Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Phật Học Phổ Thông Khóa Thứ Tám

Thích Thiện Hoa

Bài Thứ Tư

 

Chương Kim-Cang-Tạng

 

 

IV. CHƯƠNG KIM-CANG-TẠNG

1. Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát hỏi Phật

2. Phật khen Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát

3. Phật dạy: "Người mê nói ngộ, ngộ ấy thành mê"

4. Phật dùng thí-dụ để giải-thích nghĩa trên

5. Các Pháp hư-huyễn không có thật sanh và diệt

6. Thành Phật rồi không trở lại làm chúng-sanh

7. Tánh Viên-Giác phi tất cả tưởng

8. Tánh Viên-Giác không thể nghĩ bàn

9. Không thể dùng tâm chúng-sanh phân-biệt được cảnh Phật

10. Phật nói bài kệ tóm lại các ư-nghĩa trên

 

 

IV. CHƯƠNG KIM-CANG TẠNG

 

 

1. Ngài Kim-Cang-TẠng BỒ-Tát hỎi PhẬt

Khi ấy Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát ở trong Đại-chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba ṿng, và kính-cẩn chắp tay, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi quỳ thẳng bạch rằng:

- Bạch Đức Đại-bi Thế-Tôn, Ngài đă v́ các vị Bồ-tát nói rơ tánh "Viên-Giác thanh-tịnh" của Như-Lai, và chỉ dạy những phương-tiện, tuần-tự tu-hành để nhập tánh Viên-Giác. Ngài đă vén mở mây vô-minh mờ ám cho các chúng-sanh. Thính chúng trong pháp-hội này, nhờ ḷng từ-bi của Phật khai-hóa, mà mắt Trí-huệ được sáng tỏ.

Bạch Đức Thế-Tôn:

1.- Nếu các chúng-sanh đă thành Phật từ xưa đến nay, th́ tại làm sao lại có tất cả vô-minh để trở lại làm chúng-sanh nữa?

2.- Nếu chúng-sanh sẵn có các vô-minh, th́ do nhơn-duyên ǵ mà Đức Như-Lai lại nói: "Chúng-sanh đă thành Phật từ xưa đến nay”?

3.- Nếu mười phương chúng-sanh đă thành Phật từ xưa, về sau lại sanh ra vô-minh; vậy th́ các Đức Như-Lai hiện nay đă thành Phật rồi, chừng nào các Ngài sanh trở lại phiền-năo nữa?

Cúi xin Đức Đại-bi Thế-Tôn, v́ các vị Bồ-tát hiện-tại và tất cả chúng-sanh đời sau, nhổ sạch gốc rễ nghi lầm, khiến cho chúng-sanh được ngộ nhập đạo vô-thượng.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này, Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát nghi: Có vô-minh th́ gọi là chúng-sanh, không vô-minh mới kêu là Phật; thế mà Đức Như-Lai lại nói: "Chúng-sanh đă thành Phật từ xưa đến nay”.

Nếu chúng-sanh đă thành Phật từ xưa đến nay, th́ phải không c̣n vô-minh. Nếu không c̣n vô-minh, th́ không c̣n gọi là chúng-sanh nữa. Tại làm sao Phật c̣n gọi: "Chúng-sanh"?

Lại nữa, nếu chúng-sanh sẵn có vô-minh th́ không thể nói "Nguyên-lai thành Phật". Tại sao Phật lại nói: "Chúng-sanh nguyên-lai đă thành Phật".

Chúng-sanh tu-hành phải trải qua ba vô-số kiếp mới thành Phật. Nếu khi được thành Phật rồi, vô-minh trở lại khởi lên làm chúng-sanh nữa, th́ tu biết chừng nào cho rồi! Lại nữa, chư Phật hiện nay đă thành Phật, vậy chừng nào các Ngài nổi vô-minh trở lại làm chúng-sanh nữa?

Đoạn này giống như trong Kinh Lăng-Nghiêm, khi Ngài Phú-Lâu-Na Di-Đa-La-Ni-Tử hỏi Phật: "Chơn-tâm vốn đă thanh-tịnh, tại sao lại thoạt sanh ra sơn-hà đại-địa và các chúng-sanh?"

 

***

 

2. PhẬt khen Ngài Kim-Cang-TẠng BỒ-Tát

Khi đó Đức Thế-Tôn khen Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát và dạy rằng:

- Này Thiện-nam, quư lắm! Ông v́ các vị Bồ-tát hiện-tại và chúng-sanh đời sau thưa hỏi Như-Lai những đạo-lư diệu-huyền.

Nay ta v́ các ông nói giáo-pháp Đại-thừa, nghĩa-lư rốt ráo và cao-thượng, khiến cho các vị Bồ-tát tu học trong mười phương, và tất cả chúng-sanh đời sau, đều đoạn trừ hết các điều nghi ngờ, đặng tín-tâm chắc chắn. Vậy các ông nên chăm chú nghe lời ta chỉ dạy.

Khi đó Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát và Đại-chúng đều vui mừng, kính-cẩn vâng nghe lời Phật chỉ-giáo.

 

LƯỢC GIẢI

Kim-Cang là chất ngọc quư, cứng rắn nhứt trong loại ngọc. Nó đă cứng mà lại bén (sắc), hay phá hoại các vật, mà các vật không phá-hoại được nó.

Đoạn này Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát đứng lên thưa hỏi những chỗ khó khăn, là tiêu-biểu phải dùng Kim-cang-trí mới phá trừ nổi những mê lầm (vô-minh) sâu sắc.

Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát cũng là một vị Thượng-thủ trong hàng Bồ-tát.

 

***

 

3. PhẬt dẠy: NgưỜi mê nói ngỘ, NgỘ ẤY thành mê

- Này Thiện-nam! Tất cả các pháp, có thủy chung, sanh diệt, tiền hậu, hữu vô, nào tụ tán, khởi dừng, xoay vần, qua lại, các món thủ xả, mỗi niệm nối luôn. Những loại kể trên đều là luân-hồi cả. Người chưa ra khỏi luân-hồi mà nghĩ bàn đến Viên-Giác, th́ tánh "Viên-Giác" đó cũng trở thành luân-hồi. (Vị xuất luân hồi nhi biện Viên giác, bĩ Viên Giác tánh tức đồng lưu chuyển) Nếu người ra khỏi luân-hồi (hết mê vọng rồi) th́ không c̣n thấy có các việc hư-vọng ấy nữa.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này Phật nói: Người c̣n ở trong ṿng "mê" mà nói việc "ngộ" th́ cái "ngộ" ấy cũng thành "mê". Dùng tâm chúng-sanh nghĩ bàn đến cảnh-giới Phật, th́ cảnh-giới Phật cũng thành chúng-sanh. Dùng tâm luân-hồi mà nghĩ bàn đến tánh Viên-Giác, th́ tánh "Viên-Giác" cũng trở thành luân-hồi.

Phật bảo Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát: Nếu ông đứng trong ṿng hư-vọng, tương-đối, có thánh có phàm, có chúng-sanh, có Phật v.v... mà luận đến cảnh-giới tuyệt-đối, bất-tư-nghị của chư Phật th́ không thể được. Bởi thế nên người muốn hiểu chỗ cao-siêu của đạo Phật th́ cần phải tu, chớ không thể nói suông mà hiểu được.

 

***

 

4. PhẬt dùng thí-dỤ đỂ giẢi-thích nghĩa trên

- Này Thiện-nam! Thí như: v́ con mắt nháy mà thấy nước dợn sóng; v́ mắt xem không kịp mà thấy thành ṿng lửa; nhơn mây bay mà thấy mặt trăng chạy; v́ thuyền đi mà thấy bờ trôi. Trong lúc các vật đây động, như mắt nháy, mây bay, thuyền chạy v.v... mà các vật yên-tịnh kia như nước đứng, lửa đốm, trăng dừng, c̣n thấy chuyển-động thay, huống chi ông dùng tâm cấu-nhiễm sanh-tử luân-hồi mà quan-sát tánh Viên-giác thanh-tịnh của Như-Lai, th́ tánh Viên-giác này làm sao chẳng cấu-nhiễm. Thế nên ông mới sanh ra ba điều nghi-vấn trên.

 

LƯỢC GIẢI

Trong đoạn này, Phật dùng những việc tầm thường trong đời làm thí-dụ, như mắt nháy, mây bay, thuyền đi v.v... mà thấy nước dợn, trăng bay, bờ chạy v.v... để chỉ rơ: v́ dùng tâm cấu-nhiễm mê-vọng của chúng-sanh mà quan-sát nghĩ ngợi đến cảnh-giới của Phật, nên cảnh Phật trở thành tương-đối mê-vọng.

V́ ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát dùng tâm phân-biệt đối-đăi có không, sanh diệt, thánh phàm v.v... nên thấy có chúng-sanh chưa thành Phật và có Phật đă thành. Bởi thế nên Ngài sanh ra ba điều nghi ngờ trên. Nếu Ngài nhập được tánh Viên-giác thanh-tịnh rồi th́ những tướng đối đăi như thánh-phàm nhiễm-tịnh, sanh-tử và Niết-bàn, chúng-sanh và Phật đều không c̣n. Lúc bấy giờ Ngài không c̣n nghi ngờ như trên nữa. V́ vậy nên đoạn sau Phật quở: “... những lời ông thưa hỏi đó, chẳng có đúng đắn...”

 

***

 

5. PhẬt dẠy: các Pháp hư-huyỄn, không có thẬt sanh và thẬt diỆt

- Này Thiện-nam! Thí như người bịnh ḷa mắt, trông nơi hư-không vọng thấy có các hoa đốm lăng xăng. Đến khi bịnh ḷa nhặm hết rồi, th́ hoa đốm kia tự diệt. Lúc bấy giờ, người ấy không nên hỏi: "Cái bịnh ḷa nhặm này đă diệt rồi, vậy chừng nào sanh trở lại nữa?" - Tại sao thế? – V́ cái ḷa nhặm nó vọng-huyễn không có thật thể vậy.

Và, cũng không nên hỏi: "Những chỗ hoa đốm diệt ở nơi hư-không kia, vậy chừng nào hoa đốm ấy sanh trở lại nữa?” - Tại sao thế? – V́ trong hư-không vốn không có hoa đốm, cho nên nó không có sanh ra hoa đốm hay diệt hoa đốm vậy.

Sanh-tử và Niết-bàn đối với tánh Viên-giác, cũng đồng như hoa đốm sanh-diệt trong hư-không. Tánh Viên-Giác vẫn nhiệm-mầu viên-măn, yên lặng chiếu soi, ĺa cái nhặm vô-minh và cảnh-giới hoa đốm.

Này Thiện-nam! Nên biết hư-không kia c̣n không phải tạm có và tạm không, huống chi tánh Viên-Giác của Như-Lai là bản-tánh của hư-không, nó b́nh-đẳng tùy-thuận các duyên, mà lại tạm có và tạm không hay sao.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này nói: Vô-minh và các vọng-cảnh, đều hư-huyễn không thật, cũng như hoa đốm và mắt nhặm. V́ hoa đốm với nhặm, đều không phải thật vật, cho nên nó không thật có sanh và diêt. Bởi thế, khi hết nhặm rồi, không nên hỏi: "Chừng nào nhặm trở lại nữa?" Hay hoa đốm đă diệt rồi, cũng không nên hỏi: "Chừng nào nó sanh trở lại nữa?"

Hoa đốm và bịnh nhặm, mặc t́nh nó vọng-sanh vọng-diệt, mà hư-không lúc nào cũng vẫn thanh-tịnh và yên lặng. Cũng như Vô-minh và Vọng-cảnh, mặc t́nh vọng-khởi và vọng-diệt, mà tánh Viên-giác vẫn thanh-tịnh viên-măn và xa ĺa các Vô-minh cùng Vọng-cảnh.

Tánh hư-không b́nh-đẳng tùy thuận các đồ vật, mà hiện ra có tướng Vuông và Tṛn. Cũng như tánh Viên-Giác b́nh-đẳng, tùy-thuận các duyên mà hiện ra tất cả Pháp.

Hư-không, không phải nhơn lúc hoa đốm diệt mà nó tạm có, cũng không phải nhơn lúc hoa đốm sanh mà nó tạm không; bởi tánh hư-không thường có và b́nh-đẳng, tùy hoa đốm mặc t́nh sanh diệt, nhưng hư-không vẫn không thay đổi.

Cũng thế, tánh Viên-giác thanh-tịnh của Như-Lai, thường c̣n b́nh-đẳng và tùy-thuận các Pháp. Không phải nhơn lúc Vô-minh diệt mà nó tạm có, hay Vô-minh sanh mà nó tạm không, nó tùy-thuận tất cả, không có chướng-ngại.

 

***

 

6. PhẬt dùng thí-dỤ đỂ chỈ rơ khi thành PhẬt rỒi không trỞ lẠi làm chúng-sanh

- Này Thiện-nam! Thí như chất kim-khoáng, sau khi được nấu lọc, bỏ hết quặng rồi, th́ chỉ c̣n vàng y. Chất vàng này không phải do nấu lọc mới sanh, v́ nó có sẵn từ trước kia rồi, và khi đă thành vàng y, cũng không bao giờ trở lại thành quặng nữa, dầu trải qua bao nhiêu năm, nó cũng không hư hoại.

Tánh Viên-Giác thanh-tịnh của Như-Lai cũng thế.

 

LƯỢC GIẢI

Phật dùng vàng để thí-dụ tánh Viên-Giác, dùng khoáng dụ chúng-sanh. Khi vàng c̣n ở trong khoáng, cũng như Phật-tánh (Viên-giác) ở trong cái vỏ chúng-sanh. V́ y nơi Phật-tánh sẵn có, nên Phật nói: "Chúng-sanh đă thành Phật".

Khi chất kim-khoáng được đem ra nấu luyện, lọc bỏ hết quặng chỉ c̣n vàng y, th́ vàng này không c̣n trở lại làm khoáng nữa.

Cũng như chúng-sanh, sau khi trải qua thời-gian tu-luyện, gạn lọc hết vô-minh, phiền-năo, tánh Viên-giác hiện ra, được thành Phật rồi; lúc bấy giờ không c̣n khởi vô-minh phiền-năo trở lại làm chúng-sanh nữa.

Dầu chưa được nấu luyện, lọc bỏ quặng ra, lúc ấy chất vàng vẫn sẵn có. Đến khi nấu luyện, lọc bỏ hết quặng thành vàng y rồi, không phải lúc bấy giờ vàng mới có. Tánh Viên-giác cũng thế, khi làm chúng-sanh, nó vẫn sẵn có, nên nói: "Chúng-sanh đă thành Phật". Trải qua thời-gian tu-luyện trừ hết Vô-minh phiền-năo, tánh Viên-giác hiện ra, không phải lúc bấy giờ nó mới sanh.

Khi tánh Viên-Giác đă hoàn toàn hiện rồi, th́ vô-minh phiền-năo không c̣n sanh trở lại nữa, nên nói: "Thành Phật rồi, không c̣n trở lại làm chúng-sanh".

***

 

7. Tánh Viên-Giác phi tẤt cẢ tưỚng

- Này Thiện-nam! Tánh Viên-giác mầu-nhiệm của Như-Lai vốn không có Bồ-đề và Niết-bàn, không có thành Phật và chẳng thành Phật, cũng không có luân-hồi và phi luân-hồi.

 

LƯỢC GIẢI

Đứng về phương-diện tương-đối mà nói: V́ có phiền-năo nên có Bồ-đề, có sanh-tử nên có Niết-bàn, có luân-hồi nên mới có giải-thoát, có chúng-sanh mới có Phật.

Song đứng về phương-diện lư-tánh tuyệt-đối, tức là tâm Viên-Giác mầu-nhiệm của Như-Lai mà nói, th́ phiền-năo đă không, nên Bồ-đề chẳng có, sanh-tử đă không, nên Niết-bàn chẳng có, cho đến chúng-sanh đă không, nên Phật cũng chẳng có.

Đến cảnh-giới này, th́ nói năng không trúng, suy nghĩ cũng chẳng nhằm. Hành-giả phải tự chứng-nhập.

 

***

 

8. Tánh Viên-Giác không thỂ nghĩ bàn

- Này Thiện-nam! Rất đỗi như cảnh-giới Niết-bàn thân tâm đoạn-diệt của Thinh-Văn Tiểu-thừa kia, c̣n không thể dùng tâm phân-biệt mà thân-chứng được, huống chi cảnh-giới Viên-giác thanh-tịnh của Như-Lai mà lại dùng tâm suy nghĩ so đo của chúng-sanh, làm sao nhập được.

Cũng như người dùng lửa đom-đóm để đốt núi Tu-di, làm sao đốt được. Người dùng tâm luân-hồi, sanh vọng-chấp luân-hồi, mà muốn vào biển Niết-bàn tịch-tịnh của Như-Lai th́ không thể được.

Thế nên ta dạy: Tất cả các vị Bồ-tát và chúng-sanh đời sau, trước phải đoạn hết căn-bản sanh-tử luân-hồi từ vô-thỉ.

 

LƯỢC GIẢI

Cảnh-giới Niết-bàn của Thinh-Văn là cảnh-giới Tiểu-thừa (Trầm không thú tịch khôi thân diệt trí) mà c̣n không thể nghĩ ngợi được, huống chi cảnh-giới của Phật cao-siêu tột bực, mà lại dùng cái vọng-tâm sanh-tử luân-hồi của phàm-phu và trí của Tiểu-thừa để suy nghĩ phân-biệt cảnh-giới Viên-giác của Như-Lai, th́ quyết không thể hiểu được (dĩ luân hồi tâm, sanh luân hồi kiến, nhập ư Như Lai đại tịch diệt hải, chung bất năng chí) cũng như người dùng lửa của con đóm đóm để đốt núi Tu-Di th́ không thể được.

Bởi thế nên Phật dạy: "Trước phải đoạn hết căn-bản sanh-tử luân-hồi từ vô-thỉ”, tức là diệt vọng-tâm phân-biệt. Cũng như trong kinh Lăng-Nghiêm, Phật dạy rành rơ hai món căn-bản là:

1.- Phải đoạn căn-bản của sanh-tử luân-hồi là vọng-tâm

2.- Phải y trụ nơi căn-bản của Bồ-đề Niết-bàn là chơn-tâm.

 

***

9. Không thỂ dùng tâm-chúng sanh phân-biỆt đưỢc cẢnh PhẬt

- Này Thiện-nam! Nếu có suy nghĩ phân-biệt là từ vọng-tâm (thức) khởi, nên tất cả suy nghĩ, đều là cái vọng-tưởng phân-biệt duyên theo bóng dáng của sáu trần. Nó hư-vọng như hoa đốm trong hư-không, chẳng phải là chơn-tâm. Nếu ông dùng cái vọng-tâm suy nghĩ này, mà suy nghĩ cảnh-giới của chư Phật, th́ cảnh-giới ấy cũng lẩn quẩn trong ṿng vọng-tưởng của chúng-sanh mà thôi. Cũng như người ngồi trông đợi cho hoa đốm giữa hư-không kết thành ra quả, th́ không có thể được.

Này Thiện-nam! Ông dùng tâm hư-vọng thô-phù, sanh ra các lối chấp xảo-quyệt, (chấp càn) cho nên ông không thể nhập được cảnh Viên-Giác chơn-thật của Như-Lai. Bởi thế, nên những lời ông hỏi trên, đều là hư-vọng phân-biệt, không phải lời hỏi đúng đắn chơn-thật.

 

LƯỢC GIẢI

Đức Thế-Tôn, sau khi trải qua thời-gian ba vô-số kiếp tu-hành, được thành Phật hiệu là Thích-Ca Mâu-Ni rồi, Ngài dạy rằng: "Nói thành Phật thật ra không thành cái chi khác, mà chỉ trở lại với tánh Phật sẵn có đó thôi”. Trong kinh nói: “Thành mà vẫn không thành", hay câu: "Ngộ liễu đồng vị ngộ, vô pháp diệc vô tâm”. (Giác-ngộ rồi cũng đồng như khi chưa giác-ngộ, v́ không có pháp và cũng không có Tâm ǵ khác).

Tánh Phật này, không riêng ǵ một ḿnh Ngài có, mà tất cả chúng-sanh đều có sẵn có. V́ căn-cứ theo Phật-tánh sẵn có này, nên Ngài nói: "Tất cả chúng-sanh đều có tánh Phật” hay trong kinh Hoa-Nghiêm nói: "Tất cả chúng-sanh đều sẵn có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như-Lai”. (nhứt thế chúng sanh cụ hữu Như Lai trí huệ đức tướng). Bởi thế nên Ngài nói: "Chúng-sanh đă thành Phật từ lâu".

Vậy, người muốn hiểu đến lư này, phải nhập cảnh-giới Phật, tŕnh-độ phải gần như Phật mới hiểu được. Nếu chỉ dùng tâm cấu-nhiễm thô-phù phân-biệt của chúng-sanh, mà so tính đến cảnh-giới Phật, th́ làm sao hiểu được. Cũng như người muốn hiểu câu nói của cụ già tám muơi, ít nhất tŕnh-độ cũng gần như cụ già mới hiểu. Nếu dùng trí non nớt của trẻ con năm, mười tuổi, mà suy nghĩ câu nói của cụ già th́ làm sao hiểu được. Bởi thế nên Phật nói: "Những lời ông hỏi trên đều là hư-vọng phân-biệt, không phải lời hỏi chơn-thật.

***

 

10. PhẬt nói bài kỆ đỂ tóm lẠi các nghĩa trên

Khi ấy Đức Thế-Tôn, muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói kệ rằng:

Kim-Cang-Tạng! Nên biết:

Như-Lai tánh vắng lặng,

Chưa từng có chung thỉ,

Nếu dùng tâm luân-hồi,

Suy nghĩ cảnh-giới Phật,

Cảnh Phật thành luân-hồi.

Người ở bờ luân-hồi,

Không thể vào biển Phật.

Phật-tánh tuy sẵn có,

Phải tu mới hiển-hiện.

Cũng như vàng sẵn có,

Phải lọc quặng mới thành.

Khi đă thành vàng y,

Không trở lại làm quặng.

Sanh-tử và Niết-bàn,

Phàm-phu cùng chư Phật,

Thảy đều như hoa đốm.

Tâm suy nghĩ đă huyễn,

Nên lời hỏi cũng huyễn,

Làm sao nhập được chơn.

Nếu rơ được tâm nầy,

Mới cầu được Viên-Giác.

LƯỢC GIẢI

Bài kệ này tóm lại các nghĩa trên. Đại ư nói: Tánh Viên-Giác của Phật thanh-tịnh vắng lặng, không có thánh phàm, chúng-sanh và Phật v.v... Nếu dùng tâm phân-biệt của chúng-sanh mà phân-biệt cảnh-giới Phật, th́ cảnh Phật cũng thành cảnh chúng-sanh.

Chúng-sanh tuy sẵn có Phật-tánh, nhưng phải nhờ có tu mới hiển. Cũng như chất vàng tuy sẵn có trong khoáng, nhưng phải nhờ lọc hết quặng mới thành vàng y. Khi đă thành vàng y rồi th́ không c̣n trở lại làm quặng nữa. Cũng như khi đă thành Phật rồi không c̣n trở lại làm chúng-sanh.

Bởi đứng trong ṿng vọng-nhiễm tương-đối, nên thấy có sanh-tử và Niết-bàn, chúng-sanh và Phật; chớ đứng về tánh Viên-giác thanh-tịnh của Như-Lai, th́ các pháp trên đây đều như hoa đốm giữa hư-không.

Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát v́ muốn đại-diện cho phàm-phu, nên đă dùng tâm vọng-nhiễm của chúng-sanh mà suy nghĩ so đo, thấy có chúng-sanh và Phật, và giả thốt ra các lời hỏi hư-vọng ấy. Những lời hỏi này, đối với cảnh Viên-giác chơn-thật của Như-Lai, th́ chẳng nhằm chi cả. Bởi thế nên Phật quở rằng: "Những lời ông hỏi đều không chơn-chánh”.

Vậy nên, hành-giả phải rời các vọng-niệm phân-biệt, mới hiểu được tánh Viên-Giác.

 

[Trở Về Mục Lục PHPT Tổng Quát]   [Trở về Mục Lục PHPT khóa 8]   [Trở về Bài 3]   [Đọc tiếp Bài 5]