Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Huế
Khóa I (1997-2001)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài

THIỀN SƯ MINH HẢI

TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH

(tại Hội An - Quảng Nam)

Giáo sư hướng dẫn: Tiến sỹ sử học LÊ CUNG

Người thực hiện: Tăng sinh THÍCH HẠNH THIỆN

HUẾ, 2001

 

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1.       PHẬT GIÁO DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN

1.1 Khái quát về Phật giáo Việt Nam

1.2 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận-Quảng

1.3 Các Chúa Nguyễn và Phật giáo Đàng Trong

1.3.1 Các Chúa Nguyễn đối với Phật giáo Đàng Trong

1.3.2 Các thiền phái Phật giáo ở Đàng Trong

CHƯƠNG 2.          THIỀN SƯ MINH HẢI VÀ TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH

         TẠI HỘI AN - QUẢNG NAM

2.1 Vài nét về phố cổ Hội An

2.2 Cuộc đời và hành trạng của Thiền sư Minh Hải

2.3 Quá tŕnh khai sáng và trùng tu Tổ đ́nh Chúc Thánh

2.3.1 Địa thế, phong thủy ngôi Tổ đ́nh

2.3.2 Ư nghĩa tên ngôi Tổ đ́nh

2.3.3 Quá tŕnh khai sáng và trùng tu.

2.3.4 H́nh thái kiến trúc, liễn đối, bia, tháp

2.3.5 Các kinh sách đang được bảo tồn

CHƯƠNG 3.              SỰ TRUYỀN THỪA CỦA THIỀN PHÁI MINH HẢI TẠI

TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH(QUẢNG NAM)VÀ TẠI B̀NH ĐỊNH

3.1 Kệ phái truyền thừa tại Tổ đ́nh Chúc Thánh và Quảng Nam.

3.1.1 Bảng liệt kê các vị Tổ sư  trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh

3.1.2 Vài nét về Chư vị Ḥa Thượng trú tŕ

3.1.3 Phổ hệ truyền thừa tại Quảng Nam

3.2 Vài nét về kệ phái truyền thừa tại B́nh Định

3.2.1 Phổ hệ truyền thừa các đời trú tŕ tại B́nh Định

3.2.2 Vài nét về chư vị Ḥa Thượng hoằng hóa tại B́nh Định

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

MỞ ĐẦU

1. LƯ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

            Phật giáo du nhập Việt Nam rất sớm, từ những năm trước Tây lịch. Hơn hai ngàn năm có mặt trên đất nước Việt Nam, Phật giáo luôn gắn bó với dân tộc. Điều đáng chú ư là hễ người Việt tiến đến đâu th́ Phật giáo liền có mặt tại đó, như bóng theo h́nh. Nơi nào có Phật giáo th́ nơi đó có chùa tháp, tự viện. V́ vậy, trong hệ thống những di tích lịch sử văn hóa Việt Nam ngày nay th́ trong đó các chùa tháp Phật giáo cũng đóng một vai tṛ rất quan trọng. Chùa Chúc Thánh tại Hội An  (Quảng Nam) là một trong những ngôi cổ tự có giá trị như vậy. Nơi đây không chỉ những là một di tích mang đậm tính văn hóa nghệ thuật mà c̣n là nơi phát xuất riêng một chi phái Thiền Lâm Tế truyền bá Phật giáo khắp cả xứ Đàng Trong.

            Cách đây hơn ba trăm năm, thiền sư Minh Hải cùng phái đoàn từ Trung Quốc theo thuyền buôn cập vào thương cảng Hội An. Sau khi dự đại Giới đàn tại Huế xong, Ngài trở lại Hội An chấn tích khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh và xuất kệ truyền thừa. Từ đó về sau Tổ Tổ tương truyền và các đệ tử được xuất thân từ bài kệ này đều được mệnh danh là con cháu " Ḍng Môn Phái Lâm Tế Chúc Thánh".

          Chùa Chúc Thánh lưu trữ rất nhiều văn bia, liễn đối bằng chữ Hán. Các liễn đối th́ mang đậm tính văn thơ nhà Phật, chúc tụng cho thế giới được ḥa b́nh, nhân dân an cư lạc nghiệp và nội dung những văn bia chủ yếu ghi lại những đợt trùng tu ngôi chùa của các vị Tổ sư, các phương danh đóng góp cúng dường xây dựng chùa. Đó cũng là điều lư thú khi nghiên cứu về ngôi cổ tự này và cũng là cơ hội ghi chép ra đây bằng nguyên văn các liễn đôïi và phiên âm, dịch nghĩa để sau này có ai muốn tiếp tục nghiên cứu cũng sẽ thuận lợi hơn.

Tinh thần hành đạo của chư Tổ cũng tựa như” Vết nhạn lưng trời “, làm rồi lại coi như không làm, thêm vào đó là sự tàn phá của thời gian. V́ vậy, việc t́m kiếm lại hành trạng và cuộc đời của chư Tổ là một điều hết sức bị hạn chế. Luận văn này là kết quả của việc t́m kiếm bị hạn chế đó.

Nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Quảng Nam nói chung và Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh nói riêng là một  đề tài khá mới mẻ. Hơn nữa, hiện nay chưa có một tập sách nào nói về ngôi Tổø đ́nh này một cách đầy đủ. Được sự đồng ư của Hội đồng điều hành Học Viện và giáo sư hướng dẫn Lê Cung, chúng tôi chọn “ Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp. Ngoài ra, qua luận văn này, người viết c̣n gởi gắm một nỗi niềm hoài vọng của một để tử đă chiûu biết bao ân đức tác thành, giáo dưỡng của Thầy Tổ và đă để lại dưới mái hiên cổ tự này biết bao kỷ niệm buồn vui từ thuở ấu thơ hành điệu. Luận văn này đương nhiên sẽ không tránh khỏi những vấn đề sai sót, người viết xin chân thành tiếp thu những ư kiến phê b́nh từ những bậc thiện tri thức để đề tài này ngày càng được hoàn hảo hơn.

2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.

            Trước đây đă có những công tŕnh nghiên cứu ít nhiều liên quan đến thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh, cụ thể như: “Lí lịch di tích” (chùa Chúc Thánh) của Ban quản lư di tích Hội An, số 01/ĐK - BQL; "Về niên đại chùa Chúc Thánh" của Đỗ Bang (Những phát hiện mới về khảo cổ học, năm 1987). Viện khảo cổ học Ủy ban khoa học xă hội Việt Nam; "Việt Nam Phật giáo sử luận" (tập 2) của Nguyễn Lang. Nxb. Văn học HN, 1992; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Chơn Phát (giáo tŕnh lưu hành nội bộ),1998; "Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam" của Vân Thanh,1984;"Việt Nam Phật giáo sử lược" của Mật Thể. Nxb. Thuận Hóa- Huế, 1996; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Thích Minh Tuệ. Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành, 1993.

          Các công tŕnh nghiên cứu kể trên là những tư liệu quí giá để người viết tham khảo, so sánh, đối chiếu. Nhưng  những tư liệu ấy chỉ nói một cách khái quát, hoặc có tư liệu có đi vào chi tiết nhưng chỉ được một mặt, hoặc Thiền sư Minh Hải hoặc Tổ đ́nh Chúc Thánh, chứ chưa có công tŕnh nào đầy đủ cả hai. Đặc biệt trong cuốn " Lịch sử Phật giáo Đàng Trong" của Nguyễn Hiến Đức. Nxb. TP Hồ Chí Minh th́ có đề cập đến cả Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh. Song, nó cũng chưa phải là tư liệu đầy đủ và đáng được tin cậy.

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

           Về mặt thời gian, đề tài đặt trọng tâm bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XVII, (tức thời điểm thiền sư Minh Hải bắt đầu đặt chân đến Hội An), trong đó tŕnh bày suốt chuỗi dài truyền thừa của Pháp phái Minh Hải, từ Lâm Tế đời 34 đến đời 42 ngày nay.

           Về mặt không gian, đề tài tập trung nghiên cứu hành trạng của thiền sư Minh Hải tại Tổ đ́nh Chúc Thánh, sau đó tŕnh bày sự truyền thừa của Pháp phái Minh Hải tại Hội An(Quảng Nam) và tỉnh B́nh Định.

4. NGUỒN TƯ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

            Nguồn tư liệu chủ yếu tại Tổ đ́nh Chúc Thánh và những ngôi chùa khác tại Hội An, bao gồm các sách sử có ít nhiều liên quan đến đề tài, các chữ Hán khắc trên bia đá, trên gỗ, trên giấy và trên sự truyền miệng.

            Phương pháp nghiên cứu là sưu tầm tất cả các nguồn tư liệu gồm tư liệu thành văn và tư liệu điền dă. Trên cơ sở đối chiếu các nguồn tư liệu bằng vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đi từ nguyên nhân, bối cảnh lịch sử đến quá tŕnh kết quả. Ngoài ra, luận văn c̣n ghi nguyên bản chữ Hán các liễn đối  và phiên âm, dịch ra tiếng Việt.

5.  ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI.

            Một là, đề tài là một công tŕnh nghiên cứu tương đối đầy đủ về Pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh kể từ khi Tổ sư Minh Hải đặt chân đến xây nên Tổ đ́nh Chúc Thánh và hoằng hóa tại đây,  góp phần bổ sung thêm những khoảng trống mỗi khi t́m hiểu về lịch sử Phật giáo Quảng Nam.

            Hai là, nhằm để có sự nhất quán về niên đại khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh cũng như hành trạng của Thiền sư  Minh Hải, để tránh những nhận thức dị biệt về ngôi Tổ đ́nh này như trước đây.

            Ba là, nội dung đề tài minh họa rơ hơn về phong cảnh kiến trúc ngôi Tổ đ́nh và dịch nghĩa rơ ràng các liễn đối Hán văn sang Việt văn để những ai muốn đến thưởng ngoạn ngôi cổ tự này sẽ có cơ hội hiểu thêm về nó một cách ư nghĩa, sâu sắc hơn.

6. BỐ CỤC NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI.

            Đề tài dài  47 trang, không kể tài liệu tham khảo, phần phụ lục. Ngoài phần mở đầu (4 trang), kết luận (2 trang) là ba chương nội dung (41 trang).

            Chương 1 : Phật giáo dưới thời các Chúa Nguyễn.

Chương 2 : Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam).

            Chương 3  : Sự truyền thừa của thiền phái Minh Hải tại Tổ đ́nh Chúc Thánh, Quảng Nam và B́nh Định.

Chương 1

Phật Giáo thời Chúa Nguyễn

 

1.1. KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM.

            Phật giáo truyền vào Việt Nam vào những thế kỷ trước Tây lịch thông qua câu chuyện Chử Đồng Tử học đạo với nhà  sư Phật Quang trong “Lĩnh Nam Trích Quái.“ Chuyện kể rằng: Chử  Đồng Tử  (Là người Việt Nam) cùng thương nhân ra nước ngoài buôn bán. Đang trên đường đi buôn, Chử  Đồng Tử ghé lại một am nhỏ trên núi Quỳnh Viên ( Cửa Sót) th́ gặp nhà sư  Phật Quang. Sau khi gặp nhà Sư, Chử  Đồng Tử không tiếp tục đi buôn mà ở lại học đạo và sau đó trở lại quê. V́ vậy, Chử Đồng Tử được coi như là người Phật tử Việt Nam đầu tiên mà chúng ta biết được tên trong lịch sử ( 7.20 ).

Nhưng Phật giáo thời kỳ Chử Đồng Tử chắc cũng chỉ là thời kỳ ban sơ. Măi đến thế kỷ thứ  II, III sau Tây lịch, đất nước Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa, tiếp đón những dân tộc khác. Chính sự mở cửa đó đă tiếp nhận các thương nhân và thuyền buôn nước ngoài mà các thiền sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật đă tháp tùng theo, như Khâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực... Vào những thế kỷ đầu Tây lịch này, Phật giáo Việt Nam đă hoàn chỉnh giai đoạn đầu làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo Việt Nam ở những giai đoạn kế tiếp ( 7.148, 149, 150 ).

Thời Bắc thuộc lần thứ  3 ( 603- 939), Phật giáo lại càng phát triển mạnh hơn. Đăc biệt là Thiền Tôn có thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và thiền phái Vô Ngôn Thông đă truyền bá đến.

Đất nước Việt Nam trải qua các thời Đinh, Ngô và Tiền Lê, hai thiền phái trên vẫn cứ tiếp tục tồn tại và phát triển. Đến đời nhà Lư ( 1010- 1225 ), một thiền phái thứ ba từ  Trung Quốc truyền vào Việt Nam là thiền phái Thảo Đường. Lúc bấy giờ cả ba thiền phái này cùng phát triển mạnh mẽ, đóng góp vào đời sống tâm linh và xă hội, ghi đậm dấu ấn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, kiến trúc, mỹ thuật cho nước Việt. Nhưng thời điểm vàng son nhất của Phật giáo Việt Nam là đời Trần ( 1225- 1400 ). Phật giáo đời Trần là thời đại Phật giáo Nhất tôn. Cả ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường nhập thành một, thiền phái duy nhất đời Trần là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái Phật giáo thuần túy Việt Nam. Trong thời kỳ này, sự  ảnh hưởng rộng lớn của các vị vua - thiền sư Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, Pháp Loa và Huyền Quang đă làm rực rở Phật giáo Việt Nam, tinh thần vô ngă  vị tha của Phật giáo chi phối trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nền văn học Việt Nam (10.267).

            Từ đó trở về sau, đất nước Việt Nam qua bao thời cuộc thay vua đổi chúa, vận mệnh đất nước có lúc thịnh lúc suy, mà Phật giáo cũng phải cùng chịu chung một số phận. Bước sang thời hậu Lê ( 1428-1527 ), Phật giáo bị suy giảm, các vua Lê luôn đề cao Nho giáo, t́m mọi cách  hạ thấp Phật giáo. Bởi v́ học thuyết Nho giáo mang tính tôn quân, tôi trung không thờ hai vua (trung thần bất sự nhị quân), vua Lê Thái Tổ dùng  trường Quốc Tử Giám để dạy cho con vua cháu chúa lư thuyết Nho giáo. Năm 1442, nhà vua mở khoa thi tiến sĩ theo tinh thần Nho giáo để chọn nhân tài giúp nước pḥ vua tại trường Quốc Tử  Giám, khoa thi cho Tăng sĩ chỉ mở tại các sảnh đường, người thi đỗ được trực tiếp hành đạo, người thi hỏng phải hoàn tục. Nhà vua và các Nho sĩ ra sức phỉ báng Phật giáo, coi Phật giáo như là vấn đề cần phải dẹp bỏ. V́ vậy, Phật giáo đă dần dần biến thái thành một tôn giáo như là tôn giáo chỉ để thờ cúng, cầu nguyện (10.397).

            Trong thời kỳ này, Phật giáo đă suy yếu thật sự, nhưng ảnh hưởng Phật giáo trước kia vẫn c̣n đọng lại  trong tâm tư và t́nh cảm của người dân Việt. Đặc biệt, tư tưởng Phật giáo vẫn c̣n thể hiện trong các tác phẩm của giới bác học cũng như dân gian. Mặc dù lúc này Nho giáo chiếm địa vị ưu thế, nhưng các Nho sĩ vẫn không đủ sức ổn định xă hội, để rồi từ đó đất nước Việt Nam bị chia rẽ Đàng Ngoài, Đàng Trong. Đàng Ngoài có vua Lê chúa Trịnh, Đàng Trong có chúa Nguyễn. Từ khi đất nước bị phân tranh, dân chúng khổ đau, quân dân luôn đối đầu với cảnh vô thường của khói lửa chiến tranh, lúc bấy giờ tinh thần vô ngă, vị tha, từ bi và trí tuệ của Phật giáo lại trở nên những món diệu dược, xoa diệu bao nổi tan tác, biệt ly, là chổ dựa tinh thần để vua  quân giữ  nước. V́ vậy, Phật giáo khởi sắc trở lại ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Nhưng đáng kể nhất là các chúa Nguyễn và Phật giáo Đàng Trong ( 10. 411 ).

1.2. CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG VÀO TRẤN THỦ XỨ THUẬN - QUẢNG.

            Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị chúa làm nên trang sử đầu tiên cho ḍng họ Nguyễn tại Đàng Trong.

            Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Hóa vào năm 1558. Nguyên do vào năm 1529 Bắc Triều của nhà Mạc thất trận, Lê Huy Ninh lên ngôi khôi phục lại triều đ́nh nhà Hậu Lê qua bao tháng năm bị nhà Mạc chiếm đoạt. Đến năm 1545, dưới trướng nhà họ Lê có Thái sư Nguyễn Kim bị nhà Mạc phục độc qua đời, sau đó Trịnh Kiểm ( rễ của Nguyễn Kim) lên thay thế. Đời vua Lê Anh Tông ( 1557 - 1573), con của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng. Nguyễn Uông làm chức tả tướng có tài đánh giặc, lại được các tướng mến phục, thái sư Trịnh Kiểm sợ em vợ tranh giành nên bí mật ám hại Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng sợ liên lụy đến tính mạng nên xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa và được vua Lê cử làm Đoan quận công tại xứ này (3.15, 16 ).

            Từ khi Đoan quận công Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa, chăm lo dân chúng an cư lạc nghiệp. Đến năm 1570, Nguyễn Hoàng trấn thủ luôn Quảng Nam gọi chung là xứ Thuận  - Quảng.

1.3. CÁC CHÚA NGUYỄN VÀ PHẬT GIÁO ĐÀNG TRONG.

1.3.1 Các chúa Nguyễn đối với Phật giáo Đàng Trong.

            Từ khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng (1558) cho đến khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, suốt gần hai thế  rưỡi, các Chúa Nguyễn đều là những người sùng mộ Phật giáo, xây dựng tự viện khắp nơi, lấy Phật giáo làm chỗ dựa tinh thần để an dân trị quốc.

            Năm Tân Sửu ( 1601), một hôm Chúa Tiên  Nguyễn Hoàng dạo chơi đến xă Hà Khê ( huyện Hương Trà ) thấy giữa cánh đồng nổi lên một g̣ cao như đầu rồng quay lại nằm bên sông Hương, Chúa hỏi người địa phương th́ họ nói g̣ này rất thiêng. Tương truyền, xưa có người đêm thấy bà già áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh g̣, nói :" Sẽ có vị chơn Chúa đến xây chùa, để tụ khí thiêng cho bền long mạch", nói xong, bà già ấy đâu mất. Nhân đó người ta gọi là g̣ Thiên Mụ. Năm đó Chúa cho xây chùa nơi này gọi là chùa Thiên Mụ.

            Rằm tháng bảy năm Nhâm dần (1602), Chúa đến chùa Thiên Mụ để làm lễ lạc thành. Khi thuyền qua xă Ân Triêm (huyện Phú Vang ), Chúa nh́n lên bờ sông thấy có cảnh trí đẹp, nhân đó Chúa dừng thuyền lại để thưởng ngoạn, thấy có một nền chùa cổ, Chúa cho sửa sang lại và đặt tên là chùa Sùng Hóa. Năm Đinh Mùi(1607), Chúa lập chùa Bửu Châu ở Trà Kiệu(Quảng Nam). Năm Kỷ Dậu(1609), Chúa dựng chùa Kính Thiên ở xă Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy (Quảng B́nh) (3.22).

            Năm Ất Tị ( 1665), Chúa Nguyễn Phúc Tần sắc trùng tu chùa Thiên Mụ. Năm Đinh Mùi (1667), Chúa cho xây chùa Vĩnh Ḥa ở cửa biển Tư Dung. Lễ khánh thành chùa mở Du Già đại hội bảy ngày đêm. Trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có Thiền sư Nguyên Thiều đem thiền phái Lâm Tế từ Trung Quốc truyền đến và thiền phái Trúc Lâm được phục hưng ( 3.24).

            Năm Mậu Th́n (1688),  chúa Nghĩa - Nguyễn Phúc Trăn cho trùng tu chùa Vĩnh Ḥa ở cửa biển Tư Dung. Chúa Nghĩa c̣n nhờ thiền sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh các cao Tăng, pháp tượng, pháp khí ... sang hoằng hóa xứ Đàng Trong ( 3.27).

            Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), khi mới lên ngôi một năm ông đă cho sửa chùa Mĩ Am ở núi Mĩ Am (nay là núi túy Vân). Ông đă thọ Giới với Ḥa Thượng Thạch Liêm tại giới đàn chùa Thiền Lâm(5.238). Năm 1710, Chúa sắc đúc quả chuông nặng 3,285 cân đồng cúng vào chùa Thiên Mụ, hiện nay vẫn c̣n. Sau đó Chúa cho thỉnh 3 tạng Kinh, Luật, Luận bên Trung Quốc đem về để ở chùa (10.428).

            Đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765) lại trùng tu chùa Thiên Mụ thêm nguy nga, tráng lệ và sai người sang Trung Quốc thỉnh Đại tạng kinh hơn ngàn bộ, đem về để tại chùa(10.428).

            Nói chung, các Chúa Nguyễn đa số đều là những người sùng mộ Phật giáo, xây chùa, tạo tượng, đúc chuông, trọng đăi các thiền sư ... V́ vậy, các Danh Tăng từ Trung Quốc sang hoằng hóa rất đông, các thiền phái, thiền lâm cũng bắt đầu từ đây mà tạo lập. Như Ngài Nguyên Thiều dựng nên Chi Phái Thiền Lâm Tế tại B́nh Định, Ngài Minh Hải dựng lên chi phái Lâm Tế tại Hội An  (Quảng Nam)... Ngoài ra c̣n có các cao Tăng thuộc thiền phái Tào Động cũng đến tại xứ Đàng Trong này.

1.3.2 Các thiền phái Phật giáo ở Đàng Trong.

            Trong thời Trịnh - Nguyễn, cả hai xứ  Đàng Trong và Đàng Ngoài Phật giáo đă bắt đầu phục hưng trở lại. Đàng Ngoài, các chúa Trịnh chủ yếu đặt nặng vấn đề xây dựng chùa chiền, các tông phái Phật giáo vẫn như cũ không có ǵ mới lạ. C̣n tại Đàng Trong, như trên đă nói, ngay từ khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong, ông đă nghĩ đến việc xây cất các tự viện Phật giáo. Suốt chiều dài lịch sử, các Chúa nhà họ Nguyễn đều lấy Phật giáo làm nơi nương tựa tinh thần cho quân dân. Đặc biệt, bấy giờ tại Trung Hoa đang có sự chuyển tiếp giữa hai triều đại Minh - Thanh. V́ vậy, các Cao Tăng Trung Hoa sang Đàng Trong hoằng hóa rất đông, các Tổ đ́nh hiện nay c̣n lại đa phần do các Thiền sư Trung Hoa khai sáng. Theo sự ghi nhận chung của các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam th́ trong thế kỷ XVII có các Thiền sư Trung Hoa sang Đàng Trong khai sơn các Tổ đ́nh hoằng hóa Phật Pháp, như:

Ø     Các Thiền sư thuộc Thiền phái Tào Động gồm có:

- Thiền sư Thạch Liêm hoằng hóa tại chùa Thiên Mụ và sau ở chùa Thiền Lâm tại Huế.

- Thiền sư Hưng Liên trú tŕ chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn - Non nước (Đà Nẵng).

- Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ tại Huế.

Ø           Các Thiền sư thuộc Thiền phái Lâm Tế gồm có:

- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp- Di Đà tại B́nh Định, sau ra Thuận Hóa khai sơn chùa Hà Trung, chùa Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng.

- Thiền sư Minh Hải  (Pháp Bảo) khai sơn chùa Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam).

- Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm tại Huế.

- Thiền sư Minh Hoằng (Tử Dung) khai sơn chùa Ấn Tôn ( Từ Đàm) tại Huế.

-Thiền sư Minh Lượng (Nguyệt Ân ) khai sơn chùa Vạn Đức tại Hội An (Quảng Nam ).

-Thiền sư Tế Viên  khai sơn chùa Hội Tôn tại Phú Yên.

            Trên là các thiền sư tiêu biểu được sử sách ghi lại tương đối đầy đủ, c̣n nhiều thiền sư khác nữa cũng từ Trung Quốc sang, có thể cùng môn phái hoặc đệ tử các Ngài trên, nhưng v́ chiến tranh các sử liệu đă thất lạc đi rất nhiều. Như  tại chùa Chúc Thánh có tháp Ngài Thiệt Thọ, trên tháp có ghi lại Ngài cùng quê, cùng họ với Ngài Minh Hải, nhưng không biết hành trạng của Ngài như thế nào, hay Ngài Đại Dơng(Siêu Căn) chỉ c̣n lại tấm bia ở chùa Chúc Thánh. Nên lịch sử hành trạng các Ngài như thế nào th́ chúng ta khó mà biết được.

            Ngoài ra, ở thế kỷ XVI, XVII, tại Đàng Trong c̣n có các thiền sư thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, như các Ngài Viên Cảnh ( Lục Hồ ), Viên Khoan  (Đại Thâm )... Nhưng v́ hoàn cảnh chính trị nên có Ngài ẩn tích mai danh, lại có Ngài cùng gia nhập vào thiền phái Lâm Tế, Tào Động. Năm 1682, thiền sư Minh Châu ( Hương Hải ) cùng với khoảng 50 đệ tử ra lại Đàng Ngoài phục hưng lại thiền phái của ḿnh.

            C̣n Thiền phái Lâm Tế, ngoài thiền sư Nguyên Thiều hoằng hóa tại B́nh Định và Thuận Hóa ra , tại Hội An (Quảng Nam ), thiền sư Minh Hải (Pháp Bảo) lại chấn tích khai sơn chùa Chúc Thánh, xuất kệ truyền thừa, tiếp nối ḍng Lâm Tế đời 34. Ḍng Lâm Tế Minh Hải này có 2 nhánh; một tại Quảng Nam và một tại B́nh Định. Hai nhánh này ngày nay đă phát triển khắp xứ Đàng Trong và các nước trên thế giới.

 

 Chương 2

Thiền Sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh
tại Hội An
- Quảng Nam

 

2.1. VÀI NÉT VỀ PHỐ CỔ HỘI AN.

            Một trong những địa danh nổi tiếng của Quảng Nam là phố cổ Hội An, đă từng vang bóng một thời vào những thế thế kỷ XVII - XVIII, mà những h́nh ảnh đó vẫn c̣n lưu lại đến ngày nay gần như nguyên vẹn. Trong trang đầu tập " Hội An : Lịch sử và hiện trạng" Phan Huy Lê khẳng định:" Đô thị cổ Hội An c̣n được  bảo tồn  đến ngày nay là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng là trường hợp hiếm có trên thế giới"(1.4). Qua đó, chúng ta thấy được giá trị phần nào của khu phố cổ này.

            Niên đại khai sinh Hội An ngày nay vẫn chưa xác định rơ ràng. Chỉ biết vào thế kỷ XVI, Hội An là nơi buôn bán của nhiều người nước ngoài, đáng kể là người Hoa, người Nhật và người Bồ Đào Nha. Trong thời điểm này, Hội An là nơi đến và định cư của nhiều thương nhân nước ngoài. Với việc buôn bán phồn thịnh, người Hoa đă xây dựng tại Hội An nơi tín ngưỡng của họ, như các Hội quán, chùa Ông ..., nhân đó các thiền sư người Trung Quốc theo thuyền buôn mang thiền phái LâmTế truyền vào Hội An, như thiền sư Minh Hải khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh, Thiền sư Minh Lượng khai sơn Tổ đ́nh Vạn Đức. Từ đó khiến Hội An trở nên phong phú hơn về phong tục, tập quán , tín ngưỡng.                   

Kiến trúc Hội An ngày nay c̣n lại chủ yếu của người Hoa. Nguyên do vào năm 1636 chính phủ Nhật ban hành lệnh cấm xuất ngoại, làm cho buôn bán quan hệ giữa Nhật Bản và Hội An sa sút dần. Cùng lúc đó th́ người Hoa vốn có mặt ở Hội An từ trước lại không ngừng Tăng lên. Từ giữa thế kỷ XVII, người Hoa thay thế người Nhật chiếm ưu thế ở Hội An và chi phối các hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu của thương cảng này. Các thế hệ người Hoa được xếp vào bậc Tiền Hiền gọi là Thập Lăo, Lục Tánh và Tam Đại Gia. Họ lập ra xă Minh Hương (quê hương Nhà Minh), xây dựng chùa miếu, nhà cửa ...V́ vậy, hai mặt kinh tế và văn hóa này quan hệ mật thiết với nhau tạo ra một phong thái của Hội An ( 4.12).

            Từ thế XVIII, XIX, thương cảng Hội An do nhiều nguyên nhân từ thiên nhiên đến con người đă sa sút dần, để rồi từ cuối thế kỷ XIX Hội An nhường vai tṛ lại cho Đà Nẵng ( 4.13), chỉ c̣n lại những dấu tích ngày xưa. Nhưng Hội An hôm nay vẫn duy tŕ được nếp sống văn hóa của ḿnh, một nếp sống đă có một quá tŕnh giao thoa qua nhiều dặm đường lịch sử, đă tạo nên một đặc sắc văn hóa riêng mà chỉ Hội An mới có được.

            Phố cổ Hội An nằm dọc theo phía Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, cách Cửa Đại khoảng 6 km. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, nghề nông, nghề hải sản và các công nghệ thủ công khác. Khung cảnh Hội An trầm lặng yên tĩnh cũng phần nào ảnh hưởng đến tính chất con người Hội An trở nên lương thiện, ḥa nhă hơn.

            Như đă tŕnh bày, do tính hội nhập văn hóa giữa người nước ngoài và dân bản địa tại Hội An trước kia, tất cả đă để lại một quần thể di tích với nhiều kiểu dáng kiến trúc mĩ thuật độc đáo chỉ riêng của Hội An, gồm các loại h́nh như chùa, đ́nh, đền, miếu, mộ táng, giếng cổ, nhà ở, hội quán, chùa Cầu, nhà thờ tộc ...(9). Quần thể ấy chiếm phần nhiều là những ngôi nhà cổ được xây dựng theo kiểu h́nh ống, ở giữa có sân lộ thiên, nằm dọc theo các đường Trần Phú, Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Đằng ... Chen lẫn trong những ngôi nhà ấy là Triều Châu Hội quán, chùa Ông, đ́nh Ông Voi, Khổng Miếu ... Đấy là những tụ điểm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng từ tập thể chung cho đến từng cá nhân tộc họ; Như người gốc Phước Kiến th́ sinh hoạt tại Phước Kiến Hội quán, Trường Lễ Nghĩa là chung cho tất cả các ban ... V́ vậy, tham quan đến phố cổ Hội An, không những du khách được đắm ḿnh trong quá khứ mà c̣n có một chiều sâu tâm linh nhuộm nhiều màu sắc tín ngưỡng.

            Song song với việc ra đời của một phố cảng Hội An ở thế kỷ XVII sầm uất, trù phú ấy, Phật giáo cũng bắt đầu chính thức bén rễ ăn sâu vào trong từng tầng lớp nhân dân phố Hội. V́ vậy, trong các đ́nh, hội quán ngoài cái đức tin mà họ tôn thờ ra, họ c̣n có thờ thêm Bồ tát Quan Thế Âm. C̣n những ngôi chùa Phật giáo th́ đa số nằm ở ngoại ô Đô thị thanh tịnh mát mẻ, như chùa Vạn Đức, chùa Phước Lâm, chùa Long Tuyền ... mà đáng kể nhất là ngôi chùa Chúc Thánh, nơi phát xuất một Pháp phái riêng thuộc ḍng thiền Lâm Tế do thiền sư Minh Hải (Pháp Bảo ) sáng lập nên. Ngôi chùa và pháp phái này được tŕnh bày chi tiết  tiếp tục những trang tiếp theo.

2.2. CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRẠNG CỦA THIỀN SƯ MINH HẢI.

            Thiền sư Minh Hải là một trong những vị thiền sư Trung Quốc đầu tiên mang thiền phái Lâm Tế truyền vào đất Quảng Nam. Nơi đây, Ngài đă biệt xuất ḍng kệ tiếp nối ḍng Lâm Tế đời thứ 34 mà sau này trở thành một chi phái riêng được mệnh danh là " Ḍng môn phái Lâm Tế Minh Hải" hay " Ḍng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh".

            Thiền sư Minh Hải, Ngài họ Lương tên là Thế Ân. Ngài sinh vào giờ Tuất ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất, tức đương triều nhà Thanh tại Trung Quốc, niên hiệu Khang Hy thứ 8, dương lịch 1670. Cha là Lương Đôn Hậu, mẹ là Trần Thục Thận, anh trai là Lương Thế Bảo và em trai là Lương Thế Định, Ngài là con thứ hai trong gia đ́nh.

            Ngài sinh ra trong một gia đ́nh thuần phong Nho giáo. Từ thuở thiếu thời, Ngài đă tỏ ra là một bậc thông minh xuất chúng. Năm Mậu Ngọ (1678), lúc vừa lên 9 tuổi, Ngài đă được song thân đồng ư cho đến chùa Báo Tư (Trung Quốc) xin xuất gia. Sau thời gian tu học, Ngài đă được thọ giới với pháp danh là Minh Hải, Pháp tự  Đắc Trí tặng Pháp Bảo.

            Tại Việt Nam, vào niên hiệu Cảnh Trị năm thứ 3 đời vua Lê Huyền Tôn  (Năm Ất Tị thứ 17 đời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1665)), Ngài Nguyên Thiều đi theo thuyền buôn qua An Nam trú ở phủ Qui Ninh ( B́nh Định) lập chùa Thập Tháp - Di Đà bên cạnh kinh đô Vijana của vương quốc Chăm Pa rồi sau ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung và Quốc Ân. Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Trăn ( 1648 - 1681) Ngài Nguyên Thiều thuận theo lời yêu cầu của Chúa trở về Trung Quốc, t́m mời các danh Tăng và thỉnh Pháp tượng Pháp khí (8.171), nhưng chuyến trở lại này bất thành. Măi đến đời Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), mới có Ḥa Thượng Thạch Liêm cùng phái đoàn sang Việt Nam mở đại Giới đàn tại chùa Thiền Lâm (Huê)ú ( có sách lại nói chùa Thiên Mụ).

            Tương truyền rằng, phái đoàn Ngài Thạch Liêm theo thuyền buôn đến Việt Nam. Lúc đi, phái đoàn chia thành 2 nhóm, bởi v́ thuyền buôn chỉ chở người có hạn mà phái đoàn th́ lại đông ( khoảng 50 người). Cả 2 đoàn đến Việt Nam vào ngày 28 tháng giêng năm Ất Hợi ( 1695), xuống thuyền từ bến Hoàng Phố qua bến Hội An ( Quảng Nam) rồi sau mới ra Thuận Hóa. Ngài Thạch Liêm ra Thuận Hóa được Chúa Nguyễn tiếp đăi nồng hậu và về trụ tại chùa Thiền Lâm. Phái đoàn gồm có các vị  Minh Hoằng (Tử Dung) , Minh Hải (Pháp Bảo), Minh Vật (Nhất Tri), Minh Hành (Tại Toại) ... Đến ngày mồng 1 tháng tư cùng năm, giới đàn bắt đầu được long trọng khai mạc dưới sự bảo hộ của Chúa Nguyễn Phúc Chu, Ḥa Thượng Thạch Liêm làm Đàn đầu và các Ngài Minh Hoằng, Minh Hải ... ở trong Hội đồng thập sư. Giới đàn truyền các giới Sa di, Tỳ kheo và Bồ Tát Giới. Giới tử thọ giới gồm có 1400 người, trong đó có các công hầu khanh tướng và Hoàng tộc. Chúa Nguyễn Phúc Chu được truyền riêng một giới đàn và Ngài Thạch Liêm đặt pháp danh cho Chúa là Hưng Long, biệt hiệu Thiên Túng Đạo Nhơn (6. 91).

            Sau khi giới đàn xong, đến ngày 28 tháng 6 cùng năm ấy, Ḥa Thượng Thạch Liêm cùng phái đoàn giă từ Chúa Nguyễn Phúc Chu, lên đường trở về Trung Quốc. Trên đường về, phái đoàn phải ghé lại Hội An trú tại chùa Di Đà (sau đổi thành Chùa Chiên Đàn)  để chờ thuyền nhân chuẩn bị lương thực ra khơi. Tại đây, Tăng chúng lại thỉnh Ngài mở đàn truyền giới cho 300 giới tử thọ giới. Đến ngày 19 tháng 7 cùng năm, cả phái đoàn cùng thuyền buôn rời bến Hội An để ra Cù Lao Chàm chờ gió. Đến ngày 30 tháng 7 thuận gió, đoàn thuyền nhổ neo rời bến chưa bao xa th́ bị nghịch gió. Qua ngày sau, cả đoàn quay lại đảo và cuối cùng trở lại Hội An. Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn tịnh dưỡng tại đây khoảng 2 tháng. Đến ngày 12 tháng 10  cùng năm, Chúa Nguyễn mời Ngài Thạch Liêm trở ra lại Huế ở tại Chùa Thiên Mụ. Trong thời gian ở lại đây, Chúa thường hay thỉnh Ngài lập đàn tràng cúng Phật, thuyết Pháp, bố thí và mở thêm giới đàn truyền giới. Ngày 24 tháng 6 năm Bính Tư (1696), Ngài Thạch Liêm cùng một số trong đoàn trở lại Quảng Đông, Trung Quốc không qua lại nữa (6. 91).

            Khi Ngài Thạch Liêm về nước, Tổ Minh Hải ở lại Hội An, qua năm sau khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh tại Cẩm Phô phủ Điện Bàn ( nay là thị xă Hội An).

            Từ những ngày đầu tiên nơi mảnh đất đầy cát bụi này, Ngài Minh Hải đă lập ra một thảo am tu hành. Sau vài năm, Ngài mở trường dạy đạo, đào tạo Tăng Chúng. Đức độ của Ngài ảnh hưởng đến khắp nhân dân phố Hội, dân chúng đến quy y rất đông. Sau đó, Ngài muốn sự truyền thừa có quy cũ lâu dài nên xuất kệ lập nên môn phái Lâm Tế Chúc Thánh; bài kệ:

PHIÊN ÂM

Minh thật pháp toàn chương
Ấn chơn như thị đồng
Chúc Thánh thọ thiên cửu
Kỳ quốc tộ địa trường.

Đắc chánh luật vi tông
Tổ đạo giải hạnh thông
Giác hoa Bồ đề Thọ
Sung măn nhân thiên trung

DỊCH NGĨA
 

Pháp minh thiệt sáng tỏ
In đồng với chân như
Chúc Thánh Thượng muôn tuổi
Cầu vận nước lâu dài.
Chứng Thánh luật làm gốc
Đạo Tổ hiểu làm thông
Cây Bồ đề hoa giác
Đầy đủ cả trời người.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Bốn câu đầu dùng để đặt Pháp danh, bốn câu sau dùng để đặt Pháp tự.

 Ngoài bài kệ truyền pháp trên, Ngài Minh Hải c̣n có xuất thêm một bài kệ nữa lưu truyền lại B́nh Định.

 

PHIÊN ÂM
Minh thật pháp toàn chương
 Ấn chơn như thị đồng
Vạn hữu duy nhất thể
Quán liễu tâm cảnh không.

Giới hương thành Thánh quả
Giác hải dơng liên hoa
Tín tấn sanh phước huệ
Hành trí giải viên thông.

 Ảnh nguyệt thanh trung thủy
Vân phi nhật khứ lai
 Đạt ngộ vi diệu tánh
Hằng khai Tổ đạo trường.

DỊCH NGHĨA
Pháp Minh thiệt sáng tỏ
In đồng với chân như
Muôn vật cùng một thể
Quán suốt tâm cảnh không.
Hương giới thành Thánh quả
Biển giác phát hoa sen
Tín tấn sinh phước huệ
Hiểu làm đều viên thông.

Bóng trăng soi đáy nước
Mây bay mặt trời đi
Ngộ được pháp vi diệu
Đạo Tổ được lâu dài.

                                                                      TT Thích Hạnh Niệm dịch.

BÀI KỆ PHÁP TƯ

PHIÊN ÂM
Đắc chánh luật vi tông
Tổ đạo giải hạnh thông
 Giác hoa viên cảnh trí
Sung măn lợi nhơn thiên.
 Hằng sa chư pháp giới
Tế độ đẳng hàm sanh
Châu viên thể tướng dụng
Quán chiếu sát trần trung.
Khứ lai đương nhứt niệm
 Năng sở khởi phi tha
Tâm cảnh thùy biên thủ
Chơn vọng tổng giai như.


DỊCH NGHĨA
Chứng Thánh luật làm gốc
 Đạo Tổ hiểu làm thông
Hoa giác trí viên cảnh
Đầy khắp lợi trời người.

Hằng sa các pháp giới
 Cứu độ khắp muôn loài
Trùm bao thể tướng dụng
 Chiếu soi sát độ trung.
Đến đi trong một niệm
 Năng sở cũng một y
Tâm cảnh gồm thâu cả
Chân vọng thảy đều như.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

            Hai bài kệ trên cùng chung một ư nghĩa là luôn đặt giới luật làm nền tảng cho việc tu tập giải thoát. Nhưng bài kệ tại Hội An ư nghĩa mang nặng về phải thiết lập một thế giới an b́nh, tịnh độ ngay cơi đời này: “Chúc Thánh thọ thiên cửu, kỳ quốc tộ địa trường ... Giác hoa Bồ đề thọ, sung măn nhơn thiên trung”. C̣n bài kệ thứ 2 tại B́nh Định nói lên trí tuệ Bát Nhă, trí tuệ này đầy đủ nơi chúng sanh từ vô thỉ, nhưng v́ phiền năo vô minh che lấp nên mới hiện các tướng sai biệt để rồi rong rủi trong sanh tử luân hồi. Ví như mặt trăng, mặt trời thể của nó chưa từng bị lu mờ, nhưng thấy lúc mờ lúc tỏ là v́ bị đám mây che lấp “ảnh nguyệt thanh trung thủy, vân phi nhựt khứ lai...”

            Tiếp nối sự nghiệp của Tổ đời thứ 35 như các Ngài Thiệt Dinh (Chánh Hiển), Thiệt Diệu (Chánh Hiền) ... Từ 2 bài kệ trên tiếp nối các đời sau đă sinh ra biết bao danh Tăng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp ḥa b́nh cho quốc gia xă hội và hưng thịnh đạo pháp. Như đời thứ  39 có Ḥa Thượng Vĩnh Gia làm đàn đầu cho một Đại giới đàn mà trong đó có 2 giới tử thọ tỳ kheo sau này trở nên 2 vị Tăng thống, đó là cố Ḥa thượng Đệ nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết và Đệ nhị Tăng thống Thích Giác Nhiên. Đời thứ 42 thuộc bài kệ tại B́nh Định đă có Bồ Tát Thích Quảng Đức với trái tim bất diệt đă làm chấn động thế giới v́ tự do tôn giáo vào những năm 1963 ... Ngày nay các thế hệ của Tổ đă truyền xuống đến chữ Chúc, chữ Thánh tại Hội An và chữ Vạn, chữ Hữu tại B́nh Định, truyền bá ḍng Lâm Tế Minh Hải khắp cả xứ Đàng Trong và các nước trên thế giới. Phổ hệ truyền thừa của Tổ sẽ được tiếp tục tŕnh bày ở chương thứ 3.

            Trải qua 49 năm kể từ ngày Tổ Minh Hải chấn tích đến mảnh đất này, Ngài đă cực lực xiễn dương chánh pháp, hương bay ngàn nhà. Nhưng tấm thân của Ngài cũng không sao tránh khỏi được định luật sinh tử vô thường chi phối. Vào mùa đông năm Bính Dần(1746), nhận thấy hóa duyên đă măn, phải đến lúc quay về cảnh giới Niết Bàn, Ngài gọi môn đồ, đệ tử dạy bảo mọi điều và xuất kệ khai thị cuối cùng:

Phiên âm:

Nguyên phù pháp giới không
Chơn như vô tánh tướng
Nhược liễu ngộ như thử
Chúng sanh dữ Phật đồng.

Dịch nghĩa:

Pháp giới như mây nổi
 Chân như không tánh tướng
 Nếu hiểu được như vậy
 Chúng sanh với Phật đồng.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

            Xuất kệ xong, Ngài an nhiên thị tịch vào ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), thọ 77 tuổi. Nhục thân Ngài được tôn trí phía bên phải trước chùa Chúc Thánh.

            Cuộc đời của Tổ là một tấm gương sáng ngời, công đức của Tổ không sao kể hết. Là Phật tử Việt Nam, chúng ta không thể không biết đến cuộc đời của Ngài, một cuộc đời đă để lại cho chúng ta ngày nay biết bao ân huệ. Ngày nay về lại Chúc Thánh, nơi tôn trí nhục thân của Ngài, chúng ta sẽ thấy cảm giác đâu đây một bài thuyết pháp không lời âm thầm, sâu lắng. Nơi ấy vẫn đang c̣n giữ được dáng vẻ uy nghiêm, thanh tịnh của một thiền lâm cách đây trên 3 thế kỷ.

2.3. QUÁ TR̀NH KHAI SÁNG VÀ TRÙNG TU TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH.

2.3.1.Địa thế, phong thủy ngôi Tổ đ́nh.

Từ Đà Nẵng về Hội An theo đường Non Nước khoảng 30 km, lúc chưa đến Hội An khoảng 1km nh́n qua phía tay trái có một con đường thẳng nằm giữa nhà hát lớn Hội An và trường Trung học Điện, đi vào hết con đường này khoảng 300m là thấy chùa Chúc Thánh tọa lạc ngay giữa cuối con đường. Địa thế chùa Chúc Thánh nằm quay mặt về hướng Tây - Nam, nằm gọn trên một vùng đất cao thoáng thuộc khối Tân ḥa phường Tân An, Hội An ( trước là phường Cẩm phô hay làng Thanh Hà, huyện Diên Phước phủ Điện Bàn), cách trung tâm phố cổ Hội An về hướng Bắc khoảng 1km.

      Nơi đây vào những năm 1987, 1988 vẫn c̣n là nơi thanh tịnh vắng vẻ, chung quanh ngôi chùa nh́n về xa xa chỉ thỉnh thoảng vài ngôi nhà dân, c̣n lại đa số là những khu rừng thông, những cồn cát trắng và những ngôi mộ xưa. Hàng rào chùa dày từ 8 đến 10m, được tạo nên bởi nhiều loại cây xanh mát. Đứng trong khu vườn chùa, mọi người sẽ có cảm giác như ngôi chùa đang ở giữa khu rừng nguyên sinh đầy hương thơm cỏ lạ, chim chóc 4 mùa hội tụ. Có thể nói đây là một môi trường sinh thái tốt, thanh tịnh, phù hợp với cảnh thiền môn.

      Theo phong tục người Trung Hoa th́ họ đến đâu thường hay lập chùa, miếu để thờ cúng cầu nguyện mưa thuận gió ḥa, nhân dân an cư lạc nghiệp. Như đă tŕnh bày, cùng với thời điểm chùa Chúc Thánh ra đời, Hội An là một thương cảng trù phú, những thương nhân đến từ nước ngoài chủ yếu là người Hoa và coú một số người trong họ đă định cư ở đây. V́ vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định ở lại tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lư tưởng khoảng 1km không gần lắm cũng không xa lắm so với trung tâm phố cảng. Địa thế này nhằm 2 mục đích: Một là, nơi yên tĩnh vắng vẻ, điều kiện tu hành thiền định thích hợp và hai là, không xa lắm nơi dân cư, để tạo điều kiện cho những người dân ở đây có thể bước bộ đến chùa lễ Phật tụng kinh. Cũng từ ḷng tín ngưỡng Phật giáo mạnh của người dân Việt và  Hoa kiều tại đây mà ngôi Tổ đ́nh Chúc Thánh cũng trở nên phong phú về nhiều mặt, phong phú từ lối kiến trúc đến cách thờ phụng, như ngoài việc thờ Phật chính trong Chánh điện, ngoài vườn c̣n lập miếu Ông, miếu Bà để thờ các Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho những người đến cầu xin được phù hộ mua may bán đắt, đi đến nơi về đến chốn. Đấy là những tín ngưỡng thuần túy tính nhân gian.

      Mặc dù ngày nay chung quanh bên ngoài chùa Chúc Thánh không c̣n những băi cát, những đồi thông xanh ŕ vi vu trong gió nữa, đến chùa không c̣n phải băng bộ qua những đoạn đường cát nữa, mà thay vào đó là những ngôi nhà đồ sộ và con đường đất cứng v́ nhu cầu dân số và phát triển đô thị. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn c̣n giữ được dáng vẻ cổ kính, hàng cây cổ thụ vẫn c̣n đó, h́nh ảnh ngôi chùa vẫn cổ kính rêu phong, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nḥa đi được.

2.3.2.Ư nghĩa tên ngôi Tổ đ́nh.

            Tên " Chúc Thánh" có từ lúc Tổ Minh Hải đặt chân đến khai sơn ngôi chùa. Về mặt ư nghĩa 2 chữ Chúc Thánh  có 2 cách giải thích sau đây:

Một là, từ nữa thế kỷ 17, các Chúa Nguyễn Đàng Trong trọng đăi Phật giáo nói chung và ngài Minh Hải nói riêng, nên khi lập chùa, ngài Minh Hải muốn thể hiện t́nh cảm của ḿnh đối với các chúa Nguyễn bằng cách đặt tên cho ngôi chùa là Chúc Thánh (tức chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành).

Hai là, lúc bấy giờ tại Trung Quốc cũng có một ngôi chùa tên Chúc Thánh. V́ vậy, Ngài Minh Hải sau khi đến Việt Nam khai sơn ngôi chùa đặt lại tên Chúc Thánh là để làm kỷ niệm nhớ lại quê hương xứ sở của ḿnh.

Hai cách giải thích tên Tổ đ́nh Chúc Thánh trên, ư nghĩa nào cũng có phần hợp lí. Nhưng cách giải thích thứ 2 th́ chưa có cơ sở để chứng minh được. Vậy tạm thời có thể hiểu theo cách giải thích thứ nhất là " Chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành" nói gọn là " Chúc Thánh". Ư nghĩa này cũng trùng lặp câu thứ 3 trong bài kệ của Ngài truyền tại Chúc Thánh:" Chúc Thánh thọ thiên cửu" (Chúc Thánh Thượng muôn tuổi).

2.3.3.Quá tŕnh khai sáng và trùng tu.

            Như đă tŕnh bày, Tổ đ́nh Chúc Thánh do thiền Sư Minh Hải ( Pháp Bảo ) thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 từ  Trung Quốc sang khai sáng vào cuối thế kỷ  XVII.

Thiền sư Minh Hải từ Quảng Đông Trung Quốc theo phái đoàn Ngài Thạch Liêm đến Việt Nam  để  dự  Đại giới đàn tại Huế vào năm Ất Hợi ( 1695 ). Sau khi giới đàn xong, Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn lưu lại Thuận Hóa đến năm 1696 mới trở về lại Trung Quốc.

Sau khi Ngài Thạch Liêm về nước, Ngài Minh Hải ở lại Hội An qua năm sau ( 1697 ) * khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh tại xă Cẩm Phô ( nay là thị xă Hội An) (6.91)

Tương truyền, vào thời Ngài Minh Hải, chùa Chúc Thánh chỉ là một ngôi chùa nhỏ đơn sơ. Tại đây, Ngài đă hoằng pháp lợi sanh, tiếng vang khắp mọi nhà. Ngài đă biệt xuất kệ truyền thừa, tạo nên một pháp phái Lâm Tế  riêng tại Hội An. Sau này, các thế hệ truyền thừa của Ngài đă không ngừng phát huy đạo Pháp và phát triển kiến trúc ngôi Tổ Đ́nh thật qui mô và bề thế như ngày hôm nay ( 1.1 ).

Tổ đ́nh Chúc Thánh sau Ngài Minh Hải hai đời ( Ngài Thiệt Diệu và Ngài Đại Dơng ), vào năm Âút Mùi ( 1845 ), Ngài Toàn Nhâm ( Vi Ư ) khởi công đại trùng  tu và chuyển hướng ngôi chùa từ hướng Tây sang hướng Tây - Nam để phù hợp với địa thế phong thổ. Qua 4 năm sau (1849), Ngài tiếp tục khởi công xây thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong Chánh điện. Đến  năm Nhâm Th́n (1892), Ḥa Thượng Chương Đạo hiệu Quảng Viên trùng tu lại Tiền đường qui mô hơn. Năm Giáp Ngọ (1894), Ḥa Thượng  Chương Khoáng hiệu Chứng Đạo đời thứ 38 và phó trú tŕ hiệu Quảng Đạt xây dựng thêm ngôi Hậu Tổ. Năm Ất Hợi(1911), Ḥa Thượng trú tŕ húy Ấn Bính hiệu Phổ Bảo đời thứ  39 lại khởi công đại trùng tu ngôi Chánh điện, nâng nền Tiền đường lên cao hơn và xây thêm các dăy Đông đường, Tây đường. Những công tŕnh lần này gần như cố định và qui mô cho đến ngày nay. Từ các năm 1954 đến 1960, Ḥa Thượng Tăng cang húy Chơn Chứng hiệu Thiện Quả đời thứ 40 tiến hành trùng tu từng phần, khiến ngôi chùa trở nên hoàn mỹ hơn. Năm Tân Mùi (1991), Ḥa Thượng Như Truyện hiệu Trí Nhăn tiếp nối trú tŕ đời thứ 40 (đang trú tŕ hiện nay) trùng tu lại ngôi tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng, góp phần tăng thêm vẻ đẹp trong khuôn viên chùa (1.1).

2.3.4. H́nh thái kiến trúc, liễn, đối, bia, tháp.

            Chùa Chúc Thánh quay mặt vế hướng Tây-Nam nằm trên một mảnh đất thoáng mát với chiều rộng 130m và chiều sâu 96m. Nh́n từ ngoài vào, ngôi chùa nằm lặng dưới những táng cây cổ thụ rợp mát, tạo nên một dáng vẻ trầm hùng, thanh tịnh. Xung quanh chùa được bao bọc bởi một dăy cây đủ loại, bốn mùa đơm hoa kết trái, ong bướm tới lui, chim chóc làm tổ. Khung cảnh thanh b́nh này được kết hợp giữa thiên nhiên và con người, nó đă làm lắng đọng biết bao tâm tư phiền muộn của những con người bị thất bại trên trường danh lợi và cũng là cái nôi đă nuôi lớn biết bao anh tài đóng góp xây dựng đạo Pháp, dân tộc, ảnh hưởng đến  ngày nay. Vào những đêm trăng thanh gió mát, khung cảnh của chùa lại trở nên mênh mông, quạnh hiu và cô tịch hơn. Thật đúng với câu thơ nói về cảnh chùa miền quê đất Việt:

" Quê tôi có gió bốn mùa

 Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm

Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm

Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi".   (ca dao)

            Trước khi vào chùa, nh́n thấy cổng Tam quan rêu phong cổ kính. Vào trong, tiếp theo là  bồn hoa, những ngôi tháp cổ, b́nh phong, Đông đường, Tây đường, Chánh điện, Hậu tẩm, Phương trượng, Tổ đường ... Tất cả đều được kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa kiến trúc Tàu và Việt Nam. Điều đó nói lên một thời vàng son cực thịnh về văn hóa, tôn giáo và thương mại của khu phố cổ này một thời xưa kia nói chung và Phật giáo tại đây nói riêng. Sau đây người viết sẽ lần lược tŕnh bày từng chi tiết kiến trúc của ngôi Tổ đ́nh cũng như ư nghĩa liễn đối, bia tháp trong đó.

* Cổng Tam quan:

            Cổng Tam quan cách con đường ngang trước chùa 26m và cách Chánh điện 50m. Cổng tam quan đứng giữa 2 bức tường thành kiên cố và được thiết kế thành 2 tầng. Đỉnh trên cùng là 2 con sư tử trong tư thế ngồi chồm quay mặt vào nhau, tầng dưới là mái ngói giả, lối bước vào gồm 3 cổng; cổng giữa to lớn, cổng hai bên thấp nhỏ hơn, trên cổng giữa  có 5 chữ  Sắc tứ Chúc Thánh tự môn và  câu đối:

Chúc đối Linh sơn thiên cổ tú
Thánh khai Pháp thủy nhứt nguyên trường.

Dịch nghĩa:
Chúc như Linh sơn ngàn xưa xanh tốt
 Thánh mở nước Pháp một ḍng dài xa.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

 

* Chánh điện:

            Vào khỏi cổng Tam quan là bồn bông, kế tiếp bồn bông là bức b́nh phong. Bức b́nh phong này cũng có niên đại khoảng với việc tu sửa ngôi chùa, trước b́nh phong là hàng non bộ có tượng Quan Âm lộ thiên ở trên. B́nh phong cách Tiền đường và Chánh điện một sân bông. Tiền đường và Chánh điện Tổng cộng bề ngang 12m và bề sâu 18m. Thiết kế ngôi chùa bên trong bởi nhiều kèo cột gỗ như " Chồng rường giả thủ" thuộc phong cách Tàu, "Cột trốn kẻ chuyện" thuộc phong cách Việt. Bức tường chùa dày 30cm, mùa hạ ít nóng mùa đông ít lạnh. Hai bên hông Tiền đường và Chánh điện là hai đường thông hành chạy thẳng ra phía sau nhà Tổ. Chánh điện nằm ngay giữa cân đối, hợp lí, một đặc trưng phổ biến trong kiến trúc phố cổ Hội An. Trước hiên chùa có 2 câu đối:

Câu 1 :
Chúc Nam quốc Chí tôn tứ hải nhơn dân hàm khể thủ
 Thánh Tây Phương liên ṭa nhứt đàn Tăng chúng Tổng qui y.

Dịch nghĩa:
Chúc đấng Chí tôn Nam Quốc, bốn bể nhân dân đều cung kính
Thánh ngự ṭa sen Tây Phương, một đàn Tăng chúng thảy qui y.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 2:
Chúc đối Linh sơn vạn cổ vĩnh truyền tâm diệu lí
Thánh khai Pháp thủy thiên thu kế tục tánh chơn như.

Dịch nghĩa:
Chúc sánh Linh sơn muôn thuở măi truyền tâm diệu lí
Thánh mở nước Pháp ngàn năm tiếp nối tánh chơn như.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Mái chùa lợp bằng ngói âm dương uốn cong, mềm mại, trên chóp đỉnh là một cặp rồng quay mặt vào nhau đang rướn ḿnh đến mặt trời chính giữa. Phía sau 2 con rồng là 2 con phụng đang bay ra mà ngoảnh đầu nh́n lại. Tiếp xuống  hiên mái chùa trang trí những hoa văn, chạm trổ những h́nh ảnh Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến nhập diệt và góc cuối cùng của mái hiên là 2 con kỳ lân đang đứng quay mặt ra phía trước.

            Bên trong, giữa Chánh điện và Tiền đường được liên kết với nhau bằng một máng xối đúc và 4 hàng cột gỗ cho cả 2 bên. Trên hàng cột của Tiền đường là 4 bức hoành phi sơn son thiếp vàng, cẩn chạm xà cừ; Một tấm ngay trước cửa Tiền đường quay vô do Ḥa Thượng Phước Huệ tặng vào năm Giáp Tuất gồm 4  chữ:    Phật Pháp chánh chương, c̣n lại 3 tấm treo ở 3 gian quay mặt ra, tấm giữa đề tên ngôi chùa  Sắc tứ Chúc Thánh tự, tấm bên phải? Tổ ấn trùng quang và tấm bên trái Ân quang phạm vức. Dưới nền Tiền đường, hai bên hông tường gắn 4 tấm bia, nội dung ghi sơ lược lại những lần trùng tu ngôi chùa và các phương danh các chùa, đạo hữu đóng góp xây dựng. Ngoài ra, trong Chánh điện c̣n có trống lớn, trống nhỏ, đại hồng chung, tiểu hồng chung. Đại hồng chung được đúc vào năm Giáp Ngọ ( 1894), được dưới sự chứng minh của các Ḥa Thượng Vĩnh Gia, Chí Thành, Quảng Đạt, Quảng Viên và Bát Nhă. Đại hồng chung cao 120cm, đường kính rộng 55cm. Trong đại hồng chung có khắc niên đại đúc chung, các Ḥa Thượng chứng minh, các bài kệ phục nguyện về “ Chúc Hoàng đồ vĩnh cố, Đế đạo hà xương ...”.

            Chánh điện, gian giữa bàn phía trên cao thờ 3 tượng Phật gọi là tượng Tam Thế, bàn dưới thờ tượng đức Phật Di Lặc và 2 bên là A Nan và Ca Diếp. Hai gian 2 bên, trong cùng là 2 tượng Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, mỗi tượng cao 1m 75 (không tính đế). Ra ngoài, hai bàn kế tiếp là 18 vị A La Hán (mỗi bên 9 vị) và phía bên ngoài cùng là 2 tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện, mỗi tượng cao 1m 75 (không tính đế). Những tượng trên có niên đại cao, đa số làm bằng hợp chất. Chánh điện  chỉ có một bức hoành để tên chùa làm vào Thành Thái năm thứ 4 . Cả Chánh điện và Tiền đường gồm có 5 câu đối ( tính thứ tự từ ngoài vào):

Câu 1 :

Tử trúc lâm trung mỗi dĩ  kim thằng khai giác lộ
Thanh liên ṭa thượng trường tương bảo phiệt độ mê tân.

Dịch nghĩa:

Trong rừng trúc biếc mỗi lấy dây vàng mở  lối giác
Trên ṭa sen xanh thường đem bè báu độ người mê.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 2:
Chúc thiên thu cửu phẩm hương liên tự tại
Thánh Thiên tử vạn gia cam lộ đồng triêm.

Dịch nghĩa:
Chúc ngàn năm chín phẩm hương sen tự tại
Thánh Thiên tử muôn nhà cùng thấm cam lồ.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 3 :
Tam Tạng kinh văn giai sử nhứt tâm qui Chánh Pháp
Thiên ban cụ diệp tổng huề vạn tượng hướng Chơn Như.

Dịch nghĩa:
Ba tạng kinh văn đều khiến nhất tâm về Chánh Pháp
Ngàn thiên lá bối thảy xoay muôn vật hướng Chơn Như.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 4 :
Cửu phẩm liên đài Kim tướng đoan nghiêm thùy tiếp dẫn
Thất trùng bảo thọ Ngọc hào xán lạng phóng quang minh.

Dịch nghĩa:
Chín phẩm đài sen Kim tướng đoan nghiêm thương tiếp dẫn
 Bảy hàng cây báu Ngọc hào sáng lạng phóng quang minh.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 5:
Cửu phẩm liên hoa sư hống tượng minh đăng Bảo ṭa
Tam tôn pháp tướng long ngâm hổ khiếu xuất Thiên Thai.

Dịch nghĩa:
Chín phẩm hoa sen voi sư ( tử) cung nghinh đăng Bảo ṭa
Tam tôn pháp tướng rồng cọp kêu gọi xuất Thiên Thai.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

* Hậu tẩm, Đông phương tượng, Tây phương tượng và Tổ đường:

            Dọc theo 2 đường thông hành từ Chánh điện ra phía sau là Hậu tẩm. Hậu tẩm, gian giữa thờ đức Địa Tạng đang cầm trên tay quả minh châu ngồi trên lưng con sư tử rất hùng hồn, tượng cao 2m, những nét áo, hoa văn chạm trổ rất mĩ thuật. Hai gian 2 bên là bàn thờ Phổ Liên Hoa và Ái Sở Thân. Trước bàn Địa Tạng là sân lộ thiên rộng 7m, dài 10m, dùng để đặt các loại hoa, cây cảnh quư. Hai bên sân là Đông phương tượng dùng để Tăng chúng ở và Tây phương trượng để thờ hương linh. Bước qua khỏi sân là đến Tổ đường. Tổ đường này mặc dù đă có từ lâu nhưng chỉ trong h́nh thức đơn sơ, măi đến các đời Ngài Chương Khoáng, Chơn Chứng ngôi Tổ đường mới trở nên qui mô khang trang hơn. Tổ đường bề ngang 11m, bề sâu 9m tính cả đường thông hành vây quanh . Đường thông hành chủ yếu để làm nơi nghỉ ngơi của hàng Tăng chúng các nơi mỗi khi tề tụ về đây an cư kiết hạ và cũng là nơi bảo tồn các kinh sách, bảng gỗ kinh cũ. Ngay chính giữa Tổ đường là nghi án thờ long vị các vị Tổ sư trú tŕ từ Tổ Minh Hải trở xuống. Nghi án bằng gỗ, những nét chạm trỗ và sơn son thiếp vàng rất công phu. Trên nghi án có 4 chữ thủy thanh nguyệt hiện. Chính giữa nghi án là long vị và di ảnh của Tổ sư Minh Hải, tiếp theo 2 bên là long vị lịch đại chư vị trú tŕ từ cao xuống thấp. Quanh nghi án trang trí những bộ bê tích trượng và các b́nh bát của các vị ngày xưa dùng để thọ thực. Trên cửa Tổ đường một bức hoành quay vô gồm 4 chữ: Tổ ấn lưu huy. Chính giữa phía trên cao quay ra 3 bức hoành; bức giữaThích trạch vinh triêm, hai tấm hai bên là Hoa vũ di thiên và Phật pháp tôn nghiêm. Dăy cuối cùng cũng 3 bức; bức giữa Tổ Tổ tương truyền, hai bức hai bên   Tích thụ kim hoa và   Lộ ác đàm hoa. Phía dưới, bên phải nghi án Tổ là bàn thờ để thờ Tăng chúng quá cố, bên trái là Phổ Liên Hoa, phía trước là  Phổ Phật Sanh và Phổ Triều Âm. Rường cột Tổ đường toàn bằng gỗ, mỗi cột treo câu đối tính thứ tự từ ngoài vào:

Câu 1:
Chúc Thánh triệu sơ cơ mộ cổ thần chung khai giác lộ
Cao Tăng phu quảng ṭa quang phong tiêu nguyệt ấn thiền tâm.

Dịch nghĩa:
Chúc Thánh mới dựng lập, khuya sớm trống chuông mở đường giác
Cao Tăng trải pháp toà, đêm ngày trăng gió in tâm thiền.
TT Thích Hạnh Niệm dịch

Câu 2 :
Phật xuất Tây phương pháp diệu túc trung tạng thế giới
Tổ lai Nam quốc đạo truyền đăng hạ măn thiền lâm.

Dịch nghĩa:
 Phật tại Tây phương nói pháp vi diệu trùm pháp giới
Tổ đến nước Nam truyền đạo đầy khắp chốn thiền lâm.
Thích Hạnh Thiện dịch.

Câu 3:
Liên ṭa vân khai hương đáo thiên đ́nh long sủng mạng
Dương chi lộ ấp căn tài địa ấm phát kim hoa.

Dịch nghĩa:
Mây mở ṭa sen, hương đến thiên đ́nh hưng mạng vận
Cành dương nhuần thấm bóng che gốc rễ trổ hoa tươi.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Câu 4: 
Hách trạc thanh linh thiên cổ ngưỡng
Tôn nghiêm sư phạm ức niên khâm.

Dịch nghĩa:
Thanh linh oai vệ ngàn xưa đều kính  ngưỡng
Sư phạm tôn nghiêm muôn thuở măi khâm sùng.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

* Đông đường, Tây đường:

            Đông đường và Tây đường nằm 2 bên trước sân Tiền đường, nối liền với Tiền đường một cái nhà gọi là nhà cầu ( cầu bắt ngang giữa Tiền đường và Đông đường, Tây đường). Chiều dài Đông đường và Tây đường dài 11m, nhưng bề rộng của Tây đường chỉ 6 m và Đông đường đến 9m, trên mái của 2 bên đều lợp ngói âm dương, bên trong là rường cột gỗ. Tây đường chỉ để thờ linh và Tăng chúng tu học, Đông đường là nơi tiếp khách, gian giữa là bàn Giám Trai thờ đức Đạt Ma. Trước bàn Giám Trai treo trên cao một bức hoành 4 chữ: Thiên vũ bảo hoa. Hai bức phía trước là Nhựt phương thăng và Huệ nhựt quang vinh. Đông đường chỉ có 2 câu đối:

Phiên âm:
Chúc thánh thọ vô cương thiền lâm vĩnh mậu
 Hộ Pháp luân thường chuyển hải chúng đồng vinh.

Dịch nghĩa:
Chúc Thánh thọ an khương rừng thiền măi tươi tốt
Hộ xe Pháp thường xoay hải chúng cùng hiển vinh.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

Phiên âm:
Cơ tải phụng hành thiền pháp giới
Tha thần kỳ thọ Phật tâm trai.

Dịch nghĩa:
Bao năm phụng hành thiền môn giới pháp
Ngày sau thọ hưởng Phật Tổ tâm trai.
TT Thích Hạnh Niệm dịch.

* Những ngôi tháp Tổ:

Bia tháp quanh vườn chùa trên dưới 20 cái. Đó là những nơi tôn trí nhục thân của chư vị Ḥa Thượng, Thượng Tọa... đă quá cố. Tháp Tổ Minh Hải cao nhất gồm 7 tầng, cao 15m, tiếp xuống là những tháp 5 tầng, 3 tầng và 1 tầng. Những tháp này v́ thời gian nên có cái bị hư sửa lại, lại có cái chỉ c̣n một tấm bia....Như tháp của Ngài Đại Dơng (Siêu Căn) chỉ c̣n lại một tấm bia nhỏ, những chữ trong bia cũng đă bị phai nhạt.

Ngoài ra, trong vườn chùa c̣n có ngôi mộ song thân của Tổ Minh Hải là Ông Lương Đôn Hậu và bà Trần Thục Thận. Ngôi mộ nằm chệch về phía trước tháp Tổ.

2.3.5.Các kinh sách đang được bảo tồn.

Chùa Chúc Thánh bị ảnh hưởng nhiều biến cố lịch sử, v́ vậy mà các kinh sách do các vị Tổ sư để lại đă bị thất lạc đi rất nhiều. Song, trong chùa hiện nay vẫn đang c̣n giữ được 3 tủ sách. Trong đó có 2 tủ sách chỉ có niên đại xuất bản khoảng hai mươi mấy năm trở lại đây. V́ vậy không liệt kê những sách này ra đây, nhưng chỉ liệt kê tủ sách thứ 3, bởi v́ những sách này chỉ có giá trị niên đại xuất bản từ năm mươi năm trở về trước và hoàn toàn bằng chữ Hán

            -Những sách thuộc về kinh Tạng:

            . Kinh Đại Bảo Tích  24 quyển.

            . Kinh Hiền Ngu Nhân Duyên 3 quyển.

            . Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân 2 quyển.

            . Kinh Ma Ha Bát Nhă 10 quyển.

            . Kinh Thọ Mạng Đà La Ni 1 quyển.

            . Kinh Thọ Mạng Hồng Danh Vu Lan Bồn 1 quyển.

            . Kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật2 quyển.

            . Kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ1 quyển.

            . Kinh Di Giáo và Tứ Thập Nhị Chương   2 quyển.

            . Kinh Kim Quang Minh 7 quyển.

            . Kinh Dược Sư Lưu Li Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức 1 quyển.

. Kinh Vô Lượng Thọ  1 quyển.

            -Những sách thuộc về Luật tạng:

            . Tứ Phần Giới Bổn  1 quyển.

            . Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Lược giải 1 quyển.

            . Qui Sơn Cảnh Sách Cú Thích kư 2 quyển.

            . Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu1 quyển.

            . Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới  1 quyển.

            . Thiền  Môn Cảnh Huấn   3 quyển.

            - Những sách thuộc về luận Tạng:

            . Đại Trang Nghiêm Kinh Luận 3 quyển.

            . Đại Phương Tiện Báo Ân Kinh Chú Nghi 3 quyển.

            . Phật Học Đại Từ Điển15 quyển.

            . Qui Nguyên Trực Chỉ Tăng Bổ Âm Nghĩa  2 bộ 6 quyển.

            . Thích Ca Như Lai Ứng Hóa Sự Tích  6 quyển.

            . Phật Thuyết A Di Đà Kinh Sớ Sao  4 quyển.

            - Kim Cang Kinh Chú Giải 3 quyển.

 Trên là những quyển sách có giá trị cả nội dung và niên đại. C̣n lại trên 85 đầu sách khác cũng có niên đại tương tự thuộc 3 tạng kinh, luật, luận và một số khác thuộc về những nghi thức thiền môn, công văn, khoa nghi, ngữ lục ... Những sách này mặc dù không nhiều lắm so với kho tàng Tam tạng giáo điển của Phật giáo, nhưng nó cũng đánh giá phần nào về sự phát triển giáo dục và học tập của Tăng chúng tại chùa này trước đây.

 Chương 3

SỰ TRUYỀN THỪA CỦA THIỀN PHÁI MINH HẢI TẠI

TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH(QUẢNG NAM)VÀ TẠI B̀NH ĐỊNH

Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ đầu tiên mang ḍng thiền từ Ấn Độ sang truyền bá tại Trung Hoa. Ḍng thiền này sau này lại chia ra làm năm phái: Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Qui Ngưỡng và Pháp Nhăn. Thiền phái Lâm Tế là một trong những thiền phái rất nổi tiếng và phát triển cho đến nay. Thiền sư Minh Hải là thuộc thiền phái Lâm Tế này. Nếu tính theo phổ hệ truyền thừa từ Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma th́ ngài Minh Hải thuộc đời thứ 70, nhưng tính từ ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền th́ ngài Minh Hải thuộc vào đời thứ 34. Bởi v́ thiền sư Vạn Phong (Thời Ủy) thuộc Lâm Tế Tông đời thứ 21, có đệ tử là Tổ Định (Tuyết Phong) đời thứ 22, vị này lại biệt xuất ḍng kệ mới là:

                                       Tổ đạo giới định tông

                                      Phương quảng chứng viên thông

                                      Hành siêu minh thật tế

                                      Liễu đạt ngộ chơn không.

Ngài Minh Hải nhằm vào chữ thứ 13. V́ vậy, Ngài mới có pháp danh là Minh Hải, Lâm Tế tông đời thứ 34. Ngài Minh Hải đến Việt Nam th́ biệt xuất ra hai bài kệ khác để truyền thừa đó là một bài tại Hội An (Quảng Nam) và một bài tại B́nh Định. Hai bài kệ này ngày nay đă truyền đến chữ thứ 11, 12, tức là Lâm Tế tông đời thứ 44, 45. Sau đây là sơ lược vài nét về sự truyền thừa của hai kệ phái này.

3.1. KỆ PHÁI TRUYỀN THỪA TẠI TỔ Đ̀NH CHÚC THÁNH VÀ QUẢNG NAM.

Như đă tŕnh bày, sự truyền thừa tại Quảng Nam hiện nay vẫn chưa có một phổ hệ nào được tŕnh bày một cách đầy đủ. Nguyên do v́ trải qua thời kỳ chiến tranh, tại Tổ đ́nh Chúc Thánh nói riêng và các Tổ đ́nh tại Hội An nói chung, những sử sách bị thất lạc đi rất nhiều, thậm chí có những ngôi chùa đă bị san bằng không c̣n một chút di tích nào cả, như chùa Kim Sa, chùa Kim Liên.v.v... Tất cả chỉ c̣n lại là áng mây mù trong lịch sử. Tuy vậy, nhưng hiện nay trong ba ngôi Tổ đ́nh chính yếu tại Quảng Nam, đó là Tổ đ́nh Vạn Đức, Phước Lâm  và Chúc Thánh vẫn c̣n giữ lại một số di vật quí báu của Tổ, đặc biệt là những bảng in gỗ, những tấm bia đá, các long vị thờ trên bàn Tổ. Phổ hệ truyền thừa ḍng Lâm Tế  Minh Hải tại Quảng Nam mà người viết tŕnh bày sau đây th́ cũng không ngoài những chứng tích lịch sử trên.

3.1.1 Bảng liệt kê các vị Tổ sư trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh.

STT

Thời gian

Pháp danh

Năm sinh

Năm tịch

1

2

3

4

5

6

7

8

9

1697-1746

1746-1809

1809- ?

? - ?

? - 1893

1893-1903

1903-1914

1914-1962

1962-

Minh Hải - Đắc Trí

Thiệt Diệu- Chánh Hiền

Đại Dơng- Siêu Căn

Toàn Nhâm - Vi Ư

Chương Đạo- Tuyên Tùng

Chương Khoáng-Tuyên Điền

Ấn Bính- Tổ Thuận

Chơn Chứng - Đạo Tâm

Như Truyện- Giải Lệ

1670

?

?

1798

1851

1833

1865

1881

1909

1746

1809

?

1883

1893

1903

1914

1962

 

3.1.2. Vài nét về Chư vị Ḥa Thượng trú tŕ .

            - Ḥa Thượng Minh hải tự  Đắc Trí tặng Pháp Bảo (1670-1746).

Ḥa Thượng thế danh là Lương Thế Ân, sinh vào giờ Tuất ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) tại huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Ngài xuất gia tại chùa Báo Tư (Trung Quốc) thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 và đến Việt Nam khai sơn Tổ đ́nh Chúc Thánh vào năm 1697 tại làng Cẩm Phô, phủ Điện Bàn (nay là thị xă Hội An).

Ngài có rất nhiều đệ tử xuất gia xuất sắc, nhưng chỉ có Ngài Thiệt Diệu (Chánh Hiền) được Ngài chọn kế vị trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh, tiếp nối ḍng Lâm Tế đời 35.

Ngài thị tịch vào giờ Dậu ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), thọ 77 tuổi.

 - Ḥa Thượng Thiệt Diệu tự Chánh Hiền ( ?-1809).

 - Ḥa Thượng Thiệt Diệu là một trong những vị đệ tử lớn của Tổ Minh Hải, quê tại huyện Đồng An, phủ Tuyền Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc.

Ngài kế vị trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh ngay sau khi Tổ Minh Hải viên tịch. Ngài sinh năm nào th́ không rơ nhưng căn cứ vào long vị của Ngài th́ Ngài tịch vào năm Kỷ Tỵ (1809) .

 - Ḥa Thượng Đại Dơng ( Siêu Căn).

Ngài Đại Dơng là đệ tử của Ngài Thiệt Diệu (Chánh Hiền) thuộc thiền phái Lâm Tế đời 36, Ngài kế vị trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh có thể ngay sau khi Bổn sư của Ngài viên tịch.

Tháp của Ngài hiện nay chỉ c̣n lại một tấm bia đă quá cũ. Trên tấm bia có khắc bài kệ chữ Nho của Ngài:

Bài kệ:

Phiên âm:

Kỷ thập dư niên thuận thế t́nh

Linh triêu nhứt giác biện vô minh

Vô vô minh tận quang thỉ hiện

Chí linh chí trạm bổn vô sanh.

Dịch nghĩa:

Đă mấy mươi năm thuận thế t́nh

Bây giờ đă rơ chuyện vô minh

Không vô minh hết tâm kia sáng

Chí linh chí trạm vốn không sinh.

TT Thích Hạnh Niệm dịch.

- Ḥa Thượng Toàn Nhâm tự Vi Ư hiệu Quán Thông (1798-1883).

Ḥa Thượng họ Nguyễn, sinh năm Mậu Ngọ (1798) tại tỉnh Quảng Nam. Ngài sinh ra trong một gia đ́nh thuần túy Phật giáo. Từ thuở ấu thơ, Ngài đă mến cảnh thiền môn kinh kệ, nên Ngài lớn lên liền đến chùa Phước Lâm xin thọ giáo với Ḥa Thượng Pháp Liêm(Luật Oai) hiệu Minh Giác với pháp danh là Toàn Nhâm, pháp tự Vi Ư và pháp hiệu là Quán Thông, tiếp nối đời thứ 37 thiền phái Lâm Tế.

Ngài rất được Bổn sư tâm đắc, nên vào năm 1830, Ngài được kế thế trú tŕ chùa Phước Lâm và sau đó kiêm trú tŕ chùa Chúc Thánh. Ngài có đệ tử cầu pháp rất nổi tiếng sau này là Ḥa Thượng Vĩnh Gia và nhiều Tăng đồ đệ tử khác.

Cuộc đời hạnh đạo của ngài đă đóng góp rất nhiều Phật sự to lớn tại Quảng Nam. Ngài thị tịch vào năm Quí Mùi (1883) thọ 86 tuổi (6.98).

- Ḥa Thượng Chương Đạo tự Tôn Tùng hiệu Quảng Viên (1851-1893).

Ḥa Thượng Chương Đạo thế danh là Huỳnh Tấn Tùng, sinh năm Tân Hợi (1851) tại làng Trung Phường (nay là xă Duy Hải Huyện Duy Xuyên) tỉnh Quảng Nam.

Ngài mồ côi mẹ từ thuở lên 10 tuổi và được phụ thân cho đến chùa Phước Lâm tại Hội An (Quảng Nam) xin làm đệ tử Ḥa Thượng Toàn Nhâm (Vi Ư) hiệu Quán Thông. Sau thời gian tu học tinh tấn, Ngài được Bổn Sư cho pháp danh là Chương Đạo, pháp tự Tôn Tùng pháp hiệu Quảng Viên tiếp nối ḍng thiền Lâm Tế đời thứ 38.

  với Bổn Sư một thời gian, sau Ngài được thỉnh về làm trú tŕ chùa Chúc Thánh. Tại đây, Ngài có rất nhiều tín đồ Phật tử theo học và nhiều đệ tử xuất gia xuất sắc làm rạng danh Phật Pháp sau này như các vị Ấn Nghiêm, Ấn Hoa, Ấn Bính...

Ngài viên tịch vào ngày 14 tháng 12 năm Quí Tỵ (1893), hưởng dương 43 tuổi. Nhục thân Ngài được tôn trí và xây tháp thờ ở phía Tây - Nam trước chùa Chúc Thánh (6.99).

- Ḥa Thượng Chương Khoáng tự Tuyên Điền (1833-1903).

Ḥa Thượng họ Dương, sinh vào giờ Tuất ngày 15 tháng 10 năm Quư Tỵ (1833), tại huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam.

Có thể Ngài là đệ tử của Ḥa Thượng Toàn Nhâm (Vi Ư), nên Ngài thuộc Lâm Tế đời 38. Ngài kế vị trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh vào năm Quí Tị (1893).

Ngài viên tịch vào ngày mồng 9 tháng 2 năm Quí Mẹo (1903), hưởng thọ 71 tuổi. Tháp Ngài hiện nay ở phía đông trước chùa Chúc Thánh.

- Ḥa Thượng Âún Bính tự Tổ Thuận hiệu  Phổ Bảo ( 1865- 1914 ) .

Ḥa Thượng họ Đinh, sinh vào giờ Tư ngày mồng 8 tháng 11 năm Ất Sửu  (1865).

Ngài là đệ tử  của Ḥa Thượng Chương Đạo ( Quảng  Viên ), tiếp nối Thiền Lâm Tế đời 34. Ngài kế vị trú tŕ Tổ đ́nh Chúc Thánh vào năm Quí Tỵ (1893). Trải qua 11 năm  trú tŕ, Ngài thấy sự vô thường  đă đến nên Ngài giao lại ngôi Tổ đ́nh cho một vị đệ tử lớn là Ḥa Thượng Thiện Quả rồi an nhiên thị tịch vào năm Giáp Dần ( 1914 ), thọ 50 tuổi. Môn đồ đệ tử xây tháp và tôn trí nhục thân  của Ngài phía Đông trước chùa Chúc Thánh.

- Ḥa Thượng Chơn Chứng tự Đạo Tâm hiệu Thiện Quả (1881-1962).

Ḥa Thượng thế danh là  Lương Văn Y, sinh ngày 23 tháng chạp năm Tân Tị(1881) tại xă B́nh An huyện Thăng B́nh tỉnh Quảng Nam.

Ngài sinh ra trong một gia đ́nh thuần phong cả Nho giáo và Phật giáo. Thân sinh của Ngài là ông Úy Nguyên pháp danh Chương Tái, tự Tuyền Lai và bà Đỗ Thị Toại. Lúc mới sinh ngài có tướng mạo thật đoan trang, thông minh xuất chúng. Lúc lên 10 tuổi, Ngài có ư muốn xuất gia và được song thân cho gởi đến chùa Hội Phước tại xă Thanh Chiêm  huyện Điện Bàn (Quảng nam) để xuất gia.

Tại chùa Hội Phước, Ngài luôn tinh tấn tu học, nên đến năm 15 tuổi Ngài được gởi đến Tổ đ́nh Chúc Thánh đầu sư chính thức qui y với Ḥa Thượng Phổ Bảo có pháp danh là Chơn Chứng. Năm 17, tuổi Ngài tham học tại chùa Tam Thai gần 4 năm,  năm 24 tuổi thọ giới Sa Di tại chùa Từ Quang tỉnh Phú Yên có pháp tự là Đạo Tâm. Năm Canh tuất (1910), Ngài được thọ Cụ túc giới giới trong một đại giới đàn do Ngài Vĩnh Gia làm đàn đầu. Sau khi thọ giới, Ngài lên đường tầm sư học đạo. Ngài đă vào tỉnh Phú Yên ở tại chùa Từ Quang để tham học kinh luật. Ḥa Thượng Vĩnh Gia nh́n thấy tương lai của Ngài sáng lạng, do đó đă phú pháp và đặt pháp hiệu là Thiện Quả.

Ngài tham học tại Phú Yên được một thời gian th́ Ḥa Thượng  Bổn sư Phổ Bảo triệu hồi Ngài về để kế vị trú tŕ trong khi Ḥa Thượng đă tuổi cao sức yếu. Sau khi Ngài về làm trú tŕ một thời gian ngắn, tài đức của Ngài đă vang xa, nên vào ngày mồng 8 tháng 9 năm Khải Định thứ 5 (1920), Tổ đ́nh Chúc Thánh lănh sắc tứ do vua ban.

Năm Mậu Ngọ (1918), Ngài làm Tôn chứng trong đại giới đàn tại chùa Báo Quốc (Huế). Năm Mậu Th́n (1928), Ngài được thỉnh làm giáo thọ A-xà-lê trong đại giới đàn tại chùa Từ Vân (Đà Nẵng). Đến năm Bảo Đại thứ tám, ngày mồng 8 tháng 6  bộ lễ Nam triều đă chuẩn cho Ngài chức Tăng Cang và cấp giấy đại đố điệp.

Phong trào chấn hưng Phật giáo Miền Trung bắt đầu lan rộng th́ Ngài được quí Ḥa Thượng mời Chứng minh đạo sư Hội An Nam Phật Học tại Quảng Nam. Năm Bảo Đại thứ 11, ngày mồng 6 tháng 4, bộ lễ Nam triều cấp bằng Tăng Cang kiêm Tam Thai, Linh Ứng nhị tự . Năm Kỷ Tị (1929), Ngài phát nguyện đại trùng tu ngôi Phương trượng Tổ đường. Vào năm Giáp Ngọ (1954), Ngài tiếp tục đại trùng tu ngôi Chánh Điện, Đông đường, Tây đường, khiến tổ đ́nh Chúc Thánh được trở nên khang trang hơn, tồn tại cho đến ngày nay.

Hạnh nguyện của Ḥa Thượng Thiện Quả luôn đặt vào hai trọng tâm chính, đó là đào tạo Tăng tài và xây dựng chùa tháp. V́ vậy, Ngài đă có rất nhiều đệ tử  xuất sắc đă không  những đi hoằng hóa các tỉnh phía Nam trong nước mà c̣n đến cả các nước Miên, Lào... Vào mùa hạ ngày mồng 6 tháng 7 năm Nhâm Dần (1962), Ngài an nhiên thị tịch, thọ 82 tuổi.

- Ḥa Thượng Như Truyện tự Giải Lệ hiệu Trí Nhăn ( 1909-   ) .

Ḥa Thượng thế danh là Đoàn Thảo, sinh năm  Kỷ Dậu (1909) tại xă Cẩm Hà, thị xă Hội An tỉnh Quảng Nam.

 Ngài một trong những  vị đệ tử lớn của Ḥa Thượng Thiện Quả. Ngài đă làm phó trú tŕ khi Bổn Sư của Ngài c̣n tại thế và đến năm Nhâm Dần (1962) Ḥa Thượng Bổn Sư viên tịch, Ngài kế vị trú tŕ đến ngày nay.

3.2. Vài nét về kệ phái truyền thừa tại B́nh Định.

3.2.2. Vài nét về chư vị Ḥa Thượng hoằng hóa tại B́nh Định .

- Ḥa Thượng Thiệt Đăng tự Chánh Trí (1639 - 1722).

Ḥa Thượng Thiệt Đăng sinh giờ Tư ngày mồng 8 tháng 5 năm Kỷ măo (1639). Ngài khai sơn thiền thất Giang Long (nay là Tổ đ́nh Sơn Long) tại Quy Nhơn (B́nh Định), tiếp nối ḍng Lâm Tế Minh Hải đời 35.

Ngài thị tịch vào giờ Th́n ngày 21 tháng giêng năm Nhâm Dần (1722), thọ 84 tuổi. Môn đồ đệ tử xây tháp và tôn trí nhục thân của Ngài tại đồi Trường Úc, hướng Bắc Tổ đ́nh Sơn Long.

-Ḥa Thượng Pháp Chuyên tự Luật Truyền hiệu Diệu Nghiêm(1738-1810).

Ḥa Thượng Pháp Chuyên (Luật Truyền) họ Trần, sinh ngày mồng 2 tháng 4 năm Mậu Ngọ(1738) tại Quảng Nam.

Đă có duyên với Phật pháp từ rất sớm, nên lúc 5 tuổi, Ngài không ăn mặn được, bản chất  thông minh, tướng mạo tuấn tú. Ngài theo học Nho giáo và đă ra làm quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát (chúa Vũ).

Vào cuối đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765), triều đ́nh suy yếu, bọn quan lại  tham nhũng, dân t́nh đói khát. Nhân đó, Ngài xem tuồng “Tam trinh cố sự” và “Long hổ sự duyên”, Ngài liền tỉnh ngộ, thấy được sự vô thường khổ đau của cuộc đời, danh vọng, chức quyền chỉ là giấc mộng có rồi không. Ngài liền cởi áo từ quan, về nhà thưa cha mẹ xuất gia tu hành. Được cha mẹ thuận ư, Ngài đến chùa Phước Lâm tại Hội An (Quảng Nam) xin qui y với Ḥa Thượng Thiệt Dinh (Chánh Hiển) hiệu Ân Triêm để tu học. Tại đây, Ngài tu học rất tinh tấn, nên được Bổn Sư cho thọ giới với pháp danh là Pháp Chuyên, pháp tự Luật Truyền và pháp hiệu Diệu Nghiêm, tiếp nối đời 36 ḍng Lâm Tế.

Sau một thời gian tu học với Ḥa Thượng Chánh Hiển, Ngài chu du khắp chốn thiền môn, tham vấn các bậc Cao Tăng thạc đức. Ngài c̣n vào đến chùa Thập Tháp tại B́nh Định tham học với ngài Liễu Triệt. Sau đó, Ngài về làm trú tŕ chùa Từ Quang tại núi Đá Trắng, Sông Cầu, Phú Yên.

Trong thời gian làm trú tŕ, Ngài lại tiếp tục nghiên cứu kinh điển và chú giải rất nhiều kinh, luật có giá trị. Ngoài ra, Ngài c̣n đi thuyết giảng Phật Pháp ở nhiều chùa khác tại Phú Yên. Ngài có 28 đệ tử tiếp nối ḍng Lâm Tế đời 37, như Ngài Toàn Nhật (Quang Đài), Quảng Giác, Quảng Văn....

Mùa hạ, ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1810), Ngài cảm thấy đến lúc phải về, nên Ngài dạy bảo đồ chúng rồi an nhiên thị tịch, thọ 73 tuổi, sau khi Ngài nói xong bài kệ (3.13).

Lai nhi vị tằng lai

Khứ nhi vị tằng khứ

Khứ lai bổn như như

Như như hoàn lai khứ.

Dịch nhĩa:

Đến mà chưa từng đến

Đi cũng chẳng từng đi.

Đến đi vốn như như

Như như lại đến đi.

TT Thích Hạnh Niệm dich.

- Ḥa Thượng Toàn Nhật hiệu Quang Đài.

Ḥa Thượng Toàn Nhật hiệu Quang Đài hiện chưa rơ Ngài sinh năm nào, mất năm nào và quê quán tại đâu. Nhưng chỉ biết Ngài là đệ tử của Ḥa Thượng Pháp Chuyên (Luật Truyền) đời Lâm Tế 37.Đặc biệt, ngài Toàn Nhật hiệu Quang Đài đă để lại nhiều tập thơ thiền rất hay bằng chữ Hán và chữ Nôm.

Qua các tập thơ của Ngài th́ tác giả Nguyễn Hiền Đức trong “Lịch Sử Phật giáo Đàng Trong” đoán rằng: Ngài Toàn Nhật hiệu Quang Đài sinh vào khoảng năm 1788 -1798, theo học chữ Nho từ lúc 12 tuổi, đến năm 30 tuổi th́ theo học phép thiền và xuất gia tại chùa Từ Quang ở núi Đá Trắng, Sông Cầu, Phú Yên.

Bước đầu, Ngài tŕ tụng kinh Pháp Hoa, về sau Ngài nghiên cứu biên soạn và chú giải nhiều kinh sách, Ngài c̣n là bậc Pháp sư giảng thuyết kinh điển. Năm 43 tuổi, Ngài bắt đầu viết sách và làm thơ thiền. Quyển đầu tay của Ngài là quyển Tam Giáo Nguyên Lưu Kư.

Sau khi Bổn Sư tịch, đến thời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777), dân chúng loạn lạc, Phật giáo suy đồi, Ngài phải phiêu lưu đây đó để lánh nạn và khất thực tu hành.

Đến đời vua Gia Long (1802-1820), Phật giáo được thịnh hành trở lại, Ngài tiếp tục viết sách và làm thơ thiền, thuyết giảng giáo lí cho đến ngày viên tịch (3.16).

 

 KẾT LUẬN

Nghiên cứu về Thiền sư Minh Hải và Tổ đ́nh Chúc Thánh tại Hội An (Quảng Nam), chúng ta có thể rút ra vài kết luận cơ bản sau đây:

1. Thiền sư Minh Hải (Pháp Bảo) là một trong những vị Thiền sư người Trung Quốc đầu tiên truyền bá Thiền phái Lâm tế tại Hội An. Thiền sư Minh Hải đến hoằng hóa Phật pháp không chỉ dừng lại nơi sứ mạng của một đệ tử ḍng Thiền Lâm tế, mà c̣n thể hiện sự ḥa nhập của ḿnh đối với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngài đă xuất kệ truyền thừa, tạo nên một chi phái riêng tại Việt Nam, kệ phái mang ư nghĩa chúc tụng của một Thiền sư Hoa kiều đối với một quốc gia chủ quyền, thể hiện sự sùng mộ Phật giáo của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo Đàng Trong:”Chúc Thánh thọ thiên cửu, kỳ quốc tộ địa trường”.

Sự xuất hiện của Thiền sư Minh Hải tại Hội An vào cuối thế kỷ XVII là một bước ngoặt trong lịch sử Phật giáo Quảng Nam nói riêng và lịch sử Phật giáo Đàng Trong nói chung. Bước ngoặt ấy được nh́n thấy qua sự truyền thừa các thế hệ, như Ngài Thiệt Dinh (Chánh Hiển) khai sơn Tổ đ́nh Phước Lâm tại Hội An, Ngài Thiệt Đăng (Chánh Trí) khai sơn Tổ đ́nh Sơn Long tại Quy Nhơn (B́nh Định), Ngài Pháp Hóa (Luật Đạt) khai sơn Tổ đ́nh Thiên Ấn tại Quảng Ngăi... Những ngôi Tổ đ́nh đó ngày nay đă trở thành những di sản văn hóa có giá trị. Hơn  thế nữa, thiền phái Minh Hải đă sản sinh ra rất nhiều Danh Tăng, phát huy mạnh mẽ Phật giáo Đàng Trong và góp phần vào việc chống giặc ngoại xâm đem lại ḥa b́nh cho dân tộc, như các Ngài Pháp Liêm (Minh Giác), Ngài Thị Thủy (Quảng Đức)...

2. Chúc Thánh là ngôi tổ đ́nh chính, nơi đầu tiên phát xuất một chi phái Thiền Lâm Tế Minh Hải. Tổ đ́nh này đă tồn tại và phát triển cách đây trên 3 thế kỷ. Mặc dù đă trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng ngôi tổ đ́nh vẫn c̣n giữ được dáng vẽ cổ kính, góp phần phong phú vào đô thị cổ Hội An, một di sản văn hóa thế giới.

Tổ đ́nh Chúc Thánh đă và đang thu hút giới sử học, sinh viên và du khách quốc tế mỗi khi đến nghiên cứu, tham quan. Bởi v́ Tổ đ́nh Chúc Thánh không chỉ mang ư nghĩa thuần túy như là một di tích cổ, mà nó c̣n góp phần nói lên bộ mặt văn hóa tín ngưỡng của Hội An, khẳng định được sự phát triển Phật giáo tại đây vào những thập niên cuối thế kỷ XVII.

Ngoài ra, Tổ đ́nh Chúc Thánh c̣n là nơi thích hợp cho việc tu tập của giới xuất gia và tại gia. Bởi v́ nó cách trung tâm Hội An chỉ khoảng 1km, không quá ồn ào náo nhiệt và cũng không quá xa ĺa nơi dân cư, tạo điều kiện tốt cho sự tương trợ giữa đạo và đời, giữa người xuất gia và Phật tử tại gia.

Trải qua lớp bụi thời gian, h́nh ảnh ngôi Tổ đ́nh đă cổ kính rêu phong. H́nh ảnh đó đă khắc sâu vào tâm trí của mỗi người con Phật tại xứ Quảng:

“Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông”. (Ca dao)

 

3. Quảng Nam đă từng nổi tiếng là đất của “Địa linh nhân kiệt” và “Ngũ phụng tề phi”. Con người Quảng Nam cần cù, chất phát, luôn tiếp thu những cái hay, cái đẹp của người khác. V́ vậy, Thiền phái Lâm Tế Minh Hải truyền tới như một hạt giống tốt đặt xuống mảnh đất màu mở. Thiền phái Lâm Tế Minh Hải đă đi vào cuộc sống tâm linh của người dân xứ Quảng một cách tự nhiên, êm ả, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng hay màu da sắc tộc, hài ḥa từ những từng lớp trí thức thành thị đến những người dân nông thôn quê mùa, chất phác. Tầng lớp trí thức họ xem Phật giáo như là một triết lư của sự sống, họ đem giáo lư Phật giáo để soi xét nội tâm, nhằm để hướng đến con đường chân, thiện, mỹ, đem lại lợi ích cho người và cho ḿnh. Người Hoa kiều tại Hội An họ có thể vừa thờ Quan Công, Thiên Hậu... mà lại vừa thờ Bồ Tát Quan Âm để nguyện cầu an lành hay Đức Phật Di Đà để cầu văng sanh Cực Lạc. tại thôn quê, những nông dân tự dựng lên một ngôi chùa tranh tre, để mỗi độ trăng tṛn hay cuối tháng, sau những buổi vất vả ruộng nương, họ tập trung lại ăn chay, niệm Phật, bàn chuyện lánh giữ làm lành, khuyên con cháu ăn ở phước đức, thương yêu đồng lọai, tôn trọng sự sống và đem lại ḥa b́nh hạnh phúc cho quốc gia, xă hội:

“Mỗi tối dân quê đón gió lành

Cảnh chùa dào dạt ánh trăng thanh

Tiếng chuông thức tỉnh lan xa măi

An ủi dân lành mọi mái tranh”.           

(Ca dao)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Ban quản lư di tích Hội An. “Lí lịch di tích ” (chùa Chúc Thánh), số 01/ĐK - BQL.

[2]. Đỗ Bang. Phố cảng vùng Thuận Quảng. Nxb. Thuận Hóa, 1996.

[3]. Nguyễn Hiền Đức. Lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Nxb. TP Hồ Chí Minh .

[4]. Phan Huy Lê. Hội An: lịch sử và hiện trạng. ( Đại học tổng hợp Hà Nội ).

[5]. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. (tập2). Nxb. văn học HN,1992.

[6]. Thích Chơn Phát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Giáo tŕnh lưu hành nội bộ), 1998.

[7]. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. (tập I). Nxb. Thuận Hóa - Huế ,1999.

[8]. Mật Thể. Việt Nam Phật giáosử luận. Nxb. Thuận Hóa, 1996.

[9]. Tôn Nữ Quỳnh Trân. Hội An-Ngă tư thương mại- Văn hóa xưa.Nxb. Đà Nẵng, 1996.

[10]. Thích Minh Tuệ. Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Thành hội Phật giáo  TP Hồ Chí Minh ấn hành, 1993.

from www.lamtechucthanh.net

 

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]