Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

BÀI THỨ CHÍN

 

G.- BẤT-ĐỊNH TÂM-SỞ

 (CÓ 4 MÓN)

 

Theo dơi bài giảng Bất Định Tâm Sở & Sắc Pháp ngày 2 tháng 10 năm 2005 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức

 

Bốn món Tâm-sở này không nhất-định thiện hay ác, nên gọi là “Bất-định”. 

1.- Hối: Ăn-năn. Chỗ khác gọi là “Ố-tác”: Ghét việc làm đă qua; cũng là dị-danh của “Hối”. Tánh của Tâm-sở này, ăn-năn việc làm đă qua. Nghiệp-dụng của nó làm chướng-ngại Định.
                         Ăn-năn có khi thiện mà cũng có lúc lại ác. Như ăn-năn: Vừa rồi ḿnh sân-si đánh đập người thật bậy quá, như thế là thiện. Ăn-năn: Vừa rồi sao ḿnh không trộm lấy đồ vật của người, như thế là ác. 

2.- Miên: Ngủ. Tánh của Tâm-sở này làm cho tâm mờ mịt, thân không tự-tại. Nghiệp-dụng của nó làm chướng-ngại quán-tưởng. Ngủ cũng có khi thiện mà cũng có lúc lại ác: Ngủ phải thời là thiện, c̣n ngủ trong khi nghe kinh hay niệm Phật là ác. 

3.- Tầm: T́m cầu. Tâm-sở này thiện và ác không nhứt-định, chỉ tùy theo trường-hợp. Tánh của nó làm cho tâm đối với cảnh danh-ngôn của ư-thức (ư-ngôn cảnh) sanh-khởi thô-động. Nghiệp-dụng của nó là làm cho thân tâm chẳng yên. 

4.- Tư: Chín chắn xét. Tâm-sở này cũng có thiện và ác tùy theo trường-hợp. Tánh của nó là làm cho tâm đối với cảnh danh-ngôn của ư-thức, sanh-khởi tế-nhị. Nghiệp-dụng của nó là làm cho thân tâm được yên. 

Tóm lại, tất cả chúng-sanh hằng ngày tạo nghiệp lành hay dữ, chịu quả báo khổ hay vui, không vượt ra ngoài phạm-vi của 8 món Tâm-vương và 51 món Tâm-sở này. 

 

***

 

 

III.- SẮC-PHÁP

 

(CÓ 11 MÓN)

 

Sắc-pháp là pháp thuộc về sắc (những cái thuộc về sắc).

Sắc có hai loại: 1.- H́nh sắc, như dài, ngắn, vuông, tṛn v.v... 2.- Màu sắc, như xanh, đỏ, trắng, vàng v.v...

Sắc có 11 món là 5 căn: Nhăn-căn, Nhĩ-căn, Tỹ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn, và 6 trần: Sắc-trần, Thinh-trần, Hương-trần, Vị-trần, Xúc-trần, và Pháp-trần.

Sắc-pháp là tướng-phần ảnh-tượng của Tâm-vương và Tâm-sở (nhị sở hiện ảnh cố). 

1. Nhăn-căn: Con mắt. Chữ “Căn” có nghĩa là làm chỗ nương cho thức và phát-sanh ra thức. Năm căn, căn nào cũng có hai thứ: 1.- Tinh-tế và ở bên trong, gọi là “Thắng-nghĩa-căn”, 2.- Thô-phù, ở bên ngoài, gọi là “Phù-trần-căn”.

H́nh-tướng của con mắt như trái nho. Nghiệp-dụng của nó chiếu soi các sắc. 

2.- Nhĩ-căn: Lỗ tai. H́nh-tướng của tai như lá sen non. Nghiệp-dụng của nó hay nghe các tiếng. 

3.- Tỹ-căn: Lỗ mũi. H́nh-tướng của lỗ mũi như hai ngón tay duỗi xuống. Nghiệp-dụng của nó hay ngửi các mùi thơm và hôi. 

4.- Thiệt-căn: Cái lưỡi. H́nh-tướng của lưỡi như trăng lưỡi liềm. Nghiệp-dụng của nó nếm các vị và nói năng kêu gọi. 

5.- Thân-căn: Thân thể. Chữ “thân” có hai nghĩa: Tích-tụ các bộ-phận và làm chỗ nương cho các căn. Nghiệp-dụng của nó là duyên xúc-trần, như nặng, nhẹ, trơn, nhám v.v... 

6.- Sắc-trần: Cảnh bị thấy của con mắt. Chữ “trần” có nghĩa nhiễm-ô và bụi bặm. Sắc-trần có 25 món:

1.- Xanh,
            2.- Vàng,
            3.- Đỏ,
            4.- Trắng,
            5.- Dài,
            6.- Ngắn,
            7.- Vuông,
            8.- Tṛn,
            9.- To,
            10.- Nhỏ,
            11.- Cao,
            12.- Thấp,
            13.- Ngay,
            14.- Xiên,
            15.- Ánh sáng,
            16.- Bóng,
            17.- Sáng,
            18.- Tối,
            19.- Khói,
            20.- Bụi,
            21.- Mây,
            22.- Mù,
            23.- Cực-lược sắc (sắc rất nhỏ) và Cực-hánh sắc (sắc rất xa),
            24.- Biểu-sắc (sắc, có nêu ra được),
            25.- Sắc hư-không. 

7.- Thinh-trần: Tiếng, cảnh bị nghe của tai. Có 12 loại tiếng:

1.- Tiếng: cái tướng bị nghe của tai (nói chung các tiếng),
            2.- Tiếng vừa ư,
            3.- Tiếng không vừa ư,
            4.- Tiếng b́nh thường (không ưa ghét),
            5.- Tiếng loài hữu-t́nh (tiếng nói),
            6.- Tiếng loài vô-t́nh (tiếng cây v.v...),
            7.- Tiếng thuộc cả hữu-t́nh và vô-t́nh (như tiếng trống do tay người ta đánh),
            8.- Tiếng thuộc về thế-tục nói,
            9.- Tiếng thuộc về của Thánh-giả nói,
            10.- Tiếng của ngoại-đạo nói (do biến-kế sở-chấp),
            11.- Tiếng nói chánh (Thánh-ngôn) (như thật có thấy, nghe, hay, biết th́ nói có thấy nghe, hay và biết; không thấy, nghe, hay, biết th́ nói không thấy, nghe, hay, biết, như thế gọi là 8 lời nói Chánh),
            12.- Tiếng vang. 

8.- Hương-trần: Mùi, cảnh bị ngửi của mũi. Có 6 thứ mùi:

1.- Mùi thơm,
            2.- Mùi hôi,
            3.- Mùi không thơm hôi,
            4.- Mùi từ bản-chất sanh (câu-sanh hương),
            5.- Mùi do chế-tạo mà có (ḥa-hiệp hương),
            6.- Mùi do sự biến-đổi mà sanh. 

9.- Vị-trần: Vị, cảnh bị nếm của lưỡi. Có 12 thứ vị:

1.- Vị đắng,
            2.- Vị chua,
            3.- Vị ngọt,
            4.- Vị cay,
            5.- Vị mặn,
            6.- Vị lạt,
            7.- Vị vừa ư,
            8.- Vị không vừa ư,
            9.- Vị b́nh thường,
            10.- Vị từ bản-chất sanh,
            11.- Vị do ḥa-hiệp chế-tạo mà có,
            12.- Vị do biến-đổi mà sanh. 

10.- Xúc-trần: Xúc, cảnh bị biết của thân. Xúc-trần có 26 món:

1.- Đất,
            2.- Nước,
            3.- Gió,
            4.- Lửa,
            5.- Nhẹ,
            6.- Nặng,
            7.- Nhám,
            8.- Trơn,
            9.- Hưỡn,
            10.- Gấp,
            11.- Lạnh,
            12.- Nóng,
            13.- Cứng,
            14.- Mềm,
            15.- Đói,
            16.- Khát,
            17.- No,
            18.- Sức lực,
            19.- Yếu,
            20.- Buồn,
            21.- Ngứa,
            22.- Dính,
            23.- Già,
            24.- Bịnh,
            25.- Chết,
            26.- Ốm. 

11.- Pháp-trần: Cái bóng dáng của năm trần c̣n lưu lai trong ư-thức. Nghĩa là khi mắt không c̣n thấy sắc, tai không c̣n nghe tiếng, cho đến thân không c̣n biết xúc, mà trong ư-thức vẫn nhớ lại bóng dáng của 5 trần; cái bóng dáng đó là pháp-trần. Trong Duy-thức gọi là “lạc tạ ảnh tử” (cái bóng rớt lại). Đây là cảnh bị biết của ư-thức. Pháp-trần có 5 loại:

1. Cực-lược sắc: Sắc rất nhỏ như vi trần.
            2. Cực-hánh sắc: Sắc rất xa, như thấy tăm tăm mù mù.
            3. Định-quả sắc: Những sắc tướng do tu định hiện ra. Như các vị Bồ-tát, khi nhập định hiện ra nước, lửa, thế-giới v.v...
            4. Vô-biểu sắc: Sắc không nêu bày ra được; như khi thọ-giới, ư-thức lănh thọ mà có, nên cũng gọi là “thọ-sở-dẫn sắc” (sắc do thọ-giới dẫn sanh).
            5. Biến-kế sở-chấp sắc: Sắc do ư-thức vọng-tưởng phân-biệt sanh, chẳng thật. 

 

***

            Minh Quang posted June 2, 2005

[Home] [Up] [PHPT 9 tập 1 bài 1] [PHPT 9 tập 1 bài 2] [PHPT 9 tập 1 bài 3] [PHPT 9 tập 1 bài 4] [PHPT 9 tập 1 bài 5] [PHPT 9 tập 1 bài 6] [PHPT 9 tập 1 bài 7] [PHPT 9 tập 1 bài 8] [PHPT 9 tập 1 bài 9] [PHPT 9 tập 1 bài 10] [PHPT 9 tập 2 A Đà Na Thức] [PHPT 9 tập 3 bài 1 và 2] [PHPT 9 tập 3 bài 3 và 4] [PHPT 9 tập 3 bài 5 và 6] [PHPT 9 tập 3 bài 7] [PHPT 9 tập 4 Nhơn Minh Luận]