Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Phật Học Phổ Thông Khóa Thứ Tám

Thích Thiện Hoa

Bài Thứ Tám

 

Chương Biện Âm

 

 

VIII. CHƯƠNG BIỆN ÂM

1. Ngài Biện-Âm Bồ-tát hỏi Phật

2. Phật khen ngài Biện-Âm Bồ-tát

3. Phật dạy 25 pháp tu (25 luân)

4. Tóm lại

5. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên

 

VIII. CHƯƠNG BIỆN-ÂM

 

1.- Ngài BiỆn-Âm bỒ-tát hỎi PhẬt

Khi đó Ngài Biện-Âm Bồ-tát ở trong đại-chúng đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba ṿng, rồi lạy Phật và quỳ thẳng bạch rằng:

- Bạch Đức Đại-bi Thế-Tôn, vừa rồi Ngài dạy ba pháp-môn tu-hành như thế, rất là hy-hữu.

Nhưng các vị Bồ-tát, khi muốn nhập Viên-giác, đối với ba pháp-môn phương-tiện này, có mấy cách tu tập?

Cúi xin Đức Thế-Tôn, v́ cả đại-chúng hiện-tại và chúng-sanh đời sau, phương-tiện mở bày, khiến cho chúng con đều ngộ được tướng chơn-thật (Viên-giác).

Thưa thỉnh như vậy ba lần, rồi Ngài Biện-Âm kính cẩn lạy Phật và trở lui.

LƯỢC GIẢI

Vừa rồi ở chương Oai-Đức Tự-tại, Phật dạy có ba pháp-môn tu là "Chỉ, Quán và Chỉ-Quán song tu", rất rơ ràng.

Đến chương này Ngài Biện-Âm Bồ-tát lại hỏi thêm ba pháp-môn phương-tiện trên, có mấy cách tu. Nghĩa là mỗi người chỉ tu một pháp hay cả ba pháp? Ba pháp này tu đồng thời hay có trước sau? Phải theo thứ lớp tu hay vượt qua thứ lớp?

***

 

2.- PhẬt khen Ngài BiỆn-Âm BỒ-tát

Khi đó Đức Thế-Tôn khen ngài Biện-Âm Bồ-tát và dạy rằng:

- Này Thiện-nam, quư lắm! Ông v́ đại-chúng hiện-tại và chúng-sanh đời sau, thưa hỏi Như-Lai có bao nhiêu cách tu-tập. Ông nên chăm chú nghe, Như-Lai sẽ v́ các ông mà chỉ giáo.

Khi đó Ngài Biện-Âm bồ-tát, cùng với đại-chúng dồng yên-lặng và hoan-hỷ nghe lời Phật dạy bảo.

 

3.- PhẬt dẠy HAI MƯƠI LĂM pháp tu

- Này Thiện-nam! Tánh Viên-giác thanh-tịnh của tất cả Như-Lai, vốn không có pháp bị tu và người tu tập. Song v́ các vị Bồ-tát hiện-tại và chúng-sanh đời sau, chưa nhập được Viên-giác, c̣n phải phương-tiện dùng huyễn-pháp để tu-tập; v́ thế nên chia ra có hai mươi lăm cách tu như sau:

LƯỢC GIẢI

Đại-ư đoạn này nói: Xứng về tánh "Viên-giác thanh-tịnh" th́ không có người tu và pháp để tu. Song v́ chúng-sanh chưa giác-ngộ, c̣n phải dùng phương-tiện tu-tập, v́ thế nên Phật chia ra có 25 pháp-môn tu.

Tuy chia ra 25 pháp-môn tu, nhưng vẫn y theo ba pháp là "Chỉ, Quán và Chỉ-Quán đồng thời tu” mà Phật đă dạy ở chương trước. Có khi tu chung hai pháp, ba pháp, mà có lúc lại riêng từng pháp một, hoặc tu trước, hoặc tu sau, tùy theo tŕnh-độ của chúng-sanh xoay qua trở lại thành 25 pháp; song tu pháp nào cũng đều chứng-nhập được Viên-giác.

***

 

1.- Riêng tu một pháp "Xa-ma-tha" (tu định)

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát giữ tâm rất vắng lặng, nhờ sức vắng lặng này mà đoạn các phiền-năo, được vĩnh-viễn thành-tựu rốt ráo tánh Viên-giác, th́ vị Bồ-tát ấy lúc bấy giờ chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập được Niết-bàn, Bồ-tát tu như thế, gọi là chỉ tu một pháp "Xa-ma-tha" (tu chỉ).

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát riêng tu một pháp "Chỉ". Bồ-tát giữ ǵn tâm-trạng rất tịch-tịnh, nên phiền-năo không sanh, đó là tu pháp "Chỉ". Nhờ thế mà Bồ-tát được rốt ráo thành-tựu tánh "Viên-giác", đặng quả Niết-bàn của Phật.

***

 

 

2.- Riêng tu một pháp "Tam-ma-bát-đề” (tu huệ)

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát chỉ tu pháp quán "như huyễn", và nhờ sức Phật gia-hộ nên Bồ-tát ấy biến-hóa ra được thế-giới, th́ mặc dù Bồ-tát làm các diệu-dụng độ sanh (tu quán), đầy đủ công-hạnh mầu-nhiệm của Bồ-tát; nhưng vẫn không mất niệm tịch-tịnh (Định) và huệ yên lặng (Huệ) của Đà-la-ni (Viên-giác). Bồ-tát tu như thế gọi là riêng tu một pháp "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát riêng tu một pháp "Quán". Bồ-tát khi tu pháp quán như-huyễn, và nhờ thần-lực của Phật, nên biến-hiện thế-giới uế-độ thành Tịnh-độ, biến địa-ngục trở thành Thiên-cung, v́ các pháp đều như huyễn như hóa. Tu như thế là tu "Quán". Bồ-tát mặc dù làm đủ công-hạnh lợi-tha, mà không rời bản thể thường-tịch (Định) và thường-chiếu (huệ) của tánh Viên-giác.

Chữ "Đà-la-ni" ở chương này, đồng với chữ "Đà-la-ni" trong chương Văn-thù, tức là biệt-danh của tánh Viên-giác, như trong chương Văn-thù chép: "Có pháp Đại Đà-la-ni gọi là Viên-giác"

***

 

 

3.- Riêng tu pháp "Thiền-na" (định, huệ đồng thời tu)

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát chỉ diệt các huyễn, không chấp-thủ tác dụng, riêng đoạn các phiền-năo, khi phiền-năo đoạn hết rồi, th́ chứng được thật-tướng. Bồ-tát tu như thế gọi là riêng tu pháp "Thiền-na" (Chỉ, Quán song tu).

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát đồng thời tu cả “Chỉ” và "Quán". Bồ-tát "chỉ diệt các huyễn", tức là không dùng "Ta-ma-bát-đề” như đă nói ở trước (không tu Quán như huyễn); "không chấp-thủ tác dụng" tức là không tu "Xa-ma-tha" như đă nói ở trước (không tu Chỉ); "riêng đoạn phiền-năo" tức là tu "Thiền-na" (Chỉ, Quán song tu). Khi đoạn hết phiền-năo th́ Bồ-tát chứng đặng thật-tướng, tức là tu "Thiền-na" mà nhập Viên-giác tánh.

 

***

4.- Trước tu "định” sau tu “huệ”

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát trước giữ ǵn nơi rất tịnh (Chỉ) sau dùng tịnh-huệ (huệ yên-tịnh) chiếu soi các pháp như huyễn như hóa, lúc bấy giờ khởi ra hạnh Bồ-tát. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa-ma-tha" (Chỉ) sau tu "Tam-ma-bát-đề” (Quán)

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Chỉ" sau tu "Quán". Bồ-tát trước giữ tâm rất tịnh là tu "Chỉ", rồi dùng trí-huệ yên-tịnh mà chiếu soi các pháp như huyễn là tu "Quán". Lúc bấy giờ Bồ-tát trên th́ cầu Phật-đạo, dưới hóa-độ chúng-sanh, đó là thật-hành Bồ-tát hạnh.

 

***

 

5.- Trước tu "định” sau “định, huệ đồng thời tu”

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát, dùng, trí-huệ yên-tịnh, chứng đặng thể-tánh rất tịnh, rố đoạn các phiền-năo, vĩnh-viễn ra khỏi sanh-tử. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa-ma-tha" (Chỉ) sau tu "Thiền-na" (Chỉ, Quán song tu)

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Chỉ" sau "Chỉ, Quán song tu" - Bồ-tát dùng trí-huệ yên-tịnh, chứng được tánh rất tịnh là tu "Chỉ", đoạn hết các phiền-năo, vĩnh-viễn ra khỏi sanh-tử luân-hồi là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

6.- Trước tu "Định", thứ tu "Huệ, sau "Định, Huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng trí-huệ thanh-tịnh, lấy sức huyễn-hóa biến-hiện ra các h́nh-thức để hóa-độ chúng-sanh; sau đoạn các phiền-năo, rồi nhập vào cảnh-giới tịch-diệt. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa-ma-tha" (Chỉ) thứ tu "Tam-ma-bát-đề” (Quán) sau tu “Thiền-na” (Chỉ, Quán song tu).

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Chỉ", thứ tu "Quán", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng trí-huệ thanh-tịnh là tu "Chỉ", lấy sức như-huyễn mà biến-hiện ra nhiều h́nh-thức để độ chúng-sanh là tu "Quán". Sau Bồ-tát đoạn phiền-năo rồi vào tịch-diệt là "Chỉ, Quán song tu".

***

 

 

7.- Trước tu "Định" thứ "Định, Huệ song tu", sau tu "Huệ"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức rất tịnh, đoạn các phiền-năo rồi, sau khởi cái hạnh thanh-tịnh mầu-nhiệm của Bồ-tát, để độ các chúng-sanh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa-ma-tha", thứ tu "Thiền-na", sau tu "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Chỉ", thứ "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Quán". Bồ-tát trước tu "Chỉ" được rất tịnh, rồi tiến tu “Thiền-na” (Chỉ, Quán song tu) để đoạn phiền-năo. Khi phiền-năo hết rồi th́ Bồ-tát vào trần-lao độ-sanh, đặng diệu-hạnh tự-tại vô-ngại, không c̣n lo sợ nhiễm trước.

 

***

8.- Trước tu "Định", sau đồng thời tu “Huệ” và "Định, Huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức rất tịnh của tâm, đoạn trừ phiền-năo và dựng lập thế-giới, hóa-độ các chúng-sanh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa-ma-tha" sau đồng thời tu “Tam-ma-bát-đề” và "Thiền-na".

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát truớc tu "Chỉ", sau đồng thời tu “Quán” và "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức rất tịnh là tu "Chỉ", đoạn trừ các phiền-năo là tu "Thiền-na", dụng lập thế-giới và hóa-độ chúng-sanh là tu "Quán".

 

***

9.- Trước đồng thời tu “Định" và "Huệ" sau "Định, Huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức rất tịnh giúp cho việc biến-hóa, sau đoạn các phiền-năo. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “Xa-ma-tha” và "Tam-ma-bát-đề” sau tu “Thiền-na”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời tu “Chỉ” và "Quán", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức rất tịnh là tu "Chỉ", giúp việc biến-hóa là tu "Quán", sau đoạn phiền-năo là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

10.- Trước đồng thời tu “Định" và "Định, Huệ song tu" sau tu "Huệ"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức rất tịnh, giúp cho tịch-diệt; sau rồi khởi tác-dụng, biến-hóa thế-giới. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “Xa-ma-tha” và "Thiền-na", sau tu "Tam-ma-bát-đề”

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời tu “Chỉ” và "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Quán". Bồ-tát dùng sức rất tịnh để đoạn phiền-năo mà vẫn giữ tịch-diệt, tức là đồng thời tu “Chỉ” và tu "Thiền-na". Sau dùng diệu-hạnh của Bồ-tát ra thế-giới hóa-độ chúng-sanh, tức là tu "Quán". Từ pháp tu thứ tư đến pháp tu thứ mười này, cộng là bảy pháp, đều là trước tu "Chỉ".

 

***

11.- Trước tu "Huệ" sau tu "Định"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến-hóa tùy-thuận theo các chúng-sanh để hóa-độ, mà vẫn giữ tánh rất tịnh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Tam-ma-bát-đề”, sau tu “Xa-ma-tha”

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Quán", sau tu "Chỉ". Bồ-tát dùng sức biến-hóa, tùy-thuận theo các chúng-sanh để hóa-độ là tu "Quán", mà vẫn giữ tánh rất tịnh là tu "Chỉ".

 

***

12.- Trước tu "Huệ" sau "Định, Huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát, dùng sức biến-hóa, hoá hiện ra các cảnh-giới mà vẫn giữ tịch-diệt (vắng lặng). Bồ-tát tu như thế gọi là trước tu "Tam-ma-bát-đề” sau tu “Thiền-na”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát tu trước "Quán" sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức biến-hóa là tu "Quán", biến ra các cảnh-giới để hóa-độ chúng-sanh mà vẫn giữ tịch-diệt, thế là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

13.- Trước tu "Huệ" thứ tu "Định" sau "Định, Huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến-hóa, làm các Phật-sự mà vẫn ở yên nơi tịch-tịnh, đoạn các phiền-năo, Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Tam-ma-bát-đề” thứ tu “Xa-ma-tha” sau tu “Thiền-na”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Quán" thứ tu "Chỉ", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức biến-hóa làm các Phật-sự là tu "Quán", yên ở chỗ vắng lặng là tu "Chỉ", đoạn phiền-năo là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

14.- Trước tu "Huệ" thứ "Định, Huệ đồng thời tu” sau tu “Định"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến-hóa làm các việc không ngại, đoạn các phiền-năo và an-trụ nơi rất tịnh. Bồ-tát tu như thế gọi là trước tu "Tam-ma-bát-đề” thứ tu “Thiền-na”, sau tu “Xa-ma-tha”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Quán", thứ "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Chỉ". Bồ-tát dùng sức biến-hóa làm các việc vô-ngại là tu "Quán", đoạn các phiền-năo là "Chỉ, Quán song tu", an-trụ nơi rất tịnh là tu "Chỉ".

 

***

15.- Trước tu "Huệ" sau đồng thời tu “Định" và "Định, huệ song tu"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến-hóa làm các phương-tiện và tùy-thuận hai pháp: rất tịnh (Chỉ) và tịch-diệt (Thiền-na). Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Tam-ma-bát-đề” sau đồng thời tu “Xa-ma-tha” và "Thiền-na".

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước tu "Quán", sau đồng thời tu “Chỉ” và "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức biến-hóa làm các phương-tiện là tu "Quán", tùy-thuận tánh rất tịnh là tu "Chỉ", và tùy-thuận tịch-diệt là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

16.- Trước đồng thời tu “Huệ” và "Định" sau tu "Thiền-na" (định, huệ song tu)

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến-hóa, khởi ra các công-dụng, giúp cho tánh rất tịnh, sau đoạn các phiền-năo. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “Tam-ma-bát-đề” và "Xa-ma-tha", sau tu "Thiền-na".

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời tu “Quán” và "Chỉ", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát dùng sức biến-hóa, khởi ra các công-dụng là tu "Quán", giúp cho tánh rất tịnh là tu "Chỉ", sau đoạn các phiền-năo là "Chỉ, Quán song tu".

 

***

17.- Trước đồng thời tu “Huệ” và "Định, Huệ song tu", sau tu "Định".

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức biến hóa, giúp với tịch-diệt, sau an-trụ nơi tánh định thanh-tịnh, không do tạo-tác. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu “Tam-ma-bát-đề” và "thiền-na", sau tu "Xa-ma-tha".

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời tu “Quán” và "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Chỉ". Bồ-tát dùng sức biến-hóa là tu "Quán", giúp với tịch-diệt là "Chỉ, Quán song tu", sau an-trụ nơi tánh định thanh-tịnh sẵn có, không do tạo-tác, là tu "Chỉ".

Câu "Tánh Định thanh-tịnh không do tạo-tác" là chỉ cho "Tự-tánh chơn-định” sẵn có và thanh-tịnh, không do tạo-tác mà thành, cũng không phải dụng-công tu-tập mà được, xưa nay nó vẫn thanh-tịnh.

 

***

18.- Trước "Định, Huệ song tu" sau tu "Định"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt (vắng lặng) khởi hạnh rất ịnh, rồi an-trụ nơi thanh-tịnh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Thiền-na", sau tu "Xa-ma-tha".

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước "Chỉ, Quán song tu" sau tu "Chỉ". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, khởi tánh rất tịnh là "Chỉ, Quán song tu", rồi an-trụ nơi thanh-tịnh là tu "Chỉ".

 

***

19.- Trước "Định, Huệ song tu" sau tu "Huệ".

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, khởi ra tác-dụng, tuy đối các cảnh mà vẫn tùy-thuận nơi tịch-tịnh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Thiền-na", sau tu "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Quán". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt khởi ra tác-dụng độ sanh là "Chỉ, Quán song tu". Mặc dù Bồ-tát làm các hạnh lợi-sanh mà vẫn tùy-thuận nơi tịch-tịnh là tu "Quán".

 

***

20.- Trước "Định, Huệ song tu" thứ tu "Định" sau tu "Huệ"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, quán tự-tánh các chúng-sanh, an-trụ nơi Định, mà vẫn biến-hóa các pháp để độ-sanh. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Thiền-na", thứ tu "Xa-ma-tha" sau tu "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước "Chỉ, Quán song tu", thứ tu "Chỉ", sau tu "Quán". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, quán tự-tánh các chúng-sanh để hóa-độ, là "Chỉ, Quán song tu"; an-trụ nơi Định là tu "Chỉ", biến-hóa các pháp để độ-sanh là tu "Quán".

 

***

21.- Trước "Định, Huệ song tu" thứ tu "Huệ", sau tu "Định"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt của tự-tánh vô-tác, để khởi ra tác-dụng độ-sanh, rồi y nơi cảnh-giới thanh-tịnh mà trở về nơi Định. Bồ-tát tu như thế, th́ gọi là trước tu "Thiền-na", thứ tu "Tam-ma-bát-đề”, sau tu “Xa-ma-tha”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước "Chỉ, Quán song tu", thứ tu "Quán", sau tu "chỉ". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt của tự-tánh vô tác, để khởi ra tác-dụng độ-sanh, là "Chỉ, Quán song tu". Bồ-tát y nơi cảnh-giới thanh-tịnh là tu "Quán", sau trở về nơi Định là tu "Chỉ".

Chữ "Tự-tánh vô tác", nghĩa là: tự-tánh sẵn có không do tạo-tác mà thành.

 

***

22.- Trước tu "Thiền-na" (Định, Huệ song tu) sau đồng thời tu “Định" và "Huệ"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, mỗ́ mỗi thanh-tịnh, an-trụ ở nơi Định, mà khởi ra các món biến-hóa. Bồ-tát tu như thế, gọi là trước tu "Thiền-na", đồng thời tu “Xa-ma-tha” và "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước "Chỉ, Quán song tu", sau đồng thời tu “Chỉ” và "Quán". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, mỗi mỗi thanh-tịnh là "Chỉ, Quán song tu" an-trụ ở nơi định là tu "Chỉ", khởi ra các món biến-hóa là tu "Quán".

 

***

23.- Trước đồng thời tu “Thiền-na” và tu "Định" sau tu "Huệ"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt, giúp cho tánh rất tịnh, sau khởi ra việc biến-hóa. Bồ-tát tu như thế, gọi là đồng thời tu “Thiền-na” và "Xa-ma-tha", sau tu "Tam-ma-bát-đề”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời “Chỉ, Quán song tu”, và tu "Chỉ" sau tu "Quán". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt là "Chỉ, Quán song tu", giúp cho tánh rất tịnh là tu "Chỉ", khởi ra các việc biến-hóa là tu "Quán"

 

***

24.- Trước đồng thời tu “Thiền-na” và "Huệ", sau tu "Định"

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng sức tịch-diệt giúp việc biến-hóa, sau khởi tánh rất tịnh, ở cảnh-giới trí-huệ trong sáng. Bồ-tát tu như thế, gọi là đồng thời tu “Thiền-na” và "Tam-ma-bát-đề” sau tu “Xa-ma-tha”.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát trước đồng thời “Chỉ, Quán song tu” và tu "Quán", sau tu "Chỉ". Bồ-tát dùng sức tịch-diệt là "Chỉ, Quán song tu", giúp việc biến-hóa là tu "Quán"; sau khởi tánh rất tịnh v.v... là tu "Chỉ".

 

***

25.- Bồ-tát viên tu ba pháp

- Này Thiện-nam! Nếu có Bồ-tát dùng huệ Viên-giác, viên hiệp các pháp, nào tánh, tướng của các pháp đều không rời tánh Viên-giác. Bồ-tát tu như thế, gọi là viên tu ba pháp, tùy-thuận tánh Viên-giác thanh-tịnh.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Bồ-tát viên tu ba pháp

Bồ tát dùng Viên-giác huệ, viên hiệp tất cả các pháp. Nào Định, Huệ và Định Huệ song tu, nào tánh, tướng của các pháp, đều không rời tánh Viên-giác.

 

***

4.- Tóm lẠi

- Này Thiện-nam! Đây là hai mươi lăm pháp tu của Bồ-tát. Vậy các Bồ-tát phải y theo đây mà tu-hành

Nếu các Bồ-tát hiện-tại và chúng-sanh đời sau, muốn y theo hai mươi lăm pháp-môn này mà tu-hành, th́ phải giữ giới thanh-tịnh, tâm suy nghĩ vắng lặng, và phải trải qua 21 ngày thành tâm sám-hối, rồi viết hai mươi lăm pháp-môn này vào mỗi miếng giấy, niêm lại kỹ, đem để trên bàn Phật và chí tâm cầu khẩn, rồi tùy tay hành-giả rút một miếng giấy, khi mở ra xem th́ hành-giả sẽ biết tŕnh-độ của ḿnh tu pháp Đốn hay Tiệm. Song nếu hành-giả một niệm nghi ngờ, th́ chẳng thành-tựu.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn này Phật kết-thúc lại và dạy rằng: Đây là 25 pháp tu của Bồ-tát. Nếu có người muốn tu theo 25 pháp này, th́ điều cần yếu là phải giữ giới cho thân tâm được thanh-tịnh và chí-thành cầu sám-hối 21 ngày. Rồi hành-giả viết tên 25 pháp tu này vào 25 miếng giấy, xếp gói riêng từ miếng, để chung lại trên bàn. Hành-giả phải chí-thành cầu nguyện, rồi tùy ư rút ra một thăm, sau khi giở ra xem, hành-giả sẽ tự biết căn-cơ của ḿnh Đốn hay Tiệm và phải y theo đó mà tu-hành. Nhưng nếu hành-giả có một niệm nghi ngờ th́ chẳng thành-tựu.

Tóm lại, 25 pháp tu này không ngoài Định, Huệ và Định Huệ song tu; chẳng qua tùy theo tŕnh-độ của hành-giả có sâu cạn, cao thấp không đồng, nên có khi phải tu Định trước rồi Quán sau; có khi phải tu Quán trước rồi Định sau; lắm lúc phải tu đồng thời v.v... V́ tùy theo tŕnh-độ của hành-giả, mà thay đổi trước sau, xoay qua trở lại nên thành ra 25 pháp. Vậy hành-giả nên tùy theo tŕnh-độ của ḿnh mà tu tập.

 

5.- PhẬt nói bài kỆ tóm lẠi các nghĩa trên

Khi đó Đức Thế-Tôn muốn tóm lại nghĩa này, nên nói bài kệ rằng:

Biện-Âm! Ông nên biết:
Các trí-huệ thanh-tịnh
Của tất cả Bồ-tát
Đều do Thiền-định sanh
Thiền-định là "Chỉ, Quán"
Và "Chỉ, Quán song tu"
Ba pháp, phân Đốn, Tiệm
Thành ra hai mươi lăm
Mười phương các Như-Lai
Và hành-giả ba đời
Đều y pháp-môn này
Mà đặng thành Bồ-đề
Chỉ trừ người Đốn-ngộ
Và những người không tin
Mới chẳng theo pháp này.
C̣n tất cả Bồ-tát
Và chúng-sanh đời sau
Phải như thế tu-hành.
Nhờ Đại-bi của Phật,
Các ông nên siêng tu
Sẽ mau chứng Niết-bàn.

LƯỢC GIẢI

Đại-ư bài kệ này nói: Trí-huệ thanh-tịnh vô-ngại của các Bồ-tát đều do Thiền-định sanh. Thiền-định là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu. Bởi theo căn-cơ của hành-giả có Đốn và Tiệm không đồng, nên ba pháp này lại chia ra đến 25 pháp.

Chỉ trừ những bực Đốn-ngộ và những người không tin, c̣n chư Phật và các vị Bồ-tát cùng chúng-sanh đời sau đều tu theo các pháp-môn này mà được thành Bồ-đề.

Vậy hành-giả nên y theo đây, siêng-năng tu tập và nhờ ḷng Đại-bi của Phật gia-hộ, sẽ mau chứng Niết-bàn.

Minh Quang posted April 12, 2005

[Home] [Up] [PHPT 8 bài 1 Văn Thù] [PHPT 8 bài 2 Phổ Hiền] [PHPT 8 bài 3 Phổ Nhăn] [PHPT 8 bài 4 Kim Cang Tạng] [PHPT 8 bài 5 Di Lặc] [PHPT 8 bài 6 Thanh Tịnh Tuệ] [PHPT 8 bài 7 Oai Đức Tự Tại] [PHPT 8 bài 8 Biện Âm] [PHPT 8 bài 9 Tịnh Chư Nghiệp Chướng] [PHPT 8 bài 10 Phổ Giác] [PHPT 8 bài 11 Viên Giác] [PHPT 8 bài 12 Hiền Thiện Thủ]