Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

BÀI THỨ TƯ

 

Ư-THỨC 

(THỨC THỨ SÁU) 

 

Theo dơi bài giảng Ư Thức ngày 21 tháng 8 năm 2005 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức  

 

 

Thức này nương Ư-căn (thức thứ 7) khởi tác-dụng phân-biệt Pháp-trần, nên gọi là “Ư-thức”.

Trong tám thức, duy có thức thứ Sáu này rất lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết, nên trong bài thơ Bát-thức có câu rằng: “Độc hữu nhứt cá tối linh ly” (riêng có một cái thức rất lanh lẹ). Suy nghĩ làm việc phải, thức này đứng đầu; c̣n tính-toán tạo-tác việc ác, th́ nó cũng hơn cả. Bởi thế nên trong Duy-thức nói: “Công vi thủ, tội vi khôi” (Nói về “Công” th́ thức này hơn hết, c̣n luận về “Tội” th́ nó cũng đứng đầu). Thức này cũng có công-năng chấp Ngă và chấp Pháp. 

Một điều mà người học thường thắc mắc:

- Tại sao thức thứ Sáu gọi là “Ư-thức”, mà thức thứ Bảy cũng gọi là “Ư-thức”? 

- Trong “Đại-thừa bá-pháp minh-môn luận chuế ngôn”, có giải-thích như vầy: Thức thứ Sáu mà gọi là “Ư-thức” v́ thức này nương “Ư-căn” mà khởi ra phân-biệt, nên gọi “Ư-thức”. Nghĩa là thức của Ư căn. “Thức” là năng-y, c̣n”Ư” là bị-y, hai phần khác nhau. Cũng như nói “Nhăn-thức”, tức là thức của Nhăn-căn. Thế là căn với thức khác nhau.

C̣n thức thứ Bảy mà gọi là “Ư-thức”; chữ “Ư” là sanh-diệt tương-tục không gián-đoạn. V́ thức này sanh-diệt tương-tục không gián-đoạn nên gọi là “Ư-thức”. Thế là “Thức” tức là “Ư” không khác. Cũng như “Tàng-thức”, chữ “Tàng” là chứa đựng. V́ thức này chứa đựng các pháp, nên gọi là “Tàng-thức”. Thế là “Thức” tức là “Tàng” (chứa) không khác.

 

KHI Ở ĐIẠ-VỊ PHÀM-PHU, THỨC NÀY ĐỐI VỚI: 

1.- Ba cảnh: Thức này có đủ ba cảnh:

            a) Tánh-cảnh, b) Độc-ảnh-cảnh, c) Đới-chất-cảnh.

2.- Ba lượng: Thức này có đủ ba lượng:

            a) HIện-lượng, b) Tỷ-lượng, c) Phi-lượng.

3.- Ba tánh: Thức này có đủ ba tánh:

            a) Thiện-tánh, b) Ác-tánh, c) Vô-kư-tánh.

4.- Ba cơi: Thức này có đủ trong ba cơi:

            a) Cơi Dục, b) Cơi Sắc, c) cơi Vô-sắc.

5.- Chín địa: Thức này có đủ trong chín địa:

6.- Tâm-sở: Thức này có đủ 51 món Tâm-sở: 5 món Biến-hành, 5 món Biệt-cảnh, 11 món Thiện, 6 món Căn-bản phiền-năo, 20 món Tùy-phiền-năo, 4 món Bất-định.

7.- Chín duyên: Trong chín duyên, thức này chỉ có 5 duyên: a) Căn duyên, b) Cảnh-duyên, c) Tác-ư duyên, d) Căn-bản duyên, e) Chủng-tử duyên.

8.- Thể (tánh): Thể của thức này có ba món phân-biệt: a) Tự-tánh phân-biệt, b) Tùy-niệm phân-biệt, c) Kế-đạt phân-biệt.

9.- Tướng: Tướng của thức này là luân-chuyển trong ba cơi (tam giới luân thời dị khả tri).

10.- Nghiệp-dụng: Nghiệp-dụng của thức này làm cho thân và miệng tạo ra dẫn-nghiệp và măn-nghiệp để cảm-thọ quả-báo trong ba cơi. Và ba Tánh cùng năm Thọ, thức này thường thay đổi luôn.

 

KHI LÊN THÁNH-VỊ, THỨC NÀY ĐỐI VỚI 

1.- Quán hạnh (tu): Thức thứ sáu này quán sanh-không, phá trừ ngă-chấp và quán pháp-không, phá trừ pháp-chấp.

2.- Đoạn hoặc và thành trí: Thức này có năm giai-đoạn trừ  hoặc chuyển thành Trí:

a) Đến vị Tư-lương, th́ thức này mới chinh-phục được hai món hiện hành của ngă-chấp và pháp chấp..

b) Đến vị Kiến-đạo, th́ thức này mới đoạn được hai món chủng-tử về phần phân-biệt của ngă-chấp và pháp-chấp.

c) Đến vị Tu-tập, thức này đoạn được hai món hiện-hành và chinh-phục được hai chủng-tử câu-sanh của ngă-chấp và pháp-chấp.

d) Đến vị Viễn-hành trở lên th́ thức này mới đoạn hết câu-sanh ngă-chấp và hoàn toàn vô-lậu.

e) Đến vị Đẳng-giác, thức này đoạn hết câu-sanh pháp-chấp, chuyển thành Diệu-quan-sát trí.

3.- Chứng quả và diệu-dụng: Khi chứng quả-vị Phật, th́ thức này chuyển thành Diệu-quan-sát trí và có công-năng chiếu soi căn-cơ của chúng-sanh trong Đại-thiên thế-giới, rồi tùy cơ thuyết-pháp hóa-độ hàm-linh. 

Muốn cho người học dễ nhớ, nên trong Bát-thức quy-củ, ngài Huyền-Trang Pháp-sư có làm ba bài tụng như sau. Hai bài tụng đầu nói thức này khi ở điạ-vị Phàm-phu, bài tụng thứ ba nói thức này khi đặng Thánh-quả.

 

Bài tụng thứ nhứt 

             Tam Tánh, tam Lượng thông tam Cảnh
                         Tam giới luân thời dị khả tri
                         Tương-ưng Tâm-sở ngũ thập nhứt
                         Thiện ác lâm thời biệt phối chi.
 

          三性三量通三境
                    三界輪時易可知
                    相應心所五十一
                    善惡臨時別配之
 

Dịch nghĩa 

             Ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh
                         Luân-chuyển ba cơi rất dễ biết
                         Tâm-sở tương-ưng năm mươi mốt
                         Thiện ác đến thời riêng phối-hiệp.
 

 

LƯỢC GIẢI 

 

Thức thứ Sáu này đủ cả ba Tánh, ba Lượng và ba Cảnh. Nó luân-hồi trong ba cơi rất dễ biết. Những Tâm-sở tương-ưng với thức này có 51 món. Khi thức này nghĩ việc lành th́ có Thiện-tâm-sở riêng phối-hiệp, c̣n khi nghĩ việc ác th́ có Ác-tâm-sở riêng phối-hiệp. 

 

*** 

 

Bài tụng thứ hai 

             Tánh, Giới, Thọ tam hằng chuyển dịch
                         Căn, Tùy, Tín dẳng đồng tương liên
                         Động thân phát ngữ độc vi tối
                         Dẫn, Măn năng chiêu nghiệp lực khiên.
 

            性界受三恒轉易
                   根隨信等總相連
                   動身發語獨為最
                   引滿能招業力牽

 

Dịch nghĩa 

             Tánh, Giới, Thọ ba thường biến đổi
                         Căn, Tùy, Tín chung nhau liên tiếp
                         Thân động, miệng thốt nó hơn hết
                         Dẫn-nghiệp, Măn-nghiệp thọ quả báo
 

 

LƯỢC GIẢI

 

Thức này đối với ba Tánh, ba Giới và năm Thọ th́ nó thường thay đổi; khi th́ vui lúc lại buồn v.v... 51 món Tâm-sở, như Căn-bổn phiền-năo, Tùy-phiền-năo và Thiện-tâm-sở v.v... cùng nhau liên tiếp không lúc nào rời thức này. Làm cho thân động và miệng nói, duy có thức này là hơn hết. Nó tạo ra dẫn-nghiệp và măn-nghiệp để chiêu-cảm quả-báo đời sau. 

 

*** 

 

Bài tụng thứ ba

            Phát khởi sơ-tâm Hoan-hỷ địa
                        Câu-sanh du tự hiện triền miên
                        Viễn-hành địa hậu thuần vô-lậu
                        Quán-sát viên-minh chiếu Đại-thiên.
 

            發起初心歡喜地
                   俱生猶自現纏眠
                   遠行地後純無漏
                   觀察圓明照大千
 

Dịch nghĩa 

             Khi đặng sơ-tâm Hoan-hỷ địa
                         Câu-sanh ngă, pháp hiện c̣n ẩn
                         Viễn-hành về sau thuần vô-lậu
                         Quán-sát viên-măn khắp Đại-thiên 

 

LƯỢC GIẢI 

 

Hành-giả trong lúc trải qua Thập-thánh th́ thức này có ba thời-kỳ đoạn phiền-năo và thuần vô-lậu: 

1.- Khi lên Sơ-địa, tức là Hoan-hỷ địa, th́ phân-biệt ngă-chấp và pháp-chấp đều đă đoạn. Nhưng câu-sanh ngă-chấp và pháp-chấp hăy c̣n hiện-hành và miên phục trong Tàng-thức, chưa có thể chinh-phục và đoạn-trừ được. 

2.- Khi đến Viễn-hành-địa (tức là Thất-địa) trở lên th́ mới đoạn được chủng-tử câu-sanh của ngă-chấp và chinh-phục được hiện-hành của pháp-chấp. Lúc bấy giờ thức này mới thuần Vô-lậu. 

3.- Khi sắp lên quả Phật th́ đoạn được chủng-tử câu-sanh của pháp-chấp. Lúc bấy giờ thức này chuyển thành Diệu-quan-sát trí, quán-sát chiếu soi cả Đại-thiên thế-giới và tùy theo căn-cơ của mỗi loài mà thuyết-pháp giáo-hóa. 

 

***

            Minh Quang posted May 27, 2005

[Home] [Up] [PHPT 9 tập 1 bài 1] [PHPT 9 tập 1 bài 2] [PHPT 9 tập 1 bài 3] [PHPT 9 tập 1 bài 4] [PHPT 9 tập 1 bài 5] [PHPT 9 tập 1 bài 6] [PHPT 9 tập 1 bài 7] [PHPT 9 tập 1 bài 8] [PHPT 9 tập 1 bài 9] [PHPT 9 tập 1 bài 10] [PHPT 9 tập 2 A Đà Na Thức] [PHPT 9 tập 3 bài 1 và 2] [PHPT 9 tập 3 bài 3 và 4] [PHPT 9 tập 3 bài 5 và 6] [PHPT 9 tập 3 bài 7] [PHPT 9 tập 4 Nhơn Minh Luận]