Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Phật Học Phổ Thông KhóaThứ Chín
Thích Thiện Hoa

Tập Ba

Bài Thứ Ba và Tư
 

 

BÀI THỨ BA

 

Theo dơi bài giảng Duy Thức Tam Thập Tụng, bài thứ 3 ngày 20 tháng 11 năm 2005 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức

 

CHÁNH VĂN

Hỏi:  Trên đă nói thức năng biến thứ nhứt, c̣n thức năng biến thứ hai thế nào?

Đáp:  Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            Thứ đệ nhị năng biến

Thị thức danh Mạt na

            Y bỉ chuyển, duyên bỉ

            Tư lương vi tánh tướng.

Dịch nghĩa

Luận chủ này tụng (12 câu) để trả lời rằng:Thức năng biến thứ hai tên là Mạt na. Thức này do thức A lại da sanh ra, rồi trở lại duyên thức A lại da chấp làm ngă. Tánh và tướng của nó thường lo nghĩ.

 

LƯỢC GIẢI

Trước đă nói thức năng biến thứ nhứt, thiếp theo đây nói thức Năng biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi là Mạt na, Tàu dịch là Ư. Thức này là căn của ư thức, chứ không phải là ư thức (thứ 6).

Thức này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức A lai na chấp làm ngă. Cũng như cái tay từ nơi thân sing ra, rồi trở lại hộ vệ cái thân. V́ thức này tánh hay lo nghĩ, nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.

 

CHÁNH VĂN

Nguyên văn chữ Hán

            Tứ phiền năo thường câu

            Vị: ngă si, ngă kiến

            Tinh ngă mạn, ngă ái

            Cập dư xúc đẳng câu.

Dịch nghĩa

Bốn món phiền năo thường chung cùng với thức này là: Ngă si, Ngă kiến, ngă ái. Ngoài ra thức này c̣n tương ưng với các Tâm sở như: Xúc, Tác ư, v.v...

 

LƯỢC GIẢI

 

Những Tâm sở thường tương ưng với thức này, là bốn món phiền năo: 1. Ngă si (si mê cái Ngă), 2. Ngă kiến (Chấp cái Ngă), 3. Ngă mạn (đề cao cái Ngă của ḿnh, để khinh mạn người), 4. Ngă ái (tham ái cái Ngă).

Bởi thức Mạt ma thường chấp thức A lại da làm Ngă, nên bốn món phiền năo tương ưng với thức này, cũng đều do caqi Ngă mà sanh. V́ thế nên trên mỗi món phiền năo lại thên chữ Ngă (Ngă si, Ngă kiến, Ngă mạn, Ngă ái).

Ngoài bốn món phiền năo trên, lại c̣n có các Tâm sở, như năm món Biến hành và tuỳ phiền năo v.v...cũng tương ưng với thức này; nhưng không phải thường có như bốn món phiền năo trên.

                                                                       

Các Tâm sở      1. Thường chung khởi               Si, Kiến,

tương ưng với                                                  Mạn, Ái.
thức này

                        2. Không thường                       Năm món Biến hành.

                                                                        Tùy phiền năo v.v ...

CHÁNH VĂN

Nguyên văn chữ Hán

            Hữu phú vô kư nhiếp

            Tùy sở sanh sở hệ

            A la hán, Diệt định

            Xuất thế đạo vô hữu

Dịch nghĩa

Tánh của thức này là “hữu phú vô kư”. Tuỳ thức A lại da sanh về cảnh giới nào, th́ thức này theo đó mà chấp Ngă. Khi chứng A la hán, nhập Diệt tận định và được vào Đạo xuất thế, th́ không c̣n thức này.

 

LƯỢC GIẢI

 

V́ bốn món phiền năo ngăn che, nên tánh của thức Mạt na thuộc về hữu phú vô kư. Lại nữa, v́ thức này do thức A lại da sanh ra, nên tuỳ theo thức A lại da sanh về cơi nào, th́ nó theo chấp ngă ở cơi đó.

Hỏi: Người tu hành phải đến địa vị nào mới đoạn được Ngă chấp và không c̣n thức Mạt na?

Đáp: Có ba địa vị:

1. Đến địa vị A la hán: V́ vị này đă xả tàng thức, nên thức Mạt na không c̣n chấp Ngă.

2. Nhập diệt tận định: V́ định này diệt hết các Tâm vương và Tâm sở của bảy thức trước.

3. Đạo xuất thế: Hành giả khi đặng cái trí hiểu biết chơn vô ngă và đặng trí vô lậu hậu đắc, th́ không c̣n thức Mạt na.

                                                            Xả Tàng thức

                        1. A la hán                                không c̣n Mạt na

                                                            Diệt hết Tâm vương Tâm

Ba địa vị                                                           sở của 6 thức trước.

Không có          2. Diệt tận định             Diệt các Tâm sở về phần

Mạt na                                                              tạp nhiễm của thức Mạt na.

                                                            Được trí hiểu biết chơn vô ngă

                                                              

                        3. Đạo xuất thế              Đặng trí vô lậu hậu đắc

 

CHÁNH VĂN

Hỏi: Như vậy đă nói thức năng biến thứ hai, c̣n thức năng biến thứ ba thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

            Thứ đệ tam năng biến

            Sai biệt hữu lục chủng

            Liễu cảnh vi tánh tướng

            Thiện, bất thiện, câu phi.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói tụng (2 bài) để trả lời rằng:

Thức năng biến thứ ba, có sáu món sai khác. Tánh và tướng của thức này đều phân biệt cảnh (liễu cảnh). Thức này đủ cả ba tánh: thiện, ác và vô kư (câu phi).

 

LƯỢC GIẢI

 

Thức năng biến thứ ba có sáu món: 1. Nhăn thức, 2. Nhĩ thức, 3. Tỹ thức, 4. Thiệt thứic, 5. Thân thức, 6. Ư thức. Trong 8 thức, thức nào cũng đều phân biệt cảnh; song thức thứ Bảy và thức thứ Tám chỉ phân biệt cảnh tế, c̣n 6 thức trước lại phân biệt cảnh thô; nên trong bài tụng nói “Tánh tướng nó đều phân biệt cảnh”. Cũng như mặt trời mặt trăng sáng suốt  chiếu soi khắp thiên hạ. Mặt trời mặt trăng sáng suốt là dụ cho bản tánh của thức này; c̣n chiếu soi là dụ cho tướng dụng của thức này.

Sáu thức này đủ cả 3 tánh: thiện, ác, và vô kư (không thiện ác).

CHÁNH VĂN

Nguyên văn chữ Hán

            Thử Tâm sở biến hành

            Biệt cảnh, thiện, phiền năo

            Tùy phiền năo bất định

            Giai tam tho tương ưng

Dịch nghĩa

Những Tâm sở tương ưng với thức này, như: biến hành, biệt cảnh, căn bản phiền năo, tuỳ phiền năo, bất định và ba thọ. 

 

LƯỢC GIẢI

 

Tâm sở do tâm vương đặt để, cũng như các quan do Vua sắp đặt, như một vị quan lớn có bao nhiêu nhơn viên. Tâm sở cũng thế, tất cả 51 món, phân làm 6 loại, mỗi loại có bao nhiêu món.

Nay xin liệt kê sau đây:

1. Biến hành, có 5 món

2. Biệt cảnh, có 5 món

3. Thiện, có 11 món

4. Căn bản phiền năo, có 6 món

5. Tuỳ phiền năo, có 20 món

6. Bất định, có 4 món.

Ba thọ là:khổ thọ, lạc thọ, và xả thọ.

Tóm lại, thức này tương ưng với 51 món tâm sở và 3 thọ.

 

 ***

 

BÀI THỨ TƯ

 

Theo dơi bài giảng Duy Thức Tam Thập Tụng, bài thứ 4 ngày 15 tháng 1 năm 2006 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă lược nêu 6 loại Tâm sở tương ưng nay xin nói rơ hành tướng (hành vi và tướng trạng) sai khác của các loại Tâm sở này; vậy 2 loại Tâm sở đầu tiên thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            biến hành: Xúc đẳng

            Thứ Biệt cảnh vị: Dục

            Thắng giải, Niệm, Định, Huệ

            Sở duyên sự bất đồng.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Hai loại Tâm sở, đầu tiên là Biến hành, có năm món: Xúc, Tác ư, Thọ, Tưởng và Tư; loại Tâm sở thứ hai là Biệt cảnh, cũng có năm món: Dục, Thắng giải, Niệm, Định, Huệ. Công việc duyên cảnh của năm món Biệt cảnh không đồng nhau.

 

LƯỢC GIẢI

Biến hành Tâm sở: Tâm sở này đi khắp tất cả:

1. Đi khắp tất cả thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai).

2. Đi khắp tất cả không gian (ba cơi, chín địa)

3. Đi khắp tất cả tánh (thiện,ác và vô kư).

4. Đi khắp tất cả thức (tám thức tâm vương).

Năm món Biến hành là: Xúc, Tác ư, Thọ, tưởng và Tư. Trong bài nói về thức Sơ năng biến ở trước, đă có nói về hành tướng của năm món Biến hành Tâm sở rồi, nên bài này chỉ nói về năm món Biệt cảnh.

Biệt cảnh Tâm sở: Tâm sở này có năm món, mỗi món duyên mỗi cảnh giới khác nhau, không thể đi khắp tất cả như năm món Biến hành.

Năm món Biệt cảnh là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định và Huệ. 1. Dục: Muốn; như phát tâm muốn ĺa trần tục, hoặc muốn học Phật v.v ..., 2. Thắng giải: Hiểu biết rơ ràng; như học Duy thức, hiểu biết được rơ ràng, 3. Niệm: Nhớ nghĩ; như ngày trước học giáo lư, hôm nay nhớ lại, 4. Định: Chăm chú; như chăm chú nghe hoặc học Duy thức, tâm không loạn động, 5. Huệ: Trí huệ; nhơn định nên sanh trí huệ.

V́ năm Tâm sở này, mỗi món duyên mỗi cảnh và hành  tướng khác nhau; cũng như năm người, mỗi người ở mỗi chỗ và làm mỗi việc không đồng, nên bài tụng trên nói “Sở duyên sự bất đồng”: Công việc duyên cảnh của năm món Tâm sở này không đồng. 

 

                        1. Dục                         Tâm sở duyên cảnh bị mong muốn

                        2. Thắng giải                        đă rơ ràng

Biệt cảnh          3. Niệm                                 nhớ lại

                        4. Định                                  chăm chú

                        5. Huệ                                   quán sát

 

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă nói hai loăi Tâm sở biến hành và biệt cảnh; c̣n hành tướng của Thiện Tâm sở thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            Thiện, vị: Tín, Tàm, Quí

            Vô tham đẳng tam căn

            Cần, An, Bất phóng dật

            Hành xả cập Bất hại.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Thiện Tâm sở có 11 món: Tín, Tàm, Quí và ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô si với cần, an, bất phóng dật, hành xả và bất bai. 

 

LƯỢC GIẢI

11 món Thiện Tâm sở này, cũng như các vị Trung thần trong nước, hay người tớ trung thành trong nhà.

1.Tín: Tin; như tin Tam bảo, 2. Tàm: Xấu hổ; như ḿnh lỡ làm việc có tội lỗi, sanh ra xấu hổ, 3. Quí: Thẹn thùa; như ḿnh làm việc sái quấy, đối với người sanh ḷng thẹn thùa. Nói lại cho dễ hiểu: Tàm là tự hổ lấy ḿnh; Quí là thẹn với người, 4. Vô tham: không tham; gặp cảnh tốt đẹp, không sanh tâm tham lam, 5. Vô sân: Không nóng giện, 6. Vô si: Không si mê; đối với tất cả sự vật, tâm không si mê. Ba món tâm sở này (vô tham, vô sân,vô si) là gốc rễ của các pháp lành, nên được gọi là “Tam thiện căn” (ba căn lành), 7. Cần: Siêng năng; gặp việc lành, tâm tinh tấn không thối lui, 8. Khinh an: Nhẹ nhàng sảng khoái; thâm tâm vui vẻ nhe nhàng, 9. Bất phóng dật: Khônh phóng túng; bỏ dữ làm lành, không buông lung theo dục lạc, 10. Hành xả: Làm mà không cố chấp; làm tất cả việc tốt, mà không tham luyến cố chấp, làm với bản tánh tự nhiên, chớ không có dụng công, tâm thường an trụ nơi b́nh đẳng. Hành tướng của Hành xả, như người đi đường: Phải bỏ bước sau mới tiến tới bước trước. Nếu không bỏ bước sau th́ không bao giờ tiến tới bước trước được. Lại nữa, hành xả với Xả thọ khác nhau: “hành xả” là món Xả trong Hành uẩn, thuộc về pháp lành; c̣n “Xả thọ” là một trong Thọ uẩn, thuuộc về tánh vô kư, 11. Bất hại: Không làm tổn hại tất cả chúng sanh.

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă nói 11 món Thiện Tâm sở, c̣n hành tướng, (hành vi, tướng trạng) của căn bổn phiền năo thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            Phiền năo vị: tham, sân

            Si, mạn, nghi, ác kiến.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói hai câu tụng để trả lời rằng: Căn bản phiền năo có sáu món: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.

 

LƯỢC GIẢI

 

Phiền năo nghĩa là buồn phiền năo loạn. V́ 6 món phiền năo này làm căn bản để sinh ra các phiền năo chi mạt, nên gọi là Căn bản phiền năo.

1. Tham, 2. Sân, 3. Si; ba món Tâm sở này trái ngược với ba món Thiện căn (vô tham, vô sân, vô si) trong 11 món Thiện Tâm sở. Trong Khế kinh gọi ba món phiền năo này là “tam độc” (3 món độc). 4. Mạn, tức là Ngă mạn; đă giải trong bài thức năng biến thứ hai, 5. Nghi: Nghi ngờ; như người nghi ngờ Phật pháp, không tin thuyế nhơn quả luân hồi v.v ...6. Ác kiến: Hiểu biết có tội ác; nghĩa là hiểu biết không chơn chánh tà vạy.

Ác kiến này, chia ra làm năm món: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ, sẽ giải ở sau.

 

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă nói 6 món Căn bản phiền năo, c̣n hành tướng (hành vi, tướng trạng) của 20 món Tùy phiền năo thế nào?

Đáp: Nguyên Văn chữ Hán

Tụng viết:

            Tùy phiền năo vị: Phẫn

            Hận, Phú, Năo, Tật, Xan

            Cuống, Siểm, dữ hại, Kiêu

            Vô tàm cập vô quí

            Trạo cử dữ Hôn trầm

            Bất tín tinh Giải đăi

            Phóng dật cập Thất niệm

            Tán loạn, Bất chánh tri.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói hai bài tụng để trả lời rằng: Tùy phiền năo có hai mươi món: Phẫn, Hận, Phú, Năo,Tật, Xan, Cuống, Siểm, Hại, Kiêu, Vô tàm, Vô quí, Trạo cử, Hôn trầm, Bất tín, Giải đăi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn và Bất chánh tri.

 

LƯỢC GIẢI

 

V́ hai mươi món phiền năo này tuỳ thuộc vào các căn bản phiền năo, nên gọi là “Tuỳ phiền năo”.

1. Phẫn: Giận, khi gặp nghịch cảnh sanh tâm giận giỗi.

2. Hận: Hờn, sau khi giận rồi lưu lại trong tâm không bỏ.

3. Phú: Che giấu, Che giấu tội lỗi của ḿnh không cho ai biết.

4. Năo: Phiền, sau khi giận rồi buồn phiền nơi ḷng.

5. Tật: Ganh ghét, thấy người hơn ḿnh sanh tâm đố kỵ.

6. Xan: Bỏn xẻn, có tiền của mà rít rắm không bố thí.

7. Cuống: Dối gạt, v́ muốn đặng danh lợi nên dối gạt người.

8. Siểm: Nịnh, bợ đỡ nịnh hótvới người để xin danh vọng quyền lợi.

9. Hại: Tổn hại, trái với “bất hại” trong Thiện Tâm sở.

10. Kiêu: Kiêu cách, giống như mạn tâm sở, song “Mạn tâm sở” là kinh dễ lấn lướt người, c̣n “Kiêu tâm sở” là ỷ tài năng của ḿnh mà khinh ngạo xem thường người.

11. Vô tàm và 12 là Vô quí, trái với Tàm và Quí trong Thiện tâm sở.

13. Trạo cử: Chao động, làm chướng ngại tu Chỉ; trái với Định tâm sở trong vị Biệt cảnh.

14. Hôn trầm: Tối mờ, lám chướng ngại tu quán; trái với huệ tâm sở.

15. Bất tín:Không tin, trái với Tín tâm sở trong 11 món thiện.

16. Giải đăi: Trễ nải, trái với Cần tâm sở trong 11 món thiện.

17. Phóng dật: Buông lung; trái với “Bất phóng dật” trong Thiện tâm sở.

18. Thất niệm: không nhớ; trái với “Niệm tâm sở” trong vi Biệt cảnh.

19. Tán loạn: Rối loạn, tâm lăng xăng rối loạn; trái với “Định tâm sở” trong vị Biệt cảnh.

20. Bất chánh tri: Biết không chơn chánh, khi đối vớicảnh hiểu biết sai lầm, làm chướng ngại hiểu biết chơn chánh.

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă nói 20 món Tùy phiền năo, c̣n hành tướng của 4 món Bất định thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            Bất định, vị: Hối Miên

            Tầm Tư nhị các nhị

Dịch nghĩa

Luận chủ nói hai câu tụng trên để trả lời rằng: Bất định là Hối Miên và Tầm Tư, mỗi món lại chia làm hai (là bốn).

 

 

 

LƯỢC GIẢI

 

Bất định là không nhứt định thiện hay ác.

1. Hối: Ăn năn, nghĩa là ăn năn những việc nên làm mà không làm, hoặc ăn năn những việc không nên làm mà lại làm.

2. Miên: Ngủ nghỉ, làm cho thân tâm không tự tại.

3. Tầm: T́m kiếm, đối với cảnh danh ngôn của ư thức, nó làm cho tâm thô động gấp gáp.

4. Tư: Ŕnh xét, đối với cảnh danh ngôn của ư thức, nó khiến cho tâm tế nhị mà gấp gáp.

Lại nữa, bốn món tâm sở này, mỗi món đều có hai tánh: hoặc thiện hoặc ác không nhứt định, nên gọi là “Bất định”.

 

***

 

            Minh Quang posted December 20, 2005

[Home] [Up] [PHPT 9 tập 1 bài 1] [PHPT 9 tập 1 bài 2] [PHPT 9 tập 1 bài 3] [PHPT 9 tập 1 bài 4] [PHPT 9 tập 1 bài 5] [PHPT 9 tập 1 bài 6] [PHPT 9 tập 1 bài 7] [PHPT 9 tập 1 bài 8] [PHPT 9 tập 1 bài 9] [PHPT 9 tập 1 bài 10] [PHPT 9 tập 2 A Đà Na Thức] [PHPT 9 tập 3 bài 1 và 2] [PHPT 9 tập 3 bài 3 và 4] [PHPT 9 tập 3 bài 5 và 6] [PHPT 9 tập 3 bài 7] [PHPT 9 tập 4 Nhơn Minh Luận]