Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Phật Học Phổ Thông Khóa Thứ Tám

Thích Thiện Hoa

 Bài Thứ Mười

 

 Chương Phổ Giác

 

 

X.  CHƯƠNG PHỔ-GIÁC

1. Ngài Phổ-Giác Bồ-tát hỏi Phật

2. Phật khen ngài Phổ-Giác Bồ-tát

3. Phật dạy ngài Phổ-Giác Bồ-tát

4. Phật nói bốn định

5. Phật trả lời câu hỏi thứ ba: “Phải làm những hạnh ǵ?”

6. Phật trả lời câu hỏi thứ tư: “Phải trừ bỏ bịnh ǵ?”

7. Phật trả lời câu hỏi thứ năm: “Phải phát tâm như thế nào?”

8. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên

  

X.- CHƯƠNG PHỔ-GIÁC

 

 

1.- Ngài PhỔ-Giác bỒ-tát hỎi PhẬt

 Khi ấy Ngài Phổ-Giác Bồ-tát ở trong đại-chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba ṿng, kính cẩn lạy Phật và quỳ thẳng chắp tay bạch rằng:  

- Bạch Đức Đại-bi Thế-Tôn, Ngài đă v́ chúng-sanh nói các bệnh (bốn tướng) của người tu thiền, khiến cho Đại-chúng gội sạch các mê lầm nơi tâm và được an-ổn.  Đây là một việc lợi-ích lớn chưa từng có.

- Bạch Thế-Tôn, chúng-sanh đời sau các Phật lần xa, các vị Thánh hiền lại ẩn, tà-sư ngoại-đạo rất thạnh-hành; vậy trên đường tu-hành:

1.- Phải cầu bực nào để dạy bảo?
            2.- Phải y phương-pháp nào tu-hành?
            3.- Phải làm theo hạnh nào?
            4.- Phải trừ những bịnh ǵ?
            5.- Phải phát tâm như thế nào?  

Xin Phật từ-bi chỉ dạy, khiến cho những chúng-sanh c̣n mê -muội, khỏi bị đọa tà -kiến.

Ngài Phổ-Giác Bồ-tát thưa thỉnh như vậy ba lần, cúi đầu kính lạy, rồi trở về chỗ cũ.

  

LƯỢC GIẢI

 

Chữ “Phổ-Giác” là giác-ngộ cùng khắp.  Trên đường tu-hành, hành-giả phải gặp nhiều chướng-ngại.  Những chướng-ngại ấy đều do chấp bốn tướng mà sanh ra.  Bởi thế nên chương thứ 9, Ngài Tịnh Chư Nghiệp-Chướng Bồ-tát đứng thưa hỏi, để Phật chỉ bày bốn tướng cho hành-giả biết rơ đặng trừ.  Khi bốn tướng trừ hết rồi thời các nghiệp-chướng được thanh-tịnh.

Song trên đường tu-hành, hành-gỉa c̣n bị mây Vô-minh rất vi-tế, tức là bốn bịnh sau này che mặt trăng Viên-giác của hành-giả, làm cho trăng Viên-giác chiếu soi không được phổ-biến.

V́ thế nên đến chương thứ 10 này, Ngài Phổ-Giác Bồ-tát đứng lên thưa hỏi, cầu Phật chỉ dạy thêm, để cho hành-giả hiểu biết, đặng dẹp trừ hết mây vô-minh, thời trăng Viên-giác kia mới được chiếu soi phổ-biến.

 ***

 Tóm lại, đoạn này có 3 phần:

1.- Trước Ngài Phổ-Giác tán-thán Phật đă chỉ rơ những chứng bịnh của Thiền-giả là bốn tướng vừa nói trên, để chúng-sanh biết bịnh đặng trừ, sẽ được an-ổn.

2.- Ngài Phổ-Giác Bồ-tát thương xót chúng-sanh đời sau cách Phật xa pháp, các vị Hiền Thánh th́ ở ẩn, ngoại-đạo tà-sư lại thạnh-hành làm cho người tu-hành dễ lạc vào tà-kiến

3.- Ngài Phổ-Giác Bồ-tát cầu Phật chỉ dạy 5 điều như sau:


a)       Hành-giả phải cầu ai làm minh-sư để chỉ dẫn trên đường tu-hành?
b)       Y theo phương-pháp nào để tu?
c)       Phải làm những hạnh ǵ?
d)       Phải trừ những bịnh ǵ?
e)       Làm sao để phát tâm?

  

***

  

2.- PhẬt khen ngài PhỔ-Giác bỒ-tát

 Khi ấy Đức Thế-Tôn khen Ngài Phổ-Giác Bồ-tát và dạy rằng:  

- Này Thiện-nam, hay lắm và quư lắm!  Ông v́ chúng-sanh đời sau thưa hỏi Như-Lai đường lối tu-hành như thế.  Đó là ông bố-thí cho chúng-sanh đời sau con mắt đạo không sợ (đạo-nhăn vô-úy), khiến cho chúng-sanh đặng thành Thánh-Đạo.  Vậy các ông nên chăm chú nghe, ta sẽ v́ các ông chỉ-giáo.

 Khi ấy Ngài Phổ-Giác Bồ-tát và đại-chúng đều hoan-hỷ và lẳng lặng vâng nghe lời Phật chỉ-giáo.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật khen Ngài Phổ-Giác v́ chúng-sanh, cầu Phật chỉ dạy đường lối tu-hành để cho chúng-sanh đi thẳng đường đến nơi Thánh-quả, không c̣n lo sợ đọa vào tà-kiến.  

“Mắt đạo không sơ”. - Đối với đạo hiểu biết được rơ ràng như con mắt thấy đường đi nên gọi là “con mắt đạo” (đạo-nhăn.  Trên đường tu-hành không c̣n lo sợ đọa vào tà-kiến, nên nói “không sợ” (vô-úy)

  

***

  

3.- PhẬt dẠy ngài PhỔ-Giác bỒ-tát

 - Này Thiện-nam!  Chúng-sanh đời sau muốn phát tâm tu đại-thừa th́ phải cầu Thiện Tri-thức, tức là những người hiểu biết chơn-chánh (chánh tri-kiến).  Những vị ấy tâm chẳng trụ ở nơi tướng phàm-phu và cũng không dính mắc nơi cảnh của Thinh-văn, Duyên-giác; tuy hiện ở nơi cảnh trần-lao mà tâm vẫn thường thanh-tịnh.  Có khi các vị ấy thị-hiện đồng ăn đồng ở với người tội lỗi (đồng-sự nhiếp), mà thường khen ngợi các hạnh thanh-tịnh (phạm-hạnh), không để cho chúng-sanh làm việc tội lỗi.

Hành-giả phải cầu những người như vậy, dạy bảo tu-hành, để thành-tựu quả Phật.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt của Ngài Phổ-Giác Bồ-tát hỏi: “Phải cầu những bực nào dạy bảo?” - Đại-ư Phật trả lời: Người tu-hành muốn được thành quả Phật, phải đủ hai điều-kiện:

1.- Bên trong, hành-giả phải phát tâm Đại-thừa làm chánh-nhơn.

2.- Bên ngoài, phải nhờ các Thiện-hữu Tri-thức, huớng dẫn đường lối tu-hành làm chánh-duyên.  Nếu có nội-nhơn mà thiếu ngoại-duyên, hay có ngoại-duyên mà thiếu nội-nhơn đều không thành-tựu.  

Song, cầu Thiện-hữu Tri-thức, phải là người “Chánh tri-kiến”. – Làm sao biết là người “Chánh tri-kiến?” – Hành-giả phải dùng hai phương-diện thuận-cảnh và nghịch-cảnh sau đây quan-sát, sẽ phân-biệt được thế nào là “Chánh tri-kiến”:

1.- Thuận-cảnh. – Vị Thiện-hữu tri-thức này, tâm không trụ nơi phước-báo của phàm-phu ở cơi người hay cơi trời, vào cũngkhông trụ nơi phước báo của phàm phu ở cơi người hay cơi Trời, và cũng không trụ nơi cảnh thanh-nhàn yểm-thế tu ích-kỷ tiêu-cực của Tiểu-thừa là Thanh-văn và Duyên-giác.

2.- Nghịch-cảnh. – Vị Thiện-hữu Tri-thức này, hiện thân ở trong cảnh nhiễm-ô (trần-lao) để hóa-độ chúng-sanh, mà tâm chẳng ô-nhiễm, thật-hành theo “đồng-sự nhiếp” của Bồ-tát để hóa-độ người.

Có khi vị này phải thị-hiện làm việc lầm lỗi như người, nhưng không bao giờ dùng lư-luận miễn-cưỡng để bào chữa lỗi ḿnh, trái lại luôn luôn khen ngợi hạnh thanh-tịnh và tự chỉ-trích lỗi lầm của ḿnh.  

Ngài Như-Sơn giải nghĩa chữ “Thiện-tri-thức” như vậy: Thiện là hay, khéo.  Tri là biết bịnh.  Thức là biết thuốc.  Nghĩa là vị này có tài biết chơn vọng, tà chánh, biết tâm bịnh của chúng-sanh, biết pháp-dược của Phật để đối-trị.

  

***

 

- Này Thiện-nam!  Chúng-sanh đời sau nếu gặp vị Thiện-hữu Tri-thức như thế, phải hết ḷng cúng-dường, không tiếc thân-mạng.  Vị Thiện-Tri-thức này khi giữ bốn oai-nghi thanh-tịnh, hành-giả cung kính đă đành, mà khi thị-hiện lẫn lộn với chúng-sanh, làm các tội lỗi để giáo-hóa chúng-sanh (đồng-sự nhiếp), hành-giả cũng chớ nên sanh tâm khinh dễ.

 - Này thiện-nam!  Đối với Thiện-hữu Tri-thức này, mà hành-giả không khởi một niệm khinh thường, th́ hoa ḷng (tâm-hoa) sẽ được rộng mở, chiếu sáng khắp cả mười phương thế-giới và thành-tựu quả Phật.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đại-ư đoạn này Phật dạy: “Y pháp bất y nhơn”.  Trong Luận Trí-Độ nói: “Nếu vị Thiện-tri-thức kia, có thể giải-thích các nghĩa-lư sâu xa của  Phật, dẫn dắt hành-giả tu theo chánh Đạo, được lợi-ích, th́ hành-giả phải hết ḷng cung kính, như tôn kính Phật, chẳng nên nghĩ những việc lỗi lầm của Thiện-hữu Tri-thức. Thí như cái đăy xấu đựng ngọc, chớ nên v́ đăy xấu mà bỏ vật báu. Người có ghẻ lát cầm đuốc đưa hành-giả qua con đường nguy-hiểm trong lúc ban đêm, chớ nên chê người lát mà không dùng đuốc sáng”.  Người cầu đạo cũng thế: khi t́m được Thiện-hữu Tri-thức có thể dẫn dắt hành-giả đi trên đựng tu-hành, th́ hành-giả phải trước sau một ḷng tôn kính.  Khi Thiện-Tri-thức giữ giới thanh-tịnh, hành-giả cung kính đă đành, mà khi Ngài v́ chúng-sanh thật hành theo hạnh “Đồng-sự nhiếp” của Bồ-tát, người cầu đạo không nên thấy thế mà sanh tâm chấp nhứt và khinh thường.  Được như thế, mới chứng được Phật-đạo.

  

***

  

4.- PhẬt nói bỐn BỊnh

 - Này Thiện-nam!  Vị Thiện-Tri-thức kia, đă chứng được diệu-pháp và rời cả bốn bịnh sau này:

 a) Bịnh Tác (làm các việc lành)

 Như có người chấp như thế này: “Bản tâm của tôi, v́ muốn cầu Viên-giác, nên làm tất cả các hạnh”. Song tánh Viên-giác kia, không phải do làm mà được.  Bởi hành-giả lấy cái “làm” để cầu Viên-giác, nên gọi là “bịnh tác” (bịnh làm).

  

LƯỢC GIẢI

 

Chữ “Tác” nghĩa là làm. Tánh Viên-Giác đâu có phải do “làm” mà được.  Cũng như mặt trăng kia đâu phải do vẹt mây mới có.  Bởi thế nên hành-giả chấp: “Phải làm các hạnh lành để cầu nhập Viên-giác”, th́ không có thể được. V́ tánh Viên-giác là thanh-tịnh, vô-vi và vô-lậu, mà hành-giả lại dùng pháp hữu-vi để cầu cảnh-giới vô-vi thanh-tịnh, th́ không thể được, nên gọi là “bịnh làm”.

Đọc đến đoạn này, độc-giả không sao khỏi thắc-mắc: Tại sao bài trước Phật dạy: "Muốn nhập Viên-giác, phải tinh-tấn bỏ các việc dữ, làm các việc lành v.v...".

Đến đoạn này Phật lại nói: “... Tánh Viên-giác không phải do làm các hạnh lành mà được, nếu chấp do làm mà được, th́ thành ra bệnh “Tác” v.v... Lời nói của Phật trưóc sau in tuồng mâu-thuẫn.  Nếu không suy nghĩ kỹ th́ độc-giả sẽ không hiểu.  

Chúng tôi thường ví dụ:  muốn cho lớp học được yên-tịnh, thời phải làm sao trong lớp đừng có tiếng động, nếu có tiếng động thi lớp học chẳng được yên-tịnh.  Cũng như muốn đặng tánh Viên-giác vô-vi thanh-tịnh, th́ không thể dùng pháp hữu-vi vọng-động mà cầu.  Nếu dùng hữu-vi vọng-động mà cầu th́ không bao giờ đặng Viên-giác vô-vi thanh-tịnh.  

Mặc dù như thế, song người muốn nhập Viên-giác, quyết-định phải trải qua hai giai-đoạn:  

1.  Giai-đoạn đầu tiên, người muốn nhập Viên-giác thanh-tịnh, phải có học tu, bỏ các việc dữ, làm các việc lành v.v... Cũng như các ông thầy giáo, thấy học tṛ làm ồn, muốn cho lớp học được yên-tịnh, giai-đoạn đầu tiên, phải dùng tiếng ồn để trị ồn.  Nghĩa là ông thầy giáo phải gơ thước trước trên bảng cho lớn, th́ các học tṛ mới hết làm ồn.  Cũng như  người đời nói: dùng độc trị độc, trong Đạo nói: lấy vọng để trừ vọng.

Đến khi học tṛ đă im lặng rồi, mà thầy giáo vẫn gơ hoài trên bảng để mong cho lớp học được yên-tịnh, th́ không thể được.  V́ tiếng gơ là tiếng động, rất trái với tịnh, làm sao lấy cái “động”, để cầu cái “tịnh” cho được.  Cũng như người dùng cái tạo-tác hữu-vi, để cầu Viên-giác vô-vi thanh-tịnh, không thể được.  

2.  V́ thế, nên bước qua giai-đoạn thứ hai: Thầy giáo phải thôi gơ bảng th́ lớp học mới hoàn-toàn yên-tịnh.  Cũng như hành-giả, phải trừ cái bịnh “làm”, mới đặng Viên-giác thanh-tịnh.

Người muốn đến bờ giải-thoát, trước hết phải dùng cái bè tu học để qua sông mê.  Song khi đă đến bờ rồi, mà cứ ôm cái bè măi th́ làm sao lên bờ được.  

Tóm lại, hành-giả muốn nhập Viên-giác thanh-tịnh, phải trải qua hai giai-đoạn:

1.- Giai-đoạn đầu tiên, hành-giả dùng cái bè tu học, bỏ dữ làm lành để qua sông mê. Hay nói một cách khác là dùng tiếng gơ bảng của thầy giáo, để trừ tiếng ồn của học tṛ.

2.- Đến giai-đoạn tối hậu, hành-giả phải bỏ cái bè hữu-vi tu học, mới mong lên bờ giải-thoát vô-vi kia được.  Hay đổi lại cách nói: ông thầy giáo phải thôi gơ bảng th́ trong lớp mới đặng yên-tịnh.  

Cũng ư này, trong kinh “Tứ thập nhị chương” Phật dạy: “... Tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng...” Nghĩa là: tu đến chỗ vô-tu mới thật tu, chứng đến chỗ vô-chứng mới thật là chứng v.v...

Bởi thế nên cổ-nhơn có dạy rằng: “Hữu-vi tuy ngụy, xả chi tắc Phật-đạo nan thành”: Các việc tu-hành về hữu-vi tuy rằng hư-nguy chẳng nhằm chi, nhưng nếu hành-giả bỏ đi, th́ Đạo Phật vô-vi khó thành. Hay là câu: “Thật tế lư địa bất thọ nhứt trần, vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp”: Đành rằng chỗ lư tánh chơn-thật (Viên-giác) không thọ một mảy trần, nhưng về sự tướng tu-hành th́ muôn điều không bỏ một việc lành nào.

  

***

  

b) Bịnh Nhậm (mặc kệ, không tu-hành)

 - Này Thiện-nam! Như có ngựi chấp như thế này: “Tôi nay không cần đoạn sanh-tử và cũng không cầu Niết-bàn.  Người muốn cầu Viên-giác, chớ nên móng niệm diệt sanh-tử hay cầu Niết-bàn, mặc t́nh cho sanh-tử hay Niết-bàn, tùy pháp-tánh mà sanh hay diệt”.

 Hành-giả chấp như thế, là bị bịnh nhậm (mặc kệ); v́ tánh Viên-giác kia, đâu có phải để mặc kệ (nhậm) như vậy mà nhập được.

  

LƯỢC GIẢI

 

Chữ “Nhậm” là mặc kệ.  Bịnh này do hành-giả chấp: “Tánh Viên-giác không phải do tu-hành, làm các hạnh lành v.v... mà nhập được”.  Nên hành-giả để mặc kệ cho nghiệp-lực xoay-chuyển, chẳng sợ tội-lỗi, không ham phước lành, sanh-tử không chê, Niết-bàn cũng chẳng quư; v́ thế nên không nhập được Viên-giác.

 

***

  

c) Bịnh Chỉ (dứt các vọng-niệm)

 - Này Thiện-nam! Như có người chấp như thế này: “Tôi nay muốn cầu Viên-giác, nên phải dứt hết các vọng-niệm, đặng tất cả pháp b́nh-đẳng vắng-lặng”.  

Chấp như thế, là bị bịnh “chỉ”; v́ tánh Viên-giác kia, đâu có phải do “dừng chỉ” các vọng mà nhập được.

  

LƯỢC GIẢI

 

Chữ “Chỉ” là dứt các vọng-niệm.  Bởi hành-giả thấy bịnh “Tác” làm cho tâm khởi động, bịnh “Nhậm” (mặc kệ) làm tâm phóng-túng, cả hai đều không nhập Viên-giác được, nên hành-giả xoay trở về nơi “chỉ” (dừng đứng)

 V́ vọng-niệm mà thấy các pháp sai khác, không được b́nh-đẳng, cho nên hành-giả tu “Chỉ” để dứt vọng-niệm.  Đâu biết rằng: Tánh Viên-giác không có “niệm”, nếu khởi niệm th́ trái, Viên-giác không có “Chỉ”, nếu hành giả lại “Chỉ”, th́ làm sao nhập được Viên-giác.

  

d) Bịnh Diệt (diệt các phiền-năo)

 - Này Thiện-nam!  Như có người chấp như thế này: “Tôi nay muốn cầu Viên-giác, nên vĩnh-viễn đoạn các phiền-năo, nào thân tâm nào cảnh vật, tất cả đều hư-vọng không thật có, rốt ráo vắng lặng”. 

 Dùng cái “diệt” (vắng lặng) mà cầu Viên-giác như thế là mắc bịnh diệt; v́ tánh Viên-giác đâu có phải chỉ vắng lặng.

 

LƯỢC GIẢI

 

Chữ “Diệt” là dứt các phiền-năo, tâm và cảnh đều vắng lặng.  Song tánh Viên-giác vừa tịch (vắng lặng) lại vừa chiếu (linh tri).  Tịch và Chiếu không hai.  Hành-giả chỉ chấp một bên “tịch” th́ không hợp với tánh Viên-giác.

 

***

 

- Tóm lại, người cầu đạo phải rời bốn bịnh trên, mới được nhập Viên-giác thanh-tịnh.  Người quán-sát để trừ bốn bịnh như thế, là Chánh-quán; nếu trái lại, là Tà-quán.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này tóm lại bốn bịnh trên.  Chữ “Tác” là làm; “Nhậm” là không làm, để mặc kệ; “Chỉ” là dừng chỉ các vọng-niệm đương sanh và sẽ sanh; “Diệt” là dứt các phiền-năo đă sanh. Bởi tánh Viên-giác bất sanh bất diệt, bất cầu bất tịnh, bất tăng bất giảm, vô-vi vô-lậu, mà hành-giả dùng Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt v.v... để cầu, th́ không hiệp với tánh Viên-giác.

 Ngài Như-Sơn nói: Đem bốn bịnh “Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt” mà chiêm-nghiệm lại tự tâm của ḿnh, nếu c̣n một món nào th́ cũng đều là bịnh cả; phải trừ hết bốn bịnh này, mới được nhập Viên-giác thanh-tịnh

 

*** 

 

5.- PhẬt trẢ lỜi câu hỎi thỨ ba: “phẢi làm nhỮng hẠnh ǵ?”

 - Này Thiện-nam!  Chúng-sanh đời sau muốn tu-hành, suốt đời phải kính trọng cúng-dường Thiện-hữu Tri-thức.  Khi Thiện-hữu Tri-thức ở gần gũi, hành-giả chớ nên khinh lờn.  Khi Thiện-hữu Tri-thức đi xa, hành-giả chớ nên hờn giận.  

Khi Thiện-hữu Tri-thức hiện ra cảnh thuận hay nghịch, tâm hành-giả phải như hư-không, chớ nên thay đổi.  Hành-giả phải rơ biết: thân tâm minh cùng thầy bạn và các chúng-sanh, đồng một bản-thể b́nh-đẳng rốt ráo không khác.  Hành-giả phải tu-hành như thế, mới nhập được Viên-giác.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ ba: “phải làm những hạnh ǵ?”  

Hạnh Bồ-tát rất nhiều, nhưng việc thờ Thầy là điều rất cần thiết.  V́ đời mạt pháp-nhược ma-cường, nếu không có Minh-sư chỉ dẫn, th́ hành-giả không sao khỏi bị lạc vào đường tà.  Bởi thế nên hành-giả phải suốt đời cung kính phụng-sự Thầy.  Dù cho Thiện-Tri-thức làm những điều thuận ư hay nghịch ḷng, hành-giả cũng phải giữ một niềm tôn-kính, tâm như hư-không chớ nên thay đổi.  

Hành-giả phải quán-sát: Thầy bạn cùng chúng-sanh và ḿnh đều đồng một thể Viên-giác, không riêng khác. Do đó hành-giả mới bỏ được tánh kiêu-mạn của ḿnh để thờ Thầy, quên bản-ngă để độ-sanh.  Phải tu hạnh như thế, mới nhập được Viên-giác.

  

***

 

6.- PhẬt trẢ lỜi câu hỎi thỨ tư: “PhẢi trỪ bỎ bỊnh ǵ?”

 - Này Thiện-nam!  Chúng-sanh đời sau, không đuợc thành Đạo, đều do tất cả hạt giống thương ghét, nhơn ngă, từ vô-thỉ đến giờ.  V́ thế nên chẳng được giải-thoát.  

Nếu  người xem những kẻ oan-gia cũng như cha mẹ không khác, đối với các pháp tâm cũng không thương ghét, phân-biệt tự tha, th́ người ấy sẽ trừ được các bịnh.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn trước Ngài Phổ-Giác Bồ-tát hỏi Phật: “Phải trừ những bịnh ǵ?” - Đoạn này Phật trả lời: “Phải trừ bịnh thương ghét”

Đành rằng trong bài số 9, Phật đă dạy trừ thương ghét, nhưng chỉ nói về phần thô (hiện-hành).  Đến đoạn này Phật dạy trừ về phần vi-tế của thương ghét, tức là chủng-tử.  Nếu c̣n một chút ít thương ghét ngấm ngầm bên trong làm chướng-ngại, th́ hành-giả không thể nhập được Viên-giác thanh-tịnh.  

Bao giờ hành-giả đối với kẻ oan-gia, xem cũng như cha mẹ, b́nh-đẳng không khác, xem sanh-tử và Niết-bàn chẳng hai, th́ hành-giả mới đoạn được chủng-tử của thương ghét và mới có thể nhập Viên-giác thanh-tịnh.

  

***

 

7.- PhẬt trẢ lỜi câu hỎi thỨ năm: “phẢi phát tâm thẾ nào?”

 - Này Thiện-nam!  Chúng-sanh đời sau muốn cầu  Viên-giác th́ phải phát tâm như thế này: “Tôi nguyện độ tất cả chúng-sanh khắp cả hư-không, đếu được rốt ráo vào Viên-giác; người được Viên-giác không chấp ở nơi Viên-giác; trừ hết các tướng Nhơn và Ngă v.v...” - Phải phát tâm  như vậy mới khỏi đọa vào tà-kiến.

  

LƯỢC GIẢI

 

Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ 5 mà ngài Phổ-Giác Bồ-tát đă hỏi Phật: “Phải phát tâm thế nào?”  

Phật trả lời phải phát tâm như vầy, mới khỏi đọa vào tà-kiến:  
            1.- Phát tâm quảng-đại: Nguyện độ tất cả chúng-sanh (noăn, thai, thấp, hóa) trong mười phương;
            2.- Phát tâm rốt ráo: Độ chúng-sanh nhập Viên-giác cứu-kính;
            3.- Phát tâm chơn-thường:  Ở trong Viên-giác mà không khởi vọng-chấp nơi Viên-giác;

4.  Phát tâm không điên-đảo: Không khởi vọng-tưởng điên-đảo chấp các tướng: Ngă, Nhơn, Chúng-sanh, Thọ-mạng và tướng độ-sanh.  

Hai món phát tâm trước là Đại-bi, hai món phát tâm sau là Đại-trí.  Bi và Trí được viên-dung là do phát bốn món tâm trên được tṛn.  Câu hỏi của Ngài Phổ-Giác giống như trong kinh Kim-Cang, câu hỏi của Ngài Tu-Bồ-Đề: “Vân hà ưng trụ?” (Phải trụ tâm như thế nào?)  

Đoạn này nói chữ “Phát tâm”, nghĩa là Tâm phát-nguyện.  Như nguời đời nói “Lập chí”.  Nhờ phát-nguyện hay lập-chí mà người đời tu-hành vượt qua bao nhiêu trở lực khó khăn và thúc đẩy sự tu-hành mau được thành công.  Nếu “Nguyện” rất thiết, th́ hạnh mới chuyên-cần.  Do đó mà mau đuợc kết-quả.  Các Đức Phật cũng nhờ phát-nguyện rồi y theo nguyện đó tu-hành mà được thành đạo chứng quả.  

Hành-giả nếu không có “nguyện-lực” của ḿnh làm động-cơ thúc đẩy trên trường tu-hành, th́ quả Phật khó mà đạt được.

  

***

  

8.- PhẬt nói bài kỆ, tóm lẠi các nghĩa trên

 

Khi ấy Đức Thế-Tôn muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói bài kệ rằng:

 Phổ-Giác! Ông nên biết:
            Các chúng-sanh đời sau,
            Muốn cầu Thiện-tri-thức
            Phải cầu người chánh-kiến,
            Tâm xa ĺa Nhị-thừa,
            Và trừ bốn món bịnh:
            Làm, đừng, mặc kệ, diệt.
            Gần Thầy chớ khinh lờn,

            Cách Thầy chớ sầu hận.

            Thấy những cảnh-giới lạ,
            Tâm phải sanh hy-hữu.
            Xem như Phật ra đời
            Chẳng phạm các tội-lỗi
            Giới-căn hằng thanh-tịnh
            Độ tất cả chúng-sanh
            Rốt ráo vào Viên-giác
            Không c̣n tướng Ngă, Nhơn,

            Phải y chánh Trí-huệ

            Mới được khỏi tà-kiến
            Chứng "Giác" vào "Niết-bàn"

  

LƯỢC GIẢI

 Đại-ư bài kệ này nói tóm tắt lại các nghĩa trên: Các chúng-sanh đời sau muốn cầu Thiện-tri-thức, phải t́m người chánh-kiến.  Làm sao biết chánh-kiến? – Là đă trừ bốn bịnh và xa lia tư-tưởng Nhị-thừa  

Cách đối xử với Thiện-tri-thức: khi thân cận chớ nên khinh lờn, khi xa cách chớ nên sầu-hận.  Khi thấy Thiện-tri-thức hiện ra, cảnh thuận hay nghịch, hành-giả chớ nên v́ thấy thế mà đổi tâm, phải lấy làm hy-hữu và kính như Phật ra đời.  Hành-giả phải giữ giới-hạnh thanh-tịnh, không phạm các tội-lỗi và độ các chúng-sanh, rốt ráo vào Viên-giác.  

Hành-giả phải y trí-huệ chơn-chánh, trừ các tướng Ngă, Nhơn mới khỏi đọa tà-kiến và được nhập Viên-giác hay chứng quả Niết-bàn.



Minh Quang posted April 14, 2005

 

[Home] [Up] [PHPT 8 bài 1 Văn Thù] [PHPT 8 bài 2 Phổ Hiền] [PHPT 8 bài 3 Phổ Nhăn] [PHPT 8 bài 4 Kim Cang Tạng] [PHPT 8 bài 5 Di Lặc] [PHPT 8 bài 6 Thanh Tịnh Tuệ] [PHPT 8 bài 7 Oai Đức Tự Tại] [PHPT 8 bài 8 Biện Âm] [PHPT 8 bài 9 Tịnh Chư Nghiệp Chướng] [PHPT 8 bài 10 Phổ Giác] [PHPT 8 bài 11 Viên Giác] [PHPT 8 bài 12 Hiền Thiện Thủ]