Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Phật Học Phổ Thông KhóaThứ Chín
Thích Thiện Hoa

Tập Ba

Bài Thứ Nhất & Hai
 

TẬP BA


DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
 

Ngài Thiên Thân Bồ Tát tạo luận
Ngài Huyền Trang Pháp Sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông Đường Đại Viên giải dễ gọn
Sa môn Thích Thiện Hoa dịch lại chữ Việt và lượt giải.

 

-ooOoo-

Theo dơi bài giảng Duy Thức Tam Thập Tụng, bài thứ 1 & 2 ngày 13 tháng 11 năm 2005 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức

 

TÂP DUY THỨC TAM THẬP TỤNG NÀY CHIA LÀM 3 PHẦN:

1. DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
2. DUY THỨC TAM THẬP TỤNG CHÁNH VĂN
3.
PHỤ HAI CÁI BIỂU

LỜI CỦA DỊCH GIẢ

Phật ra đời độ sanh gần nửa thế kỷ, thuyết pháp trên 300 hội,nói ra 84.000 pháp môn, nào quyền, thiệt, đốn, tiệm, các phương tiện đều dạy bày; chung qui lại chỉ có hai phần: pháp tướng và pháp tánh. Duy thức tôn là một trong Pháp tướng.

Lư Duy thức, trong các kinh điển, Phật đă nói nhiều. Về sau các vị Bồ Tát trích lục lại, sắp xếp theo hệ thống, có thứ lớp, biên thành sách, lập thành tôn, gọi là pháp tướng tôn hay Duy thức tôn.

Như vào khoảng 900 năm, sau khi Phật diệt độ, có Ngài Bồ Tát Thiên thân, y theo các kinh, viết qua quyển “Duy thức tam thập tụng" v.v...Đến sau có 10 vị Đại luận sư (1) ra đời, tuần tự giải thích quyển “Duy thức tam thập tụng" lập thành mười bộ đại luận. Trong số ấy, bộ sớ giải của Ngài Hộ pháp là có phần hoàn bị hơn hết.

Đến đời Đường, ở Trung Hoa có Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang, trí tuệ vô saong, thông minh xuất chúng, phát tâm qua Ấn độ, nghiên cứu Phật pháp 18 năm trường (xem bộ Huyền Trang của Vơ Đ́nh Cường), Ngài rất thông về Duy thức tôn. Sau khi trở về nước, Ngài phiên dịch rất nhiều kinh sách, mà quyển “Duy thứ tam thập tụng" của Bôtát Thiên Thân là một. Ngài lại c̣n lượm lặt những tinh hoa sớ giải trong 10 bộ luận của 10 vị Đại luận sư, rồi phiên dịch ra chữ Trung Hoa, làm thành một bộ mười quyển, mệnh danh là “Thành Duy thức luận”.

Đệ tử lớn của Ngài Huyền Trang là Khuy Cơ, trải qua thời gian mấy mươi năm hầu Thầy, được đắc truyền về môn Duy thức học này, nên sớ giải lại bộ “Thành Duy thức luận" đến 60 quyển, đặt tên là “Thành Duy thức luận thuật kư”.

Đến sau, Ngài Huyền Trang muốn cho người học dễ nhớ, nên làm 12 bài tụng (mỗi bài bốn câu) tóm tắt nghĩa lư rộng răi u huyền của Duy thức, đặt tên là “bát thức qui củ tụng”.

Đành rằng sách vở Duy thức rất nhiều, v́ các vị Bồ Tát nhắm nhiều khía cạnh của Duy thức mà phân tích giảng giải, song có ba bổn, từ xưa đến nay được xem là chánh tông, là căn bản của Duy thức học:

1. Đại thừa bá pháp minh môn luận: Nói về pháp số (danh từ chuyên môn) của Duy thức.

2. Duy thức tam thập tụng: Nói về nghĩa chánh của Duy thức.

3. Bát thức qui củ tụng: Tóm tắt nghĩa lư bao la của Duy thức.

Về sau các học giả hoặc sang tác hoặc giải thích sách vở Duy thức, đều căn cứ vào ba bổn luận ấy, khai thác nhiều khía cạnh, rồi tán rộng ra hoặc làm cho nổi bật những điểm quan trọng.

Bổn “Đại thừa bá pháp minh môn luận" và bổn “Bát thức qui củ tụng" Tôi đă dịch và giải rồi, hiệp chung lại dưới nhan đề là “Duy thức nhập môn”.

C̣n bổn “Duy thức tam thập tụng" này, nay mới dịch xong. Nội dung của luận này, do Ngài Bồ Tát Thiên Thân dùng 24 bài tụng đầu, nói về Duy thức tướng, bài tụng thứ 25 nói về Duy thức tánh, 5 bài tụng sau là nói về Duy thức vị; hay nói một cách khác là: Duy thức cảnh, Duy thức hành và Duy thức quả (xem 2 cái biểu ở cuối quyển này).

Quí vị muốn nghiên cứu về Duy thức học, trước nhứt nên đọc kỹ 3 bổn luận này. Cũng như người học nghề vơ, trước phải học đường thảo, rồi sau mới phân miếng.

Huyền diệu thay! Cũng ba bổn luận này, mà từ xưa đến nay, không biết bao nhiêu vị Đại luận sư và các nhà học giả, sớ giải măi cũng không cùng.

Chúng ta chớ nên có ư nghĩ nông cạn: học sơ lược chánh văn hay đọc lời sớ giải thô sơ của ba bổn luận này, rồi cho là đầy đủ. Phải học măi, coi nhiều, chúng ta sẽ thấy rừng hoa Duy thức, thật không biết bao nhiêu màu sắc tốt tươi xinh đẹp.

Kính đề

Sa Môn Thích Thiện Hoa

-ooOoo-

 

LỜI TỰA

Trong Duy thức nói “Thức A lại da”, tức là nói về pháp chúng sanh, đáng lẽ phải dễ hiểu, tại sao lại rất khó hiểu?

Tuy nói về pháp chúng sanh, song chúng sanh có vô lượng vô biên, nên lời nói cũng phải vô lượng vô biên; đây là điều khó thứ nhứt.

Lại nữa, bên Thiền tôn th́ chỉ thẳng về “Tâm pháp" nên không cần văn tự ngữ ngôn; c̣n Duy thức tôn lại khai phương tiện, dùng văn tự, ngữ ngôn. Đă dùng văn tự biên chép và lời nói luận bàn, những sự lư vô lượng vô biên, cho nên lời nói phải nhiều, văn tự phải thâm; đây là điều khó thứ hai.

Bởi hai điều khó trên, nên môn học Duy thức này ngày xưa bị bặt tăm, cho đến ngày nay người học Phật, phần nhiều cũng tránh chỗ khó mà t́m nơi dễ: nghe nói đến Duy thức th́ thối lui. Đôi khi cũng có người cố gắng t́m học, song lạikhông gặp cửa để vào!

Đại Viên này đă ôm ấp chí lợi tha từ lâu, nên đối với việc khó khăn này đă nhiều lần lưu ư.

Nền tảng đầu tiên của Duy thức học là quyển:

“Đại thừa bá pháp minh môn luận" và quyển “Duy thức tam thập tụng”.

Song, nếu theo những bản chú giải về đời Đường th́ rất khó khăn; người sơ học không dễ ǵ nhập được. C̣n những bản Duy thức thuộc về đời Minh chú giải, lại sợ ngụy truyền. Bởi thế nên tôi căn cừ theo bản chú giải xưa (đời Đường), rồi cải tạo văn thể những chỗ nghĩa lư thâm thuư khó hiểu, th́ tôi làm cho rơ ràng dễ hiểu; c̣n những chỗ phiền phức, th́ tôi thanh giản cho gọn gàng. V́ thế nên tôi đặt tên quyển sách này là “Duy thức dị giản" (Duy thức dễ gọn).

Bởi “dễ”, nên người đọc dễ hiểu và có thể đọc lâu, v́ “gọn" nên người học dễ theo và có thể đọc nhiều.

Nay tôi giảng 30 bài tụng Duy thức này, là muốn cho người học dễ hiểu và dễ theo, dễ tiến đến việc đọc nhiều, đọc lâu về môn Duy thức học vậy.

Đường Đại Viên

-ooOoo-

 

BÀI THỨ NHỨT

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

 

                        * Ngài Bồ Tát THIÊN THÂN tạo luận

                        * Ngài HUYỀN TRANG dịch ra chữ Hán

                        * Ông ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn

                        * Sa môn T. THIỆN HOA dịch ra chữ Việt

 

GIẢI ĐỀ MỤC

“Duy thức” - Thức là phân biệt; có hai phần: 1. Sở phân biệt (bị biết) gọi là cảnh, hoặc gọi là sự vật, tức là núi, sông, ruộng, vườn ...2. Năng phân biệt (cái biết) gọi là thức, tức là cái tác dụng phân biệt hay nhận biết các cảnh vật.

Cảnh vật có h́nh tướng, thức không h́nh tướng. Người đời đều nói hai vật này ( vật chất, tinh thần) riêng khác; thật ra năng phân biệt (biết) và sở phân biệt (bị biết) cũng đều là thức; ngoài thức ra không có vật ǵ khác. Bởi thế nên gọi là Duy thức.

Người đời v́ chấp tất cả sự vật là thật có, nên không tin lư duy thức. Nay môn học này, giải thích cho người biết: tất cả sự vật, chỉ có thức biến hiện, không phải thật có, nên gọi là “Duy thức học”.

“Tam thập tụng” - Theo lệ thường, trong kinh Phật, mỗi một bài là bốn câu; nay dùng 30 bài tụng, để giải thích nghĩa mầu nhiệm của Duy thức, cho nên quyển luận này gọi là “Duy thức tam thập tụng”.

“Dị giải” - Nguyên văn bổn luận này có 30 bài tụng, do ngài Bồ Tát Thiên Thân tạo ra. Văn tự đă khó mà nghĩa lư lại thâm, người học rất khó hiểu. Nay tôi giải thích bổn luận này, dùng những lời lẽ gọn gàng dễ hiểu, nên gọi là “Dị giải”.

CHÁNH VĂN

Hỏi: - Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật giáo, đều nói có Ngă và Pháp?

LƯỢC GIẢI

Người đời chấp tất cả sự vật, như núi, sông, cỏ, cây ...đều thật có. Nay lại nghe nói:”Các cảnh vật ấy đều do thức biến hiện, chỉ là giả tướng, chớ không phải thật có”, th́ họ quyết định không tin. Bởi thế nên Luận chủ đề xướng Duy thức học, đặt ra những lời vấn đáp, để giải thích các điều nghi ngờ đó.

Có người hỏi: - Nếu chỉ có thức mà thôi, th́ tại làm sao, người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngă, Pháp ? Nếu lư Duy thức đúng, th́ lời người thế gian và Phật giáo nói sai, c̣n nếu thế gian và Phật giáo nói đúng, th́ lư Duy thức phải sai. Hai thuyết rất mâu thuẫn nhau, vậy bên nào nói đúng lư ?

Câu hỏi này rất khó, nếu không phải bực Bồ Tát trí huệ vô biên, th́ không dễ ǵ trả lời được.

“Ngă pháp”  nghĩa là ǵ? - “Ngă” là chủ tế (tự chủ, có quyền sắp đặt). Như người đời chấp thân này là “ta”; có quyền tự chủ, tự tại và sai khiến sắp đặt các việc, như thếgọi là “Ngă”.

“Pháp” là khuôn phép và giữ ǵn; nghĩa là tự nó giữ ǵn bản chất của nó, làm cho người xem đến, th́ biết là vật ǵ. (Nhậm tŕ tự tánh, quỹ sanh vật giải).

Như cái bàn ở trước mặt đây, tự nó giữ ǵn bản chất cứng nhắc, h́nh dáng dài rộng hoặc cao thấp và có công năng chứa vật. Một khi người xem đến th́ biết là cái bàn. Như thế gọi là “pháp”.

Người thế gian chấp ngă, như chấp thân mạng loài hữu t́nh, đều có quyền tự chủ, tự tại và sai khiến sắp xếp mọi việc.

Người thế gian chấp pháp, không ngoài ba điểm: Thật (bản chất), Đức (h́nh dáng), Năng (công dụng). Như họ chấp nhà cửa cỏ cây, v.v ...là thật có (thật) h́nh dáng tốt hay xấu (đức) và công dụng của nó (nghiệp); mỗi món đều gọi là một pháp.

Trong Phật giáo nói ngă, như nói “Tu Đà hoàn, Tu Đà hàm, A Na Hàm, A la Hán, v.v ...”. mỗi tên đều hàm ẩn ư nghĩa: ta đă chúng, ta được tự chủ và tự tại.

Trong Phật giáo nói Pháp, như nói “5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, v.v...”. mỗi pháp đều tự giữ ǵn bản chất (tự tánh) và h́nh dáng của nó; khi người xem đến, có thể biết đó là vật ǵ.

Nhưng chúng ta phải chú ư ở điểm này: Trong Phật giáo nói “ngă” , không đồng với người thế gian “chấp ngă”. Như kinh Kim Cang nói: “Gọi là Tu Đà Hoàn (Nhập lưu) mà không có Tu Đà Hoàn (vô sở nhập) thế mới gọi là Tu Đà Hoàn, v.v ...”

Đem đoạn kinh này để chứng minh, th́ chúng ta thầy trong kinh tuy nói “Ngă”, song chỉ có giả danh mà thôi, không phải như thế gian chấp có thật Ngă.

Đáp: - Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

Do giả thuyết Ngă Pháp

Hữu chủng chủng tướng chuyển

Bỉ y thức sở biến.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói ba câu tụng để trả lời rằng: Thế gian và Thánh giáo đều giả nói có Ngă, Pháp; bởi v́ các tướng Ngă, Pháp kia đều do thức sanh ra vậy.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư ba câu tụng này nói: Do thế gian và Thánh giáo đều giả nói có Ngă, Pháp, rồi từ trên thức của người nghe tự biến ra h́nh tướng của Ngă, Pháp.

NÓI VỀ TƯỚNG NGĂ, PHÁP CỦA THẾ GIAN

Như có ngư6ời đang ngồi yên trong nhà tối, bổng nghe người nói: “Ở góc nhà kia có con quỉ”. Lúc bấy giờ trên thức của họ liền biến ra con quỉ,tóc tai xù xụ, h́nh tướng rất ghê sợ, muốn chụp bắt người. Thật ra không có quỉ, nhưng trên thức người nghe lại biến ra quỉ. Đây là tướng Ngă của thế gian, do thức biến vậy.

Có người ngồi trong nhà, nghe nói: “Tuyết rơi ngoài sân”. Lúc bấy giờ trên thức họ tự biến ra h́nh tướng tuyết bay trắng xoá. Thật ra không có tuyết, nhưng trên thức của người nghe lại biến ra có h́nh tướng của tuyết. Đây là tướng Pháp của thế gian, di thức biến ra vậy.

NÓI VỀ TƯỚNG NGĂ, PHÁP TRONG THÁNH GIÁO

Như có người nghe trong kinh nói: “Phật có 32 tướng”. Rồi từ trên thức của họ tự biến ra tướng Phật tốt đẹp lạ thường. Đây là tướng “Ngă” trong Thánh giáo, do thức biến ra.

Hoặc nghe nói: “Cơi Phật có 7 món báu trang nghiêm”; rồi từ trên thức của họ biến ra cảnh Tịnh độ. Đây là tướng “Pháp” trong Thánh giáo, do thức biến hiện.

 

***

 

Ngoại nhơn đă nghe Luận Chủ nói: “Các tướng Ngă, Pháp đều do thức biến hiện”, thế tất nhiên họ phải nghi rằng:

H́nh tướng của thức thế nào?

Và có bao nhiêu chủng loại?

V́ đoán tâm lư của ngoại nhân, nên Luận chủ nói tiếp ba câu tụng, để trả lời rằng:

Nguyên văn chữ Hán

            Thử năng biến duy tam

            Vị: Dị thục, Tư lương

            Cập Liễu biệt cảnh thức

Dịch nghĩa

            Thức Năng biến này có 3 loại:

            1. Dị thục thức (thức thứ Tám)

            2. Tư lương thức (thức thứ Bảy)

            3. Liễu Biệt cảnh thức (6 thức trước).

 

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn trên nói: “Do thức biến ra các tướng Ngă, Pháp”. Đă có cảnh sở biến  (bị biến) tất nhiên phải có thức năng biến.

Đoạn này nói về thức năng biến. Thức năng  biến có ba loại:

1. Dị thục thức, tức là thức thứ Tám

2. Tư lương thức, tức là thức thứ Bảy

3. Liễu biệt cảnh thức, tức là 6 thức trước (từ nhăn thức cho đến ư thức).

Ba loại thức Năng biến này, nếu phân tích ra th́ có tám thức (Nhăn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ư thức, Mạt na thức và A lại da thức)

 

***

 

 

BÀI THỨ HAI

 

CHÁNH VĂN

Hỏi: Trên đă lược nói cái “tên”, nhưng chua nói rơ cái “tướng” của thức Năng biến; vậy cai “tướng” của thức Năng biến thứ nhứt thế nào?

Đáp: Nguyên văn chữ Hán

Tụng viết:

            Sơ A lại da thức

            Dị thục, Nhứt thế chủng.

Dịch nghĩa

Luận chủ nói tụng (10 câu) đễ trả lời rằng: Thức Năng biến thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi là Dị thục thức hay Nhứt thế chủng thức.

 

LƯỢC GIẢI

 

Thức Năng biến thứ nhất có ba tướng:

I. Tự tướng (thể); tiếng Phạn gọi là “A lại da”, Tàu dịch là “Tàng”. Chữ Tàng có ba nghĩa:

1. Năng tàng: Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử (hạt giống) của các Pháp thiện ác; cũng như cái kho có công năng chứa lúa.

2. Sở tàng: Thức này có chổ để chứa chủng tử của các Pháp; cũng như cái kho là chổ để chứa lúa.

3. Ngă ái chấp tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái luyến chấp làm ngă. Nó như người giữ kho, giữ ǵn chẳng cho lúa mất (chấp tàng).

II. Quả tướng (quả), gọi là “Dị thục thức”. Chữ Dị thục có ba nghĩa:

1. Dị thời nhi thục: Khác thời mà chín. Dụ như trái xoài, từ khi sanh cho đến khi chín, thời gian khác nhau.

2. Dị loại nhi thục: Khác loài mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ tánh chua, đến chín lại ngọt.

3. Biến dị nhi thục: Biến đổ khác chất mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ th́ xanh, đến khi già chín biến đổi lại vàng.

V́ thức Dị thục này lănh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị thục quả. Tánh chất của Dị thục quả là vô kư (không nhứt định thiện hay ác); song về nghiệp nhơn đời trước của nó, lại có thiện và ác.

Bởi lấy nghiệp nhơn (thiện ác) đối với quả (vô kư) mà nói, nên có ba nghĩa: Khác thời gian chín (Dị thời nhi thục), khác loại mà chín (Dị loại nhi thục) và biến đổi chín (Biến dị nhi tục).

                                    1. Dị thời ...

            Dị thục            2. Dị loại ...     nhị thục

                                    3. Biến dị ...    Quả (vô kư)

                        Nhơn (thiện, ác)

III. Nhơn tướng (nhơn), gọi là Nhứt thế chủng thức. Tất cà các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và xuất thế gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó. Các chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức). Các chủng tử  là “nhơn” khởi hiện ra các Pháp là “quả”. V́ theo “nhơn tướng” (chủng tử), nên gọi thức này là “Nhứt thế chủng”.

Nguyên văn chữ Hán

            Bất khả tri chấp thọ

            Xứ liễu thường dữ xúc

            Tác ư thọ tưởng tư

            Tương ưng duy xả thọ

Dịch nghĩa

            Không thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ ǵn chủng tử, lănh thọ thân thể và thế giới của thức này được. Thức này thường tương ưng với năm món biến hành là: xúc, tác ư, thọ, tưởng và . Song trong các thọ, nó chỉ tương ưng với xả thọ.

 

LƯỢC GIẢI

 

Hành tướng thức Năng biến thứ nhứt rất là tế nhị! Bởi người đời tâm thô không thể biết được, nên nói “Bất khả tri”.

Những việc của thức này mà người đời không thể biết được, có hai phần:

1. Thức này giữ ǵn chủng tử, thế giới, thân thể và làm cho thân thể sanh ra cảm giác, lănh thọ; nghĩa là thức thứ Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ ǵn không cho mất; đây là điền khó biết thứ nhứt.

2. Hành tướng năng duyên (liễu) của thức này, rất sâu xa và tế nhị, đây là điều khó biết thứ hai.

Không  1. Kiến phần năng duyên của thức này (liễu)

Thể biết            2. Tướng phần bị          1. Chủng tử

                        Duyên của thức             2. Thân thể (chấp thọ)

                                   này                   3. Thế giới   (xứ)

Tám thức, phân làm ba món năng biến, đều có quyền tự chủ, tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi là Tâm vương. Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, th́ mới có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có bộ hạ tuỳ tùng để giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp. Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm vương, không được tự tại, nên gọi “Tâm sở”, hoặc gọi là “Tâm sở hữu”; nghĩa là cái sở hữu của Tâm vương.

Lại nữa, Tâm sở đă giúp Tâm vương tạo nghiệp, th́ Tâm vương với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên gọi là tương ưng.

Hỏi: Có mấy Tâm sở tương ưng với thức này?

Đáp: Chỉ có năm món biến hành thường tương ưng với thức này là: Xúc, Tác ư, Thọ, Tưởng và Tư.

Xúc: Tiếp xúc. Như con mắt xen hoa, khi mới vừa tiếp xúc với hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người đồng đi một con đường; một người đi từ phương Đông đến phương Tây, một người đi từ phương Tây đến phương Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc.

Một thí dụ nữa, như môn Kỷ hà học: trên cái h́nh tṛn gạch qua một đường, chỗ đụng nhau một chỗ trên đường gạch, đó là xúc.

Tác ư: Móng khởi cái ư. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng khởi cái ư; đó là “Tác ư Tâm sở”. Rồi nó dẫn dắt nhăn thức xem hoa. Nếu không có tác dụng của Tâm sở này, th́ dù có gặp hoa cũng không thấy.

Người đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa. Như thế là v́ trong lúc đó, Tâm sở tác ư không có tương ưng với nhăn thức.

Thọ: Lănh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui buồn ...

Tưởng:  Tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng h́nh tướng của hoa đỏ hay vàng, tốt hay xấu ...

Tư: Lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩa trồng hoa hay bẻ hoa ...

Lại nữa, “Thọ Tâm sở” có 3 loại:

1. Lạc thọ: Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như được người khen ngợi, th́ cảm thọ vui mừng.

2. Khổ thọ: Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như bị người huỷ báng hạ nhục, th́ cảm thọ buồn khổ.

3. Xả thọ: Thọ cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh b́nh thường không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị chê, th́ cảm thọ không vui buồn.

Tóm lại, thức thứ Tám này, tương ưng với 5 món Tâm sở Biến hành và hành tướng của nó rất là tế nhị, không có hiện ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ.

Nguyên văn chữ Hán

            Thị vô phú vô kư

            Xúc đẳng diệc như thị

Dịch nghĩa

Tánh của thức này là vô phú vô kư, nên những Tâm sở tương ưng với nó, như Xúc, Tác ư ...cũng vô phú vô kư.

LƯỢC GIẢI

Tánh của các pháp, tóm lại có 3 loại: 1. Tánh thiện, 2. Tánh ác, 3. Tánh vô kư (không thiện không ác).

Tánh vô kư lại chia làm 2 loại:1. Vô phú vô kư, 2. Hữu phú vô kư _ Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho “tánh vô kư”; khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho “tánh hữu phú vô kư”. Đến lúc lau chùi sạch bụi; dụ cho “tánh vô phú vô kư”.

Tóm lại, thức thứ Tám này không bị các phiền năo ngăn che, nên thuộc về tánh vô phú vô kư. Và những Tâm sở tương ưng với thức này, như Xúx, Tác ư ...cũng thuộc về tánh vô phú vô kư.

 

 

Nguyên văn chữ Hán

            Hằng chuyển như bộc lưu

Dịch nghĩa

Hằng chuyển biến như ḍng nước chảy mạnh.

LƯỢC GIẢI

Ngoại đạo chấp các pháp thường c̣n không mất, như thế gọi là chấp “thường’; hoặc chấp chết rồi mất hẳn, như thế gọi là chấp “đoạn’.

Nhà duy thức nói: từ vô thỉ đến nay, thức này hằng chuyển biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ xuống, một dăy trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng. V́ nó hằng chảy luôn, nên chẳng phải “đoạn diệt”. Song nó liên kết tiếp tục nhiều giọt, biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải “thường nhứt”.

 

Nguyên văn chữ Hán

            A la hán vị xả ?

Dịch nghĩa

Đến vị A la hán mới xả bỏ thức này (tàng thức).

LƯỢC GIẢI

Hỏi: Thức này, đă sanh diệt tương tục, là gốc của sanh tử luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới xả bỏ nó được ?

Đáp: Người tu hành đoạn hết phiền năo chướng, đến quả vị A la hán, mới xả bỏ được thức “A lại da”. Song chỉ xả bỏ cái “danh”, chớ không phải xả bỏ cái “thể” của thức này.

Hỏi: Tại sao không xả bỏ cái “thể”, của thức này?

Đáp: Cái “thể” của thức này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần tịnh tức là “Trí”. Trong bài tụng nói “xả bỏ thức này”, tức là chuyển thức thành trí, chớ không phải xả bỏ. Nếu xả bỏ cái “thể” của thức này, th́ thành ra đoạn diệt, thuộc về ngoại đạo. Trong Đạo Phật không có chủ trương đoạn diệt (mất hẳn).

 

 

***

        Minh Quang posted October 26, 2005

[Home] [Up] [PHPT 9 tập 1 bài 1] [PHPT 9 tập 1 bài 2] [PHPT 9 tập 1 bài 3] [PHPT 9 tập 1 bài 4] [PHPT 9 tập 1 bài 5] [PHPT 9 tập 1 bài 6] [PHPT 9 tập 1 bài 7] [PHPT 9 tập 1 bài 8] [PHPT 9 tập 1 bài 9] [PHPT 9 tập 1 bài 10] [PHPT 9 tập 2 A Đà Na Thức] [PHPT 9 tập 3 bài 1 và 2] [PHPT 9 tập 3 bài 3 và 4] [PHPT 9 tập 3 bài 5 và 6] [PHPT 9 tập 3 bài 7] [PHPT 9 tập 4 Nhơn Minh Luận]