Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Phật Học Phổ Thông Khóa Thứ Tám

Thích Thiện Hoa

 Bài Thứ Mười Một

  

Chương Viên Giác

 

 

XI. CHƯƠNG VIÊN-GIÁC  

1. Ngài Viên-Giác hỏi Phật

2. Phật khen ngài Viên-Giác

3. Phật dạy pháp an-cư

4. Phật dạy 21 ngày đầu ở trong tịnh-thất

5. Phật dạy an-cư 3 tháng theo Bồ-tát thừa 

6. Khi thấy thắng-cảnh, hành-giả chớ nên chấp trước

7. Tu Chỉ (Xa-ma-tha)

8. Tu Quán (Tam-ma Bát-đề)

9. Chỉ Quán song tu (Thiền-na)

10.Tóm tắt

11.Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên

  

XI.- CHƯƠNG VIÊN-GIÁC

  

1.- Ngài Viên-Giác bỒ-tát hỎi PhẬt

 Khi ấy Ngài Viên-Giác Bồ-tát ở trong Đại-chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật 3 ṿng rồi lạy Phật và chắp tay quỳ thẳng bạch rằng:  

- Bạch Đức Đại-bi Thế-Tôn!  Ngài đă v́ chúng con rộng nói các phương-tiện để nhập Viên-giác thanh-tịnh, khiến cho chúng-sanh đời sau đặng lợi-ích lớn

Bạch Thế-Tôn! Chúng con ngày nay đă được khai-ngộ rồi.  Nếu sau khi Phật nhập-diệt, chúng-sanh đời sau chưa được khai-ngộ, th́ làm sao an-cư để tu tập cảnh-giới Viên-giác thanh-tịnh này?  Và ba pháp quán thanh-tịnh trong Viên-giác đây, phải tu pháp nào trước?  

Cúi xin Đức Đại-bi v́ đại-chúng và chúng-sanh đời sau, bố-thí cho chúng con được lợi-ích lớn.  

Ngài Viên-Giác Bồ-tát thưa thỉnh như vậy 3 lần, kính lạy dưới chân Phật rồi trở lui.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Ngài Viên-Giác Bồ-tát hỏi Phật có hai câu:

1.- Làm sao an-cư tu Viên-giác thanh-tịnh?

2.- Ba môn quán thanh-tịnh nên tu pháp nào trước?  

Chữ “Viên-Giác Bồ-tát” – Viên-giác là Giác viên-măn.  Từ trước đến đây, Phật đă nhiều lần chỉ dạy phương-pháp tu-hành để phá trừ Vô-minh và chứng nhập Viên-giác.  Nhưng đứng về phương-diện tu-hành, không phải tu nhứt thời mà chứng được Viên-giác; phải lần lượt như người lau guơng lau nhiều bụi mới sạch.  Bụi càng sạch th́ gương càng sáng; sáng, sạch đến chỗ hoàn-toàn là dụ cho Viên-giác.  

Xin nhắc lại, trước về chương “Tịnh chư Nghiệp-chướng” là dạy hành-giả làm cho sạch các nghiệp-chướng. Nhưng giác-tánh chưa được phổ-biến.  Đến chương “Phổ-Giác”, Bồ-tát cầu Phật chỉ dạy phương-pháp tu-hành để cho Giác-tánh được phổ-biến, nhưng chưa Viên.  Đến chương “Viên-Giác” là nói Giác-tánh Viên-măn.  Chương này Bồ-tát hỏi Phật về việc an-cư và tu 3 pháp quán, toàn chú trọng về sự-tướng tu-tŕ.  Cho biết: Sự chưa tṛn là chưa Viên Viên là nhờ Sự tṛn.  Thí như người tu đức Từ-bi, nếu chưa phổ-cập đến loài vi-tế côn-trùng (hộ mạng côn-trùng) th́ ḷng Từ-bi chưa tṛn.

  

***

  

2.- PhẬt khen ngài Viên-Giác BỒ-tát

 Khi ấy Đức Thế-Tôn khen ngài Viên-Giác Bồ-tát và bảo rằng:  

- Này Thiện-nam, hay lắm và quư lắm!  Ông thưa hỏi Như-Lai những phương-tiện tu-hành, thế là ông bố-thí cho chúng-sanh lợi-ích rất lớn.  Vậy các ông nên lóng nghe, ta sẽ v́ các ông mà chỉ-giáo.  

Khi ấy Ngài Viên-Giác Bồ-tát và đại-chúng đều yên lặng và hoan-hỷ nghe lời Phật chỉ-giáo.

  

3.- PhẬt dẠy pháp an-cư

 - Này Thiện-nam!  Khi Phật c̣n tại-thế hoặc nhập-diệt rồi, hay đời mạt-pháp[1] nếu chúng-sanh nào có đủ căn-tính Đại-thừa, tin cái tâm Viên-giác của Phật, phát tâm tu-hành; như ở Già-lam (chùa) th́ phải lo xếp đặt chúng Tăng, hoặc có những duyên-sự khác không thể chuyên tu-tập được, th́ tùy phận của Hành-giả, tư-duy và quán sát các pháp-môn mà ta đă dạy trước.  

Nếu không có nhơn-duyên khác, th́ Hành-giả phải lập đạo-tràng và định thời-kỳ tu-tập.  Nếu thời-gian dài th́ 120 ngày, vừa th́ 100 ngày, ngắn th́ 80 ngày.  

Cách bài trí trong tịnh-thất, phải treo tràng-phan và đủ cả hương hoa. Như Phật c̣n tại-thế th́ nên chánh suy nghĩ.  Nếu Phật nhập-diệt rồi th́ an-trí h́nh tượng Phật, mắt nh́n tâm tưởng nhớ, kính đồng như Phật c̣n hiện-tại.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật dạy hai cách:  

1.- Người phát tâm tu-hành, nếu v́ bận rộn việc chùa hoặc các duyên-sự khác, không thể nhập đạo-tràng chuyên tu được, th́ Hành-giả nên quán-sát các pháp-môn của Phật đă dạy, như trong chương Phổ-Nhăn v.v...  

2.  Nếu không có duyên-sự ǵ bận rộn, th́ Hành-giả nên lập đạo-tràng và phân kỳ mà tu-tập.  Trường-kỳ là 120 ngày, trung-kỳ là 100 ngày, đoản-kỳ là 80 ngày.

Nếu Phật c̣n tại-thế, th́ Hành-giả chỉ chánh-tâm nhớ nghĩ Đức Phật, khỏi cần có h́nh tượng.  Nếu Phật nhập diệt rồi, th́ nên thờ tượng Phật để mắt nh́n, tâm tưởng, kính như Phật c̣n tại thế.

 

***

 

4.- PhẬt dẠy 21 ngày đẦu, Ở trong tỊnh-thẤt

 - Trải qua 21 ngày đầu, Hành-giả kính lạy danh-hiệu của các Đức Phật trong mười phương và chí-thành sám-hối.  Nếu gặp cảnh-giới tốt, th́ Hành-giả tâm đuợc nhẹ nhàng thư-thới (khinh-an).  Qua 21 ngày rồi, Hành-giả phải chuyên nhiếp vọng-niệm.

  

LƯỢC GIẢI

 

Người mới tu, giới-đức chưa đủ, thân tâm chưa được thanh-tịnh, nên không có năng-lực tu định-huệ.  V́ thế nên lúc ban đầu phải lập đạo-tràng. Hành-giả trải qua 21 ngày đầu lễ Phật và sám-hối.  Cũng như cái chén cần rửa cho sạch mới có thể đựng Đề-hồ được.  Hành-giả phải nhứt tâm thật-hành như vậy, th́ thân mới được thanh-tịnh.  Trong 21 ngày, hoặc căn lành phát-hiện, hay có cảm ứng: Hành-giả thấy được điềm lành, thời thân tâm sẽ được khoan-khoái.  

“Cảnh-giới tốt”:  Như ở trong chiêm-bao thấy Phật, hoặc khi làm lễ sám-hối thấy  hào-quang v.v...

  

***

 

5.- PhẬt dẠy an-cư ba tháng theo bỒ-tát thỪa

 - Này Thiện-nam!  Nếu gặp đầu mùa Hạ ba tháng an-cư, th́ Hành-giả phải an-trụ nơi hạnh thanh-tịnh của Bồ-tát, tâm ĺa tư-tưởng của Thinh-văn, không nhờ đồ-chúng.

Đến ngày an-cư, Hành-giả phải đối trước Phật phát-nguyện như vầy: “Con là Tỳ-kheo (tên ǵ) hoặc Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di, nguyện tu theo hạnh tịch-diệt của Bồ-tát thừa, trụ-tŕ nơi thật-tướng, lấy Đại Viên-giác làm Già-lam (chùa).  Thân tâm con an-cư nơi “B́nh-đẳng-tánh trí” hay “Tự tánh Niết-bàn”, không có hệ-thuộc xứ-sở.  

Con nay chẳng y theo Thinh-văn, con kính thỉnh mười phương chư Phật và các vị Bồ-tát cùng với con đồng làm pháp an-cư ba tháng.  Con v́ một nhơn-duyên lớn là tu Bồ-tát hạnh, cầu chứng quả Vô-thượng Diệu-giác, nên không hệ phược đồ-chúng”.  

Tu như thế măn ba thời-kỳ rồi, tùy ư Hành-giả ra vào vô ngại.  Đây gọi là Bồ-tát thị-hiện an-cư.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này chia làm 3 phần:  

1.- Phật dạy Hành-giả lập thời-kỳ tu-tập như vậy chưa đủ mà phải an-cư ba tháng, bắt đầu từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy âm-lịch.  Người phát tâm Bồ-đề tu theo Viên-giác, th́ phải an-cư theo Bồ-tát hạnh.  Nghĩa là không cần phải tập chúng an-cư theo luật của Tiểu-thừa, mà tâm của Hành-giả phải luôn luôn an-trụ nơi hạnh thanh-tịnh của Bồ-tát.  Bởi thế nên trên nguyên-văn kinh nói: “Tâm rời tư-tưởng của Thinh-văn, không nhờ đồ-chúng”.  

2.- Đến ngày an-cư, Hành-giả phải đối trước Phật bạch như vầy:

“Con tên ... thọ giới Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc (thiện-nam) hay Ưu-bà-di (tín-nữ); nay y theo pháp Đại-thừa, tu theo hạnh tịch-diệt của Bồ-tát, lấy Viên-giác làm chùa, thân tâm con thường an-trụ nơi “tự tánh Niết-bàn” hay “b́nh-đẳng-tánh trí”.

3.- Hành-giả đối trước Phật phát nguyện rằng:  

“Con nay v́ muốn tu hạnh Viên-giác, nên không theo luật an-cư của Thinh-văn (Tiểu-thừa) không tập chúng-tăng an-cư, mà con chỉ cầu thỉnh mười phương chư Phật và Bồ-tát cùng với con làm pháp an-cư trong ba tháng.  Hành-giả an-cư như thế ba tháng, sau khi măn thời-kỳ rồi, tùy ư đi tới lui không ngại.  

Chữ “Tịch-diệt”: Diệt các phiền-năo, tâm được tịch-tịnh, tức là nói: y theo tâm chơn-như không sanh diệt mà tu.  

Chữ “Thật tướng” Tướng chơn-thật, tướng này không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không tăng không giảm, không bị thời-gian thay đổi, không-gian chuyển dời, tức là chỉ cho “Chơn-như thật tướng”, cũng là cái biệt-danh “Viên-giác”.

“Viên-giác làm chùa” - Tiểu-thừa an-cư th́ lấy sự-tướng là cảnh chùa (Già-lam) của ḿnh ở, làm nơi tu-hành. Bồ-tát an-cư th́ lấy lư-tánh là Viên-giác làm chuà của ḿnh ở tu, nên nói: “lấy Viên-giác làm chùa”.  

“B́nh-đẳng-tánh trí” – Hành-giả đă an-cư nơi thật-tướng, tức là tánh Viên-giác, nên sáu căn ở thân không tạo nghiệp, sáu thức không dong ruỗi theo sáu trần.  

Lúc bấy giờ năm thức trước, chuyện lại làm “Thành-sở-tác trí”; thức thứ sáu chuyển thành “Diệu-quan-sát trí”.  

Khi Hành-giả chưa an-trụ nơi Viên-giác th́ thức thứ bảy này chấp ngă, nhơn, bỉ thử.  Đến khi Hành-giả an-trụ nơi Viên-giác, th́ thức thứ bảy chuyển thành “B́nh-đẳng-tánh trí”.  Lúc bấy giờ thức thứ tám không c̣n bị thức thứ bảy chấp làm “Ngă” nữa, nên thức thứ tám chuyển thành “Đại-viên-cảnh trí”.  

Chữ “Niết-bàn tự tánh”: cũng gọi là “Tánh tịnh Niết-bàn”, tức là biệt-danh của Chơn-như hay Viên-giác.  

Chữ “Không hệ-thuộc xứ-sở”: Tiểu-thừa an-cư phải có cảnh chùa để làm đạo-tràng xứ-sở. Đến như Bồ-tát th́ lấy “Niết-bàn tự tánh” làm đạo-tràng, nên nói: “không hệ-thuộc xứ-sở”.  

Chữ “Vô thượng Diệu-giác”: quả vị Phật sáng suốt (giác) mầu-nhiệm (diệu) không có quả vị nào trên (vô thượng)

  

***

 

6. Khi thẤy thẮng-cẢnh, hành-giẢ chỚ nên chẤp trưỚc

 - Này Thiện-nam! Như chúng-sanh đời mạt-pháp muốn tu-hành để cầu đạo Bồ-tát, trong khi vào tu ba thời-kỳ này, nếu thấy có các thắng-cảnh hiện ra, mà không đúng như Hành-giả đă nghe thấy, th́ quyết không nên chấp thủ.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật dạy Hành-giả khi tu, nếu thấy hiện ra cảnh-giới thù-thắng, không nên luyến-trước.  

Hành-giả khi dụng công tu-hành, cố nhiên sẽ có cảnh-giới thù-thắng lạ thường hiện ra.  Song, nếu sanh tâm chấp trước, không phân-biệt chánh tà, th́ Hành-giả dễ mắc lưới ma.  Cho nên Hành-giả phải thấy các cảnh-giới ấy đúng như sự nghe học của ḿnh, nghĩa là lời Phật dạy, hoặc thiện-tri-thức bảo hay trong kinh sách dạy như thế nào, th́ khi các cảnh ấy hiện ra phải đúng như thế ấy, mới gọi là chơn-chính.  Trái lại là Ngũ-ấm-Ma hiện (nên xem đoạn Ngũ-Ấm-Ma, trong kinh Lăng-Nghiêm)

Phàm người tu-hành, không ai chẳng nhơn nghe hiểu rồi sanh ḷng tin, nhơn có tin mới tu, nhơn tu mới có chứng; chứng là kết quả của nghe, tin và tu.  Thế nên tin, hiểu, tu và chứng trước sau phải hiệp nhau.  Nếu chỗ chứng (cảnh-giới hiện ra) không hiệp với sự nghe th́ bất luận hiện ra cảnh-giới thiện hay ác, cũng đều là Ma cả.

  

***

  

7.- Tu chỈ (Xa-Ma-tha)

 - Này Thiện-nam!  Như có các chúng-sanh tu pháp “Chỉ” (Xa-ma-tha) trước giữ chỗ chí-tịnh (rất yên-lặng) không khởi vọng-niệm nhớ nghĩ; do yên-lặng tột bực nên trí-giác hiện ra.  Như vậy từ khi mới bắt đầu tịnh và ở một thân, cho đến khi khắp cả một thế-giới đều tịnh.  Cũng thế, “Trí-giác” bắt đầu hiện ra ở một thân cho đến khắp cả một thế-giới đều “Giác”.

- Này Thiện-nam!  Khi “Trí-giác” đă hiện khắp một thế-giới, th́ trong thế-giới ấy nếu có một chúng-sanh nào, móng lên một niệm, lúc bấy giờ Hành-giả đều biết cả.  Cho đến trăm ngàn thế-giới cũng thế.  

Các cảnh-giới ấy, nếu không phải đúng như sự nghe của Hành-giả, th́ quyết chẳng nên chấp thủ.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đại-ư đoạn này Phật dạy Hành-giả khi tu Định, đến chỗ tột bực, nên trí-giác (huệ) phát sinh. Bởi từ một thân tịnh cho đến một thế-giới tịnh, nên trí-giác phát ra cũng từ một thân cho  đến khắp cả thế-giới.  V́ cả thế-giới đều là “trí-giác” của Hành-giả, nên có một chúng-sanh nào vừa móng niệm, th́ Hành-giả đều biết hết.  

Song những cảnh-giới đă hiện ra, phải đúng như sự thấy nghe mà Hành-giả đă từng nghe thiện-tri-thức hay trong kinh chỉ dạy, như thế cảnh thấy mới chánh.  Nếu trái lại là Ngũ-ấm-Ma hiện.  

Ngài Như-Sơn nói: “V́ toàn cả thế-giới đă thành “giác” nên chúng-sanh toàn ở trong giác-tánh của Hành-giả.  Bởi thế nên khi chúng-sanh khởi ra một niệm ǵ, th́ Hành-giả đều biết cả.  Cũng như bóng đă hiện trong gương, nên gương chiếu không sót”.

Trong kinh Viên-Giác lược sớ chép: Hành-giả tin, hiểu, tu, và chứng tuy thứ lớp không đồng, nhưng phải không khác.  Nghĩa là: “Hiểu là hiểu theo chỗ ḿnh Tin, Tu là Tu theo chỗ ḿnh hiểu.  Chứng là chứng theo chỗ ḿnh Tu.  Nay những cảnh-giới của Hành-giả chứng, nếu không phải đúng như chổ hiểu, tin và tu, th́ không nên chấp thủ”.

  

***

  

8.- Tu quán (tam-ma bát-đỀ)

 - Này Thiện-nam! Nếu chúng-sanh, tu pháp “Quán”, th́ trước phải nhớ tưởng mười phương các Đức Phật và các vị Bồ-tát, rồi y theo các pháp-môn của Phật dạy đó mà siêng-năng cần khổ tuần-tự tu-hành, đặng thành tam-muội và phát-nguyện rộng lớn, tự huân-tập thành chủng-tử.  Trong lúc tu, nếu có hiện ra những cảnh-giới ǵ mà không đúng như chỗ nghe của Hành-giả, th́ chớ nên chấp thủ.

  

LƯỢC GIẢI

 

Phật dạy người tu  “Quán”, trước phải nhớ tưởng các Đức Phật và Bồ-tát rồi y theo các pháp-môn của Phật dạy mà siêng-năng khổ-hạnh tuần-tự tu-hành để thành tam-muội.  Và phải phát đại-nguyện huân-tập vào tâm thức của Hành-giả để thành chủng-tử.  

Trong khi tu, nếu có những cảnh-giới ǵ hiện ra mà không đúng như chỗ của Hành-giả đă nghe thầy bạn dạy bảo, hay trong kinh luật chỉ giáo, th́ không nên chấp thủ; v́ đó là Ma hiện.  

“Tam-muội” – Xem đoạn giải thứ 2 trong chương Phổ-Hiền Bồ-tát.

  

***

 

9.- ChỈ quán song tu (thiỀn-na)

            - Này Thiện-nam!  Nếu có chúng-sanh muốn tu Thiền-na (Chỉ quán song tu) th́ trước phải tu pháp-môn sổ-tức; trong tâm Hành-giả biết rơ được mỗi niệm khi sanh, trụ, dị và diệt; phân-biệt được ranh giới và số-mục của các niệm. Cho đến khắp cả bốn oai-nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).  Hành-giả cũng đều hiểu biết phân-biệt được rơ ràng số-mục các niệm. Lần lượt tăng tiến cho dến trong trăm ngàn thế-giới, dù vật nhỏ như một hạt mưa, Hành-giả cũng đều biết hết; cũng như con mắt thấy các vật dụng. Trong khi tu nếu thấy có hiện ra cảnh-giới ǵ không đúng như sự thấy nghe của Hành-giả th́ không nên chấp thủ.  

Đây là phương-tiện đầu tiên tu-hành của Hành-giả, tức là ba pháp quán.  Nếu các chúng-sanh tinh-tấn siêng tu ba pháp quán này được hoàn toàn, tức là Như-Lai xuất-hiện ở thế-gian vậy.

  

LƯỢC GIẢI

 

Ngài Viên-Giác Bồ-tát hỏi Phật: Hành-giả đối với ba pháp quán, tu pháp nào trước? - Phật dạy trước tu pháp “Chỉ” giữa tu pháp “Quán”, sau “Chỉ, Quán song tu”.  

Đoạn này Phật dạy “Chỉ, Quán song tu”.  Người tu pháp này, trước phải tu pháp Sổ-tức (đếm hơi thở).  Nhờ có điều-ḥa hơi thở, nên tâm được tịnh (chỉ); nhờ tâm được tịnh nên những vọng-niệm thô tế, khi sanh, trụ, dị và diệt, giới-hạn của nó dài ngắn, lâu mau, nhiều hay ít, Hành-giả đều biết được hết (quán)  

Hành-giả tịnh-tọa, dụng tâm tu pháp quán như vậy, khi mới thành-công, thời trong tất cả thời-gian động tịnh như đi, đứng, nằm ngồi v.v... Hành-giả đều hiểu biết phân-biệt được rơ ràng, mỗi niệm, khi sanh, trụ, dị và diệt, giới-hạn dài ngắn hay lâu mau và ít nhiều v.v...  

Đến lúc thành-công hoàn-bị, th́ trong trăm ngàn thế-giới, có những vật ǵ, cho đến có bao nhiêu hạt mưa, Hành-giả cũng đều biết được hết.  Không phải Hành-giả hiểu biết một cách lờ mờ, mà hiểu biết một cách rơ ràng; cũng như mằt xem thấy các sự vật thụ-dụng vậy.

  

***

  

10.- Tóm tẮt

 - Này Thiện-nam!  Nếu chúng-sanh đời mạt-pháp, tâm muốn cầu đạo, nhưng v́ nghiệp-chướng đời trưóc nặng nề, căn tánh ám-độn, nên tu-hành khó thành-tựu, th́ phải siêng năng sám-hối; thường sanh tâm trông mong đoạn trừ các phiền-năo: thương, ghét, tật đố, dối nịnh v.v... và t́m cầu quả vị cao-thượng thù-thắng.  

Đối với ba pháp quán thanh-tịnh này, tùy Hành-giả tu một pháp.  Nếu tu pháp quán này không thành-tựu th́ tu pháp quán khác, phải lần hồi cầu chứng, chớ nên thối tâm buông bỏ.

  

LƯỢC GIẢI

 

 Đại-ư đoạn này Phật dạy:  Nếu chúng-sanh đời sau căn tánh ám-độn, nghiệp-chướng nặng nề, muốn cầu Phật đạo, nhưng không thành-tựu, th́ phải siêng-năng sám-hối, tâm thường trông mong đoạn các phiền-năo. Đối với ba pháp quán, nếu tu pháp này không thành-tựu th́ tu pháp khác, dốc ḷng cầu chứng Đạo, không nên thối tâm.

  

***

  

11.- PhẬt nói bài kỆ tóm lẠi các nghĩa trên

 Khi ấy Đức Thế-Tôn, muốn tóm lại các nghĩa này, nên nói bài kệ rằng:  

Viên-Giác ông nên biết:
            Tất cả các chúng-sanh
            Muốn cầu đạo Vô-thượng,
            Phải lập ba thời-kỳ:
            Hai mươi mốt ngày đầu
            Sám-hối nghiệp vô-thỉ,
            Vậy sau chánh suy nghĩ;
            Nếu phi cảnh đă nghe,
            Th́ chẳng nên chấp thủ

           
Pháp “Chỉ” rất tịch-tịnh
            Pháp “Quán” chánh nhớ nghĩ,
            Thiền-na rơ đếm hơi,
            Thế gọi là tịnh quán.
            Người siêng năng tu tập,
            Thế gọi Phật hiện thế.
            Kẻ độn căn chẳng thành,
            Th́ phải siêng sám-hối
            Các tội từ vô-thỉ.
            Các tội chướng tiêu rồi,
            Cảnh Phật liền hiện trước

   

LƯỢC GIẢI

 

Đại-ư bài kệ này Phật dạy các chúng-sanh muốn cầu đạo vô-thượng Bồ-đề, th́ phải phân ba thời-kỳ tu tập. Khi vào tịnh-thất, trong 21 ngày đầu, Hành-giả phải chí tâm sám-hối các nghiệp-chướng từ vô-thỉ, sau rồi chánh tâm suy nghĩ.  

Trong lúc tu, như có hiện ra cho cảnh-giới ǵ, nếu không đúng với chỗ thấy nghe của Hành-giả, th́ chớ nên chấp thủ.  

Nếu Hành-giả siêng năng tu tập ba phép quán thanh-tịnh là: Chỉ, Quán và Chỉ, Quán song tu th́ gọi là Phật hiện thế.

Nếu người nào căn-tánh ám-độn không thể tu ba pháp-môn này được th́ nên siêng năng sám-hối các tội từ vô-thỉ; khi các tội chướng tiêu-diệt rồi, th́ cảnh Phật liền hiện ra trước mặt.


[1] Chữ “Mạt pháp” – Giáo-pháp của Phật có chia làm 3 thời-kỳ:
                    1. Chánh-pháp, 1000 năm
                    2. Tượng-pháp (mường tượng như chánh pháp) 1000 năm
                    3. Mạt-pháp (rốt ngọn) 10000 năm.  Hiện nay (1992) Phật-lịch 2536, thế là đă sang Mạt-pháp 536 năm.

 

Minh Quang posted April 14, 2005

[Home] [Up] [PHPT 8 bài 1 Văn Thù] [PHPT 8 bài 2 Phổ Hiền] [PHPT 8 bài 3 Phổ Nhăn] [PHPT 8 bài 4 Kim Cang Tạng] [PHPT 8 bài 5 Di Lặc] [PHPT 8 bài 6 Thanh Tịnh Tuệ] [PHPT 8 bài 7 Oai Đức Tự Tại] [PHPT 8 bài 8 Biện Âm] [PHPT 8 bài 9 Tịnh Chư Nghiệp Chướng] [PHPT 8 bài 10 Phổ Giác] [PHPT 8 bài 11 Viên Giác] [PHPT 8 bài 12 Hiền Thiện Thủ]