế th́ sau này mới chẳng nại hà. Giống như người chơi hạt châu, nói ánh sáng hạt châu chiếu cùng khắp, có đĩa vàng th́ phản chiếu được, bỗng bị lấy mất đĩa vàng th́ chỗ nào chơi châu, chỗ nào t́m ánh sáng khắp với chẳng khắp.

Tăng lễ bái.

Sư cười rằng:

- Thực khó, thực khó. Cổ nhân mắng ông là hạng thợ săn ngư phủ, cũng là người đem phẩn vào. Trân trọng.

Triệu Châu hỏi:

- Đạo chẳng phải ngoài vật. Ngoài vật chẳng phải đạo. Thế nào là đạo ngoài vật? Sư liền đánh. Triệu Châu nắm lấy gậy rằng:

- Về sau chớ đánh lầm người.

Sư nói:

- Rồng rắn dễ phân biệt. Nạp tử (tu sĩ) khó lừa gạt.

 

B́nh:

Tuyết Đậu Hiển thiền sư nói:

"Triệu Châu như rồng không sừng, như rắn có chân. Lúc ấy không kể "tận pháp vô dân", cần phải cho ăn gậy rồi đuổi ra".

 

* * *

 

Lúc đang thưởng trăng, Tăng hỏi:

- Bao giờ được giống như cái này?

Sư nói:

- Vương lăo sư hai mươi năm trước cũng như thế này.

Tăng nói:

- Vậy hiện nay th́ làm sao?

Sư bèn về phương trượng.

* * *

 

Một hôm sư hỏi Huỳnh Bá:

- Vàng ṛng làm thế giới. Bạc trắng làm vách tường. Đấy là chỗ người ǵ ở?

Bá nói:

- Là chỗ thánh nhân ở.

Sư nói:

- C̣n có một người ở quốc độ nào? Bá khoanh tay đứng yên.

Sư nói:

- Nói chẳng được sao không hỏi Vương lăo sư?

Bá hỏi lại:

- C̣n có một người ở quốc độ nào?

Sư nói:

- Đáng tiếc thay!

* * *

Sư hỏi Huỳnh Bá:

- Định huệ đẳng học, minh kiến Phật tánh, lư này thế nào?

Bá nói:

- Trong mười hai thời chẳng y dựa một vật.

Sư nói:

- Ấy là chỗ thấy của Trưởng lăo chăng?

Hoàng Bá nói:

- Không dám.

Sư nói:

- Tiền nước tương tạm gác một bên. Tiền dép cỏ bảo ai trả?

 

B́nh:

Diệu Hỷ Đại Huệ thiền sư nói:

- Không thấy lời rằng "Lộ phùng Kiếm Khách tu tŕnh Kiếm, Bất thị thi nhân mạc hiến thi".

* * *

 

Sư tham vấn Bá Trượng Niết Bàn ḥa thượng.

Trượng hỏi:

- Từ xưa chư thánh c̣n có pháp nào chẳng v́ người mà thuyết chăng?

Sư nói:

- Có.

Trượng nói:

- Thế nào là Pháp chẳng v́ người mà thuyết?

Sư nói:

- Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật chẳng phải Vật.

Trượng nói:

- Đă thuyết rồi đó.

Sư nói:

- Con chỉ biết như thế. Ḥa thượng làm thế nào?

Trượng nói:

- Ta chẳng phải Đại thiện tri thức, đâu biết thuyết hay chẳng thuyết.

Sư nói:

- Con chẳng hội.

Trượng nói:

- Ta đă quá sức v́ ngươi mà nói rồi vậy.

B́nh:

 

Tuyết Đậu Hiển thiền sư tụng rằng:

 

Phật Tổ từ xưa chẳng v́ người.

Nạp tăng xưa nay đua nhau chạy.

Trên đài gương sáng tượng khác biệt

Mỗi mỗi hướng Nam nh́n Bắc Đẩu

Chuôi Bắc Đẩu Không chỗ thảo (thảo nghĩa là t́m lấy)

Bắt được lỗ mũi lại mất khẩu

* * *

 

Sư và Lỗ Tổ, Qui Tông, Sam Sơn bốn người ĺa nơi Mă Tổ, mỗi người đều muốn đi t́m nơi ở. Nửa đường chia tay, Sư cắm cây gậy xuống nói:

- Nói được cũng bị cái này chướng ngại, nói không được cũng bị cái này chướng ngại.

Qui Tông nhổ cây gậy lên, đánh Sư rồi nói:

- Cũng chỉ là Vương lăo sư này thôi. Nói ǵ ngại, chẳng ngại.

Lỗ Tổ nói:

- Chỉ một lời nói này, truyền bá khắp thiên hạ.

Qui Tông nói:

- C̣n có kẻ không truyền bá chăng?

Lỗ Tổ nói:

- Có!

Qui Tông nói:

- Thế nào là kẻ không truyền bá. Lỗ Tổ làm thế muốn bạt tai.

* * *

 

Sư cùng Lỗ Tổ, Sam Sơn, Qui Tông đang uống trà. Lỗ Tổ giơ chén trà lên nói:

- Lúc thế giới chưa thành đă có cái này.

Sư nói:

- Người thời nay chỉ biết cái này, chưa biết thế giới.

Qui Tông nói:

- Phải!

Sư nói:

- Bộ Sư huynh đồng ư kiến này chăng?

Qui Tông lại nâng chén trà lên nói:

- Hướng vào lúc thế giới chưa thành, nói được chăng?

Sư giơ tay làm thế muốn bạt tai.

Qui Tông đưa mặt làm thế muốn nhận.

* * *

 

Ma Cốc cầm tích trượng đến Chương Kỉnh, nhiễu thiền sàng ba ṿng rồi dương tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.

Chương Kỉnh nói:

- Phải! Phải!

 

B́nh:

Tuyết Đậu nói:

- Sai!

Ma Cốc lại đến chỗ Sư, cũng nhiễu thiền sàng ba ṿng rồi cũng dương tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.

Sư nói:

- Chẳng phải! Chẳng phải!

 

B́nh:

Tuyết Đậu nói:

- Sai!

Ma Cốc nói:

- Chương Kỉnh nói phải, tại sao ḥa thượng lại nói chẳng phải?

Sư nói:

- Chương Kỉnh th́ phải, là ông chẳng phải. Đó là sức gió sở chuyển, chung qui bại hoại.

B́nh:

Tuyết Đậu tụng:

Này sai kia sai

Rất kỵ liệng bỏ

Bốn biển sóng yên

Trăm sông triều xuống

Cổ sắc phong cao thập nhị môn

Môn môn hữu lộ không tiêu điều.

Phi tiêu điều

Trăm năm ham cầu thuốc không bịnh

Viên Ngộ Cần thiền sư rằng:

- Cần phải nhận lấy hai "Sai" mới được. Tuyết Đậu muốn đề chỗ hoạt bát nên như thế. Nếu mà thằng dưới da có máu, tự nhiên chẳng hướng vào ngôn cú để hiểu. Có người nói Tuyết Đậu thay cho Ma Cốc dùng hai chữ "Sai" này, có dính dáng ǵ đâu! Đâu biết cổ nhân dùng lời nói là khóa chặt quan ải. Bên đây cũng phải, bên kia cũng phải, rốt cuộc chẳng ở hai đầu này.

Khánh tạng chủ nói:

- Cầm tích trượng nhiễu thiền sàng như phải và chẳng phải đều sai. Kỳ thực ư cũng chẳng ở đây.

Quy Sơn Triệt thiền sư rằng:

- Chương Kỉnh nói "phải" cũng lọt vào trong ṿng của Ma Cốc. Nam Tuyền nói "chẳng phải" cũng lọt vào trong ṿng của Ma Cốc. Đại Quy th́ không như vậy. Bỗng có người cầm tích trượng, nhiễu thiền sàng ba ṿng, nghiêm mặt đứng thẳng, chỉ hướng họ rằng:

- Khi chưa đến đây, nên cho ba chục gậy.

* * *

 

Diêm Quan thiền sư dậy chúng rằng:

- Hư không làm trống, tu di làm chùy. Người nào đánh được?

Không ai trả lời. Có tăng kể lại với Sư.

Sư nói:

- Vương lăo sư không đánh cái trống bể này!

B́nh:

Pháp Nhăn thiền sư nói cách khác rằng:

- Vương lăo sư không đánh.

Huỳnh Long Tâm thiền sư rằng:

- Nam Tuyền Pháp Nhăn chỉ biết nh́n trước, chẳng biết ḍm sau. Cũng như Diêm Quan nói hư không làm trống Tu Di làm chùy, chỗ nào là chỗ bể. C̣n kiểm điểm ra được chăng? Dẫu cho kiểm điểm được chỗ bể rơ ràng, ta c̣n muốn hỏi ngươi t́m trống đó!

* * *

 

Sư với Qui Tông, Ma Cốc cùng nhau đi tham lễ Nam Dương quốc sư.

Sư ở trên đường vẽ một ṿng tṛn, rằng:

- Nói được th́ đi.

Qui Tông liền ngồi trong ṿng tṛn, Ma Cốc bèn lạy kiểu người nữ.

Sư nói:

- Thế này th́ không đi.

Qui Tông nói:

- Là tâm hạnh ǵ?

Sư liền rủ tất cả quay về, không đi tham lễ quốc sư nữa.

 

B́nh:

 

Tuyết Đậu tụng rằng:

Dưỡng Do Cơ bắn vượn

Nhiễu cây sao quá thẳng!

Ngàn con và muôn con

Ấy là ai bi trúng?

Gọi nhau, rủ nhau Đi về đi!

Trên đường Tào Khê chớ leo dốc.

Lại nói đường Tào Khê bằng phẳng

Tại sao chớ leo dốc.

* * *

 

Có một tọa chủ từ giă Sư.

Sư hỏi:

- Đi chỗ nào?

Đáp:

- Đi dưới núi.

Sư nói:

- Đệ nhất không được báng Vương lăo sư?

Đáp:

- Đâu dám báng ḥa thượng!

Sư làm bộ hắt x́, hỏi:

- Bao nhiêu?

Tọa chủ bèn ra đi.

B́nh:

Vân Cư Ưng thiền sư rằng:

- Phi Sư bổn ư

Tiên Tào Sơn rằng:

- Ĺ!

Thạch Sương thiền sư rằng:

- Chẳng v́ người thương lượng.

Trường Khánh thiền sư rằng:

- Xin lănh lời.

Vân Cư Tích thiền sư rằng:

- Tọa chủ lúc ấy ra đi là hội hay chẳng hội?

 

* * *

Một hôm sư đóng cửa phương trượng, đem vôi ṿng ở ngoài của, bảo chúng rằng:

- Nếu có người nói được th́ mở. Có nhiều người nói, nhưng đều chưa thỏa ư sư.

Triệu Châu nói:

- Trời xanh!

Sư liền mở cửa.

 

* * *

 

Lục đại phu với sư gặp người chơi xúc xắc. Lục đại phu chỉ quân xúc xắc nói:

- Thế này! Chẳng thế này! Đang thế này! Lúc trúng là thế nào?

Sư lượm hột xúc xắc nói:

- Xương thú mười tám!

 

* * *

 

Lục đại phu nói với sư:

- Pháp sư Tăng Triệu cũng rất kỳ lạ, biết nói trời đất với ta cùng gốc, vạn vật với ta một thể.

Sư chỉ hoa mẫu đơn trước sân, rằng:

- Đại phu! Người đời thấy cây hoa này tương tự như mơ.

Lục đại phu chưng hửng.

 

B́nh:

 

Tuyết Đậu tụng:

 

Kiến văn giác tri phi mỗi mỗi

Núi sông chẳng quán ở nơi gương

Trời sương trăng lặn đêm sắp nửa

Cùng ai đầm lặng chiếu ảnh hàn

 

Viên Ngộ Cần thiền sư rằng:

- Nam Tuyền tiểu thùy ngữ, Tuyết Đậu đại thùy ngữ. Mặc dầu nằm chiêm bao mà là chiêm bao tốt. Trước kia nói nhất thể. Ở đây nói chẳng đồng, "Kiến văn giác tri phi mỗi mỗi, núi sông chẳng quán ở nơi gương." Nếu nói quán trong gương rồi mới hiểu được th́ chẳng ĺa chỗ gương. Núi sông đất đai, tùng lâm thảo mộc chớ đem gương chiếu soi. Nếu đem gương chiếu soi liền thành hai đoạn. Nên chỉ có thể nói núi là núi, sông là sông. "Pháp đó trụ ngôi pháp Tướng thế gian thường trụ." Núi sông chẳng ngại mắt sáng. Hăy nói hướng vào chỗ nào mà quán. C̣n hội chăng? Đến chỗ này hướng vào "trời sương trăng lặn đêm sắp nửa" bên này cùng ngươi ăn khớp rồi. Bên kia ngươi tự đoán lấy. C̣n biết Tuyết Đậu dùng việc bổn phận v́ người chăng? "Cùng ai đàm trong chiếu ảnh hàn" ấy là tự chiếu hay là cùng người chiếu. Cần phải tuyệt cơ tuyệt giải mới đến được cảnh giới này. Không muốn đầm trong cũng không đợi trời sương trăng lặn, th́ hiện nay làm sao?

Kỉnh Sơn Cảo thiền sư rằng:

- Nếu hướng trên lư mà xem, chẳng những Nam Tuyền gạt Lục Tuyên đại phu một chút không được, cũng chưa ṃ trúng một sợi lông dưới gót chân. Nếu hướng trên sự mà xem, chẳng những Lục Tuyên đại phu gạt Nam Tuyền một chút không được, cũng chưa mong kiến được cái mồ hôi thúi của ngài. Hoặc có người ra đây nói Đại, Tiểu Kỉnh Sơn thuyết sự, thuyết lư, chỉ hướng họ rằng hăy hướng vào trên lư, sự, hiểu lấy.

 

C̣n có bài tụng rằng:

Trời đất đồng gốc tŕnh câu hỏi.

Chưa từng dợm bước đă quên nhà

Đất chẳng âm dương hoa lại nở.

Ngọc vốn không vết lại có vết.

 

Một hôm Pháp Sương Ngộ thiền sư cùng Nột thủ tọa đang xem hoa đàn hỏi về việc Nam Tuyền nói: "Người đời thấy cây hoa này tương tự như mơ":

- Ngươi thấy tựa như cái ǵ, nói thử xem.

Nột nói:

- Chỉ là một cây hoa.

Ngộ nói:

- Vậy th́ ngươi cũng ở trong hang ổ của Nam Tuyền.

Nột nói:

- Cổ nhân ư là thế nào?

Ngộ nói:

- Đem gạch lại!

Nột đưa gạch rồi hỏi nữa.

Ngộ nói:

- Phật xưa đă đi lâu rồi!

 

* * *

Sư vào Tuyên Châu. Lục Tuyên đại phu ra đón, chỉ cửa thành rằng:

- Người người đều gọi là Ung Môn, chưa rơ ḥa thượng gọi là ǵ?

Sư nói:

- Lăo tăng nếu nói e xỉ nhục phong hóa của đại phu.

Lục đại phu nói:

- Bỗng nhiên có kẻ tặc đến th́ làm sao?

Sư nói:

- Lăo tăng tội lỗi!

Lục đại phu hỏi tiếp:

- Trong nhà đệ tử có một tảng đá, có lúc để ngồi, lúc để nằm. Hiện nay tính khắc làm tượng Phật, được chăng?

Sư nói:

- Được!

Lục đại phu nói:

- Có lẽ không được chăng?

Sư nói:

- Không được!

Vân Nham thiền sư nói:

- Ngồi tức Phật, chẳng ngồi tức phi Phật.

Động Sơn nói:

- Chẳng ngồi tức Phật, ngồi tức phi Phật!

Thiên Đồng Giác thiền sư nói:

- Chuyển công theo ngôi vị, chuyển ngôi vị theo công, ấy là cha con Động Sơn. C̣n ư của Nam Tuyền là thế nào? Thực là kim dùi không vô.

 

* * *

 

Tăng hỏi:

- Lúc cha mẹ chưa sanh, lỗ mũi ở đâu?

Sư nói:

- Cha mẹ đă sanh rồi, lỗ mũi đâu?

 

* * *

Sư hỏi Thần Sơn thiền sư:

- Từ đâu đến?

Thần Sơn nói:

- Đánh Cồng đến.

Sư nói:

- Tay đánh hay chân đánh?

Thần Sơn không trả lời được.

Sư nói:

- Ngươi hỏi ta, ta nói với ngươi.

Thần Sơn nói:

- Tay đánh hay chân đánh?

Sư nói:

- Ghi lấy rơ ràng về sau gặp người mắt sáng, kể lại cho họ.

 

* * *

 

Sư hỏi một tọa chủ:

- Ông giảng kinh ǵ?

Tọa chủ nói:

- Kinh Di Lặc hạ sanh.

Sư nói:

- Di Lặc lúc nào hạ sanh?

Tọa chủ nói:

- Hiện c̣n ở trên thiên cung chưa đến.

Sư nói:

- Trên trời chẳng Di Lặc, dưới đất chẳng Di Lặc.

 

B́nh:

Kỉnh Sơn Cảo thiền sư nói: - Bỗng có thằng nào ra hỏi: "Trên trời chẳng Di Lặc, dưới đất chẳng Di Lặc" vậy bảo ai hạ sanh? Lại làm sao để trả lời họ? Chỉ nói với họ: "Lăo tăng tội lỗi."

 

* * *

 

Tăng hỏi:

- Trong mười hai thời lấy ǵ làm cảnh?

Sư nói:

- Sao không hỏi Vương lăo sư?

Tăng nói:

- Đă hỏi rồi.

Sư nói:

- Đă từng với ngươi làm cảnh chăng?

 

* * *

 

Tăng hỏi:

- Sư về phương trượng đem ǵ chỉ nam?

Sư nói:

- Canh ba đêm qua mất con trâu, trời sáng thức dậy lại mất lửa.

 

* * *

 

Sư v́ Đông đường và Tây đường giành con mèo, bị sư gặp, bạch chúng rằng:

- Nói được th́ cứu con mèo. Nói không được th́ chém liền.

Chúng chẳng ai trả lời. Sư bèn chém.

Triệu Châu ở ngoài về. Sư kể lại chuyện này cho biết. Triệu Châu cởi giầy để trên đầu rồi đi ra.

Sư nói:

- Hồi năy ông nếu có mặt th́ cứu được con mèo.

 

B́nh:

Qui Tông thiền sư đang cuốc cỏ, có giảng tăng đến tham vấn. Bỗng có con rắn đi ngang, sư dùng cuốc chém đứt.

Giảng tăng nói:

- Nghe tiếng Qui Tông đă lâu, ai dè là một sa môn thô hạnh.

Qui Tông thiền sư nói:

- Ngươi thô hay ta thô?

Giảng tăng nói:

- Thế nào là thô?

Sư giơ lên cây cuốc.

Giảng tăng tiếp:

- Thế nào là tế?

Sư làm thế chém rắn.

Giảng tăng nói:

- Thế th́ theo đó mà hành.

Sư nói:

- Theo đó mà hành để một bên. Ngươi chỗ nào thấy ta chém rắn?

Tăng không trả lời được.

 

Chân Tịnh thiền sư rằng:

 -Đại chúng! Chỉ như Qui Tông chém rắn, nói tăng ấy rằng "ngươi thô, ta thô" chỗ thấy của cổ nhân là thế nào?

Nói xong, giơ phất trần lên:

- Hôm nay ta giơ phất trần với Qui Tông chém rắn là đồng hay khác?

Cách một lát sau, rằng:

Người người có cái thiên chân Phật

Diệu dụng tung hoành trọn chẳng biết.

Hôm nay rơ ràng cùng chỉ ra.

Chém rắn, giơ phất lại do ai?

 

Chân Tịnh nói tiếp:

- Nam Tuyền chém mèo, Qui Tông chém rắn, trong tùng lâm thương lượng c̣n có tốt xấu tạm ngưng. Chỉ như Triệu Châu đi giầy trên đầu đi ra là thế nào? Nếu là rơ được chỗ này th́ Đức Sơn quở Phật mắng Tổ có lỗi ǵ? Nếu ở đây chẳng rơ, Đơn Hà thiêu Phật gỗ viện chủ rụng lông mày. Cho nên nói họa phước không cửa, do người tự chiêu lấy.

 

Hét một tiếng rồi xuống ṭa.

 

Tuyết Đậu tụng về việc Nam Tuyền chém mèo rằng:

 

Lưỡng đường đều là kẻ tham thiền

Khoái đặng bụi trần chẳng nại hà

Nhờ được Nam Tuyền hành chánh lịnh

Một dao hai khúc mặc ông b́nh!

 

Tuyết Đậu tụng Triệu Châu đi giầy:

 

Bổn lai công án hỏi Triệu Châu.

Trong thành Trường An mặc dạo chơi

Dép cỏ đi đầu chẳng ai hội.

Về đến quê nhà tức liền thôi.

 

* * *

Sư nói:

- Văn Thù Phổ Hiền canh ba đêm qua đánh lộn. Mỗi người cho hai chục gậy đuổi ra viện rồi đó.

Triệu Châu nói:

- Gậy ḥa thượng bảo ai ăn?

Sư nói:

- Vương lăo sư lỗi chỗ nào?

Triệu Châu liền đảnh lễ.

 

* * *

 

B́nh:

Kỉnh Sơn Cảo thiền sư tụng:

Nam Tuyền không lỗi

Miệng hay chiêu họa

Triệu Châu lễ bái

Thảo tặc đại bại.

Kỉnh Sơn bất quản

Theo việc kết án

Văn Thù Phổ Hiền

Tạm gác một bên.

 

Nam Tuyền thượng đường nói:

- Vương lăo sư từ nhỏ nuôi một con trâu, tính chăn bên khe đông không khỏi phạm cỏ nước nhà vua, tính chăn bên khe tây không khỏi phạm cỏ nước nhà vua. Chẳng bằng tùy phận nạp chút chút, trọn chẳng thấy được.

 

Thượng đường:

- Vương lăo sư bán thân đi, có ai mua chăng?

Một tăng ra nói:

- Con mua.

Sư nói:

- Chẳng phải mắc, chẳng phải rẻ, ngươi làm sao mua?

Tăng không trả lời.

Sư hỏi duy na:

- Hôm nay phổ thỉnh, làm việc ǵ?

Duy na trả lời rằng:

- Kéo cối xay.

Sư nói:

- Cối th́ cho ông kéo, nhưng không được động tới trục cối chính giữa.

Duy na không thể trả lời.

 

            Ngài khai thị rằng:

- Chân lư nhất như (bất nhị) mạc hạnh, mạc dụng, chẳng có người biết gọi là vô lậu trí, cũng là tánh bất động, vô lậu bất khả tư ngh́, tánh không v.v... Chẳng phải ḍng sanh tử, đạo là đại đạo vô ngại niết bàn, diệu dụng tự đầy đủ mới được chỗ hành khắp nơi mà được tự tại. Nên nói nơi chư hành xứ mà vô sở hành, cũng gọi là biến hành tam mui, phổ hiện sắc thân. Chỉ v́ chẳng có người biết chỗ dụng của nó vốn chẳng có tông tích, chẳng thuộc kiến văn giác tri, chân lư tự thông, diệu dụng tự đầy đủ. Đại đạo vô h́nh, chân lư vô đối, nên chẳng thuộc kiến văn giác tri, chẳng có tư tưởng thô hay tế, như nói chẳng nghe mà nghe là đại niết bàn. Cái việc này chẳng phải nghe hay không nghe.

Tăng hỏi:

- Đại đạo chẳng thuộc kiến văn giác tri, vậy làm sao khế hội (lănh hội)

Ngài đáp:

- Cần âm thầm khế hội th́ tự thông. Cũng nói liễu nhân chẳng từ kiến văn giác tri mà có, kiến văn giác tri thuộc về duyên, đối vật mới có, Đại đạo linh diệu, bất khả tư ngh́, chẳng phải có đối nên nói diệu dụng tự thông, chẳng y dựa vật nào, cho nên đạo thông chẳng phải y thông. Y thông phải nhờ vật mới được sự thấy, đại đạo th́ chẳng nhờ vật. Nên nói đạo chẳng phải pháp sáng tối, ĺa có ĺa không, lư tiềm ẩn âm thầm tự thông, chẳng có người biết, cũng nói thầm hội chân lư, chẳng phải kiến văn giác tri. "Tâm ngưng (thôi nghỉ) đặc bổn nguyên, nên gọi như như Phật, là người tự tại cứu cánh vô y cũng gọi là bổn quả, chẳng từ nhân sanh mà sanh. Văn thù nói: "Chỉ (duy nhất) liễu nhân mà liễu, chẳng từ nhân sanh mà sanh" (liễu nhân là chẳng có nhân sanh khởi, sanh nhân là có cái nhân sanh khởi).

 

Sư Nam Tuyền nói tiếp:

Từ xưa đến nay chỉ bảo người ngộ đạo, chớ nên cầu cái khác. Nếu suy nghĩ ra được đạo lư cao siêu đều thuộc về cú nghĩa (nghĩa chữ). Nghĩa lư tam thừa ngũ tánh là chỗ hành, nói chỗ thọ dụng hằng ngày đầy đủ th́ được, nói đạo th́ chẳng phải. Nếu chấp thật th́ bị ư thức trói buộc, gọi là thế gian trí. Theo giáo môn nói: nếu học giả cứ chấp thật tam tạng giáo điển (kinh luật luận) th́ thành thợ săn, ngư phủ v́ lợi dưỡng mà tổn hại đại thừa, cũng là tập khí tham dục. Cho nên Cổ Đức nói: Phật chẳng hội đạo ta tự tu hành, ta tự có diệu dụng cũng gọi là chánh nhân, liễu sáu ba la mật đều không, cảnh vật lôi cuốn ta chẳng được. Tổ Sư từ Tây Trúc đến, e sợ các ngươi mê chấp nhân quả, địa vị, nên "Truyền pháp cứu mê t́nh, đốn ngộ hoa t́nh (vĩ tức là xong)". (Tánh là chủng tánh hoa, cũng là bồ đề hoa), nên Mă Tổ nói: Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật; dù Tổ trước kia từng nói: Tức tâm, tức Phật. Ấy là lời phương tiện tạm thời như dùng nắm tay không, lá cây vàng để dụ con nít nín khóc. Nhưng hiện nay có người gọi Tâm là Phật, gọi trí là Đạo, cho kiến văn giác tri cũng là đạo. Nếu hiểu đạo như thế khác ǵ Diễn Nhă Đạt Đa mê đầu nhận bóng, phát điên bỏ chạy. Dẫu cho nhận được bóng cũng chẳng phải cái đầu bổn lai của ḿnh. Nên Duy Ma Cật quở Ca Chiên Diên dùng tâm sanh diệt thuyết pháp thực tướng, ấy đều là t́nh chấp kiến giải. Nếu nói: tức tâm tức Phật, cũng như nói: Thỏ ngựa có sừng; nói: phi tâm phi Phật, như nói trâu dê không sừng. Tâm ngươi nếu là Phật, th́ đâu cần phải "tức nó hay là phi nó". H́nh tướng có hay không, lấy tướng ǵ làm đạo? Nên giáo môn cũng chẳng cho. "Thà làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy". "Tâm như đóng vai chánh, ư như đóng vai phụ", nếu nói Phật có tâm đạo, ấy là chẳng ĺa được kiến văn giác tri, là do nhân duyên mà có, đều là soi vật mới có chẳng thể thường soi, cho nên tâm trí đều chẳng phải đạo, lại đại đạo chẳng phải pháp sáng tối, ĺa số hữu vô, số lượng chẳng thể đến, như lúc kiếp không (chưa có trời đất), chẳng có tên Phật, chẳng có tên chúng sanh, ngay lúc ấy chính là đạo. Chỉ là không ai biết, không ai thấy, số lượng chẳng tiếp xúc nó được, gọi là vô danh đại đạo. Nói vậy đă lọt vào danh cú rồi! Cho nên chân lư nhất như, chẳng có tư tưởng, vừa có tư tưởng liền bị ấm (ngũ ấm) trói, sau đó mới có tên chúng sanh, mới có tên Phật. Phật ra đời gọi là tam giới trí nhân, khi Phật chưa ra đời gọi là ǵ? Phật ra đời chỉ khiến người ngộ đạo, bản thể chẳng phải thánh phàm, gọi là "hoàn nguyên qui bổn, thể giải đại đạo". Hôm nay đă ngộ đạo như thế, tức từ vô lượng kiếp đến nay, lục đạo tứ sanh đều có khứ lai, là chỗ hành tạm thời. Bản Hành Tập của bậc Thánh xưa có nói: Ta vô sở bất hành. Tất cả chúng sanh dù đang ở chỗ hành như thế v́ không biết liễu nhân, nên sinh ra tham dục, đó chỉ là tạm thời lạc đường ở nơi trói buộc, chẳng được tự tại. Thật ra cũng như thấy mây trôi cho là trăng động, thấy thuyền xuôi cho là bờ chuyển. Chúng sanh vọng tưởng, vật vốn vô trụ, huống là có lư hay biến đổi. Nay đă ngộ như thế, cứ theo đó thực hành, chẳng giống như lúc xưa, v́ nay đă ngộ liễu nhân bản quả, nên liễu được ngũ ấm không, thập bát giới không, sáu ba la mật đều không, cho nên được tự tại. Nếu chẳng theo đó thực hành, làm sao thải trừ năm thứ tham, hai thứ dục. Chẳng trụ thanh văn, chẳng tùy số kiếp, v́ chư Phật, Bồ Tát đầy đủ phúc trí. do liễu nhân, liễu sáu ba la mật không, theo thọ dụng này, chẳng c̣n tri kiến mới được tự tại. Nếu có tri kiến th́ lọt vào địa vị (có giai cấp), bèn có ngằn mé của tâm lượng, bị nhân quả ngăn cách, gọi là thù nhân đáp quả Phật, chẳng được tự tại. Đại thánh quở là: nhị kiến ngoại kiến, t́nh lượng chưa sạch. Kẹt nơi nhị chướng nhị ngu, cho nên ḍng sông kiến chấp hay trôi hương tượng; chân lư vô h́nh làm sao thấy biết, đại đạo vô h́nh, lư tuyệt suy lường. Hôm nay hành sáu ba la mật, trước tiên dùng liễu nhân ngộ bản quả, biết liễu vật này chỉ là phương tiện thọ dụng, mới được tự do, đi ở tự tại vô chướng ngại, cũng gọi là phương tiện cần trang nghiêm, cũng là vi diệu tịnh pháp thân, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, chỉ là không cho có ngằn mé của tâm lượng. Nếu chẳng có tâm như thế th́ tất cả chỗ hành, cho đến búng tay hiệp chưởng đều là chánh nhân, muôn thiện thảy đồng vô tắc, vậy mới được tự tại, cho nên thiên ma ngoại đạo t́m ta chẳng thể được, gọi là vô trụ tâm, cũng là vô lậu trí, diệu dụng tự tại bất khả tư ngh́, bồ đề niết bàn! Đều là cảnh giới của người tu hành đều thuộc danh cú. Nếu ngộ bổn lai chẳng phải vật phàm, th́ như nước chẳng thể rửa nước. 

Tại sao vậy? V́ vốn chẳng có vật. Như kinh nói: Trong kho vua thật chẳng có dao này; cũng nói: đối với công đức thiên, hắc ám nữ, vị chủ nhân có trí, cả hai đều không nhận. V́ đạo chẳng phải sáng tối, nên nói tánh hải chẳng phải giác hải, giác hải thuộc duyên cần phải đối vật, tánh hải luôn luôn diệu dụng chẳng có ai biết, gọi là cực vi tế thấu kim sắc thủy trần (nghĩa là không bị vật nào chướng ngại). Sở nhân của bồ tát gọi là đồ thọ dụng, nếu nước chẳng rửa nước, tức bản thể chẳng phải sáng tối, cũng gọi là vô lậu trí, vô ngại trí. Nếu như thế th́ chỗ nào cũng câu thúc ta chẳng được. Hiện nay lại đuổi theo tri giải ngữ ngôn, kiến lập nghĩa cú để t́m hơn thua, cho là chúng sanh hạ liệt, nói có Phật Thánh cứu độ chúng sanh, cho đến cầu Phật Bồ đề, đều thuộc tham dục, cũng là tỳ kheo phá giới, cách xa với đạo. Đại đạo chẳng có sáng cũng chưa từng có tối, chẳng thuộc tam giới, chẳng quá khứ hiện tại vị lai. Như lai tạng thực chẳng che lấp, sư tử đâu từng ở hang, ngũ ấm vốn không, đâu có xứ sở, lại pháp thân vô vi, chẳng đọa số lượng. Pháp chẳng lay động, chẳng dựa lục trần, nên kinh mới nói: Phật tánh là thường, tâm là vô thường, cho nên trí chẳng phải đạo, tâm chẳng phải Phật. Nay chớ nên gọi tâm là Phật, chớ hiểu theo kiến văn giác tri. Vật này vốn chẳng danh tự, diệu dụng tự thông, số lượng hạn chế nó chẳng được, gọi là đại giải thoát. Đạo nhân tâm vô sở trụ, dấu tích chẳng thể t́m, nên gọi vô lậu trí là trí bất tư ngh́.

Thôi sứ quân hỏi Ngũ Tổ rằng: "Năm trăm tăng chúng tại sao chỉ có Huệ Năng đại sư được truyền y bát, c̣n những người khác đều chẳng được?"

Ngũ Tổ đáp: "Bốn trăm chín mươi chín người kia đều hiểu Phật pháp, chỉ có Huệ năng là người siêu việt số lượng nên được truyền y bát". Thôi nói: “Vậy nên biết đạo chẳng trí ngu và liền bảo đại chúng: "Trọn phải ghi nhớ!"

Ngài Nam Tuyền nói: "Ghi nhớ thuộc thức thứ sáu, dùng không được!"

Lại nói: “Tạm thời đắp y cấu bẩn, v́ các ngươi nói trắng ra, chẳng phải vật thánh phàm, đâu có làm nhân cho người cũng đâu có làm quả cho người. Nếu làm nhân cho người th́ chẳng tự tại, bị nhân quả trói buộc, chẳng được tự do. Khi Phật chưa ra đời không ai hiểu được, sau Phật ra đời mới cho hiểu được ít phần, h thầm hi chí lư th́ vô sư tự thông, biết vốn tự vô vật, nếu hiểu theo kiến văn giác tri, tức là báo thân hóa thân, v́ có ba mươi hai tướng khác nhau. Nếu báo, hóa đều ĺa hết, chẳng c̣n chỗ kiến lập, tức đồng Như Lai. Thực chẳng phải không cho kiến lập, cũng như Di Lạc trở lại làm phàm phu, nhưng Ngài vẫn hành sáu ba la mật, gặp cái nào cũng chẳng chướng ngại, sao mà chẳng cho kiến lập? Ngài chưa từng kẹt nơi thánh phàm, ở bên kia ngộ rồi qua bên này thực hành mới được phần tư do. Hiện nay người học Phật phần nhiều xuất gia không chịu nhập gia, chỗ tốt th́ nhận, chỗ xấu th́ không nhận, như thế làm sao được! Bồ tát hành nơi phi đạo, ấy là thông đạt Phật đạo. Họ đi ở tự do là thế nào? Nếu biết th́ bị chỗ biết sở trói, nếu không như vậy th́ làm sao chẳng cho! Cái định của họ không có biến đổi. Nếu không định th́ thuộc về tạo hóa rồi! V́ ta không bao giờ biến đổi nên mười hai phần giáo quyết định chẳng phải ta, nhưng ta lại hướng vào mười hai phần giáo mà thực hành. Nếu mười hai phần giáo là ta th́ phải chịu biến đổi rồi! Nói đại đạo nhất như, vô sư tự như thế, v́ như như bất biến nên chưa từng mê, báo thân hóa thân chẳng phải chân Phật, chớ lầm nhận pháp thân. Quả báo thánh phàm đều là bóng, nếu nhận lấy th́ thuộc sanh diệt vô thường rồi. Theo thô tế mà nói th́ mảy may chẳng lập. Lư cùng tánh tận th́ tất cả đều không, như lúc thế giới chưa thành, hư vô trống rỗng, chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh. Như vậy mới có phần tương ứng, ở bên kia ngộ rồi th́ ở bên nầy thực hành, chẳng chứng quả thánh phàm. Theo căn bản mà nói, thực chẳng có pháp nào để đắc, huống là có những tên gọi sai biệt như tam thừa ngũ tánh ư! Hễ có nhân có quả đều thuộc sanh diệt vô thường, tâm như cây khô mới có ít phần tương ưng. Phải biết từ vô lượng kiếp đến nay tánh không biến đổi tức là tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ là hạnh bồ tát. Thông đạt các pháp không, diệu dụng tự tại là sắc thân tam muội, luôn luôn hành sáu ba la mật không, nơi nào cũng vô ngại, dạo nơi địa ngục cũng như vườn hoa, chẳng thể nói họ không có tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, mê tự bản tánh, chẳng tự liễu ngộ, bị mây trần che khuất, dính mắc các thứ ác dục, cũng như thấy mây bay cho là trăng động, thấy thuyền xuôi cho là bờ chuyển, tạm thời lạc đường chẳng được tự tại, chịu đủ thứ khổ mà chẳng tự biết. Nay nếu ngộ được th́ bản tánh xưa nay chẳng khác".

Ngài sắp tịch, thủ tọa hỏi: "Ḥa thượng trăm năm sau đi về đâu?" Ngài nói: "Đi dưới núi làm một con trâu." Thủ tọa nói: "Con theo ḥa thượng đi được chăng?" Ngài nói: "Nếu theo ta th́ phải ngậm một cọng cỏ lại đây!" Xong, Ngài thị hiện có bệnh, ngày 25 tháng chạp, năm Giáp Dần, thuộc năm thứ tám niên hiệu Đại Ḥa (C.N. 834).

Tảng sáng, bảo môn đồ rằng: "Cái thân huyễn hóa đă lâu rồi, đừng cho ta có khứ lai!" Nói xong, Ngài liền tịch, tuổi đời tám mươi bảy, tuổi tăng năm mươi tám.

Hết

 

Minh Quang posted January 31, 2002

Up ] Vọng Kiến ] Mười Điều Biện Ma ] Đại Lễ Rằm Tháng Giêng ] Bát Nhă Tâm Kinh - SC Như Thủy ] Lược Sử Phật Thích Ca ] Pháp Môn Tu Tắt ] Khuyến Thế Ca 1 ] Tánh Không Luận ] So Sánh Kinh Pháp Cú 1 ] Trí Huệ Là Ǵ ] [ Chỉ Nguyệt Lục ] Cúng Cháo - Nguyên Tạng ] Bài Giảng Phật-Đản - Thích Như Tấn ] Người T́m Leo Núi Chỉ Có Bản Đồ - Thích Thanh Từ ]