Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Phật Học Phổ Thông Khóa Thứ Tám

Thích Thiện Hoa

Bài Thứ Ba

 

Chương Phổ-Nhăn

 

III. CHƯƠNG PHỔ NHĂN

1. Ngài Phổ-Nhăn hỏi Phật

2. Phật khen Ngài Phổ-Nhăn

3. Phật dạy phương-pháp tu

4. Phật dạy quán "Thân" như huyễn

5. Phật dạy quán "Tâm" như huyễn

6. Huyễn hết th́ Chơn hiện

7. Dùng ngọc Ma-ni dụ tánh Viên-Giác

8. V́ có kẻ ĺa huyễn và người chưa ĺa được, nên phân ra có Thánh và Phàm

9. Viên-Giác hiện, th́ các pháp đều thanh-tịnh

10. V́ hiện-tượng b́nh-đẳng nên bản-thể b́nh-đẳng

11. Bản-thể và hiện-tượng khắp cả mười phương.

12. V́ chứng Viên-Giác nên thấy các pháp b́nh-đẳng

13. Tu và chứng mà thật ra không có tu và chứng

14. Sanh-tử và Niết-bàn đều như mộng

15. Các pháp b́nh-đẳng

16. Tóm lại

17. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên

 

III. CHƯƠNG PHỔ-NHĂN

 

1. Ngài PhỔ-Nhăn hỎi PhẬt

Khi ấy Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát, ở trong đại-chúng đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba ṿng, rồi chắp tay đảnh lễ và quỳ thẳng bạch rằng:

- Bạch Đức Thế-Tôn, xin Ngài v́ các vị Bồ-tát ở trong hội này và tất cả chúng-sanh đời sau, giảng dạy thứ lớp tu-hành của Bồ tát.

Bạch Thế-Tôn, như chúng-sanh kia, khi nghe Phật nói Pháp "ly huyễn tam-muội" này, tâm sanh mê muội, v́ không biết làm sao để hạ-thủ công-phu. Vậy, nếu không có phương-tiện chơn chánh và suy nghĩ chơn chánh, th́ không thể ngộ-nhập được Viên-Giác.

Xin Ngài mở ḷng từ-bi, v́ những người chưa ngộ như chúng con hiện-tại và các chúng-sanh đời sau, tạm lập ra các phương-tiện: Phải tu-hành thế nào? Phải suy nghĩ (tư-duy) làm sao? Phải an-trụ và giữ ǵn (trụ-tŕ) thế nào mới được ngộ-nhập Viên-Giác?

Ngài Phổ Nhăn Bồ tát thưa thỉnh như vậy ba lần, kính-cẩn lễ Phật rồi trở lui.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn trước Ngài Phổ-Hiền Bồ-tát hỏi Phật, ư hỏi rất u thâm - Phật xứng theo lư Viên-đốn mà trả lời rằng: "Giác-ngộ không có từng tự; biết huyễn là ĺa được huyễn, không cần phương-tiện.”

Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát, v́ thấy Phật nói Pháp-môn "Viên-đốn” như thế, nghĩ rằng: duy có những người tŕnh-độ cao-thượng mới có thể làm được; trái lại những kẻ căn-cơ thấp kém, nếu không có tạm lập phương-tiện và chỉ dạy thứ lớp tu-hành th́ làm sao ngộ-nhập được. V́ vậy, nên qua chương này, Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát cầu Phật tạm lập phương-tiện và chỉ dạy thứ lớp tu-hành, để cho chúng-sanh có thể hạ-thủ công-phu, nhập được Viên-Giác.

Tóm lại các câu hỏi của Ngài Phổ-Nhăn hỏi Phật, gồm trong hai phần:

1. Hỏi về "Tư-Huệ" tức là câu hỏi "Phải suy nghĩ thế nào cho chơn chánh?"

2. Hỏi về "Tu-Huệ" tức là câu hỏi "Phải an-trụ và giữ ǵn thế nào? Tạm lập phương-tiện tu-hành và thứ lớp tu làm sao, mới ngộ-nhập được Viên-Giác?"

***

 

2. PhẬt Khen Ngài PhỔ-Nhăn

Khi đó Đức Thế-Tôn khen Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát và dạy rằng:

- Này Thiện-nam, quư lắm! Ông v́ các vị Bồ-tát hiện-tại và chúng-sanh đời sau, cầu thỉnh Như-Lai tạm lập phương-tiện tu-hành và chỉ dạy thứ lớp tu làm sao, phải suy nghĩ làm sao cho chơn chánh (tư huệ), phải an-trụ và giữ ǵn thế nào (tu huệ). Vậy các ông nên chăm chú nghe, ta sẽ v́ các ông khai thị.

Khi đó Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát và đại-chúng đều hoan hỷ, kính cẩn và chăm chú nghe lời Phật chỉ-giáo.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn này Phật khen ngài Phổ-Nhăn v́ đại-chúng cầu Phật tạm lập phương-tiện tu-hành để nhập Viên-Giác. Trong câu hỏi gồm có hai phần: 1. Hỏi về Tư-huệ, 2. Hỏi về Tu-huệ

***

 

3. PhẬt dẠy Phương-pháp tu

- Này Thiện-nam, những hàng sơ-học Bồ-tát và các chúng-sanh đời sau, muốn ngộ-nhập tâm Viên-Giác thanh-tịnh của Như-Lai, th́ cần phải Chánh-niệm, và xa ĺa các vọng-huyễn. Vậy trước hết phải:

1. Y theo pháp "chỉ" của Như-Lai (Đại-thừa định)
          2. Giữ ǵn giới cấm kiên-cố
          3. Sắp xếp đồ-chúng cho yên ổn (sắp xếp hoàn cảnh xung quanh cho thuận-tiện)
          4. Ở chỗ thanh vắng
          5. Phải suy nghĩ như sau:

 

LƯỢC GIẢI

Tổ-sư đă dạy: "Thật tế lư địa bất thọ nhứt trần, Phật sự môn trung bất xả nhứt pháp”. Nghĩa là: Về chỗ lư-tánh tuyệt-đối th́ không thọ một mảy may ǵ; nhưng về sự-tướng tu-hành th́ không bỏ một việc lành nào cả.

Đành rằng, về cảnh-giới Viên-Giác, chúng ta nói không trúng, suy nghĩ cũng chẳng nhằm; "giác- ngộ" không có tiệm-thứ, "rời huyễn" chẳng cần phương-tiện; nhưng khi hạ-thủ công-phu (bắt tay vào việc tu-hành) th́ không thể bỏ qua các sự-tướng tu tŕ.

Đại ư đoạn này Phật dạy khi hạ-thủ công-phu, trước phải dùng: 1. Giới, 2. Định (chỉ), 3. Huệ (tức là câu "thường suy nghĩ như vậy" ở đoạn sau), 4. Sắp xếp các ngoại-duyên cho được yên ổn.

Trong chương Phổ-Hiền, Phật dạy: "Biết huyễn là ĺa được huyễn, không cần phương-tiện chẳng có tiệm-thứ”. Đồng với trong Kinh Lăng-Nghiêm Phật dạy: "bất tùy phân biệt" (không theo trần-cảnh khởi vọng-niệm phân-biệt).

Đoạn kinh này, Phật dạy phải dùng: "Giới, Định, Huệ, và sắp xếp các ngoại-duyên cho được thuận-tiện”. Cũng như trong Đại-cương Lăng-Nghiêm về bài thứ 12, Phật dạy tu "Giới, Định, Huệ" và "ba món tiệm-thứ".

***

 

4. PhẬt dẠy Quán thân này như huyỄn

- Phải thường nhớ nghĩ như vầy: Cái thân của ta nay đây, là do bốn chất: đất, nước, gió, lửa ḥa-hiệp. Như da, thịt, gân, xương, răng, tóc, móng tay, tủy, năo v.v… là thuộc về chất đất; nước mắt, nước mũi, mồ hôi, mỡ, máu, mủ, đờm, dăi, tiểu-tiện v.v... là thuộc về nước; nhiệt-độ trong người là thuộc về lửa; phổi hô hấp, tim đập, mạch nhảy, các chuyển-động trong người là thuộc về gió.

Đến khi bốn chất này ră rời, không c̣n ḥa-hợp nữa, th́ cái thân hư dối này (cái ta) ở chỗ nào?

 

LƯỢC GIẢI

Người đời, ai cũng chấp thân này là ta, rồi thương yêu quư-trọng nó, cho nên suốt đời lao tâm nhọc trí, vật lộn với vật-chất một cách vất vả, cũng v́ lo cho ta ăn, mặc và ở v.v… Lo cho ta rồi lo cho bà con quyến-thuộc của ta, lo cả cho đồng-bào chủng-loại của ta.

Nếu ta được là người mất, đồng-bào ta được th́ đồng-bào người phải bị mất. V́ vậy mà thế-giới chiến-tranh, nhơn-loại tương tàn tương sát. Chúng-sanh tạo không biết bao nhiêu điều tội lỗi, rồi vĩnh kiếp luân-hồi.

Bởi thế nên đoạn này Phật dạy, khi hạ-thủ công-phu là quán thân như huyễn (vô-ngă). Khi đă thấy xác thật thân này là hư-huyễn rồi, th́ không c̣n tham-lam luyến-ái, v́ nó mà tạo ra các tội lỗi, để rồi thọ quả báo sanh-tử luân-hồi.

Muốn cho độc-giả thưởng thức được lư-thú ở đoạn này, nên tôi dẫn một đoạn trong bài thơ "Nguyện cầu" của một thi-sĩ sau đây:

Ta c̣n để lại ǵ không?
             Ḱa non nước chảy, nọ sông cát bồi!
             Lang thang từ độ luân-hồi
             U-minh nẻo trước, xa khơi dặm về
             Trông ra bến thảm bờ mê
             Ngh́n thu nửa chớp, bốn bề một phương
             Ta van cát bụi trên đường
             Dù nhơ dù sạch, đừng vương gót này.

 

***

 

5. PhẬt dẠy quán tâm như huyỄn

- Này Thiện-nam! Ông đă biết thân này rốt ráo không thật có, chẳng qua do các duyên ḥa-hiệp làm ra thân-tướng giả tạm, đồng với loại huyễn-hóa.

Do bốn duyên là đất, nước, gió, lửa hoà-hợp, nên vọng có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Nhơn bốn duyên và sáu căn, trong ngoài hợp lại thành cái thân giả tạm, rồi vọng khởi ra các vọng-tưởng phân-biệt. Các vọng-tưởng phân-biệt tích tụ trong thân này in như có cái h́nh tướng "năng duyên", duyên theo bóng dáng của trần-cảnh, nên giả gọi đó là "Tâm".

- Này Thiện-nam! Cái tâm hư-vọng phân-biệt này, nếu không có trần-cảnh th́ không c̣n phân-biệt được cái ǵ cả. Lại nữa, khi bốn duyên (tứ đại) ră rời rồi, th́ thân giả tạm này cũng không c̣n. Lúc bấy giờ, cái vọng-niệm phân-biệt bị tích tụ trong thân thường duyên theo bóng dáng của sáu trần đó, cũng bị phân-tán. Rốt cuộc rồi không c̣n thấy có cái ǵ mà gọi là "Tâm" cả.

 

LƯỢC GIẢI

Về chương Văn-Thù, Phổ-Hiền, Phật dạy quán "Cảnh như huyễn", đến chương Phổ-Nhăn này, trước Phật dạy quán "Thân như huyễn" rồi sau quán "Tâm như huyễn" là v́ lối tu-hành phải bắt đầu từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu. Trước quán “cảnh như huyễn” tuy khó, nhưng chưa khó lắm, đến quán “Thân như huyễn” mới là khó hơn. Đi sâu vô một từng nữa là quán "Tâm như huyễn" lại càng khó hơn nữa.

Đại ư đoạn này, Phật dạy quán "Tâm như huyễn", không có thật-thể. Người đời thường chấp tâm này (linh-hồn) là ta, cái ta này thường c̣n không biến-đổi; nếu ta (linh-hồn) là người th́ khi chết rồi trở lại làm người; c̣n ta là thánh th́ chết rồi trở lại làm thánh, không có thay đổi; người có tu cũng vậy, không tu cũng vậy. Bởi chấp như thế, nên họ không sợ tội lỗi, chẳng ham phước lành, gây tạo nhiều tội ác rồi nhiều kiếp trầm-luân, chịu không biết bao nhiêu khổ sở.

V́ thương kẻ mê lầm này, nên Phật dạy quán "Tâm như huyễn". Khi hành-giả quán thân và tâm (linh-hồn) đều như huyễn, không phải thật-ngă (ta) một cách xác thật rồi, th́ không c̣n v́ nó mà tạo các tội lỗi. Tội lỗi không tạo, vọng-niệm chẳng sanh, huyễn-thân và huyễn-tâm đều dứt hết, th́ tánh Viên-Giác, thanh-tịnh không hư-huyễn hiện ra, lúc bấy giờ hành-giả ra khỏi sanh tử luân-hồi.

 

***

 

6. HuyỄn hẾt th́ chơn hiỆn, như bỤi sẠch th́ gương sáng

- Này Thiện-nam! V́ "huyễn thân" của chúng-sanh kia diệt, cho nên "huyễn tâm" cũng diệt; do "huyễn tâm" diệt, cho nên cái "huyễn trần" cũng diệt; do "huyễn trần" diệt, nên cái "huyễn diệt" đó cũng diệt luôn. Bởi thân tâm là tướng trần-cấu hư-huyễn đă hoàn toàn diệt, nên lúc bấy giờ tánh "Viên-Giác phi huyễn" hiện ra, thanh-tịnh khắp cả mười phương. Thí như lau gương, khi bụi hết th́ gương sáng tự hiện bày.

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này Phật dạy các huyễn tuần tự diệt. Có năm lớp:

1. Huyễn Thân diệt
             2. Huyễn Tâm diệt
             3. Huyễn Trần (pháp) diệt
             4. Huyễn Trí diệt
             5. Phi Huyễn (Viên-Giác) hiện

Như lau gương sạch bụi th́ ánh sáng hiện ra.

 

***

 

7. Dùng ngỌc Ma-Ni dỤ tánh Viên Giác

- Này Thiện-nam! Dụ như ngọc Ma-ni trong sáng, tùy mỗi phương chiếu hiện ra năm màu; nhưng người quê mùa không biết, cho năm màu (dụ cho ngũ uẩn) kia là thật có.

Tánh Viên-Giác thanh-tịnh cũng thế, tùy các loại mà ứng-hiện ra mỗi thân tâm (ngũ uẩn) không đồng. Những kẻ mê muội lại chấp cho thân tâm đó là thật có, v́ thế nên không thể xa ĺa được các tướng huyễn-hóa hư-vọng.

 

LƯỢC GIẢI

Luận về "bản-tánh Viên-Giác" th́ sáng suốt thanh-tịnh không có một mảy trần, tức là nghĩa "Chơn-không"; nhưng tùy theo nghiệp mà biến-hiện, không một loài vật nào chẳng có, tuy có mà không thật có, tức là nghĩa "Diệu-hữu".

Tánh Viên-Giác không hai, nhưng tùy theo vọng-nghiệp của mỗi loại mà biến-hiện các vật ngàn sai muôn khác. Người khéo dùng th́ nó hiện ra Tứ-Thánh (Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát, Phật). Kẻ vụng dùng th́ nó hiện ra lục-phàm (Thiên, Nhơn, A-Tu-La, Địa-ngục, Ngạ-quỷ, Súc-sanh). Cũng như trong kinh Lăng-Nghiêm Phật dùng giây đờn thí dụ: trong giây đờn không có tiếng hay tiếng dở; tùy người biết xử-dụng th́ nó phát ra tiếng hay, c̣n người không biết xử-dụng th́ nó phát ra tiếng dở. Cũng một giây đờn đó, hay dở chỉ tại người khéo hay vụng mà thôi.

Đoạn kinh trên nói: "Ngọc Ma-ni trong suốt là dụ cho tánh Viên-Giác thanh-tịnh"; nói "Ngọc Ma-ni tùy mỗi phía hiện ra ngũ sắc" là dụ cho tánh Viên-Giác tùy mỗi loại hiện thân ngũ-uẩn".

Đại ư đoạn này nói "Trong ngọc Ma-ni trong suốt không có ngũ sắc, nhưng v́ tùy mỗi phương, ánh chiếu in như có ngũ sắc. Trẻ con không biết, lầm tưởng ngũ sắc kia là thật có, rồi sanh tâm tham muốn khóc đ̣i v.v... chớ đâu biết rằng “ngũ sắc” kia không thật. Cũng như trong tánh Viên-Giác thanh-tịnh không có ngũ uẩn, nhưng tùy theo nghiệp chúng-sanh vọng thấy in như có năm uẩn. Chúng-sanh mê muội không biết hư-huyễn, lại chấp cho là thật có, rồi sanh tham mê ái-luyến, tạo ra các nghiệp. V́ thế mà bị triền-miên trong sanh-tử, không bao giờ ra khỏi các vọng-huyễn.

***

 

8. V́ có kẺ ĺa huyỄn và ngưỜi chưa ĺa đưỢc, nên phân có thánh và phàm

- Này Thiện-nam! Bởi đối với những kẻ mê-muội chấp thân tâm huyễn-cấu này là thật có, không thể xa ĺa được, nên ta gọi đó là chúng-sanh.

Đối với người đă xa ĺa được thân tâm cấu-huyễn th́ ta gọi đó là Bồ-tát. Đến khi các "huyễn-cấu" hết, "pháp đối-trị” trừ, “trí đối-trị” cũng không, cho đến không c̣n danh-từ để kêu gọi, và lời nói để luận-bàn (người không cảnh vắng, các vọng hoàn toàn diệt, th́ tạm gọi là Viên-Giác hay Phật).

- Này Thiện-nam! Các Bồ-tát và chúng-sanh đời sau, khi diệt hết các ảnh-tượng vọng-huyễn rồi th́ tánh "Viên-giác thanh-tịnh" hiện ra, khắp cả vô-biên hư-không, không có ngằn mé và phương-hướng.

 

LƯỢC GIẢI

Những người mê muội, không biết các pháp đều do tánh VIên-Giác huyễn hiện, lại chấp cho là thật có, rồi sanh ra ái-luyến triền-miên, nên Phật gọi là "chúng-sanh". Những người biết được các pháp hư-huyễn đều do Viên-Giác sanh, đă dùng pháp đối-trị và xa ĺa, th́ Phật gọi đó là "Bồ-tát". Lên một từng nữa là khi các "cảnh huyễn-cấu" hết, "pháp trừ huyễn" không, "trí đối-trị” chẳng c̣n, "danh-từ kêu gọi" và "lời nói luận bàn" cũng không, cho đến “người” cũng chẳng c̣n: cảnh vắng người không. Như bệnh hết, thuốc bỏ, ông thầy thuốc cũng không c̣n. Các vọng-huyễn hoàn toàn diệt hết, th́ cảnh-giới Viên-Giác thanh-tịnh viên-măn hiện khắp ở mười phương, lúc bấy giờ tạm gọi là "Phật".

 

***

 

9. Viên-Giác HiỆn th́ các pháp (căn, trẦn, thỨc) đỀu thanh-tỊnh

- Này Thiện-nam! V́ tánh Viên-Giác thanh-tịnh sáng suốt đă hiện ra nên "tâm" thanh-tịnh: do Tâm thanh-tịnh nên "6 thức" thanh-tịnh; do 6 Thức thanh-tịnh nên "6 căn” thanh-tịnh; do 6 căn thanh-tịnh nên "6 trần" thanh-tịnh; do 6 trần thanh-tịnh nên 4 đại, 12 xứ, 18 giới và 25 loài đều thanh-tịnh.

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này nói: v́ tánh Viên-giác thanh-tịnh đă xuất-hiện, nên các pháp thuộc về thế-gian là Căn, Trần, Thức cũng đều thanh-tịnh. Dụ như trong rừng cây y-lan (loại cây hồi), một phen gỗ chiên-đàn xuất hiện, th́ cả rừng đều thơm ngát.

Sáu thức: Nhăn-thức, Nhĩ-thức, Tỹ-thức, Thiệt-thức, Thân-thức và Ư-thức

Sáu căn: Nhăn-căn, Nhĩ-căn, Tỹ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn và Ư-căn.

Sáu trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp.

Bốn đại: Địa, Thủy, Hỏa và Phong.

Mười hai xứ: Sáu Căn và Sáu Trần

Mười tám giới: Sáu Căn, Sáu Trần và Sáu Thức.

25 loài: Cơi Dục có 14 loài, là bốn châu (Đông Thắng-thần-châu, Nam Thiệm-bộ-châu, Tây Ngưu-hóa-châu, Bắc Cu-lô-châu); bốn ác thú (Tu-la, Địa-ngục, Ngạ-quỷ, Súc-sanh) và sáu cơi Dục (1. Tứ Thiên-vương, 2. Đao-lợi, 3. Dạ-ma, 4. Đâu-suất, 5. Hóa-lạc, 6. Tha-hóa-tự-tại) Cơi Sắc có 7 loài, là bốn cơi Thiền (từ Sơ thiền đến Tứ thiền) cơi Phạm-vương, cơi Vô-tưởng và Ngũ-tịnh-cư. Cơi Vô-sắc có bốn: 1. Không Vô-biên-xứ, 2. Thức vô-biên-xứ, 3. Vô sở-hữu-xứ, 4. Phi-phi-tưởng-xứ.

***

 

- Này Thiện-nam! V́ các pháp thế-gian thanh-tịnh, nên các pháp xuất-thế-gian như: 10 lực, 4 món Vô-úy, 4 món Vô-ngại-trí, 18 pháp Bất-cọng, 37 phẩm Trợ-đạo và 84000 pháp-môn Đà-la-ni, tất cả đều thanh-tịnh.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này nói: Một pháp đă thanh-tịnh, nên tất cả các pháp đều thanh-tịnh, v́ tất cả đều đồng tánh Viên-Giác. Thí như một cục phèn bỏ vào thau nước, một chỗ trong th́ cả thau đều trong.

Đoạn trên nói các pháp Thế-gian thanh-tịnh. Đoạn này nói các pháp Xuất-thế-gian cũng thanh-tịnh.

Mười lực: 1. Tri giác xứ phi xứ trí lực. 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực; 3. Tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực; 4. Tri chư căn thẳng liệt trí lực; 5. Trí chủng chủng giải trí lực; 6. Trí chủng chủng giới trí lực; 7. Trí nhứt thế chí sở đạo trí lực; 8. Trí thiên nhăn vô ngại trí lực; 9. Tri túc mạng vô lậu trí lực; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực.

Bốn món Vô-úy: 1. Nhứt thế trí vô sở úy; 2. Lậu tận vô sở úy; 3. Thuyết chướng đạo vô sở úy; 4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy.

Bốn món Vô-ngại trí: 1. Pháp vô-ngại trí; 2. Nghĩa vô-ngại trí; 3. Từ vô-ngại trí; 4. Lạc thuyết vô-ngại trí.

Mười tám pháp Bất-cọng: 1. Thân vô thất; 2. Khẩu vô thất; 3. Niệm vô thất; 4. Vô dị tưởng; 5. Vô bất-định tâm; 6. Vô bất tri dĩ xả; 7. Dục vô diệt; 8. Tinh-tấn vô diệt; 9. Niệm vô diệt; 10. Huệ vô diệt; 11. Giải-thoát vô diệt; 12. Giải-thoát tri-kiến vô diệt; 13. Nhứt thế thân-nghiệp tùng trí-huệ hành; 14. Nhứt thế khẩu-nghiệp tùng trí-huệ hành; 15. Nhứt thế ư-nghiệp tùng trí-huệ hành; 16. Trí-huệ tri quá-khứ thế vô ngại; 17. Trí-huệ tri vị-lai thế vô ngại; 18. Trí-huệ tri hiện-tại thế vô ngại.

Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo: (xem Phật-Học Phổ-Thông, khóa III bài Đạo-Đế nói rơ)

Đà-La-Ni: Tàu dịch là "Tổng-tŕ". Nghĩa là ở trong mỗi một pháp-môn tóm giữ được tất cả Pháp. Do trừ 84000 phiền-năo mà được 84000 pháp Đà-La-Ni.

***

- Này Thiện-nam! V́ các pháp thế-gian và xuất-thế-gian đều thanh-tịnh, nên cá-nhân thanh-tịnh; do cá-nhân đă thanh-tịnh nên nhiều cá-nhân thanh-tịnh, cho đến mười phương chúng-sanh đều đặng Viên-Giác thanh-tịnh.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Chánh-báo chúng-sanh thanh-tịnh. Vi đă đồng tánh Viên-Giác, nên các pháp nói trên đă thanh-tịnh, th́ thân chúng-sanh cũng thanh-tịnh. Cũng một ư này, nhưng có kinh lại nói một cách khác: "c̣n một chúng-sanh nào chưa thành Phật th́ ta cũng chưa thành Phật", v́ đồng một bản-thể vậy.

 

***

 

- Này Thiện-nam! V́ một thế-giới đă thanh-tịnh, nên nhiều thế-giới cũng thanh-tịnh. V́ nhiều thế-giới thanh-tịnh nên cùng tận 10 phương hư-không (không-gian) trùm khắp 3 đời (thời-gian), tất cả đều thanh-tịnh b́nh-đẳng không động.

LƯỢC GIẢI

Đoạn này nói Y-báo của chúng-sanh thanh-tịnh. V́ đồng tánh Viên-Giác, nên Chánh-báo đă thanh-tịnh th́ Y-báo cũng thanh-tịnh. Cũng như trong nhà tối lâu đời, khi đốt lên một ngọn đèn, ánh sáng được xuất-hiện, một chỗ từ vừa sáng th́ tất cả chỗ trong nhà đều sáng.

***

 

10. V́ thẤy hiỆn-tưỢng (các pháp) b́nh-đẲng nên biẾt bẢn-thỂ (Viên-Giác) b́nh-đẲng

- Này Thiện-nam! Hư-không đă b́nh-đẳng không động, nên biết tánh Viên-Giác b́nh-đẳng không động; v́ bốn đại b́nh-đẳng không động, nên biết tánh Viên-Giác b́nh-đẳng không động. Như thế, cho đến 84000 pháp-môn Đà-La-Ni đều b́nh-đẳng không động, nên biết tánh Viên-Giác b́nh-đẳng không động.

 

LƯỢC GIẢI

Từ Bản-thể là tánh Viên-Giác, sanh ra các pháp hiện-tượng là hư-không, bốn đại và thiên h́nh vạn trạng cho đến 84000 pháp Đà La Ni. Hiện-tượng dă từ bản-thể sanh mà hiện-tượng đă b́nh-đẳng không động, cố nhiên bản-thể cũng b́nh-đẳng không động.

***

 

11. BẢn-thỂ (tánh) khẮp cẢ MƯỜI phương, nên hiỆn-tưỢng khẮp cẢ MƯỜI phương

Này Thiện-nam! V́ tánh Viên-Giác thanh-tịnh không động, viên-măn cùng khắp tất cả, không có bờ bến, nên biết 6 căn, 6 trần, 4 đại, cho đến pháp-môn Đà-La-Ni cũng thanh-tịnh và viên-măn khắp cả Pháp-giới.

Này Thiện-nam! V́ tánh Viên-Giác kia mầu-nhiệm viên-măn không hoại, nên bản-thể của căn, bản-thể của trần, không có một pháp nào hoại-diệt và lộn lạo; cho đến pháp-môn Đà-La-Ni, cũng không có hoại-diệt và lộn lạo. Thí như trăm ngàn ngọn đèn, đồng đốt trong một căn nhà, ánh sáng của mỗi ngọn đèn tuy đều chiếu khắp cả nhà, nhưng không có lộn lạo hay lấn diệt nhau.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn này có hai phần. Phần trên nói: V́ bản-thể là tánh Viên-Giác châu biến, nên hiện-tượng là các pháp cũng châu biến. Đại ư phần này giống đoạn văn trong Kinh Hoa-Nghiêm nói về "Sự Lư vô ngại Pháp-giới"

Phần dưới nói: V́ bản-thể không hoại-diệt nên tất cả các pháp không có một pháp nào hoại-diệt. Thí như trăm ngàn ngọn đèn chiếu trong một nhà, không có lộn lạo và hoại-diệt nhau. Ư đoạn này giống với đoạn văn trong Kinh Hoa-Nghiêm nói về "Sự, Sự vô ngại Pháp-giới". Trong Kinh Pháp-Hoa chép: "Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ" (Pháp nào an-trụ địa-vị pháp ấy. Thế-gian tướng là thường-trụ tướng). Và Kinh Lăng-Nghiêm có chép "Tứ đại châu biến, không có hoại-diệt và tạp loạn lẫn nhau".

***

 

12. V́ chỨng đưỢc viên-giác nên thẤy các pháp b́nh-đẲng

- Này Thiện-nam! V́ các Bồ-tát thành-tựu được tánh Viên-Giác rồi, nên không sợ pháp hữu-vi ràng buộc, không cầu pháp vô-vi giải-thoát, không nhàm chán sanh-tử, không ưa thích Niết-Bàn, không kính người tŕ-giới, không ghét người phạm giới, không tôn-trọng kẻ tu lâu, chẳng khinh người mới học. Tại sao thế? - V́ tất cả các pháp đều là Viên-Giác vậy.

Thí như con mắt xem thấy các cảnh vật hiện-tiền, cái "thấy" này trùm khắp tất cả, không thương, ghét. Tại sao thế? V́ cái "thấy" này chỉ có một thể, nên không có thương, ghét vậy.

 

LƯỢC GIẢI

V́ tất cả các pháp đă đồng một tánh Viên-Giác, nên Bồ-tát b́nh-đẳng: không thương không ghét, không khinh không trọng, không sợ sanh-tử, chẳng cầu Niết-bàn. Đoạn này lư rất cao thâm, chúng ta không nên đem phàm-t́nh mà phán đoán.

Ông Thường-Bất-Khinh Bồ-tát nói: "Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ thành Phật v́ các Ngài đều có tánh Phật” (Khả-năng thành Phật). Và trong kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: "Cúng dường cho nhiều Đức Phật, công-đức không bằng cúng dường cho người Vô-niệm, Vô-trụ, Vô-tu, Vô-chứng”. Đại ư các đoạn trên đều nói đến thể-tánh b́nh-đẳng này.

***

 

13. Có tu và có chỨng mà thẬt ra không tu và không chỨng

- Này Thiện-nam! Các Bồ-tát hiện-tại và chúng-sanh đời sau, tuy tu-tập Tâm này (Viên-Giác) mà được thành-tựu (quả Phật) rồi, nhưng thực ra th́ không tu và cũng không thành, v́ tánh Viên-Giác vừa tịch-diệt vừa phổ-chiếu tất cả, đối với Phật hay chúng-sanh, không hai không khác.

LƯỢC GIẢI

Phật đă dạy "Nhứt thế chúng-sanh giai hữu Phật-Tánh" Nghĩa là: Tất cả chúng-sanh đều có Tánh Phật (Viên-Giác). Song chúng-sanh v́ bị mây vô-minh che phủ mặt trăng Viên-Giác (Phật) của ḿnh, nên in tuồng có mê; bởi in tuồng có mê nên cũng in tuồng có Tu và Chứng. Đến khi mây vô-minh tan hết, th́ mặt trăng Viên-Giác hiện ra. Mặt trăng này đâu phải bấy giờ mới có, và cũng không phải do dụng công tu-hành mới thành, v́ nó có từ vô-thỉ đến giờ. Bởi thế nên nói "In tuồng có Tu và có Chứng" Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, cũng với ư này, Phật đă dạy: "Niệm đến chỗ không niệm mới là chơn-niệm, làm đến chỗ không làm mới là thật làm, nói đến chỗ không nói mới là thật nói, tu đến chỗ không tu mới là chơn-tu, chứng đến chỗ không chứng mới là thật chứng..."

Tuy biết như vậy, nhưng lúc đầu tiên hạ-thủ công-phu, phải có Tu có Chứng, rồi mới có thể đạt đến chỗ rốt ráo là vô Tu vô Chứng. Cũng như ông thầy giáo muốn cho cả lớp học được yên lặng th́ phải dùng tiếng động là gơ thước trên bảng. Khi học tṛ yên lặng th́ tiếng gơ bảng hết, lúc bấy giờ mới đổi lại cảnh yên-tịnh được.

Cũng v́ ngộ lư này, nên người xưa có làm bài thơ rằng:

Bách xích can đầu trực hạ thủy
             Nhứt ba tài động vạn ba tùy
             Dạ tịnh thủy hàn ngư bất thực,
             Măn thuyền không tải nguyệt minh quy.

Ư nghĩa bài thơ này, câu thứ nhất nói: "Nhợ 100 thước trên đầu cần câu, thả thẳng xuống mặt nước”. Câu thứ hai nói: “Một lượn sóng vừa gợn (động) th́ liền có muôn ngàn lượn sóng nhấp nhô nổi theo". Hai câu này ư nói: Khi hạ-thủ công-phu, lúc đầu tiên thuộc về hữu-tướng Tu, c̣n phải dụng công có Tu có Chứng.

Câu thứ ba nói: "Đến khuya các tiếng động hết, một bầu tịch-mịch thanh vắng mặt nước đông lạnh, bằng phẳng như tờ; cá cũng không ăn mồi”. Ư nói hành-giả lúc bấy giờ đă đi sâu vào chỗ "Tâm cảnh như như, ngă pháp đều không” thuộc về Vô tướng tu. Vô cung dung hạnh.

Câu thứ tư nói: "Chỉ có thuyền trống chở ánh sáng mặt trăng về...” Đại ư câu này nói: "Không tâm tải đạo” (tâm trống không, chứa đạo). Hành-giả lúc bấy giờ, tâm thể sáng suốt hiện khắp cả 10 phương (Viên-Giác); in tuồng có chứng có đắc... mà thật ra không chứng và không đắc.

***

 

14. Sanh-tỬ và niẾt-bàn đỀu như mỘng, v́ chúng-sanh vỐn đă thành PhẬt

- Các thế-giới của chư Phật, nhiều như số cát sông Hằng, đều ở trong tánh “Viên-Giác" này. Cũng như hoa đốm ở trong hư-không, mặc t́nh lăng xăng khởi lên và lăng xăng diệt mất. Nó không phải “tức” là tánh Viên-Giác, mà cũng không phải "ly" tánh Viên-Giác; không triền-phược và giải-thoát. Bởi thế nên biết "Sanh-tử và Niết-bàn" cũng đều như giấc mộng hôm qua, v́ chúng-sanh vốn đă thành Phật từ xưa đến giờ.

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư đoạn này nói: Tánh Viên-Giác thanh-tịnh vắng lặng như hư-không nên mặc tinh cho các pháp lăng xăng khởi diệt như hoa đốm.

Niết-bàn là đối với sanh-tửmà có, trong tánh Viên-Giác, Sanh-tử đă không, cho nên Niết-bàn cũng như mộng.

Đứng về phương-diện lư-tánh mà luận, th́ tất cả chúng-sanh đều sẵn có tính Phật (Viên-Giác) nên nói: "Chúng-sanh đă thành Phật từ xưa đến nay” . Song chúng-sanh v́ bị mây vô-minh che mờ, nên mặt trăng Phật (Viên-Giác) của ḿnh chẳng hiện. Đến khi được gió Bát Nhă thổi tan mây vô-minh rồi, th́ trăng Viên-Giác (Phật) của minh tự hiện.

Cũng v́ ngộ lư này, nên cổ-nhơn có làm bài thơ rằng:

Ṭng hạ vấn đồng-tử...
             Ngôn: Sư thê dược khứ,
             Chỉ tại thử sơn trung
             Vân thâm bất kiến xứ.

Dịch nghĩa: Dưới cây ṭng, hỏi Đồng-tử... Đồng-tử thưa rằng: "Thầy đi hái thuốc, chỉ ở trong núi này thôi, nhưng v́ mây đen nên chẳng thấy được”

Trong bài thơ này, tác giả mượn người khách hỏi Đồng-tử để nói về lư đạo.

Đại ư: Chúng-sanh đi t́m Đạo. Thật ra Đạo (Phật) không đâu xa, chỉ ở trước mắt. Nhưng v́ chúng-sanh bị mây vô-minh che mờ, nên chẳng thấy được Đạo (Phật).

Trong kinh có câu: "Tâm, Phật, chúng-sanh, tam vô sai biệt": Tâm, Phật và chúng-sanh cả ba không sai khác. Hay là câu: "Phật-pháp tại thế-gian, bất ly thế-gian giác": Phật-pháp tại thế-gian, giác-ngộ không rời thế-gian; cũng là chỉ cho ư này. Bởi chúng-sanh và Phật đồng một thể-tánh Viên-giác, nên Phật với chúng-sanh không hai, triền-phược và giải-thoát không khác, sanh-tử với Niết-bàn như mộng.

***

15. Các Pháp b́nh-đẲng

- Này Thiện-nam! Phải biết sanh-tử và Niết-bàn đều như giấc mộng hôm qua, cho nên không có sanh-diệt và cũng không có khứ-lai. Ở nơi quả vị sở chứng, không có "được” và "mất" hay "thủ" và "xả". ở nơi người năng chứng cũng không có “tạo-tác” và "đ́nh-chỉ" hay "sanh" (nhậm) và "diệt".

Trong tánh Viên-Giác, tất cả các pháp đều b́nh-đẳng, không có hoại-diệt. Rốt ráo không có người năng chứng và quả sở chứng.

LƯỢC GIẢI

Trong kinh nói: "Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng". Nghĩa là: Các pháp từ xưa đến nay, tướng nó thường vắng lặng. Bởi đồng tánh Viên-Giác, nên tất cả các pháp b́nh-đẳng, không sanh-diệt, không khứ-lai, không đắc thất, không thủ xả, không làm, không thôi, không sanh, không diệt, rốt ráo không có người năng chứng và quả sở chứng, v́ tất cả đều là tánh Viên-Giác vậy.

 

 

***

16. TÓM LẠI

- Này Thiện-nam! Các vị Bồ-tát kia phải y lời ta dạy trên mà suy nghĩ như vậy, dùng phương-tiện như vậy, y theo lớp lang và tuần-tự tu-hành như vậy, an-trụ như vậy, phải cầu pháp như vậy và khai-ngộ như vậy, mới khỏi mê-muội.

LƯỢC GIẢI

Nguyên trước Ngài Phổ-Nhăn hỏi Phật: "Phải suy nghĩ làm sao? Lập phương-tiện thế nào? Và thứ lớp tu-hành ra sao? v.v... "

Phật đă giải-thích rành rẽ rồi, nên đoạn này Phật dạy: "Phải suy nghĩ như vậy, dùng phương-tiện như vậy v.v... th́ mới khỏi mê-muội và ngộ-nhập được tánh Viên-Giác"

***

17. PhẬt nói bài kỆ tóm lẠi các nghĩa trên

Khi ấy Đức Thế-Tôn muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói bài kệ rằng:

Phổ-Nhăn! Ông phải biết:

Thân, Tâm của chúng-sanh

Tất cả đều như huyễn:

Thân này thuộc bốn đại

Thân này trả sáu trần;

Bốn đại tan ră rồi,

Cái ǵ gọi là "TA"?

Tuần-tự tu như vậy,

Tất cả đều thanh-tịnh.

Viên-Giác khắp Pháp giới,

Không làm, thôi, sanh, diệt

Không năng chứng, sở chứng:

Tất cả thế-giới Phật

Như hoa đốm hư-không.

Ba đời đều b́nh-đẳng

Rốt ráo không qua lại

Bồ-tát mới phát tâm,

Và chúng-sanh đời sau,

Muốn cầu nhập Phật-đạo

Phải như thế tu-hành.

LƯỢC GIẢI

Đại ư bài kệ này là tóm lại các nghĩa trên.

Phật dạy quán-sát Thân này và Tâm này đều như huyễn, không có thật “Ngă". Cứ như thế mà tu-hành th́ lần lần sẽ được thanh-tịnh. lúc bấy giờ tánh Viên-Giác hiện ra khắp cả Pháp-giới, không c̣n "làm" hay "thôi", "sanh" hay "diệt", và cũng không có "năng chứng” và "sở chứng". Các thế-giới nhiều như số cát sông Hằng, đều ở trong tánh Viên-Giác, mặc t́nh nó sanh-diệt như hoa đốm giữa hư-không. Ba đời đều b́nh-đẳng, rốt ráo không qua lại. Các Bồ-tát và chúng-sanh đời sau, phải như thế tu-hành, mới vào được Đạo Phật.

 

[Trở Về Mục Lục PHPT Tổng Quát]   [Trở về Mục Lục PHPT khóa 8]   [Trở về Bài 2]   [Đọc tiếp Bài 4]