Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

BÀI THỨ MƯỜI

 

IV.- TÂM BẤT TƯƠNG-ƯNG HÀNH PHÁP

 (CÓ 24 MÓN)

 

Theo dơi bài giảng Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp & Vô Vi Pháp ngày 23 tháng 10 năm 2005 do Cư sĩ Minh-Quang Nguyễn Lê Đức tại chùa Hải Đức

 

Tâm bất tương-ưng hành pháp, gọi tắt là “Bất tương-ưng hành”. Chữ “Hành-pháp” là những pháp thuộc về “Hành-uẩn”. Hành-uẩn là một trong năm uẩn. 

Chữ “Hành” là sanh-diệt dời đổi; chữ “Uẩn” là chứa nhóm. Hành-uẩn có 2 loại: 

1.- Tương-ưng hành-uẩn, tức là các tâm-sở (51 món). Chữ “Tương-ưng” là ưng-thuận với Tâm-vương. 

2.- Bất tương-ưng hành-uẩn, tức là 24 món “bất tương-ưng hành” sau đây; 24 món này không tương-ưng với tâm, chúng chỉ y ba phần: Tâm-vương, tâm-sở và sắc-pháp mà giả thành lập. (Tam, phần-vị sai-biệt cố) 

1.- Đắc: Được, trái với mất. Thí như “Tôi được đồng xu”, cố nhiên phải có đồng xu là “sắc-pháp”, và nhăn-thức để thấy, ư-thức phân-biệt là tâm-pháp, cùng với các tâm-sở chung khởi là tâm-sở-pháp; phải đủ cả ba phần như thế, mới thành nghĩa “được”. 

2.- Mạng-căn: Thân mạng. Do nghiệp đời trước kéo dẫn, làm cho thần-thức thọ thân, sống trong một thời-gian hoặc lâu hay mau, gọi là “mạng-căn”. 

3.- Chúng đồng phận: Cũng như chữ “đồng loại”. Các loại chúng-sanh hoặc hữu-t́nh hay vô-t́nh, loài nào đồng với loài nấy. Như loài người đồng với người; loài vật đồng với vật. 

4.- Dị sanh tánh: Những loài sanh ra khác với Thánh-nhơn, tức là phàm-phu; chỗ khác gọi “phi-đắc”: Chúng phàm-phu không được Thánh-quả. Bởi thế nên gọi “Dị sanh tánh” hay “phi-đắc” đều được cả. 

5.- Vô-tưởng định: Định này diệt hết các tâm-vương và tâm-sở của 6 thức trước. Song đây chỉ gọi “Vô-tưởng” là v́ “tưởng” làm chủ-động vậy. 

6.- Diệt-tận định: Định này không những diệt hết các tâm-vương và tâm-sở của 6 thức trước, mà diệt luôn cả phần tạp-nhiễm của tâm-vương tâm-sở về thức thứ Bảy.

Vô-tưởng định là định của phàm-phu; c̣n Diệt-tận định là định của Thánh-nhơn. 

7.- Vô-tưởng báo: Người ở cơi Dục tu Vô-tưởng định, sau khi mạng chung, đặng báo-thân ở cơi trời Vô-tưởng. 

8.- Danh thân: Tên hay danh-từ. Có danh-từ đơn và danh-từ kép. 

9.- Cú-thân: Câu. Do ráp nhiều tiếng thành câu; câu có ngắn và dài. 

10.- Văn-thân: Chữ. Chữ là chỗ y-chỉ của danh-từ và câu. 

11.- Sanh: Sanh ra. Nghĩa là từ hồi nào đến giờ không có, nay mới có. 

12.- Trụ: Ở. Những vật đă sanh ra rồi, c̣n lưu lại trong một thời-gian , chưa diệt. 

13.- Lăo: Già, suy yếu gần chết. 

14.- Vô-thường: Không thường, biệt-danh của chết. 

15.- Lưu-chuyển: Xoay vần, nhơn quả trước sau nối nhau không dứt. 

16.- Định-vị: Nhơn quả lành, dữ khác nhau, không lộn lạo. 

17.- Tương-ưng: Ưng thuận với nhau. Như nhơn nào quả nấy, cân xứng với nhau. 

(Hỏi: Cả 24 món, đều gọi là “Bất tương-ưng hành” tại sao món thứ 17 này lại gọi là “Tương-ưng”?

- Đáp: Nói “Bất tương-ưng” là để phân-biệt 24 món này, không phải là tương-ưng tâm-sở. C̣n về món thứ 17 này mà gọi là “Tương-ưng”, là do Sắc, Tâm và Tâm-sở ḥa-hợp mà nói, nên không đồng với “Tương-ưng tâm-sở” trước). 

18.- Thế tốc: Các pháp hữu-vi xoay vần mau lẹ như chong chóng. 

19.- Thứ đệ: Thứ lớp, trật-tự không có lộn lạo. 

20.- Thời: Thời-gian: quá-khứ, hiện-tại và vị-lai. 

21.- Phương: Không-gian: Đông, Tây, Nam, Bắc, tứ-duy, thượng hạ. 

22.- Số: Số lượng. Như: một, hai, ba, bốn cho đến trăm, ngàn v.v... 

23.- Ḥa-hợp tánh: Các duyên ḥa-hợp không có trái nhau. 

24.- Bất ḥa-hợp tánh: Những pháp chống trái, không ḥa-hợp với nhau. 

Nói tóm lại, từ trước đến đây đă kể 94 pháp: 8 món Tâm-vương, 51 món Tâm-sở, 11 món Sắc-pháp, 24 món Bất tương-ưng hành, đều thuộc về pháp hữu-vi có sanh-diệt biến-đổi. Sáu pháp sau đây thuộc về vô-vi. 

Chữ “hữu-vi” là những ǵ có tạo tác, có sanh-diệt, không thường c̣n.  “Vô-vi” là những ǵ không tạo-tác, không sanh-diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường c̣n.

 

 

***

V.- VÔ-VI PHÁP

 

(CÓ 6 MÓN)

 

 

Pháp Vô-vi không sanh-diệt, không biến đổi, không phải như các pháp hữu-vi là Tâm-vương, Tâm-sở, Sắc-pháp, Bất tương-ưng hành có sanh-diệt biến-đổi. Do các pháp hữu-vi (94 món) diệt rồi, th́ pháp vô-vi mới hiện bày (Tứ, sở hiển thị cố). 

Thật ra, vô-vi không phải có 6 pháp, song v́ theo từng khía cạnh của nó để giải-thích, nên đặt ra 6 tên. 

1.- Hư-không vô-vi: Chơn-như hay Pháp-tánh, không thể dùng ư-thức suy nghĩ hay lời nói luận-bàn được. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh-diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm nên gọi là “Vô-vi”.

Bởi nó không ngă, không pháp, rời các cấu-nhiễm, rỗng rang như hư-không, nên gọi là “Hư-không vô-vi”. Đây là theo thí-dụ mà đặt tên. 

2.- Trạch-diệt vô-vi: Do dùng trí-huệ Vô-lậu, lựa chọn diệt-trừ  hết các nhiễm-ô, nên chơn-như vô-vi mới hiện. V́ thế nên gọi là “Trạch-diệt vô-vi”. 

3.- Phi-trạch-diệt vô-vi: Vô-vi không cần lựa chọn diệt-trừ các phiền-năo. Có hai nghĩa:

a) Tánh chơn-như vốn thanh-tịnh, không phải do lựa chọn diệt-trừ các phiền-năo nhiễm-ô mới có, nên gọi là “Phi-trạch-diệt”.

b) Các pháp hữu-vi tạp-nhiễm, v́ thiếu duyên không sanh-khởi, nên pháp vô-vi được hiện. Bởi thế nên gọi “Phi-trạch-diệt”. 

4.- Bất-động-diệt vô-vi: Đệ tứ thiền đă ĺa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thuỷ tai) không c̣n bị mừng, giận, thương, ghét v.v... làm chao động nơi tâm, nên gọi là “Bất-động-diệt”. 

5.- Thọ-tưởng-diệt vô-vi: Khi được Diệt-tận-định, diệt-trừ hết “thọ” và “tưởng” tâm-sở nên gọi là “Thọ-tưởng-diệt vô-vi”. 

 6.- Chơn-như vô-vi: Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến-kế sở-chấp); không phải điên-đảo gọi là Như (không y-tha khởi), tức là thật-tánh của các pháp (Viên-thành-thật). 

Trong luận Đại-thừa trăm pháp này, ngoại-nhơn hỏi hai câu:

- Tất cả pháp là ǵ?

- Thế nào là không thật (vô ngă)? 

Từ trước đến đây, Luận-chủ lược nói 100 pháp, để trả lời câu hỏi thứ nhất rồi, sau đây trả lời về câu hỏi thứ hai. 

 

 

PHẦN THỨ HAI

 

NÓI “KHÔNG THẬT” (VÔ NGĂ) 

 

Chánh văn

 

Nói “không thật” (vô ngă), tóm có 2 loại:

  - Nhơn (người ) không thật.

  - Pháp (vật) không thật. 

Người đời chấp tất cả các pháp thật có, tức là chấp Ngă (Thật). Chấp Thật (Ngă) có hai:

1.- Nhơn (người) thật.
            2. Pháp (vật) thật.

 Chấp thân này thật có, gọi là Nhơn thật. Chấp núi sông tất cả các cảnh-vật bên ngoài thật có, gọi là Pháp thật. 

Do chấp thật có (ngă) nên sanh ra tham, sân, si rồi tạo ra các nghiệp, sanh-tử luân-hồi trong lục-đạo. Bởi thế nên Phật nói: 

“Tất cả Pháp không thật”. 

Nói “Tất cả pháp” tức là bao trùm cả loài hữu-t́nh và vô-t́nh. Loài hữu-t́nh không thật có là “Nhơn không thật”. Loài vô-t́nh như hoàn-cảnh, sự vật không thật có, là “Pháp không thật”.

 

KẾT LUẬN

 

Từ trước đến đây, lược nói 100 pháp th́ đă bao trùm Nhơn và Pháp. Phàm-phu chấp cả Nhơn và Pháp đều thật có. Tiểu-thừa chỉ chấp Pháp là thật có. 

Trong luận này nói: 8 món Tâm-vương là tự-thể của thức và hơn tất cả (nhứt thế tối thắng cố).  51 món Tâm-sở là phần sở-hữu và tương-ưng của thức (dữ thử tương-ưng cố).  11 món sắc-pháp là phần h́nh bóng, do Tâm-vương và Tâm-sở hiện ra (nhị sở hiện ảnh cố).   24 món Bất tương-ưng hành là do ba phần: tâm-vương, tâm-sở và sắc-pháp, phân chia ngôi thứ sai khác mà giả lập (tam, phận-vị sai-biệt cố).   6 món vô-vi là do 4 món hữu-vi trên (tâm-vương, tâm-sở, sắc-pháp và bất tương-ưng hành) diệt hết mà hiện bày ra, tức là thật-tánh của thức (tứ, sở hiển-thị cố). 

Bởi thế nên biết: Người đời chấp “Nhơn thật có” và “Pháp thật có” đều không ngoài thức. Do đó mà Đức Thế-Tôn nói:

“Tất cả Pháp không không thật” (Vô ngă).

“Muôn Pháp duy-thức”.

 

                                                                        Viết xong tại Phật-Học-Đường Nam-Việt
                                                                                                Rằm tháng 6 năm Kỷ-Hợi (1959)

            Minh Quang posted June 2, 2005

[Home] [Up] [PHPT 9 tập 1 bài 1] [PHPT 9 tập 1 bài 2] [PHPT 9 tập 1 bài 3] [PHPT 9 tập 1 bài 4] [PHPT 9 tập 1 bài 5] [PHPT 9 tập 1 bài 6] [PHPT 9 tập 1 bài 7] [PHPT 9 tập 1 bài 8] [PHPT 9 tập 1 bài 9] [PHPT 9 tập 1 bài 10] [PHPT 9 tập 2 A Đà Na Thức] [PHPT 9 tập 3 bài 1 và 2] [PHPT 9 tập 3 bài 3 và 4] [PHPT 9 tập 3 bài 5 và 6] [PHPT 9 tập 3 bài 7] [PHPT 9 tập 4 Nhơn Minh Luận]