Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Tôi làm phi công

 Thích Như Điển

 

"Tôi làm phi công" hay "chuyến đi không định trước" là tiêu đề của bài viết này khi chúng tôi đă đến thăm nuớc Lào t ngày 17 đến 19 tháng 10 năm 2005 vừa qua.

Ngồi trên chiếc máy bay Charter Air Lào bay với hai động cơ và chứa được 74 hành khách; tôi miên mang liên tưởng về chuyến đi này và nghĩ rằng: không biết là ḿnh có thể xin được Visa tại phi trường Vientian để vào Lào chăng?

Sau khi phi cơ đă đáp xuống an ṭan trên phi đạo, tôi nh́n ra ngoài khung cửa nhỏ của phi cơ, thấy mọi sự sinh hoạt vẫn b́nh lắng của  một chiều thu nơi thủ đô được gọi là Vạn Tượng này. Nh́n những khuôn mặt hiền từ nhưng không lạnh nhạt mấy của những nhân viên làm giấy tờ nhập cảnh, tôi như nhẹ nhơm và thoáng mĩm miệng cười, như để tự an ủi ḿnh rằng: mọi việc không có ǵ đáng lo ngại lắm.

Tôi, Thầy Nguyên Thành và Hạnh Bổn ra khỏi phi trường không có hành lư; v́ chuyến đi không định trước; nên tất cả đều vội vă và để tất cả hành lư ở lại Bangkok. Sư cô Thích Nữ Đàm Ngọc, trụ tŕ chùa Bàng Long cùng với một số quư Thầy và một số Phật Tử khác cùng đến tận phi trường để đón chúng tôi về chùa.

Tôi quan sát nhà cửa phố xá ở hai bên đường đi và có sự so sánh với Thái Lan cũng như Ấn Độ; những nước mà chúng tôi đă đi qua; thấy nơi đây có một cái ǵ đó chưa định nghĩa rơ ràng được; nhưng cũng gợi lên trong tôi một cảm giác nhẹ nhàng với một đất nước mà qua bao lần thay chủ đổi ngôi. Tôi biết rằng: ngày xưa Lào là một Vương Quốc trị v́ theo tinh thần của Phật Giáo; rồi năm 1975 họ đă tự biến ḿnh thành chủ nghĩa cộng sản và bây giờ h́nh ảnh cộng sản ấy chỉ c̣n thấy nơi lá cờ đỏ trên đó có búa liềm của Liên Xô cũ; mà vốn lá cờ nầy sau khi cộng sản Nga Sô sụp đổ vào 1990, tại Nga họ không c̣n dùng nữa; mà chỉ c̣n dùng lá cờ của Liên Bang Sô Viết bằng ba màu trắng, xanh, đỏ. Trong khi đó tại phi truờng của Lào cũng như dọc theo hai bên đường vào thành phố đâu đó vẫn c̣n treo những lá cờ đỏ búa liềm phất phới song song với cờ Lào; trông như một nguời hoài c đă ở vào buổi xế chiều. Có lẽ toàn dân Lào không biết rằng chế độ cộng sản Nga Sô đă bị giải thể và biến thành chế độ tự do cùng với các nước cộng sản Đông Âu cho đến nay cũng đă hơn 15 năm rồi. Hoặc nước Lào đă thọ dụng những ơn nghĩa của cộng sản Liên Sô cũ; nên vẫn c̣n vương vấn một vài điều trong quá khứ chăng?

Đến trước cổng chùa Bàng Long chúng tôi được đón tiếp bởi sư cô Đàm Quy và các Phật tử bằng hai hàng chào ở hai bên cổng ra vào. Đoạn chúng tôi vào chánh điện lễ Phật, rồi lễ Tổ và xuống trai đường để thăm hỏi những Phật tử hiện diện tại nơi đây. Được biết rằng chùa này do cố Ḥa Thượng Thích Trung Quán và Ḥa Thượng Thích Nhật Liên đă khai sơn và xây dựng cách đây đă hơn 50 năm rồi. Năm 1975 cố Ḥa Thượng Thích Trung Quán đă ra đi tỵ nạn cộng sản đến Pháp Quốc và Ngài đă đến Paris thành lập chùa Hoa Nghiêm và ở tại Bỉ vùng Brusselle cũng có một chùa Hoa Nghiêm như thế. Ngoài ra tại Pháp cũng có một vài chùa do Ngài lănh đạo như ở Lille, Limoges... Ngày nay th́ Ngài đă không c̣n nữa. V́ Ngài đă viên tịch cánh đây hơn 2 năm; nhưng những Kinh sách giá trị của Ngài đă dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt như bộ Đại Trí Độ Luận gồm 100 quyển, là một tác phẩm đồ sộ nhất của Ngài vẫn c̣n lưu truyền lại cho đến ngày nay, mà tôi mỗi tuần một lần căn cứ theo bộ Luận này để hướng dẫn cho Tăng chúng chùa Viên Giác suốt trong 5 năm qua mà chỉ mới được 50 quyển.

C̣n Ngài Ḥa Thượng Nhật Liên là đệ tử của cố Đại Lăo Ḥa Thượng đệ tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu đă bị ṭa đại sứ Việt Nam Cộng Ḥa trước năm 1975 trục xuất về Việt Nam với lư do là có liên hệ với cộng sản. Rồi cách đây 12 năm khi cố Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ, Huế. Ḥa Thượng Nhật Liên, Thượng Tọa Trí Tựu là những người đệ tử của Ngài nhưng rất khó khăn để được cư tang trong đám tang của Đại Lăo cố Ḥa Thượng. V́ chính quyền cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ họ bảo rằng Ḥa Thượng Thích Nhật Liên theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Một buổi sáng vào ngày 19 tháng 10 năm 2005 tại pḥng khách chùa Bàng Long tôi đă tiếp chuyện với một cụ già Việt Nam năm nay 84 tuổi và sống tại Lào gần 70 năm, đă cho tôi biết sự thật về vấn đề trục xuất Ngài Nhật Liên rằng: thuở ấy có con của ông Đại sứ Việt Nam Cộng Ḥa bị chết và đem vào chùa Bàng Long làm lễ cúng 49 ngày; nhưng v́ lư do nào đó Ngài Nhật Liên không làm chủ lễ. Thế là một lịnh trục xuất được ban hành.

Đến đây để thấy công đức của người xưa và thấy được sự hư giả của cuộc đời ảo mộng. V́ thế đức Phật dạy rằng: tất cả các pháp đều không có tính nhất định; cái đúng của ngày hôm qua có thể là cái sai của ngày hôm nay và cái sai của ngày hôm nay cũng có thể là cái đúng của ngày mai. Con người vốn không phải là tội nhân của lịch sử, mà lịch sử th́ bao giờ cũng phải sang trang để nhường lại cho nguời khác làm nên một lịch sử mới. Do vậy đúng hay sai, chánh hay tà chỉ có thời gian mới thể trả lời được hết. Ví dụ trường hợp của Ngài Nhật Liên là một; ở đây th́ họ bảo theo kia và ở kia th́ họ bảo theo nơi khác. Như vậy th́ cái ǵ đúng và cái ǵ sai ở trong cuộc đời tương đối này?

Đến đây chúng tôi mới biết được rằng ngày hôm ấy 17 tháng 10 năm 2005 nhằm vào ngày 16 tháng 9 âm lịch năm Ất Dậu là ngày lễ ra hạ của chư Tăng Nam Tông ở các nước Lào, Thái, Miến Điện v.v.. Do vậy các công tư sở đều đóng cửa để mọi người có cơ hội đến chùa làm lễ Takbac (lễ cúng dường Trai Tăng). Đêm hôm đó chúng tôi đi nghỉ thật sớm để c̣n dậy sớm vào lúc 4 giờ tụng Kinh Lăng Nghiêm; rồi ăn sáng và dùng thời giờ c̣n lại để đi thăm các chùa trong Kinh Đô nhân ngày măn hạ tự tứ của chư Tăng.

Thủ đô Vientian vốn nhỏ hơn Đà Nẵng; nhưng cứ cách một con đường là có một Đại Tự. Điều đó chứng tỏ rằng ḷng tin Phật của người Phật Tử Lào khó diễn tả hết được bằng ngôn từ. Chúng tôi vào một ngôi chùa được gọi là linh thiêng hàng đầu tại đây th́ thấy nam thanh nữ tú; ông già bà cả; trẻ con theo mẹ đến chùa trên tay gồm một b́nh bát trong ấy có đủ loại thực phẩm cũng như tịnh tài để cúng dường chư Tăng nhân ngày măn hạ. Họ sắp thành hai hàng thẳng lối đi đến hai bên dăy bàn có để sẳn mấy chục cái b́nh bát lớn và cứ thế thí chủ cứ phổ đồng cúng dường mà không thấy mặt một vị Tăng nào cả. Sao đó những người Tịnh Hạnh nhơn tại chùa mới thâu lại những của cúng dường ấy vào một cần xế lớn và b́nh bát lại trống không để cho đoàn người tiếp tục bỏ vào đó để cúng dường. Chúng tôi len lơi vào bên trong Đại Điện th́ thấy nơi đây đă chật nứt cả người. Hàng bên trên cùng hàng đối diện với Phật tử là chư Tăng và vị Sư Cả của chùa. Có một vị đang giảng pháp và mọi người đang chăm chú lắng nghe. Cũng có một số người Tây phương tham dự lễ Takbac, họ lắng nghe rất thành kính; nhưng có thể chẳng hiểu ǵ v́ các sư nơi đây chỉ giảng bằng tiếng Lào.

Tôi quan sát thấy một người mẹ cầm tay con ḿnh hướng dẫn cho cách răi nước xuống mặt đất để chúc phước, sau khi đă cúng dường xong; một tay bé đưa ngang ngực; tay kia cùng với mẹ thể hiện ḷng từ; trong khi đó miệng lăm răm cầu nguyện. V́ h́nh ảnh dễ thương và trang trọng này tôi đoan chắc một điều dầu 1000 năm sau nữa nước Lào vẫn là một nước Phật giáo với 90% dân số; dẫu cho vật đổi sao dời và chính quyền nào có thay ngôi đổi chủ th́ ở tại đất nước này cũng chẳng có ǵ đổi dời cả, nhất là niềm tin vào tôn giáo đă ăn sâu vào từng thớ thịt của người dân.

Chúng tôi cũng có dịp tiếp xúc với phó Vua Săi và Vua Săi của Lào. Các Ngài rất từ bi và mở rộng tấm ḷng. Vua Săi cho chúng tôi biết rằng: người Lào ưa làm phước bố thí cũng như xây chùa. Do vậy nơi nào cũng ṭan là chùa cả. Ngài nói tiếp: người Lào chỉ biết sống cho hiện tại và ít có để dành cho tương lai. V́ thế mà họ rất tự tại. Khi được hỏi rằng tại đây có bao nhiêu Tăng sĩ và bao nhiêu ngôi chùa, th́ Ngài đáp rằng: tại Lào hiện có 27.000 Tăng sĩ là hơn 10.000 ngôi chùa trong số hơn 5 triệu dân.

 Như thế nếu có một sự so sánh với Việt Nam chúng ta có tới hơn 80 triệu dân mà chỉ có hơn 40.000 Tăng sĩ và hơn 20.000 ngôi chùa từ Bắc tới Nam, là một con số rất khiêm nhường.

Sau khi cúng dường Ngài và được Ngài kể rơ tỉ mỉ thêm là nước Thái Lan đă đem cúng dường cho Ngài một tượng Phật bằng thạch ngọc giả thay thế cho tượng thạch ngọc thật mà họ đă lấy tại chùa Wat Prakeo đem về Thái để thờ trong những thế kỷ trước. Đoạn Ngài chỉ về hướng của pho tượng nằm trong cùng của bàn thờ rồi cười lớn. Tiếng cười ấy như hàm ư trách móc; nhưng cũng có thể là một sự cảm thông. V́ người Thái đem về đây cũng để thờ tự; chứ không phải để triệt thoái một Vương triều, mà đă có lần Vua Rama thứ IX của Thái Lan vào đầu thế kỷ thứ 21 đă tuyên bố với những nhà truyền giáo Tây phương rằng: "Quư vị có thể cải đạo hết dân tôi; nhưng có một người mà quư vị không thể cải đạo Phật thành đạo Thiên Chúa Giáo được. Đó là tôi". Một ông vua Thái Lan như thế; một h́nh ảnh em bé theo mẹ đi chùa như thế và những tấm ḷng tin Phật của những người tại các xứ Phật giáo nầy; khiến cho chúng ta đoan chắc rằng là những nơi đây không bao giờ họ đánh mất niềm tin vào đạo Phật cả. Chứ không phải như ai kia ở Việt Nam tuyên bố rằng: "thà mất nước chứ không mất đạo". C̣n ở đây nước họ vẫn theo đạo Phật và ngày ngày đang phát triển.

Chiều ngày 18 tháng 10 năm 2005 trên chánh điện chùa Bàng Long tôi có một thời pháp ngắn trong hơn 1 tiếng đồng hồ với tựa đề là: "Củng cố một niềm tin" với gần 30 kiều bào hiện diện. Họ là những người đă sinh ra và lớn lên ở xứ này gồm nhiều thế hệ khác nhau nhưng vẫn c̣n nói ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Việt Nam; khiến tôi rất mừng .

Tối hôm đó Thầy Nguyên Thành, chú Hạnh Bổn, Sư cô Đàm Ngọc và anh Keo người Lào đă ra tận ḍng sông Mê Kông để tham dự lễ hội để thả hoa và đèn xuống ḍng nước, mà theo tục lệ người Lào đây là một sự Sám hối của chính ḿnh trong suốt cả năm qua đă gây nên biết bao nhiêu tội lỗi trong cuộc đời, nhờ ḍng sông chuyên chở và gội sạch những tai ương trong cuộc sống. Thật là một lễ hội mang nhiều ư nghĩa trong cuộc đời với niềm tin yêu vào tôn giáo một cách sâu sắc nhân ngày tự tứ của chư Tăng.

Sáng hôm sau ngày 19 tháng 10 năm 2005 sau thời khóa Công Phu và dùng sáng chúng tôi ra tận bờ sông Mê Kông một lần nữa để xem đua thuyền và chính bản thân tôi đă dùng chính bàn tay của ḿnh khóat nước sông Mê Kông để rửa sạch những bụi trần của nội tâm và hàm ư gởi về Việt Nam theo ḍng sông Mê Kông này tâm t́nh của nguời xa xứ gần 35 năm chưa có một lần trở lại như tâm sự của Hạ Tri Chương đời Đường đă có thơ rằng:

Thiểu thiếu ly gia lăo đại hồi
Hương âm vô cải mấm mao thôi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách ṭng hà xứ lai.

Tạm dịch:

Tuổi nhỏ xa quê, già trở lại
Giọng quê không đổi, tóc mai thay
Trẻ con tuy thấy nhưng chẳng biết
Cười hỏi khách rằng, đến nơi nao?

Trên đường trở về chùa với những bước chân chậm răi, tôi quan sát một người mẹ dẫn con đă tự động ngồi xuống với hai tay chấp lên ngang ngực cuối đầu; như để thi lễ trước những nhà sư đang bước qua. H́nh ảnh này và h́nh ảnh tại phi truờng Thái Lan khi chư Tăng đến hoặc đi đều được những nhân viên lo lắng giấy tờ một cách cung kính tận t́nh, khiến cho tôi liên tưởng đến những người Việt Nam không hiểu đạo cố chen lấn với chư Tăng để đi trước; hoặc dành phần tốt về cho chính ḿnh; th́ quả thật rằng đất nước Việt Nam ḿnh và Phật Giáo Việt Nam của chúng ta phải c̣n học hỏi ở Lào cũng như ở Thái Lan nhiều lắm; mà vốn dĩ chư Tăng chỉ mang trong người một hạnh nguyện lợi tha với chữ Không to tướng th́ có ǵ đâu để mà lấn lướt với chư Tăng.

 Rời chùa Bàng Long với những tấm ḷng chân t́nh của anh Keo, anh Lộc; của những người Hoa và người Lào, người Việt; với sự cung kính của nhị vị Sư cô đă làm cho phái đoàn có nhiều cảm t́nh đặc biệt, như đă có lần Thầy Đồng Văn cùng Hạnh Giới và Hạnh Tuệ sau khi đi Lào về có viết một bài đăng trên báo Tâm Giác, với nhan đề là „Ai Lao đi dễ khó về“ cũng đúng như tâm trạng của chúng tôi vào ngày 19 tháng 10 năm 2005 nầy.

Một lễ tự tứ măn hạ của chư Tăng đă kết hợp với lễ truyền thống của dân tộc như thế; quả là những ngày lễ đầy ư nghĩa vô cùng cho đức tin tôn giáo cũng như văn hóa của dân tộc nầy.

Rời phi trường Vientian với bao hoài niệm và mong rằng sẽ có ngày trở lại chốn này.

Sau khi làm thủ tục xuất cảnh, chúng tôi lên máy bay để trở về Bangkok và chuẩn bị cho một chuyến đi dài hơn thế nữa th́ một chuyện lạ lại xảy ra. Đó là việc "tôi làm phi công“ bất đắc dĩ cũng giống như chuyến đi không định truớc đă diễn ra một cách nhịp nhàng trong 3 ngày tại xứ Lào.

Dường như tôi nghe không rơ bằng ngôn ngữ tiếng Anh thật điêu luyện của cô chiêu đăi viên: " xin mời Ngài vào pḥng lái. V́ có sự yêu cầu của 2 phi công“.

Tôi hỏi lại cho kỹ một lần nữa: có phải là tôi lên ngồi hàng đầu không?

Cô ta lắc đầu và bảo rằng: ở tận bên kia cánh của của phi công kia.

Tôi mở cửa bước vào và một trong hai phi công hỏi tôi bằng tiếng Lào; tôi chẳng hiểu ǵ cả và bảo lại rằng: tôi chỉ có thể nói được: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Hoa và một ít tiếng Nga. Vậy ông có thể tự chọn một ngôn ngữ để nói chuyện.

Hai người cùng nhoẻn miệng cười và nói:

Thôi th́ chúng ta hăy đàm thoại bằng tiếng Anh đi.

Đoạn người phi công trưởng hỏi tôi rằng: tôi nghe nói tại phi trường Ngài có nhiều vật kỷ niệm để tặng cho Phật tử phải không?

Tôi tự hỏi rằng: sao mà thông tin ở xứ Lào nhanh đến thế? Rồi trở lại chỗ ngồi của ḿnh để lấy những quà biếu đem trở lại tặng cho hai người. Rồi phi công truởng bảo tôi: Thầy có muốn ngồi xuống để xem không?

Tôi đáp: tôi thấy chỉ ṭan là mây không, đâu thấy ǵ để xem. Tôi muốn trở lại chỗ ngồi của tôi và trước khi máy bay hạ cánh chừng 20 phút tôi sẽ trở lại đây một lần nữa. Chắc quư ông đồng ư?

Sau hai cái gật đầu, tôi trở lại chỗ ngồi của ḿnh với những cái ṭ ṃ của người ngoại quốc đi chung chuyến và chính chúng tôi cũng nghĩ rằng: trong đời nầy đó là lần đầu tiên mà tôi vào pḥng lái của phi công trong khi máy bay đang bay ở cao độ và chắc rằng  không có  thể xảy ra lần thứ hai trong đời ḿnh nữa.

Nhân viên của phi hành đoàn báo hiệu các hành khách phải cài dây an toàn, th́ chính lúc đó cũng là lúc tôi tự động mở cửa pḥng lái vào bên trong với hai phi công để xem máy bay hạ cánh như thế nào. Trong khi người phi công trưởng chỉ cho tôi cách hạ ghế xuống và gài dây an toàn để ngồi; th́ người phi công phụ đang ghi chép liên tục những độ cao thấp mà đường bay nào để phải hạ cánh.

Tôi quan sát một ṿng của pḥng lái thấy từ trên đầu đến trước mặt ít nhất cũng có từ 500 đến 1000 tín hiệu khác nhau. Tôi liền hỏi ông trưởng phi công rằng: ông học lái ở đâu và được đào tạo như thế nào?

Ông  ta đáp: 5 năm học ở Nga, 1 năm học tại Trung Quốc và 1 tháng luyện tập tại phi trường Frankfurt.

Ochin Karasho! Đẹp tuyệt vời! Đó là tiếng Nga mà tôi khen ông phi công trưởng. Đoạn tôi tiếp.

Những người phi công phải những người có đầu óc thông minh lắm mới điều khiển được một bộ máy vĩ đại thế này. Vả lại nếu một trong hai người không đồng ư với nhau th́ chắc là những hành khách là những nạn nhân phải không ông?

Sau khi ông cười đáp lễ, ông ta điều chỉnh những nút nghe vừa phải. V́ trong pḥng lái những tín hiệu từ tổng đài phát ra liên tục bằng cả giọng nam lẫn giọng nữ với ngôn ngữ tiếng Anh thật điêu luyện.

Thế rồi những bánh xe máy bay được thả xuống; tốc độ cũng như độ cao được hạ dần; tôi nh́n thấy đất liền và xa xa phía trước là phi đạo của phi truờng  Bangkok. Nh́n hai cần lái của hai phi công tôi liên tưởng đến cần lái tự động của xe hơi. Cũng bấm tới trả lui; tăng và giảm tốc độ; dường như trên không trung cũng có một con đuờng để đi. Tuy rằng không hiện thực như hành giả tu theo pháp môn Tịnh Độ muốn bay về cơi Tịnh của đức Phật A Di Đà. Tuy không có lối đi để nh́n thấy như là một sự phát họa vô h́nh trong 48 lời nguyện của đức Từ Phụ A Di Đà, th́ đoan chắc rằng ở cơi Tây phương phải là một hiện thực trong vô tướng của nó.

Máy bay đă đáp cánh xuống phi đạo an toàn và ông phi công trưởng c̣n chỉ cho tôi thấy rằng: một phi đạo mà cả hai đường lên và xuống, quả là rất nguy hiểm.

Tôi bảo rằng: nếu không giỏi tiếng Anh càng nguy hiểm hơn nữa và tôi hỏi tiếp ông:

Lần nào cũng đậu một chỗ giống nhau hay sao?

Ông ta bảo: mỗi lần mỗi khác và tùy theo sự điều khiển của không lưu và ông ta nói tiếp: tại sao Thầy không mang máy chụp h́nh theo?

Tôi đáp: V́ vội quá.

Ông ta bảo: Thôi lần sau nhé và chắc chắn tôi sẽ để cho Thầy ngồi suốt đoạn đuờng và sẽ cùng nói chuyện với tôi trong khi lái.

Chúng tôi bắt tay nhau và hẹn ngày gặp trở lại.

"Tôi làm phi công" và chuyến đi không định trước như đề tài của bài nầy đă giới thiệu bên trên; nhằm gởi lời tạ ơn đến những người đă có tâm hướng thượng và giới thiệu một vài nét đơn sơ về truyền thống sau lễ tự tứ măn hạ của chư Tăng tại Lào. Nếu ai muốn biết rơ ràng hơn th́ nên một lần đặt chân đến đây để tỏ rơ ngọn ngạch. 

Viết xong tại Bangkok vào một chiều thu

 chung quanh những chùa viện san sát bên nhau (2005). 

 

        Minh Quang posted May 9, 2006

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]