Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

 

 

Bài Thứ Nhất

 

 

A- Phần Tự

B- Phần Chánh-tôn

 

CHƯƠNG VĂN

 

1. Ngài Văn Thù hỏi Phật

2. Phật khen Ngài Văn Thù

3. Phật trả lời cho Ngài Văn Thù

4. Phật chỉ "Vô minh"

5. Phật dạy "Vô minh" không có thật thể

6. Phật dạy tu theo "Viên giác"

7. Phật và Bồ Tát đều tu theo “Viên Giác"

8. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên

 

 

KINH VIÊN-GIÁC

(PHIÊN-DỊCH VÀ LƯỢC-GIẢI)

* Ngài PHẬT-ĐÀ-ĐA-LA dịch chữ Phạn ra chữ Hán
* Tu-sĩ THÍCH-THIỆN-HOA dịch chữ Hán ra chữ Việt
 

A.- Phần Tự

Chính tôi được nghe như vầy: Một hôm, Phật nhập Chánh-định (Chơn-tâm) là nơi an-trụ của chư Phật, cũng là chỗ thanh-tịnh sáng suốt của chúng-sanh.

Phật tùy-thuận cảnh-giới bất-nhị (không hai) là chỗ Thể-tánh b́nh-đẳng của chúng-sanh và chư Phật. Thể-tánh này thanh-tịnh viên-măn khắp giáp cả mười phương, tâm và cảnh đều vắng lặng (ngă pháp đều không).

Từ cảnh-giới "bất-nhị" này mà hiện ra có các cơi Tịnh-độ và mười vạn vị đại Bồ-tát, như Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát, Ngài Phổ-Hiền Bồ-tát, Ngài Phổ-Nhăn Bồ-tát, Ngài Kim-Cang-Tạng Bồ-tát, Ngài Di-Lặc Bồ-tát, Ngài Thanh-Tịnh-Huệ Bồ-tát, Ngài Uy-Đức Tự-Tại Bồ-tát, Ngài Diệu-Âm Bồ-tát, Ngài Tịnh Chư Nghiệp-Chướng Bồ-tát, Ngài Phổ-Giác Bồ-tát, Ngài Viên-Giác Bồ-tát, Ngài Hiền-Thiện-Thủ Bồ-tát v.v... Những vị Bồ-tát này đều là bực Thượng-Thủ trong chúng hội, cùng với quyến-thuộc đều nhập Chánh-định, đồng ở trong Pháp-hội thanh-tịnh b́nh-đẳng của Như-Lai (ở trong Viên-giác).

 

LƯỢC GIẢI

"Viên-giác" tức là chỉ cho "Bản-tâm thanh-tịnh". Vậy muốn nói và nghe cảnh-giới thanh-tịnh cố-nhiên không thể ở nơi cảnh vọng-tâm mà nói và nghe được, nên Phật nhập Chánh-định để nói kinh Viên-Giác, th́ các Bồ-tát cũng nhập Chánh-định mới nghe và hiểu được kinh Viên-Giác. Các Phật-tử đọc kinh này, trước phải định-tâm chuyên chú mới hiểu được.

Đại ư đoạn này là Phật và Bồ-tát nhập Chánh-định để nói và nghe kinh Viên-Giác.

 

***

 

B.- Phần Chánh-tôn

I.- CHƯƠNG VĂN-THÙ

 

1. Ngài Văn Thù hỎi PhẬt

Khi ấy Ngài Văn-thù Sư Lợi Bồ-tát ở trong đại-chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba ṿng, rồi chắp tay đảnh-lễ và quỳ thẳng bạch rằng:

Bạch đức Đại-bi Thế-Tôn, xin Ngài v́ thính-chúng trong pháp-hội hiện-tại nầy và các chúng-sanh cầu Đại-thừa đời sau, từ bi chỉ dạy:

1. Nói lại nhơn-địa tu-hành thanh-tịnh của Như-Lai;

2. Các vị Bồ-tát đối với Đại-thừa, đă phát tâm thanh-tịnh (Bồ-đề) rồi, làm sao xa ĺa được các bịnh (trừ-vọng); khiến cho các chúng-sanh khỏi đọa vào đường tà (tà-kiến).

Ngài Văn-thù Bồ-tát thưa thỉnh như vậy ba lần, kính lạy rồi trở lui, cùng với đại chúng ngồi yên-lặng, để chờ nghe lời Phật chỉ giáo.

 

LƯỢC GIẢI

Đại-ư đoạn nầy là Ngài Văn-Thù hỏi Phật hai điều:

1. Phật đă tu-hành như thế nào mà được thành Phật?

2. Các vị Bồ-tát, khi đă phát-tâm Bồ-đề rồi, làm sao cho các vọng đừng sanh?

Câu hỏi thứ nhất giống như câu hỏi trong kinh Lăng-Nghiêm, Ngài A-Nan hỏi Phật: "...Xin Phật chỉ dạy cho con phương-pháp nào mà tất cả các Đức Phật tu-hành đều được thành đạo chứng quả..."

Câu hỏi thứ hai, giống như câu hỏi trong kinh Kim-Cang, Ngài Tu-Bồ-Đề hỏi Phật: "...Làm sao an-trụ Chơn-tâm và làm sao hàng-phục được Vọng-tâm..." (Vân hà ưng trụ, vân hà hàng-phục kỳ tâm).

***

 

2. PhẬt khen Ngài Văn Thù

Khi ấy Đức Thế-Tôn kêu Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát mà dạy rằng:

- Nầy Thiện-nam, quư lắm! Ông v́ các vị Bồ-tát hiện-tại và tất cả chúng-sanh đời sau cầu pháp Đại-thừa mà thưa hỏi:

1. Nhơn-địa tu-hành của Như-Lai;

2. Khi đă phát-tâm thanh-tịnh rồi, làm sao xa-ĺa các bịnh, để khỏi đọa vào tà-kiến. Vậy ông hăy chăm-chú nghe, tôi sẽ v́ các ông chỉ giáo.

Khi đó Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát và đại-chúng đều hoan-hỷ, vừa kính-cẩn và vừa chăm-chú chờ nghe lời Phật dạy bảo.

 

LƯỢC GIẢI

Phật trước khen-ngợi, rồi sau dặn-ḍ phải chăm-chú nghe, là v́ "Viên-giác" là cảnh-giới thanh-tịnh, phải định-tâm chú-thần mà nghe, không thể dùng tâm sanh-diệt, ư-nghĩ xằng-xiêng mà nghe hiểu được

 

***

 

3. PhẬt trẢ lỜi cho Ngài Văn Thù

- Này thiện-nam, Như-Lai có pháp "Đại Đà-la-ni" tên là "Viên-Giác". Từ tánh "Viên-Giác" nầy mà sanh ra tất cả các pháp thanh-tịnh: Chơn-như, Bồ-đề (Trí-giác) Niết-bàn (viên-tịch) và Ba-la-mật (Đáo-Bỉ-Ngạn), nay ta sẽ dạy trao cho các ông.

Nầy Văn-Thù, nhơn-địa tu-hành của các Đức Phật, đều y “Viên-Giác" nầy mà vĩnh-viễn đoạn trừ vô-minh, được sánh-suốt thanh-tịnh viên-măn, nên mới được thành Phật.- Vậy "Vô-minh" là ǵ?

 

LƯỢC GIẢI

Ngài Văn-Thù hỏi nguyên-nhơn tu-hành của các Đức Phật thế nào? - Đến đây Phật mới trả lời: Tất cả chư Phật đều y “Viên-Giác" để chiếu phá vô-minh và được thành Phật. Nào là: Chơn-như, Bồ-đề, Niết-bàn và Bát-nhă Ba-la-mật-đa v.v... cũng đều từ “Viên-Giác" nầy mà lưu xuất.

Vậy muốn ngộ được “Viên-giác" trước phải hiểu rơ Vô-Minh và diệt trừ vô-minh là điều cần nhứt.

 

***

4. PhẬt chỈ "Vô-minh"

- Nầy Thiện-nam, tất cả chúng-sanh từ hồi nào đến giờ, bị nhiều món điên-đảo làm mê-mờ tánh "Viên-Giác", như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Điên-đảo vọng-hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ-đại giả hợp nầy làm thân ḿnh, chấp cái vọng-niệm sanh diệt duyên theo bóng-dáng của sáu trần cho là thật tâm ḿnh. Như người nhặm con mắt, thấy trong hư-không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra trong hư-không chẳng có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng v́ người nhặm con mắt vọng-chấp. Bởi vọng-chấp, nên chẳng những không biết được hư-không, mà lại thêm mê-lầm: Chấp thật có hoa đốm sanh. V́ mê-lầm mà có sanh-tử luân-hồi, nên gọi là "Vô-minh".

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn nầy Phật chỉ rơ cái "Vô-minh". Vô-minh là những cái vọng-tưởng điên-đảo che mờ tánh “Viên-Giác" (bản tâm thanh-tịnh).

Bởi Vô-minh vọng hiện ra có thân có cảnh rồi chúng-sanh trở lại chấp thật-ngă thật-pháp, tạo ra vô-số nghiệp, mê-mờ chồng-chập, che đậy tánh Viên-Giác! V́ thế mà nhiều kiếp sanh-tử luân-hồi, trầm-luân trong biển khổ.

Cũng như người bị buồn ngủ (dụ cho Vô-minh) nổi lên, làm cho mê-mờ tánh tỉnh-táo (dụ cho Viên-Giác); nhơn đó hiện ra cảnh chiêm-bao đủ cả người và vật (hiện thế-giới và chúng-sanh), rồi cũng khóc cũng cười, cũng mừng cũng giận, mỗi mỗi đều cho là thiệt cả, nên luyến-ái triền miên, từ giấc chiêm-bao nầy tiếp-tục qua giấc chiêm-bao khác, không biết chừng nào thức-tỉnh.

Đây là dụ cho Vô-minh chồng-chập che mờ tánh "Viên-Giác" (Chơn-tâm).

 

***

5. PhẬt dẠy "Vô minh" không có thẬt thỂ

- Nầy Thiện-nam! Cái "Vô-minh" này không có thật thể (thật vật). Như người ngủ chiêm-bao, thấy các cảnh vật, đến khi thức rồi, th́ cảnh vật kia không c̣n; và như người hết nhặm, th́ các hoa đốm trong hư-không tự tiêu-diệt. Lúc bấy giờ không thể nói "thật có chỗ hoa diệt", v́ không thật có chỗ hoa sanh vậy.

Tất cả chúng-sanh ở trong cái "không sanh diệt" (tánh Viên-Giác) mà vọng thấy có sanh-diệt, cho nên mới bị trầm luân trong biển sanh-tử luân-hồi.

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn này Phật dạy: Tất cả chúng-sanh vẫn ở trong bản tánh Viên-Giác thanh-tịnh không sanh không diệt, mà tự ḿnh mê-mờ (Vô-minh) vọng thấy có sanh-diệt, nên vĩnh kiếp triền-miên, luống chịu trôi lăn trong biển sanh-tử luân-hồi, thật đáng thương!

Nhưng "Vô-minh" là hư-vọng, không có thật-thể, cho nên khi giác-ngộ rồi, th́ nó tự hết. Cũng như các "Tối", v́ nó không có thật-thể, nên khi " Sáng" đến, th́ "Tối" tự mất. Nếu Vô-minh là vật có thật, như núi, như sông v.v... th́ không dễ ǵ làm tiêu nó được.

Phật lại tỷ-dụ: Vô-minh như chiêm-bao, không phải thật vật, nên khi thức rồi th́ cảnh chiêm-bao tự mất. – Vô-minh như mắt người bị nhặm, thấy hoa-đốm lăng-xăng giữa hư-không khi hết nhặm rồi th́ hoa đốm liền tiêu.

***

 

6. PhẬt dẠy tu theo "Viên giác"

- Nầy Thiện-nam, nhơn-địa tu-hành của Như-Lai là tu theo Viên-Giác. Nghĩa là: biết các pháp đều hư-huyễn, như hoa đốm giữa hư-không, th́ không c̣n sanh-tử luân-hồi và cũng không có người chịu sanh-tử luân hồi.

Không phải phá hoại, làm cho các pháp mất đi mà kêu là không, chính bản-tính của các pháp nó tự không. Cái "biết (năng biết) các pháp không" đó, cũng như hư-không. “Cái biết như hư-không”, cũng không luôn. Nhưng không thể nói: “không có cái biết”. Phải dứt trừ hết cả “có” và "không", như thế mới gọi là "tùy thuận tánh Viên-giác" (tu Viên-Giác).

 

LƯỢC GIẢI

Đoạn nầy Phật dạy tu theo "Viên-Giác", có 5 từng bực:

1. Từng bực thứ nhất, là quán các pháp đều hư-huyễn, như hoa đốm giữa hư-không, nên không sanh tâm tham, sân, si. Ba độc không sanh, th́ ba nghiệp thân, khẩu, ư chẳng tạo nhiệp. V́ không tạo nghiệp, nên không có cảnh luân-hồi và người bị luân-hồi.

2. Trên nói "cảnh bị biết" không, nói đến từng thứ hai là "cái tâm hay biết" cũng như hư-không.

3. Đến từng thứ ba, là cái biết "cái tâm hay biết cũng như hư-không" cũng không luôn.

4. Sợ người lầm chấp cảnh-giới nầy không có cái biết, nên đến từng thứ tư, Phật dạy tiếp: “không phải là không có cái biết".

5. Đến từng thứ năm, Phật dạy phải rời các vọng-chấp “có” và "không", mới nhập được tánh Viên-giác.

***

 

7. PhẬt và BỒ Tát đỀu tu theo “Viên Giác"

- Tại sao thế? V́ trong Như-Lai-Tạng (Viên-Giác) không có sanh diệt, không có thấy biết, như hư-không thường c̣n, chẳng lay động, như tánh của pháp-giới viên-măn khắp giáp cả mười phương.

Đây gọi là chỗ nhơn-địa tu-hành của Như-Lai, các vị Bồ-tát cũng nhơn nơi đây mà phát tâm thanh-tịnh tu theo Đại-thừa. Chúng-sanh đời sau cũng phải y theo đâu tu-hành, mới khỏi đọa vào tà-kiến.

 

LƯỢC GIẢI

Như-Lai-Tạng là tánh Như-Lai hàm chứa tất cả các pháp; cũng gọi là "Viên-Giác", cũng kêu là "Pháp-giới-tánh" (bản tánh của các pháp). Nó viên-măn khắp-giáp cả mười phương, không có sanh-diệt và cũng không tri-kiến, như hư-không thường c̣n chẳng lay động.

Phật dạy: Đây là chỗ tu-hành của Như-Lai. Các vị Bồ-tát cũng nhơn nơi đây phát tâm thanh-tịnh tu Đại-thừa. Chúng-sanh đời sau cũng phải y nơi đây tu-hành mới khỏi lạc vào tà-đạo.

Ngài Văn-Thù hỏi 2 câu:

1. Nhơn-địa tu-hành của Như-Lai.

2. Các vị Bồ-tát phát tâm Bồ-đề tu theo Đại-thừa, làm sao phá trừ được các vọng?

Đến đây Phật đă dạy xong.

 

***

 

8. PhẬt nói bài kỆ tóm lẠi các nghĩa trên

Khi đó Đức Thế-Tôn, muốn tóm lại các nghĩa trên, mà nói bài kệ rằng:

Văn-Thù! Ông phải biết:
Chỗ chơn-địa tu-hành
Của các Đức Như-Lai
Là dùng trí Viên-giác
Phá trừ hết Vô-minh:
Biết các pháp hư-huyễn
Th́ khỏi bị luân-hồi.
Cũng như người chiêm-bao,
Thức rồi cảnh mộng hết.
Cái biết cũng không c̣n
Sáng-suốt khắp mười phương
(Viên-giác),
B́nh-đẳng không chuyển-động,
Tức th́ thành Phật-đạo.
Các huyễn diệt hết rồi,
Thành đạo cũng không thành:
Xưa nay tánh viện-măn.
Bồ-tát y nơi đây,
Phát tâm đại Bồ-đề,
Các chúng-sanh đời sau,
Tu đây mới khỏi đọa.

 

 

LƯỢC GIẢI

Đại ư bài kệ nầy: Các Đức Phật dùng trí Viên-Giác phá trừ Vô-minh. Nghĩa là: biết muôn vật đều hư-huyễn, như hoa đốm giữa hư-không, không sanh tâm nhiễm-trước, nên khỏi bị luân-hồi.

Người được giác-ngộ rồi cũng như người thức giấc chiêm-bao: các cảnh vật đều không c̣n - Cảnh "bị biết" đă không, nên "cái biết" (năng biết) cũng không. V́ năng và sở đều không nên tánh Viên-giác mới hiện ra sáng-suốt chiếu khắp cả mười phương, b́nh-đẳng không chuyển-động, như thể là "thành Phật".

Nói "thành Phật" là tạm nói mà thôi, thật ra cũng không "thành". V́ tánh "Viên-Giác" của mỗi người đều sẵn có, chỉ trừ hết “Vô-minh” rồi th́ "Viên-Giác" tự hiện ra, chớ có ǵ đâu mà gọi là "thành".

Cũng như người có sẵn ḥn ngọc trong túi, chẳng qua v́ quên, nên in như mất. Đếu khi nhớ lại th́ ngọc vẫn ở sẵn trong túi áo, chớ đâu phải mới “đặng”. Bởi thế nên nói "thành đạo cũng không thành".

Phật y theo Viên-Giác nầy mà tu, Bồ-tát cũng y theo Viên-Giác nầy mà phát tâm Bồ-đề, cho đến chúng sanh đời sau cũng phải y theo Viên-Giác nầy tu-hành mới khỏi lạc vào tà-đạo.

***

Minh-Quang posted January 3, 2005

 

[Trở Về Mục Lục PHPT Tổng Quát]   [Trở về Mục Lục PHPT khóa 8]   [Đọc tiếp Bài 2]