Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

PHU  THÊ  LUẬN  ĐẠO

NÀNG KỶ THỊ KỂ CHUYỆN 
LỮ ĐỒNG TÂN ĐẦU PHẬT

  

Nếu phu tướng chưa đem ḷng tin rằng phương pháp của đạo Phật cao siêu hơn phép thuật của đạo Tiên, xin cho phép thiếp nhắc lại sự tích của một người khác, trước tu Tiên rồi sau trở lại tu Phật, cho phu tướng nghe.

Nguyên ông Lữ Đồng Tân là người ở xứ Kinh Triệu, đời nhà Đường, hiệu là Thuần Dương Tứ. Ban sơ, ông học Nho, đă thi ba lần không đậu. Sẵn dịp ông gặp Ngài Hớn Chung Ly, Ngài dẫn ông về non Chung Nam ở trọn bảy năm và truyền cho đủ các phép Tiên thuật.

Một bữa kia, ông Lữ Đồng Tân muốn đi đến cả miền thế gian mà độ người, bèn vào xin phép thầy. Ngài Hớn Chung Ly bằng ḷng, lại lấy gươm báu trao cho ông và dạy rằng: “Gươm này của thầy ta là Đông Họa Đế Quân truyền lại cho ta. Muốn sát hại người nào th́ phải biết trước tên họ và chỗ ở của người ấy, rồi niệm một câu chú, gươm đó hóa ra rồng xanh bay đến chỗ đó mà chém đầu. Nay ta giao cho ngươi đem theo mà hộ thân, song ngươi phải nhớ ba điều này : Một là đừng chọc ghẹo thầy chùa, hai là đừng để mất gươm báu này và ba là ngươi đi măn ba năm rồi phải trở về đây. Nếu ngươi căi lời th́ ta không dung thứ”.

Ông Lữ Đồng Tân phụng mạng, lạy thầy mà lănh gươm, rồi từ từ hạ san.

Ông đi đủ các xứ, đă măn kỳ ba năm mà không độ được người nào. Một bữa kia, ông đi ngang qua xứ Huỳnh Long, nghe nói tại nhà quan Phó Công tên là Vĩnh Thiện có thiết một cuộc chay để làm lễ trai tăng cúng dường các nhà sư.

Ông bèn vào chơi và muốn dự lễ trai ấy, nhưng ông Phó Công nói rằng: “Ta cúng dường đệ tử của Phật, chớ không phải cúng dường đệ tử của Tiên. Vậy ngươi không được phép vào dự tiệc này!”

Ông Lữ Đồng Tân bèn hỏi: “Phật nhà ông có đạo đức ǵ mà ông trọng như thế?”

Ông Phó Công trả lời: “Thôi, đừng nói chi đến chuyện các Phật sống thuở trước! Hiện nay, có ḥa thượng Huệ Nam ở chùa Huỳnh Long thường thuyết pháp độ người được mấy chục ngàn rồi. C̣n đạo Tiên của ngươi lâu nay có độ được người nào chưa?”

Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, lấy làm thẹn, quên lời thầy căn dặn, liền đi đến núi Huỳnh Long quyết t́m ḥa thượng Huệ Nam mà đấu phép.

Khi đến nơi, ông vừa gặp sư cụ đang lên nhà giảng đường. Ông bèn lén xen vào hàng đại chúng, ngờ đâu ḥa thượng biết trước, bèn nói rằng: “Hôm nay ta không thuyết pháp! Ta có một lời chuyển ngữ hỏi đại chúng …”.

Sư cụ vừa mới nói tới đó th́ thầy một người (tức là ông Lữ Đồng Tân) ở trong hàng đại chúng bước ra, cười rồi hỏi rằng: “Ḥa thượng có câu chi, xin nói mau mau!”

Sư cụ nói tiếp:

Lăo tăng năm nay lớn gan
            Đóng trai dưới núi rồng vàng
            Tay áo tuốt ra roi sắt
            Đánh tan Thế Giới ba ngàn

Ông Lữ Đồng Tân vỗ tay cười và đáp lại: “Ḥa thượng năm trước chẳng lớn gan, năm ngoái chẳng lớn gan, sang năm chẳng lớn gan, chỉ có năm nay lớn gan. Xin ḥa thượng cho phép tôi trả lời:

Gan ta lúc này to đại
            Chuyên sự hơn thua cướp trại
            Giật quách roi sắt trong tay
            Để lại ba ngàn Thế Giới

Ông Lữ Đồng Tân bèn nói tiếp: “Bốn câu của ḥa thượng tầm thường, không lạ chi! Tôi có một lời chuyển ngữ này, như ḥa thượng trả lời được th́ chém tôi, c̣n như không trả lời được th́ tôi chém ḥa thuợng”.

Sư cụ bằng ḷng, rồi ông Lữ Đồng Tân đọc bài kệ như sau:

Thiết vàng cày đất trỉa kim tiền
            Thằng đá con con xỏ chuỗi liên
            Hột lúa chứa xong bầu thế giới
            Nửa nồi nấu đủ cuộc sơn xuyên
            Mấy ông Lăo Tử khi thùy địa
            Tay của Hồ tăng lúc chỉ thiên
            Huyền ấy chớ rằng chưa hết lực
            Trong huyền, huyền ấy lại không huyền

Ḥa thượng Huệ Nam liền đáp lại:

Sẵn ḷ hồng để trĩa kim tiền
            Mănh sáng kia, ai xỏ đặng liền
            Hột lúa hóa đặng ba ngàn giới
            Biển lớn thâu về đủ bách xuyên
            Tháng hạ đầu ḷ phun mănh hỏa
            Trời đông đáy nước nạp lương thiên
            Chân như ai tỏ trong thiền ấy
            Trong thiền, thiền ấy có sanh thiền

Ông Lữ Đồng Tân nghe mấy câu kệ, biết ḿnh đă thua, nhưng ông c̣n gượng hỏi: “Ḥa thượng nói rằng hột lúa hóa ra ba ngàn thế giới, ḥa thượng thua rồi!”

Sư cụ bảo rằng: “Ngươi muốn điều chi th́ lại gần đây mà nói, chớ ta đă điếc mà ngươi c̣n đứng xa nói th́ ta nghe không đặng”.

Ông Lữ Đồng Tân tưởng thật, bèn bước lại gần bên, ngờ đâu th́nh ĺnh sư cụ nhanh tay chụp đầu ông níu lại mà hỏi: “Ngươi nói rằng một hột lúa chẳng hóa đặng ba ngàn thế giới th́ ngoài cái nồi nửa cân của ngươi c̣n nấu những vật ǵ?”

Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, bèn nghẹn họng, không đáp lại được.

Sư cụ liền hỏi tiếp: “Nếu y theo lời giao ước của ngươi, ta phải chém đầu ngươi. Nhưng v́ đạo Phật của ta cấm sát sanh nên ta tha cho ngươi đó”.

Nói rồi, sư cụ lấy cái giải xích mà đánh trên đầu ông Lữ Đồng Tân một cái, làm cho ông mắc cỡ đỏ mặt, liền lui ra ngoài, nghênh mặt lại ngó trộm sư cụ, rồi cười ba tiếng, lắc đầu ba cái, vỗ tay ba hiệp và mang gươm đi thẳng vào núi.

Đến chỗ vắng vẻ không người, ông bèn rút gươm báu ra, họa bùa niệm chú, rồi dặn gươm bay tới chùa Huỳnh Long mà giết ḥa thượng Huệ Nam. Dặn ḍ xong, ông bèn hét lên một tiếng, gươm ấy liền hóa ra con rồng xanh bay thẳng đến nhà phương trượng của sư cụ.

Khi ấy, ḥa thượng Huệ Nam thấy con rồng xanh bay liệng trên hư không, liền lấy ngón tay chỉ lên, tức th́ con rồng xanh bèn hóa lại gươm, rồi rơi xuống cắm dưới ao bùn.

Ông Lữ Đồng Tân ngồi trên núi trông đợi hơn nửa ngày mà không thấy con rồng xanh trở về, bèn niệm chú thâu gươm lại mà không thấy ǵ!

Lúc ấy, hồn vía của ông sảng lạc, không biết tính sao, phải liều mạng chạy xuống chùa Huỳnh Long để t́m gươm báu.

Đến nơi, ông gặp Ngài Huệ Nam và hỏi rằng: “Xin ḥa thượng trả gươm lại cho tôi”.  

Sư cụ đáp: “Ai mượn gươm của ngươi mà ngươi đến đ̣i? Nó cắm dưới ao bùn kia, ngươi ra đó mà lấy!”

Ông Lữ Đồng Tân nghe nói, liền chạy ra ao, cúi xuống nắm gươm, ráng hết sức b́nh sinh mà nhổ lên, nhưng gươm chẳng nhúc nhích!

Sư cụ thấy vậy, bèn nói: “Ngươi muốn giết ta, ta chẳng trả gươm ấy lại cho ngươi. Ngươi có giỏi th́ tự nhổ lấy!”

Ông Lữ Đồng Tân bèn năn nỉ sư cụ: “Ḥa thượng dùng phép thuật mà cắm trụ gươm ấy rồi, tôi làm sao nhổ lên nổi! Vậy xin ḥa thượng có ḷng từ bi, muốn trả gươm cho tôi th́ xin nhổ lên giùm!”

Sư cụ bèn đáp: “Ta có bốn câu kệ, nếu ngươi hiểu được th́ ta trả gươm lại cho ngươi”.

Nói rồi, Ngài lấy một tờ giấy, vẽ một cái ṿng. Trong ṿng ấy, có chấm một điểm, rồi dưới cái ṿng lại đề bốn câu kệ như sau:

Đầu gươm có đơn hẳn
            Ḷng đơn sẵn gươm rồi
            Bằng ai hiểu nhơn ấy
            Ắt thoát khỏi luân hồi.

Ông Lữ Đồng Tân xem đi xem lại một hồi lâu mà không hiểu chi cả. Ḥa thượng thấy vậy, bèn niệm chú rằng: “Án Hộ Pháp thần linh tốc tốc hiện h́nh”. Niệm xong, ông Hộ Pháp hiện đến. Sư cụ bèn bảo rằng: “Ngài phải đem tên này giam cầm trong núi Khổn Ma Nham, mỗi ngày chỉ cho ăn một cái bánh thôi. Chừng nào nó tỏ ngộ được thiền cơ, Ngài dẫn nó tới đây cho ta hỏi”.

Ông Hộ Pháp phụng mạng, bảo ông Lữ Đồng Tân đi, ông dùng dằng không chịu đi. Ông Hộ Pháp bèn nói lớn rằng: “Đi mau, kẻo cái bảo xử của ta đây nặng hơn tám vạn bốn ngàn cân xán xuống một cái th́ thịt xương ngươi nát như bùn!”

Ông Lữ Đồng Tân nghe nói thất kinh hồn vía, bèn riu ríu đi theo, không dám căi nữa!

Một hôm, nhân lúc ông Hộ Pháp đi khỏi, ông Lữ Đồng Tân ở trong hang đá bèn tự  nghĩ  rằng: “Khi ḿnh hạ san, thầy có căn dặn đừng có chọc ghẹo thầy chùa. Bởi v́ ḿnh dại, không nghe lời thầy, cho nên mới bị nạn như vậy! C̣n ông ḥa thượng nói rằng chừng nào ḿnh tỏ ngộ được thiền cơ th́ mới tha tội cho ḿnh, mà biết đời kiếp nào ḿnh mới tỏ ngộ được thiền cơ? Cổ nhân nói rằng: Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng. Ở đây khổ cực lắm, chịu không nổi! Vậy ḿnh tính việc trốn đi th́ tiện hơn”.

Ông Lữ Đồng Tân tự nghĩ như vậy, rồi lén ḅ ra cửa hang, cởi mây bay về núi Chung Nam, vào quỳ trước mặt thầy mà thọ tội.

Ngài Hớn Chung Ly thấy ông trở về mà không có gươm báu của ḿnh, nghe ông kể hết đầu đuôi tự sự, Ngài nổi giận mà mắng rằng: “Ta đă dặn ḍ ba chuyện mà ngươi đều phạm cả, lại c̣n bị người ta đánh u đầu, làm xấu hổ cho đạo. Ngươi c̣n mặt mũi nào mà về đây nữa?”

Ông Lữ Đồng Tân cứ  lạy hoài và thưa rằng: “Tội của con đă đáng rồi! Trăm lạy thầy dung thứ cho con và xin thầy dùng phương pháp chi mà thâu gươm báu về, chớ ông ḥa thượng đă cắm dưới bùn rồi, con đọc chú thâu về không được!”

Ngài Hớn Chung Ly quở mắng một hồi lâu, rồi viết một bức thư trao cho ông Lữ Đồng Tân, bảo đem đến chùa Huỳnh Long mà đưa cho ḥa thượng Huệ Nam.

Sư cụ tiếp lấy thư và xé ra xem, thấy có vẽ một cái ṿng, ở trên ṿng th́ chấm một điểm, ở dưới ṿng th́ có đề bốn câu kệ như sau:

Đơn vẫn là gươm
            Đặng đơn biết gươm
            Gươm vẫn là đơn
            Đặng gươm biết đơn.

Sư cụ xem thơ xong, bèn nói với ông Lữ Đồng Tân: “Ta v́ tưởng thầy của ngươi nên mới trả gươm ấy. Thôi, ngươi ra lấy đi!”

Ông Lữ Đồng Tân bước ra ao mà nhổ gươm, thấy nhẹ bổng, cầm gươm trở vào lạy sư cụ và xin cho biết cái lư huyền diệu trong thơ.

Sư cụ hỏi: “Ngươi có chịu quy y Tam Bảo, ta sẽ truyền cho”.

Ông Lữ Đồng Tân liền đáp: “Tôi xin t́nh nguyện quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và nguyện làm đệ tử của ḥa thượng”.

Sư cụ bảo ông quỳ xuống và hiệp chương tịnh tâm mà nghe mấy lời này: “Hôm trước, ngươi nói rằng một hột lúa đựng cả thế giới, ấy là nhỏ mà hàm lớn, nên ngoài cái ṿng có một chấm. C̣n ta th́ nói rằng một hột lúa hóa ba ngàn thế giới, ấy là lớn mà hàm nhỏ, nên trong cái ṿng có một chấm”.

Ông Lữ Đồng Tân nghe xong, liền hiểu được cái nhân tánh, tức th́ làm một bài kệ và tŕnh cho sư cụ xem:

Quăng bầu, ném dây, đập luôn đơn
            Cái thuốc trường sanh cũng chán lờn
            Từ gặp Huỳnh Long truyền phép Phật
            Mới hay ngày trước lỗi đường chân.

Nàng Kỷ thị nói tiếp: “Đó là thiếp đă dẫn lại cho phu tướng biết hai sự tích, đủ chứng rằng phương pháp của Phật cao siêu huyền diệu hơn phương pháp của Tiên và đủ chứng rằng có nhiều người trước tu Tiên, rồi sau trở lại tu Phật”.

Chồng hỏi: “Những chuyện đó là trong sách chép lại, nên không có bằng cớ làm cho ta đem ḷng tin. Khi những sự mầu nhiệm của đạo Phật hiện ra trước mắt ta th́ ta mới tin. C̣n hiền thê tụng kinh niệm Phật có ích ǵ không?”

Vợ đáp: “Có ích lắm chứ! Bởi v́ vọng tâm của con người không thể nào mô tả được hết, như muốn giàu sang, ham danh lợi, đua chen vào ảo tưởng phù hoa, ham muốn điều hư danh giả vị và thiên h́nh vạn trạng không có giới hạn bờ bến. Nếu nương theo giáo pháp của Phật, trước phải quy y ngôi Tam Bảo, rồi thọ pháp ngũ giới, thường mỗi đêm thọ tŕ tụng đọc một biến kinh để thâu phóng cái tâm lại và để có chỗ quy nhất. Nếu để cho vọng tâm thắng chân tâm th́ càng lừng lẫy tạo ra muôn điều ác mà không hay biết. C̣n niệm Phật thật là một phương thuốc vô h́nh cũng để thâu phóng cái tâm lại. Tiếng chuông, tiếng mơ đánh thức hạng người tranh danh đoạt lợi và đang đắm đuối nơi ái hà. Câu kinh hiệu Phật kêu tỉnh những kẻ sống say chết ngủ trong ṿng khổ hải ”.

Chồng nói: “Người tu theo chánh pháp của Phật, đến ngày kết th́ ra thế nào ?”

Vợ đáp: “Nếu ai một ḷng tin giáo pháp của Đức Như Lai để được hoàn toàn chánh niệm, đến ngày kết quả, tùy theo công phu nhiều ít mà hưởng phước ở cơi nhân thiên. Người tu về quả hữu lậu, hoặc bắt cầu bồi lộ, hoặc bố thí cúng dường, hoặc trùng tu chùa miếu th́ ngày sau sanh lên cơi thế trần này, được làm công - hầu - khanh - tướng, hoặc làm sĩ - nông - công - thương, sang cả vô cùng! C̣n nếu người tu về quả vô lậu, hoặc tham thiền nhập định, hoặc dưỡng tánh tồn thần, hoặc tŕ trai giữ giới và dứt hết nghiệp duyên th́ linh thức sẽ được tiêu diêu tự tại nơi cơi lạc bang, chẳng sanh chẳng diệt và hết luân hồi trong lục đạo. Đó là kết quả hữu t́nh và vô t́nh của Phật giáo, thật đúng là huyền diệu, không chút nào thiên ỷ cả!”

Chồng hỏi: “C̣n người không tu hành, kết quả thế nào?”

Vợ đáp: “Nếu người không tu hành th́ vọng tâm càng lừng lẫy, tạo ra biết bao tấn tuồng bi ai thảm khốc. Song hễ tạo nhân nào th́ bị quả nấy, không sai chạy mảy may!”

Hai vợ chồng đàm luận như thế, chàng Các Tế v́ bị tiêm nhiễm cái lư thuyết “trường sanh” của Tiên thuật đă sâu, nên nàng Kỷ thị biện bạch đúng đắn như thế nào th́ chàng cũng không thức tỉnh và trong ḷng c̣n hoài nghi măi.

Một ngày kia, nàng Kỷ thị đang ngồi xem kinh, ngửa mặt nh́n lên không trung, thấy trời trong thanh bạch, thoạt có lọng báu phất phơ, phước tàng rực rỡ, từ phía Tây bay đến, có Phật ngồi kiết già, hào quang sắc vàng chói sáng và lằn kim quang thấu khỏi ngoài mây. Nàng liền ngưng xem kinh, ra vẻ vui mừng và tự nghĩ rằng: “Chánh pháp nói: Vô lượng thọ Phật. Quả thật rơ ràng chẳng sai!” Nàng bèn cúi đầu đảnh lễ, rồi kêu chồng ra mà chỉ chỗ Phật phóng hào quang cho chàng xem. Các Tế chỉ thấy nửa thân ḿnh của Phật, lọng báu phất phơ và phước tàng rực rỡ mà thôi, v́ khi ấy mọi thứ đă lặn gần hết!

Cũng trong khoảng Phật phóng kim quang, hết thảy kẻ già người trẻ trong chốn thôn lư đều thấy một lượt rơ ràng như vậy. Thật linh cảm vô cùng!

Từ đó về sau, chàng Các Tế mới hồi tâm hướng đạo, bỏ hẳn các lư thuyết của Tiên mà phát nguyện quy y theo Phật giáo và hết ḷng tín ngưỡng.

 V́ nguyên nhân cảm cách ấy, thiện nam tín nữ trong quận Tri Xuyên cùng quy y theo Phật rất đông và tinh tấn thành kính vô cùng.

 Nói tóm lại, nhờ nàng Kỷ thị có ḷng tín ngưỡng Phật pháp, nên mới cảm hóa được người chồng khỏi lạc vào nẻo thiên ma ngoại đạo và cũng ảnh hưởng luôn những người trong quận quy về đường chân chánh.

Thật là chàng Các Tế có một người nội trợ như thế, sự hạnh phúc trong gia đ́nh c̣n chi hơn nữa!

C̣n một người đàn bà như nàng Kỷ thị th́ cũng đáng bia danh muôn đời cho kẻ hậu lai rơ biết.

 

KẾT LUẬN

Trong ba đời (1. Quá khứ là đời đă qua – 2. Hiện tại là đời ta đây –  3. Vị lai là đời chưa đến như đời sau), chúng ta ở về khoảng giữa, nên nh́n những việc trước đă qua th́ không biết, c̣n nh́n lại những việc sau chưa đến th́ không tin.

Bởi vậy, sự làm lành và sự làm dữ của chúng ta biết sao là tội là phước, mà nếu không biết được tội hay phước th́ đâu biết được “nhân quả”!

Sự nhân quả xưa nay rất có bằng cớ và rất có suy nghiệm mà không biết v́ sao trong nhân quần phần nhiều đều không tin, cứ nói rằng con người sanh ra là chỉ lo cho xong công việc trong một đời mà thôi, ngoài việc ấy th́ không ai cần phải suy nghĩ ǵ nữa!

V́ vậy, họ ngày đêm cứ  lo lường trăm phương ngàn chước, những sự nọ điều kia, đành đem tư tưởng tin tưởng tinh thần vùi lấp trong trường danh lợi, chẳng biết t́m đường kiếm nẻo để thoát ra ngoài cơi nhân thiên. Thật là thương tâm ái tích cho những kẻ ấy!

Có nhiều người khác thấy kẻ hiền lành mà chịu khổ cực, c̣n nhiều người hung dữ mà lại được giàu sang th́ tưởng rằng không có “nhân quả”.

Những người nghĩ như vậy là v́ họ chưa hiểu thấu cái mục đích của  “nhân quả” có ba cách khác nhau mà cần phải xét đủ ba đời th́ mới thấy rơ được:

Cách tạo nghiệp đời này mà phải chịu liền quả báo trong đời này
            Cách tạo nghiệp đời này mà qua đời sau mới chịu quả báo
            Cách tạo nghiệp đời này mà qua đến mấy đời sau mới chịu quả báo

Theo ba cách “nhân quả” nói trên, người kiếp này hiền lành mà khổ cực là bởi kiếp trước làm nhiều điều độc ác, cho nên kiếp này phải chịu khổ cực như vậy! C̣n những việc làm lành của người ấy trong kiếp này th́ sẽ được hưởng trong kiếp sau.

Những người hung dữ mà giàu sang là do kiếp trước có làm lành, cho nên kiếp này được hưởng phước ấy. C̣n những việc hung dữ của người ấy trong kiếp này th́ phải chịu trả báo ở kiếp sau, như sự trồng cây vậy: Cây trồng lúc trước th́ ngày nay mới được ăn trái, c̣n cây trồng ngày nay th́ ngày sau mới có trái mà ăn.

Lại có nhiều kẻ khác nói rằng: “Người chết th́ mất biệt, không thấy về nói lại th́ làm sao biết được có luân hồi?”

Sự nghi ấy cũng không lầm, như nấu quặng thành sắt, rồi đúc sắt thành vật dụng. Trong khi sắt đá thành vật dụng th́ có thể trở lại làm quặng được không? Chắc là không được!

Nếu biết như thế th́ con người lúc chết, thần thức theo nghiệp cảm làm thân trung ấm; cũng như quặng đă thành sắt nói trên, khi thần thức tùy theo nhân duyên mà nhập vào thân khác th́ cũng như sắt đă thành vật dụng, h́nh trước đă tiêu, thân sau lại khác nên không thể về được mà nói lại, đó là lẽ như vậy!

Có nhiều kẻ khác lại nói rằng: “Người c̣n sống th́ hồn nương theo xác, khi chết th́ xác ră hồn tiêu. Không lẽ nào linh hồn c̣n lại mà chịu luân hồi về kiếp sau!”

Những người nghi tưởng như vậy thật là không suy xét lại, nên chẳng những làm hại ḿnh mà lại c̣n làm hại kẻ khác nữa!

Nếu người chết mà linh hồn thật tiêu mất th́ xưa nay các tôn giáo cũng không ra đời mà dạy con người xả tà quy chánh và cả nhân loại trong thế gian cũng không ai lo tu nhân tích đức làm ǵ!

Có phải sự nghi thuyết ấy làm cho nhân tâm ngă ḷng nản chí về sự phước thiện và nứt mầm nảy nhánh về điều tội ác không?

Chúng ta thử nghĩ  xem! Trong giấc ngủ, chiêm bao thấy những sự vinh quy làm cho ta vui mừng, chiêm bao thấy sự khốn cùng làm cho ta sợ hăi, hoặc đi xứ khác, hoặc gặp người quen, v.v…

Xác người nằm trơ trơ không hiểu ǵ, lại c̣n cái ǵ vui, cái ǵ sợ, cái ǵ đi, cái ǵ gặp, v.v… Có phải là cái hồn ly xác mà ứng lấy các cảnh ngộ ấy không?

Nếu biết được khi xác người ngủ mà hồn ly như vậy th́ khi xác người chết rồi, hồn có lẽ nào tiêu mất! Nếu hồn đă không tiêu mất th́ phải tùy theo cái nghiệp thiện nhân hoặc cái nghiệp ác nhân của người đă tạo ra ngày trươc mà phải chịu lấy quả báo ngày sau, tránh sao khỏi được!

Lại thử  nghĩ xem! Cũng thời người ta mà sao có kẻ giàu sang, c̣n người lại nghèo khó? Sao có kẻ làm vua làm quan, c̣n người lại làm dân làm mướn? Sao có kẻ tốt đẹp hoàn toàn, c̣n người lại tật nguyền đói khát? Sao có kẻ thông minh trí huệ, c̣n người lại dốt nát ngu si? Tất cả mọi việc đều phô bày giữa xă hội nhân quần làm cho loài người càng ngày càng thống khổ. 

Đó có phải là tại người này kiếp trước tạo nhân lành nên kiếp này được hưởng phước báo và tại kẻ kia kiếp trước tạo nhân ác nên kiếp này phải chịu khổ báo hay không?

Những điều thí dụ nói trên đủ làm cho chúng ta bỏ sự nghi ngờ, đem ḷng tin thật, cúi đầu trước cửa Phạm, nép mặt dài sen, đem hai chữ  “nhân quả” của Phật nói ra làm gương, hàng ngày xem đi xét lại, nhắm trước nh́n sau xem thử  hành động của ta đối với tự tâm ra thế nào. Quang minh hay ám muội, công lư hay tư t́nh?

Nếu quan sát cho cùng như vậy, kết quả của ta về sau tự nhiên sẽ được hiểu biết rơ ràng, không có cái ǵ che khuất được nữa!

(Trích trong Tục Tạng kinh)

Trích TVHS

 [Home] [Up] [Cửa Tùng Đôi Cánh Gài] [Đi Chùa] [Hai Vị Thiền Sư] [Piano Sonata 14] [Đi Vào Cơi Thơ] [Vết Chim Bay] [Thơ T T Kh] [Đi Chùa Hương] [Câu Chuyện Nhà Sư] [Động Hoa Vàng] [Gốc Tùng] [Đường Lên Núi Linh] [Sư Thiện Chiếu] [Lửa Từ Bi] [Ngôi Chùa Xưa] [Phong Kiều Dạ Bạc] [Người Con Gái Mặc Quần] [Ly Tao] [V́ Em Tôi Đă Làm Sa Di] [Ngôi Chùa Nhỏ Và Vị Chân Tu] [Ngậm Ngải T́m Trầm] [Phu Thê Luận Đạo] [Tách Trà C̣n Nóng] [Hoàng Tử Bé chương 1] [Kim Các Tự] [Xuất Gia 1] [Ưu Quốc] [Sắn Dây Núi Yoshino] [Ḷng Cha - Rabindranath Tagore - Trí Hải] [Ta Thấy H́nh Ta Những Miếu Đền - Mai Thảo]