Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]


Sắn Dây Núi Yoshino

Yoshino Kuzu

Nguyên Tác: Tanizaki Jun.ichirô

Dịch: Nguyễn Nam Trân

 

 

Lời Người Dịch:

Sắn Dây Núi Yoshino (1930) được xem như một truyện của Tanizaki mà độc giả ngoại quốc khó ḷng tiếp thu và làm khổ tâm người dịch không ít v́ nó đầy dẫy chi tiết lịch sử, dă sử truyền thuyết dân gian và tuồng kịch mà ngay dân bản xứ có khi c̣n không nắm vững. Dầu vậy, theo gương can đảm của Anthony H. Chambers, người đă chuyển ngữ nó sang tiếng Anh (Arrowroot, 1983, Secker & Warburg, UK), chúng tôi cũng xin táo bạo làm việc giới thiệu Sắn Dây Núi Yoshino đến bạn đọc Việt Nam, một tác phẩm quan trọng hàng đầu trong văn nghiệp của Tanizaki. Đây cũng là một trong những tác phẩm mà ông đắc ư đắc ư nhất.

Sắn Dây Núi Yoshino giống dây mơ rễ má, cái nhau núm ruột nối liền một cá nhân với quê hương và kỷ niệm luyến tiếc nhưng cũng là sợi dây dẫn đường cho cuộc hành tŕnh đi vào chiều sâu tâm hồn con người Nhật Bản như một tập đoàn. Nó c̣n đánh dấu điểm khởi hành của giai đoạn thứ hai (1930-1965) trong đời sáng tác phong phú của Tanizaki, khi ông từ bỏ lối thuật truyện khách quan hầu hết dựa trên đối thoại, để sử dụng một cách viết mới, hầu như độc thoại, tinh tế và chủ quan hơn. Nhiều người bàn đến ở đây ảnh hưởng cách hành văn của "tiểu thuyết tùy bút" hay "tùy bút tiểu thuyết" kiểu Stendhal trong tác phẩm L'Abbesse de Castro ( trong tập Chroniques Italiennes) mà Tanizaki đă có cơ hội dịch sang Nhật ngữ.

Trong Sắn Dây Núi Yoshino, Tanizaki vẫn đeo đuổi việc đi t́m h́nh ảnh Người Đàn Bà Lư Tưởng và Nước Nhật Truyền Thống. Người đàn bà lư tưởng, vừa là người t́nh và người mẹ, đă bàng bạc khắp các tác phẩm của ông, nhất là trong Nhớ về mẹ thương (Hahawo kouru no ki ), Mộng phù kiều (Yume no ukihashi) và Người mẹ của Tướng Shigemoto (Shôshô Shigemoto no Haha ). C̣n về h́nh ảnh của nước Nhật truyền thống, th́ trong hồi kư viết năm 1964, ông có đưa ra một ví dụ: "Nếu chỉ nhấp trà, ăn bánh ngọt, khoai nướng và trứng luộc, uống sake Masamune mà ngắm hoa anh đào sau mành trúc ở giữa Tôkyo!...Ta không thể nào hiểu được cái đẹp của hoa khi không biết ǵ về sự tích danh tướng Yoshitsune, Wakaba-no-Naishi, phu nhân Shizuka, Tadanobu, con chồn Genkurô [i], cái trống Hatsune và bộ áo giáp Hiodoshi...Anh đào ở Tôkyo không có ǵ huyền ảo. Khi tôi đi ngắm hoa ở các nơi danh thắng miền Tây, đă có lúc tưởng gặp lại được hồn ma của Wakaba-no-Naishi, phu nhân Shizuka [ii] ... và thấy ḿnh biến thành con chồn hay thành anh chàng Gonta để mà mê man đuổi theo sau tiếng trống, hồi c̣i".

H́nh ảnh con chồn trong Sắn Dây Núi Yoshino cũng là một biểu tượng thần bí thường thấy trong văn học truyền thống Trung Quốc, Nhật Bản và chỉ riêng trong văn, kịch... của Tanizaki, ta đă có thể gặp nó nhiều lần.Thần Inari là thần lúa gạo, đem đến tài lộc, đă được đội lốt chồn. Chồn là con vật thông minh, tinh quái và rất gần gũi với con người. Đặc biệt con chồn trắng hoá thân làm người con gái tên là Kuzu no Ha (Lá Sắn Dây) thấy trong tuồng Nô và tuồng múa rối jôruri cùng nhan đề, đă bỏ chồng con để đi biệt tích khi gốc gác bại lộ (lúc Kuzu no Ha thật xuất hiện). Con chồn Genkurô cũng đă giả dạng Tadanobu [iii], người hầu cận trung thành của danh tướng Yoshitsune [iv] trong vở tuồng Yoshitsune Senbonzakura (Ngh́n cội anh đào Yoshitsune), để được gần gũi mẹ nó mà bộ da đă bị người ta lột để căng làm tang trống.

Rặng núi Yoshino với ngọn Yoshino (cao độ 858m) có thể xem như thánh địa của dân tộc Nhật. Tên tuổi của nó đă được chép lại từ thời Cổ Sự Kư (Kojiki) và Nhật Bản Thư Kư (Nihon Shoki), hai cuốn sử thư tối cổ. Mảnh đất nầy từng chứng kiến việc thiên hoàng Tenmu (?-686) lẩn lút trong vùng lúc mưu đồ đoạt ngôi của cháu, mối t́nh tuyệt vọng đưa đến tự sát của hai vợ chồng trên núi Imose, cuộc đời lưu lạc của danh tướng Yoshitsune (1159-1189), phu nhân Shizuka, ái thiếp của ông, cùng những dũng sĩ tùy tùng, sự tồn vong của triều đ́nh phương Nam do thiên hoàng Go-Daigo (1288-1339) lập ra. Yoshino c̣n là sân khấu của sự tích con chồn trắng phải chia tay với chồng con đă nói ở trên, giống như cuộc chia ly của bà vú Shigenoi với chàng Sankichi [v] khi bị giằng co giữa t́nh mẹ con và bổn phận, thấy trong các vở tuồng kabukijôruri.

Qua Sắn Dây Núi Yoshino, ta thấy lịch sử không phải là những chi tiết cứng nhắc do các sử quan chép lại theo lối biên niên. Có một loại sử khác mà dân gian đă sáng chế theo cảm tính, sự tưởng tượng và cả những lầm lẫn, dựa theo tuồng hát nhiều hơn là sự thật. Nó đầy tính hoang đường, hư cấu nhưng cũng giàu chất thơ biết bao nhiêu.

Người đọc cũng có thể nhận ra dễ dàng ảnh hưởng sâu sắc của Truyện Genji đến phong cách viết văn của Tanizaki, người rất mê và đă dịch (2 lần) tác phẩm nầy sang kim văn. Tsumura, anh bạn của Tanizaki trong Sắn Dây Núi Yoshino đă cưới người vợ mang h́nh ảnh của mẹ ḿnh, như thể đem những mảnh vỡ của quá khứ để chắp thành hiện tại. Trong Truyện Genji, tác giả Murasaki Shikibu cũng khéo léo sử dụng yếu tố thời gian để dẫn dắt câu chuyện như khi đem cái bóng quá khứ trùm lên cuộc sống hiện tại các nhân vật. Hoàng đế Kiritsubo yêu Fujitsubo v́ nàng giống người vợ mệnh yểu của ḿnh, Genji cũng yêu nàng v́ nàng giống mẹ chàng. Genji bị Murasakino Ue thu hút v́ nàng là h́nh ảnh của Fujitsubo. Chàng ta lại tiến gần đến với Tamazakura v́ nàng là hiện thân của Yuugao, mẹ nàng và người yêu cũ của Genji. Kaoru yêu Uji no Ôgimi nên đến khi gặp cô em khác mẹ Ukifune của nàng th́ lại yêu luôn....Những mối t́nh vượt không gian, thời gian và thông qua các " đại diện " như thế cho ta thấy quá khứ, hiện tại và tương lai như giao thoa với nhau làm cho câu chuyện được tiếp nối một cách sinh động.

Nguyên tác được sử dụng trích từ tuyển tập văn khổ bỏ túi Sắn Dây Núi Yoshino. Truyện Lăo Mù (Yoshino Kuzu - Mômoku Monogatari), do Shinchô Bunko xuất bản lần thứ 23 năm 1971. Người dịch có tham khảo bản dịch sang Anh ngữ đă nói ở trên của Anthony H.Chambers cũng như bản dịch sang Pháp văn của René de Ceccaty và Nakamura Ryôji (Le lierre de Yoshino, trong La vie secrète du seigneur de Musashi, Gallimard, NRF, Paris, 1987).

 

Phần Một: Vua Nhà Trời

            Thời tôi rong chơi vùng núi sâu Yoshino trong đất Yamato dễ chừng đă hai mươi năm về trước, khoảng cuối đời Meiji hay đầu Taishô (1912), lúc giao thông c̣n khó khăn chứ chưa được như bây giờ.Tại sao nổi hứng đi làm chi vào chốn rừng sâu núi thẳm, cái xứ mà gần đây người ta hay gọi là rặng Alpes của Yamato? Th́ câu chuyện này xin được bắt đầu bằng việc tŕnh bày duyên may nào đă run rủi bước chân tôi.

 

            Bạn đọc có lẽ nhiều người đă biết, từ ngày xưa ở vùng đất này, nghĩa là chung quanh ḍng Totsugawa, rặng Kitayama và làng Kawakami, dân cư sở tại c̣n truyền tụng sự tích về một người thuộc ḍng dơi các hoàng đế Nam Triều mà họ gọi là Ngài Nam Triều hay Đức Vua Nhà Trời. Người mang tên Vua Nhà Trời, có thể chắt chít ǵ của thiên hoàng Go-Kameyama [vi], chính là hoàng tử Kitayama. Ngài không phải là nhân vật trong truyền thuyết mà hoàn toàn có thật, các sử gia nghiên cứu về thời đó đều nh́n nhận. Nếu nói sơ qua cho dễ nắm th́ theo các sách giáo khoa trường cấp hai, trong năm Genchuu thứ 9 của Nam Triều [vii] (tức năm Meitoku thứ 3 Bắc Triều, 1392) đời Tướng QuânYoshimitsu, hai bên Nam Bắc đă ḥa nghị để đi đến thống nhất, chấm dứt sự tồn tại của triều đ́nh miền Nam đóng ở Yoshino hơn nửa thế kỷ sau ngày nó được thiên hoàng Go-Daigo thành lập vào năm Engen nguyên niên (1336). Tuy vậy, giữa đêm 23 tháng 9 năm Kakitsu thứ 3 (1443), đă xảy ra việc kẻ tên Kusunoki Jirô Masahide [viii] pḥ hoàng tử Manjuuji, bất chợt tấn công cung điện Tsuchimikado và trộm lấy ba báu vật truyền quốc đem về cố thủ trên ngọn núi Eizan. Lúc ấy, họ bị quân truy kích lùng bắt, hoàng tử phải tự sát. Trong số ba quốc bảo [ix] th́ kiếm báu và gương thiêng đă bị thu hồi nhưng ngọc tỉ vẫn c̣n nằm trong tay người Nam Triều. Bọn hào tộc họ Kusu và Ochi lại pḥ hai con của hoàng tử, thu thập nghĩa binh, trốn chạy từ đất Izu sang Kii, từ Kii sang Yamato, rốt cuộc rút vào vùng núi sâu Oku-Yoshino là nơi ở ngoài tầm tay quân Bắc. Họ tôn vương tử thứ nhất làm Jiten.ô (Tự Thiên Vương) tức Vua Nhà Trời, vương tử thứ hai làm Seii Daishôgun tức Tướng Quân, đổi niên hiệu thành Tensei (Thiên Tĩnh), giữ được ngọc tỉ hơn 60 năm trời trong vùng hẻm núi mà quân địch không dễ ǵ ḍm ngó. Chỉ v́ sự man trá của dư đảng nhà Akamatsu [x] mà hai vị vương tử phải bỏ ḿnh, rốt cục ḍng dơi chi Daikakuji (của thiên hoàng Go-Kameyama) mới bị diệt vong vào tháng 12 năm Chôroku nguyên niên (1457). Nếu tính cho đến thời điểm đó th́ từ năm Engen nguyên niên cho đến năm Genchuu thứ 9 đă là 57 năm, đến tháng 12 năm Chôroku nguyên niên thêm 65 năm nữa, thực ra tất cả trong khoảng 122 năm ấy, những ḥn máu rơi của Nam Triều đă náu ḿnh trong xứ Yoshino để chống cự lại lực lượng ở kinh sư.

            Từ đời cha ông, dân t́nh Yoshino vẫn một ḷng một dạ với Nam Triều nên mới giữ truyền thống đó mà tính toán là Nam Triều đă được tiếp nối đến tận thời của Vua Nhà Trời. Việc khăng khăng chủ trương "không phải chỉ có trên sáu mươi năm mà cả hơn trăm năm kia!" thành ra chẳng có ǵ vô lư. Về phần tôi, nhờ cái duyên may thích đọc Thái B́nh Kư (Taiheiki) [xi]hồi c̣n bé nên có hứng thú t́m hiểu những chuyện bí mật về Nam Triều, và từ lâu vẫn ôm ấp hoài băo viết một quyển tiểu thuyết lịch sử đóng khung sự tích nhân vật chính của nó là Vua Nhà Trời.

            Theo một tập sách ghi chép lời truyền tụng của người làng Kawakami, có một thời, các di thần Nam Triều v́ lo sợ sự tập kích bất ngờ của quân Bắc đă dời căn cứ của họ từ Shionoha dưới chân ngọn Ôdaigahara vào hẻm Ôsugi gần biên giới xứ Ise, một vùng thật sâu trong núi ít khi có dấu chân người. Ở một nơi do ba thung lũng nhỏ hợp lại gọi là Sannoko, họ xây cung điện cho nhà vua và giấu ngọc tỉ truyền quốc trong một cái hang. Ngoài ra, theo như điều ghi chép lại trong các tập truyện kư Thượng Nguyệt Kư (Kôtsuki-ki), Xích Tùng Kư (Akamatsu-ki) th́ bọn ba mươi tên tàn đảng Akamatsu do Majima Hikotarô dẫn đầu đă trá hàng Vua Nhà Trời, rồi vào ngày thứ 2 tháng chạp năm Chôroku (1457), lợi dụng trời mưa tuyết lớn, bất đồ khởi sự, một cánh đánh vào cung Ôkôchi của ngài, một cánh tấn công dinh Tướng Quân đóng ở thung lũng Kônotani. Nhà vua rút đại đao ra chiến đấu nhưng cuối cùng phải chết dưới bàn tay nghịch tặc. Giặc cắt đầu vua, cắp cả ngọc tỉ lẫn thủ cấp bỏ chạy, giữa chừng bị tuyết nghẽn đường, đến đèo Obagamine th́ trời đă tối. Chúng mới vùi thủ cấp của ngài trong tuyết và qua đêm ở đó. Sáng hôm sau, lư trưởng cùng hương dơng của 18 làng vùng Yoshino truy kích đến nơi và giữa khi đang giao tranh kịch liệt, từ thủ cấp của nhà vua đang vùi trong tuyết, một luồng máu bỗng phun lên, nhờ đó mà họ đă đoạt lại nó mang về.

         Tùy theo sách vở, những chi tiết kể trên có khác nhau đôi chút nhưng câu chuyện đều đă được ghi lại trong Nam Sơn Tuần Thú Lục (Nanzan Junshu-roku), Nam Phương Kỷ Truyền (Nannpô Kiden), Anh Vân Kư (Ôun-ki), Thập Tân Xuyên Kư (Totsugawa-no-ki)  vv... Đặc biệt hai cuốn Kôtsuki-kiAkamatsu-ki vốn do những người tham dự vào biến cố đó lúc về già chép để lại hay là kư sự do con cháu của họ soạn ra nên không có ǵ để hồ nghi nữa. Một quyển cho biết lúc đó nhà vua mới mười tám tuổi, c̣n ḍng họ Akamatsu, tiêu vong một lần từ vụ nội loạn năm Kakitsu, có hưng thịnh trở lại cũng nhờ được báo đền cái công lao sát hại hai vị vương tử Nam Triều và mang quả ấn truyền quốc về kinh đô.

Chính v́ vùng núi sâu từ Yoshino cho đến Kumano giao thông tắc nghẽn như thế, việc những truyền thuyết xa xưa tồn tại lâu dài và những gia đ́nh cố cựu c̣n giữ được gốc gác, không phải là chuyện lạ lùng ǵ. Ví như chuyện nói về dinh cơ của họ Hori ở Anofu, nơi có lần thiên hoàng Go-Daigo chọn làm hành tại. Không những một phần ngôi nhà ngày nay hăy đứng nguyên mà người ta c̣n bảo con cháu tộc nầy bây giờ vẫn cư ngụ tại đó. Cả chuyện ḍng dơi một nhân vật tên Takehara Hachirô vốn được nhắc đến trong Thái B́nh Kư (Taiheiki)[xi], ở chương thuật lại cuộc bôn tẩu của hoàng tử Daitô [xii] (Đại Tháp) xuống vùng Kumano. Hoàng tử từng ở tạm nhà họ ít lâu, và có với con gái của gia đ́nh ấy một đứa con trai cho nên nhà Takehara nhờ đó cũng được hiển vinh. Ngoài ra c̣n có một tục lệ xưa hơn nữa ở một làng tên gọi Gokitsugu trong vùng núi non Ôdaigahara : người chung quanh vùng đó cho rằng dân làng nầy là con cháu của quỷ sứ nên không bao giờ chịu gả bán với họ mà người làng Gokitsugu cũng không màng đến việc cưới hỏi dân thiên hạ. Họ c̣n tự xưng ḿnh là ḍng dơi của bọn quỉ sứ đă mở đường cho En-no-Gyôja (ông tổ của các thầy tăng du hành trên núi) nữa! V́ phong thổ của vùng nầy như thế cho nên trong dân chúng không thiếu ǵ những gia đ́nh cố cựu, gọi là "gia đ́nh ḍng dơi", tự cho trong người ḿnh có ḍng máu của lớp hào tộc địa phương ngày xưa đă từng phục vụ các quan Nam Triều. Hiện nay, vùng chung quanh Kashiwagi, hàng năm đến ngày mồng 5 tháng 2, bao giờ cũng có cúng tế "Ngài Nam Triều", c̣n ở chùa Kim Cương Tự (Kongô) ở Kônotani, nơi có dấu vết dinh Tướng Quân xưa, người ta cũng cử hành lễ triều bái năm mới một cách trang nghiêm.Vào dịp đó, hơn vài chục gia đ́nh gọi là con nhà ḍng dơi, được đặc biệt cho phép mặc lễ phục có hoa văn bông cúc mười sáu cánh và được ngồi lên trên trước cả đại diện của quan đầu tỉnh hay đầu quận.

Việc được làm quen với vô số những tài liệu như thế chỉ nung nấu trong tôi ư nghĩ sẵn có là lập kế hoạch viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử về đề tài này. NamTriều - Yoshino vào mùa anh đào nở - vẻ thần bí chốn thâm sơn - ông Vua Nhà Trời mới mười tám tuổi - nhân vật Kusunoki Jirô Masahide - cái ấn truyền quốc dấu trong hang núi - thủ cấp nhà vua phun bắn máu trong đám tuyết vv...chỉ cần thử nêu ra chừng ấy thôi, thiết tưởng không đề tài nào c̣n có thể đặc sắc hơn.Ngoài ra, bối cảnh câu chuyện lại tuyệt vời. Sân khấu của nó đủ cả khe suối, ghềnh đá, cung điện, lều tranh, anh đào mùa xuân, lá đỏ mùa thu, đem tom góp những cái đó và làm sống lại nó là có thể thành h́nh rồi. Hơn thế, người viết không chỉ dựa vào tưởng tượng v́ ngoài chính sử là cái dĩ nhiên, không nói cũng biết đă có sẵn biết bao nhiêu truyện kư hoặc văn thư cổ. Cho dầu tác giả có sử dụng sự thực lịch sử một cách tùy tiện thôi đi nữa, th́ cũng đủ soạn ra một quyển sách thú vị. Nếu chịu khó nhuận sắc một chút, trộn lẫn vào đó ít truyền thuyết và lời đồn đại trong dân, tô điểm bằng những nét độc đáo của địa phương, dùng những chi tiết như ḍng dơi quỷ sứ, tăng nhân tu hành trên ngọn Ômine, khách đi hành hương vùng Kumano vv...rồi dựng nên một nhân vật nữ chính qua h́nh ảnh người con gái đẹp kết duyên với nhà vua, hay một nàng công chúa nào đó vốn là con cháu hoàng tử Daitô, chẳng hạn. Nếu biết sáng tạo như thế, có lẽ câu chuyện lại hào hứng hơn. Tôi lấy làm lạ là không hiểu v́ cớ ǵ măi đến ngày nay chừng ấy chi tiết chưa lọt được vào mắt của một ông văn sĩ nào.Nhất là trong một cuốn như Hiệp Khách Truyện (Kyôkakuden) [xiii] , nghe nói là tiểu thuyết viết dở dang của Bakin [xiv] mà tôi chưa được đọc, có một nhân vật tưởng tượng là tiểu thư Koma-hime, con gái ḍng dơi họ Kusunoki nhưng xem ra h́nh như không dính dáng ǵ đến sự tích Vua Nhà Trời. Ngoài ra, những tác phẩm viết về nhà vua trên núi Yoshino th́ vào thời Tokugawa có một hay hai cuốn nhưng không hiểu trong đó, người viết lấy được mấy phần sự thực lịch sử để làm chuẩn. Nói tóm lại, đảo mắt một ṿng xem qua thôi th́ người đời, kể từ lănh vực tiểu thuyết đại chúng bước sang sân khấu múa rối cho đến kịch tuồng, không thấy ai lưu tâm đến sự tích nầy.V́ lư do đó, trong khi chưa có kẻ mó tay vào, tôi muốn thế nào cũng phải sử dụng ngay những tư liệu ấy.

Lúc ấy may mắn có người đem đến cơ hội không ngờ để t́m hiểu về địa lư và phong tục vùng núi sâu, đó là cái anh chàng Tsumura, bạn của tôi hồi Dự Bị Đại Học [xv]. Tsumura vốn dân Ôsaka, nhưng thân thích lại sinh sống ở Kuzu thuộc vùng Yoshino nên nếu nhờ được Tsumura giúp hỏi thăm về địa điểm đó qua bọn họ th́ thật tiện.

Ven bờ sôngYoshino, có hai làng mang tên Kuzu.Về phía hạ lưu, tên cái làng gọi là Kuzu được viết bằng chữ Cát (sắn dây ) [xvi]. Phía thượng lưu (quê Tsumura) th́ tên Kuzu lại viết là Quốc Thê (Chổ Nhà Nước Tạm Trú). Cái lớp tuồng Nô nổi tiếng Kuzu, liên quan đến sự tích thiên hoàng Tenmu [xvii], tức vị thiên hoàng đă lên ngôi ở cung Kiyomihara tự thời Asuka (cuối thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 7), là tên của địa điểm thứ hai. Thế nhưng cả Kuzu (Cát) lẫn Kuzu (Quốc Thê) không chỗ nào sản xuất ra kuzuko tức bột sắn giây, thổ sản tên tuổi của vùng Yoshino. Dân Kuzu (Cát) th́ không biết thế nào chứ người Kuzu (Quốc Thê) chuyên sống bằng nghề làm giấy. Cho đến bây giờ người ta vẫn theo phương pháp cổ truyền, lấy sợi kôzo, một loại lá dâu núi, tẩy nó bằng nước sông để chế tạo giấy lối thủ công. Thế rồi, h́nh như làng Kuzu này lại có rất nhiều người mang cùng một họ kỳ cục gọi là họ Konbu. Bà con của Tsumura cũng họ Konbu, lại sống bằng nghề làm giấy và được xem như một gia đ́nh đông đúc nhất ở đấy. Theo lời Tsumura, họ Konbu cũng là một gia đ́nh cố cựu và nhất định có mang không ít thời nhiều ḍng máu của các di thần Nam Triều.Từ khi có dịp hỏi thăm gia đ́nh nầy, tôi mới biết cách đọc chính xác tên các địa danh, ví dụ như Nhập Ba th́ phải đọc là Shionoha, Tam Công là Sannoko...Và cũng nhờ người họ Konbu cho biết, muốn đi từ Kuzu (Quốc Thê) tới Shionoha th́ sau khi vượt qua ngọn Đèo Gosha ( Ngũ Xă) hiểm trở rồi, phải đi hơn năm dặm nữa; muốn tới Sannoko th́ phải đi hai dặm mới tới ngơ vào hẻm núi, c̣n như muốn vào tận chỗ sâu nhất nơi ngày xưa Vua Nhà Trời ngự lại mất thêm bốn dặm. Những chuyện như thế chăng nữa đều là điều nghe kể cho thôi v́ dân Kuzu (Quốc Thê) có mấy ai đă lên chỗ măi đầu nguồn!. Chẳng qua, theo những người sống bằng nghề thả bè trên sông học lại, phía sâu trong hẻm núi, ở vùng đất bằng gọi là Hachimandaira có một làng gồm năm bảy gia đ́nh làm nghề đốt than sinh sống và nếu đi thêm ba bốn dặm, sẽ tới chỗ ẩn tít trong cùng gọi là Kakushidaira, mới thực sự là nơi có dấu vết cung điện của Vua Nhà Trời cũng như hang động ngày xưa cất dấu ngọc tỉ. Từ cửa ngơ hẻm núi đi vào bốn dặm th́ đường đất thật chẳng ra đường, chỉ có vách đá dựng lên liên tiếp đến nỗi những nhà sư du hành tu trên ngọn Ômine cũng không dễ ǵ vào tận đó.Thường người chung quanh vùng Kashiwagi đi tắm suối nước nóng dọc bờ sông Shionoha, chỉ đến đây là cùng.Thực ra, nếu đi vào sâu thêm trong hẻm núi th́ hăy c̣n có rất nhiều suối nước nóng phun ra tự trong ḷng khe và có nhiều thác nước từ sườn núi cao đổ ào xuống như thác Myôjin chẳng hạn nhưng chỉ có dân mạn ngược hay bọn đốt than mới biết được phong cảnh tuyệt vời như vậy.

Câu chuyện của mấy tay thả bè kể lại đă góp phần làm cho thế giới tiểu thuyết của tôi phong phú thêm một bậc, và h́nh ảnh suối nước nóng phun ra từ trong ḷng khe là một chi tiết ăn tiền để đem vào câu chuyện. Tuy nhiên bấy giờ tôi đă tiến hành điều tra để có tất cả tin tức cần thiết trong khả năng của một người ở xa nên nếu không có lời mời của Tsumura th́ tôi cũng chả hơi đâu vào măi tận chốn thâm sơn cùng cốc ấy. Thu thập chừng nầy tư liệu rồi th́ không đến tận chỗ mà chỉ cần huy động trí tưởng tượng thôi cũng đủ để viết. Xử lư kiểu này không phải là không có cái hay của nó. Thế nhưng, lời nhắn tin của Tsumura: "Mấy khi có cơ hội, rán vào trong nầy chơi cho biết!" đă đến nơi tôi ở khoảng cuối tháng mười hay đầu tháng mười một năm đó th́ phải. Vừa vặn đúng dịp Tsumura có việc phải gặp mấy người thân quyến ở Kuzu (từ đây xin hiểu là Quốc Thê), và anh ta nói đại khái: "Tuy có lẽ không đi nổi đến tận Sannoko, nhưng nếu cậu đánh bộ một ṿng quanh khu vực phụ cận Kuzu th́ nội việc khảo sát sơ sơ địa lư và phong tục trong vùng cũng đă có ích rồi. Không riêng lịch sử Nam Triều thôi đâu. Vào tận địa phương như thế nầy làm ǵ cậu chả đào thêm được một số chi tiết khác cũng hấp dẫn không kém để có thể viết thêm một lô hai ba tác phẩm nữa. Không bỏ công đâu, vả lại cậu cũng phải chứng tỏ ḿnh là người có lương tâm nhà nghề một chút chứ! Lúc nầy thời tiết vừa đẹp, thuận lợi cho việc đi đường. Thăm viếng Yoshino đă đành phải đợi đúng dịp anh đào nở, nhưng mùa thu cũng nên thơ không kém đâu, cậu ơi!".

Tôi nhập đề có hơi dài ḍng nhưng quả là tôi đă bất chợt lên đường trong những t́nh huống như trên. Một phần v́ cái lư do mà Tsumura gọi là "lương tâm nhà nghề" nhưng thực tâm mà nói, chính cái viễn tượng được rong chơi đây đó mới là điều đă thuyết phục tôi ra đi .

Phần Hai: Núi Vợ Chồng

V́ Tsumura cho biết đến ngày hẹn anh ta sẽ lên đường từ Ôsaka, tới Nara th́ trọ ở lữ quán Musashino dưới chân núi Wakakusa...nên phần ḿnh, tôi cũng đáp tàu đêm từ Tôkyô và sau một đêm ngủ trọ ở Kyôto, sáng hôm sau đă đặt chân lên Nara. Lữ quán Musashino bây giờ hăy c̣n nhưng chủ th́ h́nh như không phải là người cũ thời đó. Hai mươi năm về trước, lữ quán đă cũ kỹ rồi nhưng tôi nhớ nó có vẻ thanh nhă. Sau đó ít lâu Tổng Cục Đường Sắt mới xây khách sạn của họ chứ thời đó th́ những nhà trọ như Musashino và Kikusui đă là sang nhất đám. Phần v́ Tsumura có vẻ nôn nóng không muốn nán lại thêm, phần v́ tôi đă đi chơi ở đây hoài, không c̣n lạ ǵ cảnh vật của Nara, nên trong khi trời c̣n đang tốt, hai chúng tôi chỉ ngồi trong pḥng trọ một hai tiếng đồng hồ đủ ngắm ngọn Wakakusa, xong là lên đường.

Đổi xe ở Yoshinoguchi, chúng tôi đáp chuyến tàu xọc xạch trên tuyến đường phụ đến ga Yoshino rồi từ đó bắt đầu đi bộ trên đường cái dọc theo ḍng sông Yoshino. Gần Vũng Sáu Khoanh Ruộng (Mutsuda no Yodo) và Bến Đ̣ Liễu (Yanagi no Watashi), hai địa danh được nhắc đến trong tập thơ cổ Vạn Diệp Tập (Manyô-shuu), con đường rẽ làm hai. Nhánh bên hữu đưa về ngọn núi Yoshino, nổi tiếng v́ hoa anh đào. Qua khỏi cầu đă đến thẳng được Ngh́n Cội Đào Dưới Núi ( Shimo no Senbon) , rồi rặng đào Sekiya, đền Zaô Gongen, đền Yoshimizu, Ngh́n Cội Đào Lưng Núi (Naka no Senbon), những nơi mà mỗi mùa xuân khách thưởng hoa dạo chơi đông đảo. Thật ra tôi đă đến Yoshino xem hoa hai lần rồi, một lần hồi nhỏ theo mẹ đi thăm Kyôto, và lần thứ hai lúc đang học cấp ba. Tôi nhớ mấy lần trước đều cùng đám đông leo lên núi bằng con đường bên tay mặt, nhưng đấy là lần đầu, tôi đi thử con đường tay trái.

Dạo sau nầy, v́ xe hơi và đường dây cáp có thể lên tới Ngh́n Cội Đào Lưng Núi (Naka no Senbon) nên nơi đây không c̣n những người lững thững tản bộ xem hoa chứ hồi xưa, khách thưởng ngoạn khi lấy con đường rẽ tay mặt để lên núi, thường dừng chân trên cầu quăng Mutsuda no Yodo để ngắm cảnh sắc cánh đồng ven sông Yoshino.

"Xem ḱa! Xem đằng kia ḱa !  Núi Vợ Chồng (Imoseyama) đấy nhé !. Bên trái là ngọn  Ḥn Vợ (Imoyama), bên phái là  Ḥn Chồng (Seyama) "

Anh phu xe kéo dẫn đường từ trên lan can thành cầu đưa tay chỉ về phía thượng nguồn, làm người lữ khách ngừng cây gậy trúc. Ngày xưa, mẹ tôi cũng thường bảo ngừng xe ở giữa cầu, ôm tôi, lúc đó c̣n chửa biết ǵ, vào ḷng :

" Nầy, c̣n nhớ tuồng hát Núi Vợ Chồng không hở con ? Đây là Núi Vợ Chồng thật đấy , con ạ ! "

Mẹ thỏ thẻ bên tai tôi như thế. Lúc đó tôi c̣n bé quá nên không giữ lại ấn tượng nào rơ rệt, chỉ c̣n nhớ lại cái lạnh se da giữa tháng tư c̣n phủ lên vùng núi non, trong một buổi chiều mà ṿm hoa giăng giăng trông giống những đám mây dưới một khung trời sương dâng nḥa nhạt. Ḍng sông Yoshino mà mặt nước ở trên đường gió lướt, lăn tăn gợn sóng trông như tấm vóc, đang từ hẻm xa nơi núi xếp nếp mấy từng, trăng trắng trôi về phía chúng tôi. Trong vùng núi non trùng điệp mờ ảo bỗng thấy hai quả núi nhỏ, đúng hơn là hai ngọn đồi dễ thương, hiện ra trong sương chiều .Tôi không nhận ra có một ḍng sông xen giữa hai quả núi v́ thấy chúng nó như đâu mặt với nhau nhưng theo vở tuồng tôi biết th́ chúng bị ngăn cách bởi một con sông. Trên sân khấu kabuki, chàng Koganosuke, con trai quan Chánh Án Kiyozumi và người vợ hứa hôn của chàng là tiểu thư Hinadori, hai người sống trên hai cái điện cao nh́n xuống thung lũng, một người bên Seyama, Ḥn Chồng, một người bên Imoyama, Ḥn Vợ. Trong cả vở tuồng Imoseyama, cảnh tượng đó đối với tôi là đậm đà màu sắc thần tiên hơn cả nên nó đă ghi dấu hết sức sâu đậm trong bộ óc non nớt của tôi. Khi nghe mẹ nói, tôi nghỉ thầm " Ra thế , ngọn Imoseyama đấy à ! " và mơ tưởng nếu bây giờ đi tới ngay núi đó th́ tôi có thể gặp Koganosuke và người đẹp của chàng. Kể từ ngày ấy, tôi không bao giờ quên cảnh vật được nh́n từ trên cầu và nhiều khi bất chợt nghĩ về nó với niềm luyến tiếc. Thế rồi mùa xuân năm hăm mốt hăm hai tuổi, khi về thăm Yoshino lần thứ hai, tôi lại có lần tựa thành cầu, vừa ôn kỷ niệm về người mẹ đă quá cố vừa nh́n đăm đăm phía nguồn sông. Con sông Yoshino từ chỗ dưới chân ḥn núi cùng tên bắt đầu nới rộng ra rồi vào đến b́nh nguyên cho nên nước không c̣n chảy xiết mà có dáng dấp thoải mái của " ḍng nước trôi giữa đồng bằng ". Phía tả ngạn thượng nguồn, tôi có thể thấy những cái mái thấp và dăy tường lốm đốm trắng của khóm nhà đơn sơ, cổ kính. Đó là thị trấn  Chợ Trên (Kamiichi), dính làm một với đường cái quan, lưng đâu vào sườn núi và mặt nh́n xuống ḍng sông.

Lần nầy, qua khỏi chân cầu Mutsuda và khi đến ngă ba th́ tôi chọn con đường bên trái, lấy hướng Núi Vợ Chồng (Imoseyama), nơi mà tôi đă đứng ngắm từ phía hạ lưu. Đường cái quan viền theo bờ sông và chạy thẳng tới trước, mới nh́n th́ tưởng là bằng phẳng, dễ đi, nhưng tôi nghe nói khỏi Kamiichi, đến khúc ngang qua Miyataki, Kuzu, Ôtaki, Sako, Kashiwagi, nó sẽ dần dần chui vào vùng núi non thâm sâu của Yoshino, sau đó lên tới nguồn sông Yoshino, vượt qua ngọn núi làm ranh giới giữa hai vùng Yamato và Kii rồi cuối cùng thoát ra ngoài băi biển Kumano.

Chúng tôi khởi hành từ Nara sớm sủa nên vừa quá ngọ chút xíu đă vào thị trấn Kamiichi. Như ấn tượng tôi đă có khi nh́n từ trên cầu, những ngôi nhà ở Kamiichi cất hai bên đường cái quan có vẻ thô sơ, cổ kính.Về phía bờ sông, dăy nhà đôi khi có chỗ bị cắt quăng thành ra chỉ c̣n một bên phố nhưng nói chung, khu nhà vẫn đủ ngáng tầm mắt không cho thấy ḍng nước. Hai bên đường, những căn nhà với những chấn song ám khói và gác thấp sát dưới mái, trông như chụm lại bên nhau.Vừa bước đi vừa chơ mắt nh́n vào nhà qua các chấn song, tôi thấy chúng được cất theo kiểu thông thường của các nhà dân, nghĩa là có lối đi thông trên nền ra đến cửa bên kia. Phần nhiều trên cửa vào của những lối đi này có treo một tấm rèm màu xanh thẫm, có tên cửa hiệu hay tên ḍng họ, kẻ bằng màu trắng. Không riêng các cửa hiệu, dường như nhà thường dân cũng có tục lệ treo rèm kẻ tên. Mái hiên nhà nào cũng thấp xuống, trông thiếu điều mặt tiền sắp sập tới nơi. Cửa vào hẹp nhưng ở đằng sau rèm, thấp thoáng bóng cây cối trong sân giữa và cả những căn nhà phụ nữa. Nhà cửa ở vùng nầy xem ra cất đă trên năm mươi năm, có cái từ một trăm, ngay cả hai trăm năm trước. Tuy nhà cửa th́ cũ thật nhưng giấy hồ phết cửa nom hăy c̣n mới, không bị vết ố như thể vừa mới thay. Ngay dăm vết rách tí tẹo cũng được che cẩn thận bằng những tờ giấy h́nh cánh hoa dán đè lên. Cái màu của giấy dán cửa, trong bầu không khí trong ngăn ngắt của ngày thu càng trắng đến lạnh lùng. Một phần v́ ở đây không bụi bặm nên mới giữ được thanh khiết như thế, một phần v́ dân cư không lắp cửa kính nên họ thường lưu tâm giữ ǵn sự sạch sẽ của cửa giấy hơn người thành phố. Nếu có thêm một lớp cửa kính bên ngoài như nhà ở Tôkyô th́ không nói làm ǵ chứ nếu chỉ có độc một lớp giấy và không chịu ngó ngàng tới, lúc giấy bẩn đi, nhà sẽ tối, c̣n khi giấy bị thủng, gió sẽ lùa vào. Cửa giấy mới toanh như thế th́ cho dù chấn song hàng hiên và đồ vật trong nhà có đen điu, vẫn thấy thanh cảnh ngăn nắp, chẳng khác nàng con gái đẹp, tuy nghèo nhưng biết trau chuốt dáng dấp của ḿnh. Khi nh́n màu nắng chiều le lói trên cánh cửa giấy, tôi mới cảm thấy thấm thía cái hương vị của mùa thu.

Thực ra, tuy trời tạnh và trong vắt nhưng những tia nắng phản chiếu chỉ làm cảnh vật sáng sủa ra và giúp cho cái đẹp thấm nhẹ vào châu thân chứ không đến nỗi chóa mắt. Mặt trời đang chiếu trên mặt nước sông, ánh lên tận những tấm giấy phết trên cửa của dăy nhà nằm phía tay mặt. Những quả hồng bày trước tiệm hoa quả trông đẹp một cách lạ lùng, nào là hồng chín cây, hồng tiến, hồng vùng Mino, tất cả những loại hồng nầy khoe trước hiên lớp vỏ màu san hô già láng bóng của quả chín đang bắt lấy ánh nắng và nhấp nháy như những con ngươi. Ngay cả những lọn bánh canh bột ḿ udon để trong hộp kính trước cửa tiệm bán udon cũng có vẽ tươi hơn. Trên đường, trước hiên nhà, người ta trải chiếu rơm và đặt những cái nia để phơi tro. Đâu đây vẳng lại tiếng đập sắt ở ḷ rèn và tiếng sàn sạt của máy xay lúa.

Chúng tôi đi bộ ra măi b́a thị trấn, đến một cái quán bán thức ăn cất ở ven sông và ăn trưa.Khi nh́n từ phía cầu, tôi có cảm tưởng Inoseyama phải nằm tít măi phía thượng nguồn nhưng đến đây mới thấy hai quả đồi đó đă hiện ra trước mắt. Con sông tách chúng ra, phía bờ bên nầy là Imoyama, Ḥn Vợ, c̣n bờ bên kia mới là Seyama, Ḥn Chồng. Tác giả của vở tuồng Đem Sự Tích Núi Vợ Chồng Dạy Đàn Bà ( Imoseyama Onna Teikin)[xviii]  có lẽ nhân đến viếng vùng này mà cấu tứ viết nên vở đó chăng? Tuy nhiên, bề ngang của ḍng sông nơi đây có vẽ rộng răi hơn và không đến nổi chảy xiết như trong vở kịch. Cho dầu lâu đài của Koganosuke và Hinadori trên hai ngọn đồi có thực đi nữa, hai bên không thể nào gọi nhau để nói chuyện như trên sân khấu được. Ḥn Chồng dính liền với một giồng đất ở phía sau nó nên h́nh thù không được cân đối nhưng Ḥn Vợ là một quả đồi tṛn trịa, đứng một ḿnh, bao phủ cây cối xanh um và thị trấn Kamiichi kéo dài tận đến dưới chân nó. Nếu từ phía sông mà quét một cái nh́n th́ sẽ thấy đằng sau lưng mỗi ngôi nhà như có thêm một tầng gác.Nhà trệt thành ra hai tầng, hai tầng th́ xem như ba. Trong số đó, nhiều nhà có bắt đường dây cáp từ tầng gác xuống tận mặt sông. Người ta mắc một cái thùng gỗ vào đó và tḥng nó xuống sông để lấy nước.

- Nầy cậu! Hết Imoseyama hăy c̣n có Ngh́n Cội Đào Yoshitsune (Yoshitsune Senbonzakura ) đấy nhé!

Tsumura bất đồ quay sang nói với tôi như thế.

- Ngh́n Cội Đào th́ phải xuống Chợ Dưới ( Shimoichi) chứ nhỉ! Tôi nghe ở đó có cửa hiệu tên là Tsurubezushi [xix] cơ mà.

Quan tướng Koremori [xx] hồi chạy loạn, để tránh địch lùng bắt, có lần làm con nuôi nhà bán cơm nắm cá giấm (tsurubezushi). Đó là lời chi tiết người ta bày vẽ ra trong tuồng múa rối jôruri, thế mà ở Shimoichi, có những kẻ dựa vào chuyện đó để tự xưng là con cháu của ngài. Tôi chưa t́m hiểu việc ấy bao giờ nhưng có nghe lời người ta đồn đại. Họ bảo nhà Tsurubezushi không có một ai mang tên Igami no Gonta [xxi] như anh con trai lêu lổng ngày xưa, nhưng con gái họ hăy c̣n được gọi là Osato giống sự tích trong tuồng hát và vẫn bán cơm nắm cá giấm bày trong hộp gỗ h́nh chiếc gàu múc nước. Khi đề cập đến tên vở tuồng, Tsumura không có ư định nhắc đến hồi này mà chỉ muốn nói về đoạn có cái trống Tiếng Đầu Tiên (Hatsune[xxii] của phu nhân Shizuka [xxiii] mà thôi. Ở Hái Rau (Natsumi ), một ngôi làng phía thượng lưu ḍng sông, nghe nói có một gia đ́nh c̣n giữ lại chiếc trống đó làm vật gia bảo nên Tsumura đề nghị tôi ghé lại đó kiếm xem.

Tôi nghĩ làng Natsumi phải nằm trên bờ sông Natsumi như nói đến trong vở tuồng Nô nhan đề Hai Nàng Shizuka ( Futari Shizuka[xxiv]. "Có nàng con gái hay thơ thẩn . Đến bên ḍng sông Natsumi.." và sau tiếng hát đó, hồn ma của phu nhân Shizuka sẽ hiện ra: "Để ḷng ta vơi bao tội lỗi. Người chép trang kinh giùm ta đi ", và sau đó kèm theo điệu vũ với lời ca như thế này nữa:

"Thân mang nhiều tủi thẹn
Chuyện xưa nào dám quên...
Giữa đồng Yoshino
Người ơi, ta đâu chỉ
Là cô gái hái rau
Trên sông Natsumi"

Những điều đó giúp suy ra rằng đất Natsumi phải có duyên nợ ǵ với phu nhân Shizuka và truyền thuyết về người không phải là điều bịa đặt thôi đâu. Trong sách Yamato Meisho Zue minh họa những thắng cảnh của đất Yamato c̣n chú thích: "Làng Natsumi có nước ngon nổi tiếng , gọi là Hoa Lung Thủy hay Nước Trong Lồng Hoa, lại có dấu tích phủ đệ mà phu nhân Shizuka tá túc một thời gian". Nh́n đó khắc biết những chuyện người ta c̣n truyền tụng có lẽ đă bắt nguồn từ lâu rồi.Gia đ́nh c̣n giữ chiếc trống đó bây giờ mang họ Ôtani nhưng ngày xưa gốc gác là trại chủ trang trại Murakuni. Theo lời thuật lại của những nhà cố cựu, trong năm Bunji (1185-1190) khi tướng Yoshitsune và người ái thiếp Shizuka lưu lạc xuống vùng Yoshino, có ở lại làng ấy. Khu vực phụ cận hăy c̣n mang các địa danh nổi tiếng như Lạch Voi (Kisano Ogawa), Cầu Chợp Mắt (Utatane no Hashi), Cầu Củi (Shibahashi) . Khách văng cảnh có nhiều người muốn t́m xem cái trống Hatsune nhưng nhà chủ coi như là vật gia bảo nên hễ không có kẻ giới thiệu cho trước vài hôm th́ không bao giờ bạ ai cũng cho xem. Tsumura đă pḥng sẳn chuyện đó nên đă cậy thân quyến ở Kuzu nói lót trước rồi. Có lẽ hôm nay họ đang đợi chúng tôi.

- Thế có phải đó là cái trống căng bằng da chồn mẹ mà mỗi lần bà ái thiếp Shizuka vỗ kêu cái boong th́ chồn con giả làm Tadanobu lại hiện ra đấy phỏng?

- Ừ, đúng rồi. Trong tuồng hát th́ như thế đấy!

- Có gia đ́nh giữ được trống ấy à?

- Thiên hạ bảo thế!

- Căng da chồn làm trống thực sao?

- Tớ chưa thấy tận mắt cái trống nên không dám nói liều.Tuy nhiên, chuyện gia đ́nh đó có gốc gác lâu đời là sự thật.

- Tớ chỉ e chuyện này lại giống như chuyện tiệm bán cơm nắm cá giấm bày trong gàu gỗ. Chắc có bố nào tinh nghịch đi xem tuồng Futari Shizuka về nghiễn ra thôi!

- Có thể lắm! Nhưng tớ lại có chút lư do muốn xem cái trống đó một chút. Thế nào ḿnh cũng nên t́m đến thăm gia đ́nh Ôtani để được nh́n cái trống Hatsune. Tớ đă định bụng như vậy từ lâu và cũng v́ mục đích đó mà tớ cất công đi chuyến nầy.

Nghe Tsumura bảo thế tôi nghĩ chắc có duyên do ǵ rồi nhưng chỉ nghe anh ta nói vỏn vẹn: "Rồi tôi sẽ cho cậu biết sau!"

Phần Ba : Cái Trống Hatsune

Để đi từ Kamiichi đến Miyataki, chúng tôi vẫn tiến bước dọc bờ bên phải của con sông Yoshino. Càng đi vào sâu trong núi, vẻ thu dường như tăng thêm. Đôi khi chúng tôi đi vào giữa những lùm cây sồi, bước trên lá khô nghe xào xạc. Chung quanh chốn này, cây phong tương đối ít, và hơn nữa, chúng không mọc tụ vào một chỗ. Tuy vậy, lá cây đă đỏ ối: nào là trường xuân, thù du, sơn...điểm xuyết đó đây trong rặng tuyết tùng bao trùm đỉnh núi, khoe những đám lá màu đỏ đậm đến màu vàng nhạt. Tuy cùng gọi là lá đỏ nhưng ngắm cảnh ở đây mới thấy dù vàng, đỏ hay nâu, màu sắc có đủ loại và hết sức phức tạp. Cùng là lá vàng mà có đến mươi thứ màu vàng khác nhau. Người ta bảo khi mùa thu đến, người trong vùng Shiohara thuộc Shimotsuke (tỉnh Tochigi gần Tôkyô) mặt ai cũng đỏ. Nếu phong cảnh trông đẹp ra khi có lá đỏ bao trùm khắp nơi nhưng nếu chỉ lác đác như ở chỗ này th́ cũng chẳng kém chi. Những kiểu nói "đua khoe sắc thắm " hay "muôn hồng ngh́n tía" là để tả cảnh hoa nở trên cánh đồng xuân nhưng ở đây nào khác, có chăng là màu vàng mới là màu cơ bản. Sự biến hóa của màu sắc cũng phong phú chẳng kém vào mùa xuân. Ngoài ra, lá vàng rơi xen giữa mấy kẽ núi xuống khe suối trong ánh nắng ngập tràn đôi khi lấp lánh không khác chi lớp bụi vàng trên mặt nước.

Ly cung của thiên hoàng Tenmu ở Yoshino trong câu thơ "Thiên hoàng ngự đến Cung Yoshino", cái dinh thự mà thi nhân Kasano Kanamura [xxv] gọi là "ngự sở lớn xây bên bờ thác Miyoshino", cánh đồng Akizu thấy trong thơ Hitomaru [xxvi] , cũng như ngọn núi Mifune...được tập cổ thi Man.yôshuu nhắc đến, tất cả những nơi đó nghe nói đều nằm gần làng Thác Cung Điện (Miyataki) ngày nay. Chưa vào sâu trong làng, chúng tôi đă rời con đường cái mà vượt qua bờ bên kia. Ở đây, hẻm núi hẹp dần, bờ đá dựng đứng, nước trên cao đập mạnh xuống những tảng đá lớn nằm lót dưới ḷng sông hay đổngập đầy những vực thẳm xanh ngắt. Cầu Utatane bắt ngang qua một cái vực, nơi mà ḍng suối từ trong lùm cây cối rậm rạp của trũng Kisatani chảy ŕ rầm rồi đổ vào lạch Kisa. Chuyện tướng Yoshitsune ngủ đỡ giấc trên cầu có lẽ bắt nguồn từ trí tưởng tượng của người đời sau. Cái cầu mong manh đến sợ, bắc qua ḍng nước suối trong hầu như ẩn dưới những cḥm lá xanh um, có một mái che tựa mái thuyền, nom dễ thương, không phải để che mưa mà chắc là để che lá rụng. Nếu không như thế th́ vào mùa thu lá rụng như bây giờ, chẳng mấy lúc cầu bị lá cây lấp cả. Cạnh bên cầu, có hai túp nhà nông dân. Ở dưới mái cầu, hết phân nửa diện tích dường như bị họ dùng để chứa đồ như nhà ḿnh V́ họ chất đầy củi nên trên cầu chỉ c̣n đủ chỗ cho một người đi qua. Chỗ này tên gọi  Cửa Thông Nước (Higuchi). Từ đây con đường chẻ ra hai nhánh, một dọc theo bờ sông đi xuống làng Natsumi, c̣n đường kia th́ sau khi vượt khỏi cầu Utatane, đi ngang qua đền Sakuragi và làng Kisatani, lên đến Ngh́n Cội Đào Trên Cao (Kami no Sempon) hướng về Nước Trong Bám Rêu (Kokeno Shimizu) và thảo am của nhà thơ Saigyô [xxvii] . Nghe nói cái người "đạp tuyết trắng rẽ sườn non " [xxviii] thấy trong thơ của phu nhân Shizuka đă qua chiếc cầu này để đi từ vùng thâm sơn Yoshino xuống thung lũng Nakano In.

Khi chúng tôi nhận ra nó th́ ngọn núi không biết tự lúc nào đă đến sát bên và cao sừng sững trên đường đi.Khung trời thu hẹp lại, tưởng chừng cả ḍng sông Yoshino lẫn nhà cửa cũng như con đường đều như phải nghẽn lại ở hẻm núi nầy. Thế nhưng làng mạc là thứ mà hể có kẻ hở xen vào được th́ nó sẽ vươn ra măi bất cứ đến đâu. Ba bên bị núi bao vây chỉ c̣n một chỗ trũng giống như cái đảy, bên bờ một con sông ứ nước, đă thấy những mảnh đất h́nh bậc thang người ta càn ra, trên ấy có nhà tranh và ruộng rẫy. Chính là làng Natsumi. Thế ra chốn có nước chảy, núi giăng, là địa h́nh nơi người sa cơ đến "ở tạm".

Chúng tôi hỏi thăm nhà của gia đ́nh Ôtani th́ được biết ngay. Nó nằm ngoài bờ sông, trong một băi dâu, cách lối vào làng chừng một cây số.Đó là một ngôi nhà có mái thật đẹp. Thân cây dâu đă lên khá cao nên từ xa nh́n tới, cái mái tranh của căn nhà chính ra vẻ nhà xưa và mái căn nhà phụ với hàng hiên lợp ngói, nổi lên trên những rặng dâu như đảo nằm giữa biển và có vẻ mời mọc khách. Tuy nhiên, được mỗi cái mái chứ ngôi nhà chỉ là một cái nhà nông dân b́nh thường, có cất thêm hai căn pḥng nh́n ra đám ruộng dâu. Cửa giấy mở toang ra phía trước, và trong gian tiếp giáp với pḥng khách, một người đàn ông trạc bốn mươi, tướng như chủ nhà đang ngồi. Khi thấy bóng chúng tôi, chưa kịp tự giới thiệu th́ ông đă ra chào đón. Mặt ông rám nắng, xương xẩu, mắt hiền lành nhưng mệt mỏi, bờ vai rộng, hoàn toàn là h́nh ảnh của một nông dân đơn sơ, chất phác.

- Nghe ông Konbu trên Kuzu nói chuyện hai ông nên từ năy giờ tôi có ư mong.

Ông ta chào hỏi với một giọng địa phương quê mùa khó hiểu và để trả lời câu hỏi thăm của chúng tôi, ông ta cũng chẳng nói chi cho được rơ ràng mà chỉ biết lễ phép cúi đầu. Tôi nghĩ đây là một gia đ́nh đă sa sút, không c̣n giữ được tư thế của ngày xưa nhưng những người như ông ta có vẻ dễ tiếp xúc hơn.

- Chúng tôi xin lỗi đă quấy quả trong lúc ông bận rộn và biết rằng chẳng mấy khi ông để vật gia bảo quí giá lọt vào mắt người ngoài nhưng chúng tôi cũng mạo muội lặn lội đến xin phép ông cho xem.

- Không, đâu phải chúng tôi muốn dấu diếm ǵ....

Ông tỏ ra thẹn thùng và hơi bối rối cho biết tổ tiên căn dặn phải chay tịnh một tuần trước khi đem báu vật ra nhưng gia đ́nh ông cũng không giữ được qui tắc phiền hà ấy. Ông nói sẳn sàng đưa cho những ai ngơ ư muốn xem nhưng ngày ngày c̣n bận chuyện đồng áng nên không có thời giờ đón tiếp người đến thăm bất chợt.Nhất là gần đây v́ vụ tằm mùa thu chưa xong xuôi nên chiếu lót nhà hăy c̣n bị gỡ lên, khách lạ tới cũng chẳng có pḥng khách để tiếp.Chính v́ lẽ đó nên có thông báo trước th́ mới thu xếp để được rảnh rỗi.Ông ta vừa đặt hai bàn tay móng đen cáu ghét lên đùi, vừa trả lời một cách ngượng ngập.

Như thế mới biết rơ ràng là v́ hai đưa tôi mà ông đặc biệt cho lót chiếu hai gian buồng trở lại và ngồi đợi. Từ trong pḥng nh́n qua khe cửa ra phía nhà kho c̣n trơ sàn ván, tôi thấy nông cụ hăy c̣n bày ra ngỗn ngang như có ai mới vội vă dọn vào tạm.Phút chốc, nhà chủ đă đem bảo vật bày ra trên bệ, cung kính đặt từng thứ một trước mặt chúng tôi.

Một cuộn sách nhan đề "Gốc tích thôn Natsumi", vài thanh đoản đao và trường kiếm bái lĩnh từ ngài Yoshitsune, danh sách những vật ấy cũng như các thứ ổ kiếm, bao kiếm, ấm chén bằng sứ, và rồi cái trống Hatsune do lệnh bà Shizuka ban cho. Ở cuối cuốn sách mang tên "Gốc tích thôn Natsumi" trong số mấy món đồ đó, có chép:

"Vào dịp ngài Naitô Mokuzaemon là chức quan trông coi việc hành chính của Gojô [xxix] đến viếng, Ôtani Genbei, lúc đó 76 tuổi, có cơ hội được đón tiếp, đă ghi lại trên mặt giấy y nguyên những điều sau đây mà ông ta được nghe, để truyền lại con cháu trong nhà" với ngày tháng "Mùa hè năm Ansei thứ hai, Ất Măo".

Tương truyền chính năm Ansei thứ hai (1855) đó, khi quan hành chính địa phương Naitô Mokuzaemon đến làng này, th́ cụ tổ mấy đời của chủ nhà, ông lăo Ôtani Genbei, đă dập đầu xuống đất để thưa chuyện nhưng khi viên quan đọc được những điều ghi chép trong sách đă phải nhường cụ ta chỗ chiếu trên mà qú dưới đất. Có cái là cuốn sách này có chỗ đă cháy sém thành than, đen điu bẩn thỉu, đọc được cũng bở hơi tai cho nên sách có đính kèm một bản sao chép. Chả hiểu nguyên bản nói những ǵ nhưng bản chép lại đầy lỗi chính tả, không tài nào phân biệt chữ nọ với chữ kia, khó ḷng tin rằng người lảnh nhiệm vụ chép lại là kẻ ăn học đàng hoàng. Tuy nhiên, nếu tin vào văn bản th́ tổ tiên gia đ́nh nầy đă từng sinh sống tại đây từ trước thời Nara (710-794), trong cuộc biến loạn năm Nhâm Thân (672), chủ trang trại Murakuni là Oyori đă theo pḥ thiên hoàng Tenmu để chống lại hoàng tử Ôtomo (tức thiên hoàng Kôbun). Lúc ấy, đất đai họ quản lĩnh kéo dài từ làng nầy măi đến tận Kamiichi, dài những năm cây số và cái tên "sông Natsumi" đă được đem đặt cho năm cây số của khúc sông Yoshino. Đoạn chép về ngài Yoshitsune như sau:

"Lại nói sau khi ngài Yoshitsune đă ăn tết Đoan Ngọ ở vùng núi Shiroya trên thượng nguồn xong mới xuống và trú chân khoảng ba bốn mươi hôm trong trang trại Murakuni này. Khi đi xem cầu Shibahashi ở Miyataki, ngài có vịnh hai bài thơ" và hai bài waka ấy c̣n được ghi trong sách".

Cho đến nay tôi chưa hề nghe nói Yoshitsune làm thơ bao giờ và hai bài thơ c̣n chép lại, dù là dưới mắt một tay mơ, cũng không thấy chút giai điệu nào có hơi hướm của giai đoạn cuối thời văn chương cung đ́nh, lời lẽ c̣n có vẻ quê mùa nữa. Sau đó đến phần nói về lệnh bà Shizuka:

"Lúc ấy, phu nhân Shizuka, thiếp yêu của ngài Yoshitsune, có tạm trú trong nhà trang chủ Murakuni, nhân v́ ngài Yoshitsune thất thế phải trốn lên Mutsu trên miền Bắc, bà cô thân tuyệt vọng đành gieo ḿnh xuống giếng. Giếng ấy mang tên Giếng Shizuka". Theo cuốn sách, lệnh bà đă chết ở đó. Sách c̣n chép thêm: "Tuy nhiên, ḷng quá đau thương v́ phải chia ly với ngài Yoshitsune mà từ đó suốt ba trăm năm, hồn của phu nhân đêm đêm vẫn hiện ra từ miệng giếng dưới dạng một quả cầu lửa ma trơi. Cho đến khi vị cao tăng Rennyo (Liên Như) đi qua làng Iigai để cứu độ mọi người, dân sở tại đă van xin nhà sư ra tay cứu độ cả cho vong hồn của phu nhân. Nhà sư không chút do dự đă tiếp dẫn linh hồn phu nhân và ông đă thảo lên ống tay áo bà Shizuka một bài thơ mà nay gia đ́nh Ôtani vẫn c̣n cất giữ chu đáo".

Bài thơ cũng có ghi trong sách.

Trong khi chúng tôi đang đọc cuốn sách, chủ nhà ngồi một bên im lặng, không chen vào một lời giải thích nào cả. Thế nhưng qua nét mặt, thấy ông ta có vẻ chắc mẫm về nội dung tổ tiên ghi lại mà không cần đặt vấn đề. Khi chúng tôi hỏi : "Thế th́ ống tay áo ngài Rennyo chép bài thơ lên bây giờ ra sao rồi?" th́ ông cho biết từ đời tổ tiên, để cầu siêu cho vong linh phu nhân, họ đă tiến cúng nó vào chùa Saijô trong làng nhưng nay không biết nó đă vào tay ai v́ không thấy trên chùa nữa.Chúng tôi thử nhấc trường kiếm, ổ kiếm và vỏ kiếm lên xem th́ thấy nó quả là đồ cổ, nhất là vỏ kiếm đă bục rách nhưng không có chi tiết nào giúp chúng tôi đánh giá được. C̣n cái trống Hatsune đáng chú ư kia th́ chẳng có da bọc mà chỉ c̣n mỗi thân trống được giữ lại trong cái hộp bằng gỗ ngô đồng. Vật này cũng chẳng biết thế nào, chỉ thấy lớp sơn mài c̣n khá mới, không có tranh trang trí bên trên; nh́n chung, nó chỉ là cái thân trống màu đen chẳng có ǵ đặc biệt. Gỗ của nó có vẻ cũ và chắc v́ thế, vào một thời điểm nào đó, người ta đă đem nó đi sơn lại. "Th́ chắc là thế!". Chủ nhà trả lời một cách dửng dưng..

Ngoài ra c̣n hai tấm bài vị uy nghiêm, có kèm cả cả mái và cửa.Trên cánh cửa một tấm có trổ hoa văn hoa qú, trong đó khắc hàng chữ " Chính Nhất Vị Đại Tướng Quốc Chi Linh Vị ", c̣n trên cửa tâm kia có hoa văn hoa mơ, ở giửa khắc " Quy Y Trinh Ngọc Tín Nữ Linh Vị ", bên mặt đề " Niên hiệu Genbun thứ hai [xxxi] , năm Tỵ ", bên trái " Ngày 10 tháng 11, Nhâm ".Thế nhưng đối với hai tấm bài vị này, chủ nhà h́nh như cũng chẳng biết điều ǵ về chúng cả. Chỉ nghe nói lại nó có liên quan đến các bậc chủ quân của gia đ́nh Ôtani và mỗi năm đến ngày mồng một tháng giêng, họ có lệ đem hai tấm bài vị ấy ra cúng tế. C̣n về tấm bài vị có ghi niên hiệu Genbun th́ chủ nhà nghiêm trang bảo rằng nó chắc là của phu nhân Shizuka.

Nh́n cặp mắt hiền lành nhút nhát và pha chút mệt mỏi của ông, chúng tôi không biết phải nói ǵ bây giờ. Chẳng lẽ lại giải thích niên hiệu Genbun thuộc vào thời nào hay dẫn ra những chi tiết về cuộc đời của phu nhân Shizuka như thấy chép trong bộ sử truyện Azuma kagami hay Truyện Heike. Tóm lại, ông chủ nhà nầy thành thực tin tưởng vào điều ḿnh nói và vị phu nhân trong trí tưởng tượng của ông không cần phải đúng là nàng Shizuka đă múa trước mặt Yoritomo ở đền Tsurugaoka.Đối với ông, đó chỉ là một người đàn bà cao quí tượng trưng cho cái quá khứ xa xưa khi tổ tiên ông ta c̣n sống mà ông ta hăy c̣n tiếc nuối. H́nh ảnh mông lung của người đàn bà quí tộc có cái tên là phu nhân Shizuka cô đọng lại tất cả t́nh cảm tôn thờ và tận tụy của ông đối với tổ tiên, đối với quân vương và quá khứ cổ kính Không cần phải đặt câu hỏi xem người đàn bà tôn quí ấy có thật t́m chổ trọ và sống những ngày cô đơn dưới mái nhà nầy hay không. Nếu ông đă tin như thế th́ tốt nhất hăy để ông ta sống yên vui với niềm tin đó. C̣n như muốn đồng t́nh với ông th́ có thể giải thích là đă có một sự kiện giông giống như thế xăy ra vào thời toàn thịnh của gia đ́nh ông ta. Dù người đàn bà tôn quí đó chẳng phải chính phu nhân Shizuka th́ cũng có thể là một cô công chúa Nam Triều đến đây lánh nạn đao binh vào thời  Chiến Quốc (Sengoku, 1467-1568) và câu chuyện nầy đă ḥa quyện làm một với sự tích của lệnh bà Shizuka.

Giữa lúc chúng tôi chực kiếu từ th́ chủ nhà bảo:

- Nhà chẳng có chi, các ông dùng tí zukushi lấy thảo!

Ông ta châm trà rồi đem ra một mâm quả hồng và một cái gạt tàn thuốc lá sạch, không có tí tàn.

Có lẽ zukushi mà ông nói có nghĩa là jukushi tức quả hồng chín. Cái gạt tàn ông ta đem ra không phải là để gạt tàn thuốc lá vào đó mà để chúng tôi dùng làm đĩa ăn thứ hồng chín nhũn nầy .Thấy ông mời mọc chí t́nh, tôi e dè lấy một quả tưởng chừng sắp vỡ đến nơi đặt trên ḷng bàn tay. Quả hồng to, h́nh viên trụ, đáy nhọn, chín rục, đỏ tươi và hơi trong, ph́nh ra như một cái bong bóng nhựa, trông đẹp như ḥn ngọc khi đưa ra trước ánh sáng. Những quả hồng ngâm rượu thấy bán ngoài chợ không thể nào đạt được cái màu tuyệt đẹp như thế và chưa chín tới độ này th́ đă vữa ra cả.Theo lời ông chủ nhà, muốn làm mứt hồng kiểu nầy, chỉ được dùng loại hồng vùng Mino vỏ thật dày. Hái lúc nó hăy c̣n xanh và chua, rồi bỏ vào trong hộp hay lồng ủ ở một nơi không có gió. Không cần làm ǵ cả, mười hôm sau, bên trong ruột sẽ tự động nhăo ra và ngọt như mật. Các loại hồng khác sẽ hóa lỏng chứ không keo lại như giống hồng Mino. Cách ăn th́ giống như ăn trứng luộc nửa chín nửa sống, nghĩa là gỡ cái cuống bên trên rồi cho th́a vào lỗ hổng mà múc. Có thể theo một cách khác là bỏ vào đĩa, bóc vỏ ra cầm lên mà ăn. Tuy có bẩn tay nhưng ăn kiểu này ngon hơn.Vừa vặn khoảng mười hôm th́ nh́n vừa đẹp, ăn lại ngon. Quá thời hạn đó, ruột hồng dễ thành nước.

Đang khi nghe lời giải thích, tôi đăm đăm quả hồng như ḥn ngọc bằng sương trời nằm trong ḷng bàn tay ḿnh. Tôi có cảm tưởng tất cả khí thiêng của núi rừng và ánh nắng như thể đang ngưng đọng lại trong một ḷng bàn tay. Nghe nói ngày xưa người nhà quê mỗi khi lên kinh đô thường bọc đất trên đó trong giấy đem về nhà làm quà kỹ niệm, riêng phần tôi, nếu có ai hỏi màu sắc mùa thu ở Yoshino như thế nào th́ tôi sẽ gói cẩn thận mấy quả hồng nầy để đưa cho họ thấy.

Rốt cuộc, cái gây ấn tượng cho tôi nhiều hơn cả lúc ghé nhà ông Ôtani không phải là cái trống, cũng không phải mớ văn thư cũ mà chỉ là mấy quả mứt hồng. Tsumura và tôi, mỗi đứa tham lam ngốn ngáo hai quả hồng zukushi, sung sướng để cho chất keo ngọt ngào mát mát đi từ răng lợi ngấm vào tận con t́ con vị. Miệng tôi, cổ họng tôi căng phồng, đầy ắp mùa thu Yoshino. Ngay cả những quả xoài tên gọi Anmoraka được nhắc đến trong kinh Phật có lẽ cũng chẳng ngon bằng.

Phần Bốn : Tiếng Chồn Tru

- Cậu nầy, đọc sự tích của làng th́ có nói chiếc trống Hatsune là do phu nhân Shizuka tặng nhưng không thấy chép về tấm da chồn?

- Ừ. Do đó, theo tớ nghĩ th́ chiếc trống đó đă có trước bản tuồng. Nếu bản tuồng ra đời trước th́ trống phải được chế sao cho ăn khớp với t́nh tiết vở tuồng. Cũng như soạn giả vở Imoseyama phải nh́n thấy quang cảnh hai ḥn núi trước đă và soạn giả Ngh́n Cội Anh Đào phải có lần đến hỏi thăm gia đ́nh Ôtani hay nghe theo lời đồn đại rồi lấy cảm hứng dựng vở tuồng từ đó. Có cái, người viết Ngh́n Cội Anh Đào là Takeda Izumo[xxxi] (1691-1756) nên vấn đề được đặt ra là vở tuồng phải được soạn ra trước niên hiệu Hôreki (1751-1764) thế mà cuốn sách chỉ mới được viết vào năm Ansei thứ hai (1855). Tuy thế, sự tích có lẽ c̣n bắt nguồn xa hơn nữa trong quá khứ v́ theo quyển sách, nó được chép bởi ông lăo Ôtani Genbei, năm 76 tuổi và cụ này lại nghe những chuyện truyền lại từ xưa nữa. Cho dù cái trống chỉ là đồ giả, tớ nghĩ rằng nó phải có trước năm Ansei thứ hai th́ mới hợp lư. Cậu đồng ư chứ?

- Thế nhưng cái trống ấy trông mới quá!

- Không đâu! Cái trống ấy mới thật nhưng nó có thể được sơn đi sửa lại hai ba lần rồi ấy chứ. Trước khi cái trống ấy ra đời , tớ nghĩ cũng có thể đă có những cái trống khác nằm trong hộp gỗ ngô đồng kia.

Từ làng Natsumi trở về Miyataki phía bờ bên kia, phải đi ngang qua cái cầu Shibahashi, một trong những thắng cảnh của vùng.Hai đưa tôi ngồi lên trên mỏm đá bên cầu, nói chuyện như thế một đổi.

Kaibara Ekiken trong Ḥa Châu Tuần Lễ Kư (Washuu Junrei-ki[xxxii] viết :

"Ở vùng Thác Cung Điện (Mitataki) không có cái thác nào, hai bên chỉ là vách đá sừng sửng và sông Yoshino chảy len chính giữa. Ghềnh đá ấy cao khoảng 5 ken [xxxiii], đứng chắn như một tấm b́nh phong. Chỗ sông chảy qua rộng độ 3 ken. Cầu bắt qua nơi hẹp nhất. Bởi v́ ḍng sông thu hẹp lại ở chỗ này nên nước rất sâu và cảnh trí tuyệt đẹp".

Nơi mô tả trong sách vừa vặn đúng ngay ở chỗ chúng tôi đang ngồi tṛ chuyện.

"Trong làng có người làm nghề iwatobi (nhảy ghềnh) nghĩa là nhảy từ ghềnh đá xuống đáy sông, bơi theo gịng rồi lại trồi lên phía hạ lưu. Họ kiếm tiền bằng cách diễn tṛ đó.Lúc buông người xuống, họ chụm tay chân sát bên thân, đến một độ sâu cở một jô (3 mét), nếu dang tay ra th́ sẽ nổi lê ".

Trong sách Tranh Vẽ Các Thắng Cảnh (Meisho Zue) có một bức họa về cảnh iwatobi. H́nh thế hai bên bờ và ḍng nước của con sông thấy không khác ǵ trong bức họa đó. Khi con sông đển chỗ này, nó uốn khúc rất gắt rồi tung bọt đổ xuống giữa những ghềnh đá hiểm trở. Ông chủ gia đ́nh Ôtani cho chúng tôi biết rằng hàng năm, không hiếm chi những chiệc bè đă lâm nạn khi đụng vào những phiến đá đó.

Những người làng làm nghề " nhảy ghềnh " ngày thường đi câu hay cày bừa dọc bờ sông, khi nào gặp du khách đi qua th́ mới nhanh chân tới mời mọc họ xem ḿnh biểu diễn ngón nghề. Nếu nhảy ùm xuống từ ghềnh đá thâm thấp ở phía bờ đối diện th́ họ lấy một trăm tiền, c̣n nhảy từ ghềnh cao phía bờ bên nầy, họ lấy gấp đôi, cho nên cái ghềnh bên kia được gọi là Hyakumon-iwa (Ghềnh Trăm Tiền), c̣n ghềnh bên này được gọi là Ghềnh Hai Trăm Tiền (Nihyakumon-iwa ), đến nổi cho đến nay hai cái tên đó hăy c̣n. Ông chủ gia đ́nh Ôtani thời trẻ cũng có dịp đi xem nhưng dạo sau này du khách không mấy ai muốn xem diễn tṛ nữa, cho nên nghề đó cũng trở thành tàn lụi không biết tự hồi nào.

- Nầy, ngày xưa đi thưởng hoa ở Yoshino làm ǵ đă có đường sá mở mang như bây giờ. V́ phải đi ṿng từ huyện Uda mà lên, cho nên khách mượn con đường nầy đông lắm đấy. Hồi ngài Yoshitsune từ kinh đô bôn tẩu, chắc cũng theo cùng tuyến đường thôi nhỉ ? Cho nên soạn giả Takeda Izumo bắt buộc phải đi ngang qua vùng và nhờ đó đă xem được cái trống Hatsune.

Tsumura ngồi trên mỏm đá đó và không hiểu v́ cớ ǵ lại nhắc nhở về cái trống. Anh chàng không phải là con chồn Tadanobu nhưng tấm ḷng tưởng nhớ đến tiếng trống Hatsune của anh th́ chú chồn kia cũng không sánh kịp. Tsumura thổ lộ rằng không hiểu v́ sao mà khi nh́n cái trống, anh đă tưởng như gặp gỡ mẹ ḿnh.

Đến đoạn này th́ tôi phải thưa với bạn đọc thêm một vài điều về chàng thanh niên tên gọi Tsumura. Thực t́nh cho đến lúc ngồi trên mỏm đá và được nghe tâm sự, tôi cũng chẳng biết chi nhiều về anh. Như đă nói, chúng tôi là bạn đồng song trường Dự Bị ở Tôkyô, hồi đó là chỗ thân t́nh, nhưng lúc vào Đại Học, v́ gia cảnh, anh ta phải trở về quê ḿnh là thành phố Ôsaka và bỏ ngang việc học. Tôi chỉ nghe nói gia đ́nh anh đă nhiều đời làm nghề cầm đồ trong khu Shimano.uchi, ngoài ra, anh có hai chị em gái nhưng cha mẹ đều mất sớm, ba người đều được bà nội một tay nuôi dạy. Cô chị lấy chồng dă lâu c̣n cô em gái cũng sắp làm dâu nhà người ta. Bà nội cảm thấy đơn chiếc và cũng mong có người nối nghiệp nhà mới gọi thằng cháu về nên anh mới đột ngột bỏ học. Tôi có lần thử khuyên " Thế th́ vào Đại Học Kyôto vậy ! " thế nhưng hồi đó, Tsumura không muốn tiếp tục học mà thích viết lách. Trong bụng anh h́nh như đă tính bề ǵ việc buôn bán có thể giao tất cho người quản lư, có thể dùng thời giờ rảnh để từ từ viết một cuốn tiểu thuyết th́ thích hơn.

Sau đó, chúng tôi có trao đổi thư tín với nhau nhưng tôi không thấy anh ta viết ǵ ngoài mấy bức thư. Nói là thích viết nhưng một khi đă sống một cuộc đời an định và không thiếu thốn của một ông chủ con th́ cái mộng ước ấy cũng tàn đi.Hai năm sau đó, khi được đọc bên lề của một bức thư anh viết mới biết bà anh đă qua đời, tôi đă tưởng tượng ra cảnh anh sắp rước về một cô vợ đúng với cái tên "con nhà nền nếp " ở vùng Osaka và thực sự trở thành một " ông chủ " trong khu phố Shimanouchi.

Sự t́nh là như thế, tuy về sau Tsumura có lên Tôkyo đôi ba lần nhưng dịp được ngồi nói chuyện được thoải mái với nhau kể từ ngày rời ghế nhà trường th́ hôm ấy là lần đầu. Tuy lâu ngày mới gặp bạn nhưng Tsumura vẫn là con người đúng như tôi đă tưởng tượng. Đàn ông hay đàn bà một khi ra trường để sống cuộc sống gia đ́nh đều có sự thay đổi về thể chất : có lẽ v́ ăn uống có thêm chất dinh dưỡng, da thịt họ trắng ra và người đẫy hơn.Trong trường hợp của Tsumura, tính t́nh của anh có thêm cái ǵ tṛn trịa của một ông chủ trẻ vùng Ôsaka, tuy anh c̣n dùng ngữ vựng giới sinh viên nhưng giọng nói có pha dấu nhấn đặc biệt của ngôn ngữ địa phương miền Tây - trước kia đă thoáng thấy nhưng bây giờ rơ rệt hơn nhiều. Viết ra như thế để một độc giả b́nh thường nhất cũng có thể h́nh dung ra tướng mạo Tsumura như thế nào.

Bây giờ xin nói duyên do tại sao cái trống Hatsune lại ràng buộc anh, điều mà Tsumura đă bất chợt tiết lộ cho tôi nghe lúc hai đứa cùng ngồi trên mỏm đá. Sau đó tôi sẽ nói thêm động cơ nào đă xui khiến anh làm cuộc hành tŕnh nầy cũng như mục đích thầm kín của chuyến đi mà anh cất giấu trong ḷng. Nói cho rơ đầu đuôi th́ bắt buộc dài ḍng nên tôi xin cố gắng tóm lược càng gọn càng tốt về những điều anh ta thuật lại.

"Tâm t́nh của tớ, những ai không phải là dân Ôsaka hay mồ côi cha mẹ, từ nhỏ không biết mặt cha mặt mẹ (đây là lời kể của Tsumura) th́ khó mà hiểu cho đến nơi đến chốn. Như cậu cũng từng biết, ở Ốsaka có ba loại âm nhạc, một là nhạc của sân khấu múa rối jôruri, hai là những điệu đàn koto trường phái Ikuta, ba là ca khúc Jiuta.Tớ không thực sự là người yêu nhạc nhưng đă sống trong bầu không khí của những thứ âm nhạc ấy. Nghe măi thành quen và không ít thời nhiều thấy ḿnh đă chịu ảnh hưởng của nó chẳng hiểu tự hồi nào. Đặc biệt c̣n nhớ đến bây giờ là lúc mới lên bốn lên năm, trong gian sau của ngôi nhà ở Shimanouchi, có bóng một người đàn bà thành thị dáng dấp thanh lịch với khuôn mặt trắng và đôi mắt mơ màng đang ḥa tấu koto với một lăo nghệ nhân mù chơi samisen. Tớ nghĩ h́nh ảnh của người đàn bà đánh đàn koto có lẽ là h́nh ảnh duy nhất về người mẹ c̣n đọng lại trong kư ức của tớ; tuy thực ra tớ không dám đoan chắc người ấy là mẹ tớ. Về sau, bà nội tớ mới bảo cho biết có lẽ người ấy chính là bà chứ mẹ của tớ chắc chắn mất trước đó ít lâu rồi. Dù sao, tớ lấy làm lạ v́ người đàn bà và lăo nghệ nhân đă ḥa tấu một điệu jiuta của phái Ikuta nhan đề là Konkai [xxxiv] (Tiếng Chồn Tru). Bởi v́ từ bà đến chị và em gái tớ đều theo học ông thầy nầy nên sau đó tớ đă được nghe đi nghe lại bản " Tiếng Chồn Tru " nhiều lần và hăy c̣n giữ ấn tượng rơ ràng. Sau đây là lời ca của bài hát đó:

Mặt như hoa rười rượi,
C̣n lại giữa sương khô.
Gương hồn mẹ mờ phủ
Dù tăng đến độ cho.
Mẹ ngoảnh đầu nh́n lại,
Con ra dấu bảo chờ.
Như nói lời vĩnh biệt.
Không khóc, biết sao giờ!
V́ ai mẹ vượt núi,
V́ ai mẹ qua làng.
V́ ai mẹ t́m đến,
V́ ai, v́ v́ ai!
Ta đến v́ con đó,
Mẹ về, ḷng con đau.
Về khu rừng ta ở,
Ta bắt buộc quay đi,
Hồn nhớ mong thổn thức,
Mặc cúc trắng sau ghềnh,
Mặc giây trường xuân
Ta muốn vạch lối đi
Giữa những lùm trúc dại.
Côn trùng kêu bi ai,
Và trời mưa tuôn măi
Trời c̣n mưa sáng nay
Mưa cả sáng hôm nay,
Đâu c̣n lại dấu vết
Trên cánh đồng bờ tây.
Đường trên ruộng nguy hiểm
Đi qua cẩn thận cùng
Lên đỉnh rồi xuống lũng
Hết đồi nọ đồi nầy,
Ḷng buồn thương biết mấy!

Nay th́ tớ đă nằm ḷng điệu nhạc và những chỗ nghỉ chỗ ngắt của nhạc khí nhưng có một cái ǵ trong ca từ đă đi thẳng vào tấm ḷng non nớt làm cho kư ức của tớ mới ghi nhận rơ ràng khúc hát của người đàn bà và lăo nghệ nhân.

Nói chung, trong lời ca của jiuta lúc nào cũng có những đoạn bất nhất trí, văn phạm khó hiểu, như thể người ta cố ư làm cho nó tối nghĩa. Những bài dùng trong tuồng Nô và Jôruri đặc biệt khó hiểu nếu không biết điển cố. "Tiếng Chồn Khóc" được xếp vào loại nầy.Tuy vậy những câu như Mặt như hoa rười rượi, C̣n lại giữa sương khô.Mẹ ngoảnh đầu nh́n lại, Con ra dấu bảo chờ. Như nói lời vĩnh biệt. dấu ấn của sự xót xa xé ḷng nơi một đứa con trước sự ra đi của người mẹ. Nó đă hằn sâu trong đầu óc thơ ngây của tớ. V́ ai mẹ vượt núi, V́ ai mẹ qua làng. Lên đỉnh rồi xuống lũng, Hết đồi nọ đồi nầy. nghe chẳng khác một khúc hát ru em.Lúc đó tớ chưa đủ trí khôn để hiểu ư nghĩa cái tựa Konkai nhưng nghe đi nghe lại măi điệu nhạc, tớ có được cái cảm tưởng mơ hồ rằng bài hát phải liên quan đến một con chồn.

Có thể v́ bà nội hay đưa tớ đi xem tuồng múa rối ở các rạp Bunraku và Horie; có cái xen trong Kuzu no Ha (Lá Sắn Giây) cho thấy cảnh người mẹ bỏ con ra đi đă để lại nơi tớ một ấn tượng sâu đậm từ tiếng cành lau xào xạc mà chồn mẹ vẫy trong buổi chiều thu, cho đến bài thơ chồn mẹ viết để lại trên cánh cửa giấy và cơi ḷng nặng trĩu của nó khi phải đành tâm để đứa con thơ đang say ngủ lại đằng sau.

Khi nào con nhớ má
T́m ở Izumi
Trong rừng Shinoda...

Cái sức mạnh của xen tuồng làm rúng động một đứa con nít không biết mặt mẹ ḿnh thật ra hơi khó có thể làm cho một người không ở trong cùng một hoàn cảnh giống nó thông cảm được. Nghe những câu như Hồn nhớ mong thổn thức, Mặc cúc trắng sau ghềnh, Mặc giây trường xuân , Ta muốn vạch lối đi, Giữa những lùm trúc dại. tôi h́nh dung được một đứa trẻ tuyệt vọng đuổi theo con chồn trắng, mẹ nó, đang chạy như biến trên những con đường đầy màu sắc mùa thu về phía hang ổ của ḿnh. Đặt ḿnh vào địa vị đứa trẻ, tớ càng cảm thấy thấm thía nỗi cô đơn mất mẹ.

Có lẽ v́ khu rừng Shinoda nằm ở gần Ốsaka cho nên bài hát nhắc đến mẹ chồn là một phần trong các tṛ chơi trong nhà của bọn trẻ con. Tớ c̣n nhớ một, hai câu kiểu như:

Bắt cho được nó,
Bắt cái con chồn,
Rừng Shinoda
Nào ta đi bắt....

Khi trẻ con chơi tṛ đó, một đứa đóng vai chồn, c̣n mấy đứa kia đóng vai người đi săn, chúng nắm chung một cái giây tḥng lọng để đi bắt chồn. Có lần nghe nói ở Tôkyô cũng có tṛ chơi nầy, tớ mới nhờ mấy cô geisha ở một trà thất chơi thử cho xem, thế nhưng cả nhạc lẫn lời không giống những ǵ tớ nghe được ở Ôsaka. Trong khi ở vùng Tôkyo, lúc chơi tṛ nầy, người ta ngồi, ở Ôsaka, người ta lại đứng và người đóng vai chồn từ từ xáp tới bên cái tḥng ḷng, vừa vờ nhảy nhót giống như động tác của chồn sao cho ăn khớp với tiếng nhạc. Tṛ nầy đặc biệt đáng yêu khi "chồn" là một cô con gái đẹp hay là một người vợ trẻ. Tớ c̣n nhớ có một đêm tháng giêng khi được mời đến chơi tṛ nầy ở nhà một người bà con và tớ đă chứng kiến một người đàn bà vừa xinh vừa ḍn giả làm chồn cực giỏi. C̣n có một tṛ chơi khác nữa. Đám trẻ ngồi thành ṿng tṛn và "chồn" ngồi ở giữa ṿng. Chúng nó vừa ca hát, vừa chuyền tay nhau một món đồ nhỏ như mấy hạt đậu chẳng hạn và làm sao để "chồn" không thấy được. Khi bài hát chấm dứt, tất cả bọn trẻ ngồi im phăng phắc và "chồn" phải đoán đồ vật đó hiện nằm trong tay đứa nào. Sau đây là đôi câu trong bài hát đó:

Nhặt hạt lúa ḿ,
Nhặt cành ngăi cứu.
Tay chín hạt đậu
Chín hạt thôi đâu
C̣n thêm nỗi sầu
Nhớ nhà cha mẹ
Nếu con t́m má
Th́ cứ vào rừng
Rừng Shinoda
Lá sắn trở ḿnh
Đau ḷng nát dạ

Tớ cảm thấy được trong lời ca nầy, dù chỉ thoáng gợn, nỗi nhớ nhà của một đứa trẻ con. Nhiều đứa trẻ gốc ở vùng thôn quê Kawachi hay Izumi lên Ôsaka làm công như người học việc hay đứa ở. Vào những tối mùa đông, trong những hiệu buôn ở các khu Senba hay Shimano.uchi, người ta thường thấy những kẻ giúp việc, sau khi khóa cổng, vào tụ họp với nhà chủ chung quanh ḷ than và hát bài nầy. Bây giờ tớ mới để ư là những đứa trẻ bỏ làng quê để lên tỉnh học nghề hay học cung cách làm ăn, khi hát những câu như Nhớ nhà cha mẹ, chúng đă phải nghĩ đến h́nh bóng cha mẹ ḿnh đang nằm ngủ trong căn nhà kho leo lét ánh đèn dưới mái tranh. Về sau, tớ được nghe bài hát nầy dùng làm nhạc đệm trong hồi thứ sáu của vở tuồng Chuujingura (Bốn mươi bảy ngươi vũ sĩ trung thành với cố chủ). Khi tới chỗ hai người samurai, mặt dấu dưới cái nón mây đan chùm chụp, bước ra, th́ tớ bất giác thấy bài hát nầy mới hợp làm sao với t́nh cảnh của mấy nhân vật như Yoichibei, O-Kaya hay O-Karu [xxxv] .

Lúc đó, nhà ở Shimanouchi thường nuôi nhiều người làm.Khi tớ nh́n chúng chơi đùa và hát bài ca ấy, tớ vừa thấy dễ thương vừa thấy ganh tị với chúng. Bọn chúng phải bỏ cha bỏ nẹ để đi sống với người lạ, đấy là chuyện đáng buồn; thế nhưng hễ muốn gặp họ th́ chúng chỉ cần về nhà ḿnh là gặp. Tớ không được như thế. Việc đó gieo vào đầu tớ ư nghĩ là tớ có thể gặp mẹ tớ nếu chịu vào rừng Shinoda, và hồi năm thứ hai, thứ ba tiểu học, tớ có lần lén gia đ́nh, đi đến đó cùng với đứa bạn cùng lớp. Ngay cả ngày nay nơi đó cũng chưa hẳn là một chỗ đến được dễ dàng, phải đi bộ mất một dặm rưỡi từ ga xe điện Nankai, nói chi cái thời chưa có cả xe lửa, bởi v́ tớ nhớ đă đến nơi bằng một chiếc xe ngựa cà tàng và đi bộ một đỗi rất xa.Trong một cánh rừng long năo cổ thụ, tớ thấy có ngôi miếu thần chồn Inari Lá Sắn Giây (Kuzu no Ha), ở đó c̣n có Cái Giếng Soi Mặt của Bà Chúa Kuzu no Ha. Tớ được an ủi phần nào khi được ngắm trong điện dành để treo tranh cúng, tấm tranh vẽ h́nh chồn mẹ chia tay với chồn con và bức chân dung của kép Jakuemon hay một người nào giống như thế. Lúc ra khỏi rừng, trên đường về, thỉnh thoảng tớ lại bùi ngùi khi nghe tiếng kêu lách ca lách cách của con thoi từ bên trong liếp cửa giấy của các nhà nông dân. Con đường đi dọc khu vực có lẽ ngang qua vùng sản xuất bông vải của miền Kawachi nên có nhiều nhà dệt cửi. Thế nhưng chỉ riêng âm thanh của máy dệt thôi cũng đă giúp tớ thỏa măn biết là bao tấm ḷng mong đợi.

Tớ lấy làm lạ khi thấy ḿnh phần nhiều chỉ nhớ mẹ, chứ không hề nhớ cha. Hơn nữa cha của tớ đă chết trước cả mẹ, cho nên dù tớ c̣n giữ được đôi chút h́nh ảnh mơ hồ của bà mẹ th́ đối với ông cha, tớ hoàn toàn không nhớ ǵ cả. Từ đó mà suy ra th́ t́nh thương nhớ của tớ đối với mẹ ḿnh chỉ là một mối hoài cảm bàng bạc về một "người đàn bà ḿnh chưa hề gặp", nghĩa là có liên quan đến sự chớm nở của t́nh yêu trai gái vào tuổi dậy th́.Đối với tớ th́ người đàn bà trong quá khứ hay người mẹ, người đàn bà trong tương lai hay người vợ, cả hai đều giống nhau ở chỗ họ là những "người đàn bà chưa hề gặp" và đều ràng buộc với tớ bằng sợi dây định mệnh.Trạng thái tâm hồn nầy, ở một chừng mực nào đó, có lẽ tiềm tàng ở mỗi cá nhân, ngay cả người ở vào những hoàn cảnh khác tớ. Có thể t́m thấy bằng chứng về điều đó trong một câu hát của bài Tiếng Chồn Khóc. Những câu như: V́ ai mẹ t́m đến, V́ ai, v́ v́ ai! Ta đến v́ con đó, Mẹ về, ḷng con đau. Ôi, nó nói lên sự đau đớn của đứa con mong mẹ nhưng lại giống như nỗi lo âu của đôi trai gái khi phải rời nhau. Có thể tác giả của bài ca cố ư đặt lời mù mờ để người ta có thể giải thích theo hai lối.Dù sao, kể từ khi tớ nghe bài hát ấy lần đầu tiên, tớ không tin rằng những lời ca đó đang nói về một người mẹ trong mộng tưởng. Tớ thấy qua h́nh ảnh huyễn hoặc đó, cả người mẹ lẫn người vợ của tớ nữa. Do đó h́nh ảnh của người mẹ mà tớ măi ôm ấp trong cái lồng ngực nhỏ không phải một bà đứng tuổi mà là người con gái măi măi xinh đẹp trẻ trung. Người mẹ của tớ phải giống như bà vú Shigenoi tức mẹ của anh chàng mă phu Sankichi trên sân khấu, một nữ quí nhân trong tấm áo choàng sang trọng, đi theo hầu vị công nương, con gái của lănh chúa. Trong giấc mơ của ḿnh, tớ thấy mẹ tớ là mẹ Sankichi, c̣n tớ chính là chàng ta.

Có thể những nhà soạn kịch đời Tokugawa [xxxvi] đă nghĩ được ra phương pháp tinh xảo để khơi gợi được những t́nh cảm tế nhị nằm trong tiềm thức của khán giả. Trong vở kịch nói về Sankichi, một bên là nàng công nương, đứa con gái, một bên là chàng mă phu, đứa con trai, c̣n bà thị nữ, vừa làvú em vừa là người mẹ, đứng ở giữa hai người. Ngoài bề mặt, đề tài của vở kịch là t́nh thương yêu giữa cha mẹ và con cái nhưng bên trong, nó hé cho ta thấy cái t́nh cảm lăng mạn chưa định nghĩa được của một chàng trai mới lớn. Ít nhất, từ góc độ cái nh́n của Sankichi th́ mẹ của chàng và vị công nương, cả hai sống bên trong cung cấm của lâu đài lănh chúa, đều có thể là đối tượng của sự nhớ mong. Trong vở Lá Sắn Dây (Kuzu no Ha), cả người cha và cậu con đều chung một ḷng yêu người mẹ; nhưng trong trường hợp nầy, việc dựng lên nhân vật "mẹ chồn" đă thành công v́ làm mủi ḷng đám khán giả mơ mộng. Tớ luôn luôn ước muốn mẹ tớ phải là chồn và tớ ganh tị khủng khiếp với đứa bé trong tuồng hát. Cho dầu tớ không c̣n hy vọng gặp lại mẹ tôi trên đời v́ mẹ tớ là một con người, nhưng ngộ nhỡ mẹ là chồn đội lốt người th́ biết đâu có lúc mẹ chẳng lại hiện ra bên tớ? Chắc chắn là những đứa con mất mẹ sẽ cảm thấy như thế khi xem tuồng. Trong điệu vũ "đi đường " ( michiyuki ) [xxxvii] của vở  Ngh́n Cội Anh Đào (Senbonzakura) sự kết hợp giữa người mẹ, người con gái đẹp, chồn và người yêu lại c̣n gắn bó hơn thế nữa. Cả mẹ và con đều là chồn và, trong khi lệnh bà Shizuka và con chồn Tadanobu đóng vai nữ chủ nhân và người hầu cận th́ trên sân khấu, xen diễn xuất lại được dựng ra giống cuộc hành tŕnh của đôi nam nữ yêu nhau. Có lẽ v́ thế mà tớ mê nhất cái màn vũ nầy. Tớ muốn ḿnh được như con chồn Tadanobu và trong trí tưởng tượng của tớ, v́ bị tiếng trống phát ra từ cái trống căng bằng da của mẹ tớ lôi cuốn nên tớ đă chạy theo phu nhân Shizuka dưới những rặng anh đào đẹp như mây trong núi Yoshino. Có lần tớ c̣n muốn đi học múa để có thể đóng được vai Tadanobu như trên sân khấu.

"Tuy nhiên, chuyện chưa hết đâu!" Tsumura thêm vào, vừa đưa mắt nh́n qua bóng thẫm của khu rừng trong thôn Natsumi, phía bên kia bờ. "Lần nầy, tớ có cảm tưởng rơ ràng ḿnh đă bị cái trống Hatsune dụ dỗ tới đây". Thế rồi, đôi mắt hiền ḥa đặc biệt "công tử Ôsaka" của anh ánh lên một nụ cười, nụ cười mà tôi không hiểu muốn nói lên điều ǵ.

Phần Năm: Kuzu

Kể từ bây giờ, tôi xin phép được thay mặt Tsumura để thuật lại câu chuyện một cách gián tiếp.

Tsumura đặc biệt thương nhớ đất Yoshino v́ ảnh hưởng của vở tuồng Ngh́n Cội Anh Đào. Một lư do khác là anh chàng biết mẹ ḿnh xuất thân vùng Yamato Việc biết đích xác quê quán bà nằm nơi nào trong vùng nầy và gia đ́nh bà c̣n có ai không từ lâu vẫn là một điều bí ẩn.Tsumura đă từng hỏi thăm bà nội, lợi dụng lúc bà c̣n sống để t́m hiểu tường tận thân thế mẹ anh ta nhưng bà nội cũng đă quên nhiều nên không trả lời được rơ ràng. Gia đ́nh Tsumura vốn là gia đ́nh có nền nếp lâu đời, chuyện thân thích hai ba thế hệ vẫn c̣n đi lại là thường, nhưng sao đi hỏi các bậc cô bác th́ lạ lùng thay, chẳng có người nào biết quê quán mẹ anh cả. Thực ra, mẹ của Tsumura không ở dưới Yamato lên tỉnh để lấy cha anh liền: lúc c̣n con nít bà đă bị bán vào lầu xanh trong xóm ăn chơi ở Ôsaka, và sau đó nhờ một gia đ́nh đàng hoàng nhận làm con gái nuôi trước khi gả chồng. Giấy tờ hộ tịch cho biết bà sinh năm Bunkyuu thứ ba (1863), được phép của ông Urakado Yoshijuuro, địa chỉ ở khu phố 3 Imabashi cho về làm dâu gia đ́nh Tsumura vào năm Meiji thứ 10 (1877) lúc 15 tuổi (ta) và mất năm Meiji thứ 24 (1891) lúc 29 tuổi (ta). Đó là tất cả những ǵ Tsumura được biết về mẹ ḿnh khi anh vừa học xong cấp hai bậc trung học. Sau đó anh mới hiểu ra rằng cả bà nội cũng như những người bà con có tuổi không muốn kể thêm v́ họ không muốn đụng đến cái quá khứ của mẹ anh.Tuy nhiên, đối với Tsumura, việc mẹ anh lớn lên trong thế giới sa đọa chỉ làm tăng thêm ḷng thương cảm của anh đối với mẹ và không hề khiến anh hổ thẹn hay khó chịu.

Hơn nữa, bà đă thành duyên lúc mới 15 th́ cho dù là ở một thời đại hăy c̣n tục tảo hôn, th́ có lẽ mẹ anh tuy có vướng chút bùn nhơ của xă hội ấy nhưng cũng mới sơ qua và bà vẫn chưa mất cái vẻ chân thật ngây thơ của một cô gái nhỏ. Chắc nhờ ở những đức tính như thế mà bà đă có với chồng được ba đứa con.Về làm dâu từ lúc c̣n là một thiếu nữ chửa biết ǵ, bà đă được dạy dỗ kỹ càng để trở thành bà chủ xứng đáng của một gia đ́nh nền nếp. Tsumura từng có dịp xem quyển bài tập để đánh đàn koto được mẹ anh chép tay từ lúc bà mới mười sáu, mười bảy. Đó là một tờ giấy lớn xếp làm tư, trên đó bà chép lại lời ca theo hàng ngang và giữa những hàng đó, có ghi chú cẩn thận các nốt nhạc cho koto viết bằng mực đỏ, bút tích theo thư pháp O-ie nom rất đẹp.

Sau đó Tsumura lên Tôkyô trọ học và dĩ nhiên xa cách với gia đ́nh nhưng ư nghĩ muốn t́m về quê mẹ của anh càng ngày càng nồng cháy. Có thể nói là cả thời thanh xuân, anh chỉ sống trong ư nghĩ t́m về mẹ ḿnh. Không phải anh không có chút đỉnh t́nh cảm hiếu kỳ đối với những cô gái hàng phố, tiểu thư, geisha hay nữ tài tử vv... anh ta t́nh cờ gặp gỡ trên đường, thế những những người đàn bà mà anh để ư chỉ là những cô có khuôn mặt hao hao với h́nh ảnh người mẹ mà anh thấy qua ảnh chụp. Khi anh ta bỏ học để về Ôsaka, không phải v́ anh muốn làm vừa ḷng bà nội, nhưng chỉ v́ anh ta muốn tiến sát lại gần một miền đất ở cạnh quê hương mẹ anh thêm chút nữa và cũng v́ ngôi nhà ở Shimano.uchi, nơi mẹ anh đă sống một quăng đời ngắn ngủi của bà. Có thêm lư do khác là mẹ anh gốc gác miền Tây. Ở Tôkyô, ít khi anh có dịp gặp một người giống mẹ anh nhưng ở Ôsaka, đôi khi lại có. Anh ta chỉ biết mẹ anh đă lớn lên trong một xóm lầu xanh nhưng anh tiếc là không biết đích xác xóm nào. Để đi t́m hơi hướm của người mẹ, anh hay t́m đến các cô gái làng chơi và lui tới những trà đ́nh tửu điếm. Kết cuộc anh đă nhiều lần thầm yêu những người con gái ấy và mang cái tiếng "dân chơi bời". Tuy nhiên những chuyện đó chỉ bắt nguồn từ niềm nhớ thương người mẹ cho nên không có cuộc t́nh nào đi xa và đến bây giờ, anh vẫn giữ tấm thân trong trắng.

Thế rồi, cách đó ba bốn năm, bà anh qua đời.

Chuyện dưới đây xảy ra ít lâu sau khi bà anh đă quá cố. Một hôm, anh ngồi sắp đặt lại đồ đạc của bà cho đâu vào đấy và bắt đầu bằng các ngăn kéo của một cái tủ nhỏ cất trong nhà kho. Lẫn lộn trong mớ giấy tờ của bà nội anh có mấy bức thư và giấy tờ cũ mà anh chưa được thấy bao giờ. Nó gồm có mấy bức thư t́nh mà mẹ anh, lúc c̣n là người giúp việc, và cha anh gửi cho nhau, một bức thơ của một người có lẽ là bà mẹ ruột của mẹ anh gửi từ Yamato đến cho con gái, mấy tấm giấy chứng nhận đă theo học các khóa đàn koto, shamisen, cắm hoa và trà đạo do các vị thầy cấp cho... Những lá thư t́nh, ba lá do cha anh gửi và ba lá từ phía mẹ anh, không có nội dung ǵ đặc biệt ngoài những lời lẽ thân ái, nhớ nhung trẻ con của thiếu niên thiếu nữ ngỏ cho nhau trong cái say đắm của mối t́nh đầu. H́nh như hai người có lần lén lút gặp nhau. Cho dầu chữ viết hăy c̣n non nớt nhưng lối hành văn trong lá thư của mẹ anh rất là cổ kính trang nhă "chút ḷng ngu muội mượn giấy thay lời bày tỏ nỗi niềm..." "tấm thân tủi hổ nay được đoái hoài vui mừng khôn xiết" vv.. đối với một cô bé mười lăm như thế là hết sức chải chuốt, nó chứng tỏ trai gái thời đó đă hiểu đời sớm.Thơ gửi từ dưới quê lên cho mẹ anh th́ chỉ có một lá. Thư đó gửi về địa chỉ "Cô Sumi, khu phố 9, Shinmachi, thành phố Ôsaka, kính nhờ ông Konawaka chuyển hộ". Người gửi tên là "Gia đ́nh Konbu Sukezaemon, xóm Kubokaito, làng Kuzu, quận Yoshino, tỉnh Yamato". Thơ viết như sau: "Má viết thơ nầy v́ ba má rất cảm ơn tấm ḷng hiếu thảo của con. Trời càng ngày càng lạnh nhưng nghe tin con được b́nh yên, ba má mừng. Ba con với má thành thật cảm ơn con". Sau đó là một loạt những lời dặn ḍ: nào là phải coi ông chủ nhà như là cha, hết ḷng hầu hạ, ông dạy ǵ nghe nấy, đừng có tham lam đồ đạc của người khác, phải biết thờ Trời kính Phật vv...Ngồi trên cái sàn bụi bặm của nhà kho, Tsumura đọc đi đọc lại lá thư dưới ánh sáng lù mù. Khi anh bừng tỉnh th́ nắng chiều đă tắt, mới vào pḥng học và trải nó dưới ngọn đèn điện. Bồng bềnh hiện ra trên mặt giấy là h́nh ảnh của một bà già nhà quê, có lẽ cách đây ba bốn mươi năm, trong một túp lều nhà nông trong làng Kuzu quận Yoshino, vừa dụi đôi mắt kèm nhèm, vừa kḥm ḿnh trước ngọn đèn lồng viết thư cho con gái. Có là một cuốn giấy dài độ ba mét, văn phạm và ngữ vựng có chỗ không được chính xác, đúng là điều không tránh khỏi nơi một bà lăo miền quê nhưng thư pháp th́ đúng là lối O-ie, viết theo lối chữ thảo khá tốt, khó thấy nơi một người nông dân b́nh thường. Nhưng dù sao, rơ ràng họ đă gặp cảnh khốn quẩn đến nổi phải đánh đổi đứa con để lấy chút tiền. Bức thư đó đề ngày mùng bảy tháng chạp, khốn nỗi không ghi rơ năm, nhưng có thể đoán được đó là bức thư đầu tiên họ gửi cho con gái sau khi gửi con đi Ôsaka. Trong đó có vài chỗ nói lên sự cô đơn của những con người biết ḿnh chẳng c̣n sống thêm được bao lâu: "Đây là lời trối trăn của má" hoặc là "Cho dù má có sức mỏn hơi tàn nhưng lúc nào má cũng ở bên con để phù hộ con làm ăn nên nổi". Lạ lùng nhất là trong những lời nhắn nhủ phải như thế nầy, không được thế kia, có một đoạn dài ḍng căn dặn đừng bao giờ phí phạm giấy. "Giấy nầy là do má với con O-rito làm ra. Con phải tuyệt đối, tuyệt tuyệt đối luôn luôn giữ nó bên ḿnh và quí trọng nó. Dù con có sang giàu hay không thiếu thốn thứ ǵ, con cũng không được bao giờ xài phí giấy. Má và con O-rito khổ cực lắm mới chế ra tờ giấy nầy. Bàn tay của má với nó đă nứt nẻ và đầu ngón tơi ra hết." Những lời nhắn nhủ nầy tất cả kéo đến hai mươi ḍng. Nhờ đó, Tsumura biết rằng họ ngoại anh sống bằng nghề làm giấy và trong nhà có một người đàn bà tên O-rito, có lẽ là chị hay em gái của mẹ anh.Thư cũng có nhắc đến một người khác tên gọi O-ei: "Con O-ei mỗi ngày vào trong núi chỗ tuyết ngập dày, để đào củ sắn. Cả nhà cố gắng làm việc để dành tiền và khi nào có đủ sẽ đi thăm con. Con hăy vui ḷng chờ đợi!"

Bức thư kết thúc bằng một bài thơ:

Thương con mẹ thở dài theo,
Ḷng
u ẩn ngóng phía Đèo Âm U

Trước khi có đường xe lửa, ai từ Ôsaka muốn đi Yamato theo đường cũ đều phải vượt qua ngọn"Đèo Âm U" (Kurakari Toge). Trên đỉnh đèo có một ngôi chùa, một nơi nổi tiếng để đến nghe tiếng cuốc kêu. Tsumura có một lần ghé khi anh c̣n học trung học, lúc đó h́nh như là một đêm tháng sáu. Anh leo lên núi vào lúc trời chưa rạng. Dừng chân nghĩ lại bên chùa một chốc th́ khoảng năm sáu giờ sáng, trong khi cánh cửa giấy bên ngoài vừa mới trắng lờ nhờ, một tiếng chim cuốc bất chợt cất lên từ một chỗ nào đó trong những ngọn núi phía sau. Tiếp đến, không biết là chính con chim đó hay một con cuốc khác hót lên hai, ba tiếng, rồi rộn ràng tiếng cuốc, nghe đi nghe lại đến nhàm. Thế nhưng khi Tsumura đọc tới hai câu thơ nầy, bất chợt ḷng anh bỗng rộn một niềm thương cảm nhớ về những tiếng cuốc kêu mà lúc đó anh thấy quá tầm thường. Bấy giờ anh mới hiểu tại sao người xưa ví tiếng chim với linh hồn người chết và nó làm liên tưởng tới những là "hồn Thục Đế" hay "bất như quy" [xxxviii]  .

Thế nhưng trong lá thư của bà lăo, có một đoạn khác làm anh cảm thấy gần gũi một cách lạ lùng. Cái người đàn bà nầy, cái bà đáng vai bà nội của anh, lập đi lập lại về chồn ở nhiều chỗ trong thư. "Từ đây mỗi ngày, ban sáng con phải tới điện ngài Inari để cầu khẩn thần chồn trắng Myôbu-no-shin". Nào là "Chắc con biết khi nào cha con gọi th́ thần cũng hiện ra bên cạnh, bởi v́ ḿnh bao giờ cũng một ḷng một dạ", rồi sau đó "Con nên nhớ rằng gần đây ḿnh tai qua nạn khỏi cũng nhờ thần chồn trắng đó con. Mỗi ngày má vẫn cầu thần ban phước lộc cho nhà chủ của con. Ḿnh phải vững ḷng tin". Những đoạn trong thơ viết như thế chứng tỏ ông bà ngoại của Tsumura là những kẻ dốc ḷng thờ cúng Thần Chồn Inari. "Điện Ngài Inari" dường như là cái miếu nhỏ xây ở giữa khu nhà và Myô-no-shin, sứ giả của Thần Inari có lẽ chỉ là một con chồn cái sống trong hang cạnh miếu. C̣n như câu "Khi nào cha con gọi th́ thần cũng hiện ra bên cạnh" th́ không biết có thật là con chồn trắng đă chui ra khỏi hang để đáp lại lời kêu gọi của ông già kia hay là nó nhập vào người khi ông hay bà lăo ấy lên đồng. Dù sao cũng phải hiểu ư là ông ngoại của Tsumura có tài kêu được chồn đến, chồn kia cũng sống bên cạnh ông bà lăo như bóng với h́nh và chi phối được vận mạng của gia đ́nh họ.

Y như lời thư "Giấy nầy là do má với con O-rito làm ra. Con phải tuyệt đối, tuyệt tuyệt đối luôn luôn giữ nó bên ḿnh và quí trọng nó", Tsumura kính cẩn cầm lấy cuốn thư áp sát vào ngực ḿnh. Nếu lá thư nầy gửi đi ít lâu sau khi mẹ anh bị bán đi Ôsaka tức khoảng trước năm Meiji thứ 10 (1877) th́ tệ nhất nó phải được viết cách đây ba bốn mươi năm rồi nhưng tuy cũ kỹ và màu đă ngả vàng nhưng so với phẩm chất của giấy thời nầy th́ dày và chắc hơn nhiều. Tsumura cầm nó lên soi trước đèn để quan sát những thớ dài mà mỏng. Anh nhớ lại mấy ḍng: "Má và con O-rito khổ cực lắm mới chế ra tờ giấy nầy. Bàn tay của má với nó đă nứt nẽ và đầu ngón tơi ra hết" Anh cảm thấy tờ giấy nầy, giống như làn da của một bà lăo, có chứa giọt máu của người đă sinh thành người mẹ của anh. Chắc chắn là khi lá thơ nầy đến địa chỉ ngôi nhà trong khu phố Shimanouchi, mẹ của anh cũng trân trọng ấp nó vào ngực như anh đang làm, và v́, "đượm hương tay áo của người xa xưa", lá thư đó đối với anh thành ra một kỹ niệm quí báu và êm ái gấp đôi.

Sau đó, dựa vào những tin tức thu lượm được qua lá thư, Tsumura đi t́m gia đ́nh của mẹ anh và thiết tưởng không phải đi sâu vào chi tiết để biết làm sao anh đă thành công. Chỉ biết từ thời đó tính ngược về ba bốn mươi năm trước là đúng lúc có những biến động của cuộc Duy Tân Meiji. Nhà Konakawa, căn số 9 trong khu Shinmachi [xxxix], nơi mẹ anh bị bán vào, cũng như nhà Urakado ở Imabashi, nơi mẹ anh vào làm con nuôi một ít lâu trước khi lấy chồng, bây giờ đă tàn hết rồi; mà con cháu những vị thầy cấp giấy chứng nhận là bà đă theo học trà đạo, thuật cắm hoa, đàn koto và samisen hầu như cũng chẳng c̣n ai. Rốt cuộc, chỉ có lá thư là đầu mối duy nhất; và cách đi t́m dễ dàng hơn cả là đến ngay làng Kuzu, quận Yoshita trong xứ Yamato. Vào mùa đông năm bà nội anh qua đời, sau khi làm lễ một trăm ngày cho cụ, Tsumura không nói ai hay mục đích, làm như du lịch, quyết chí một ḿnh lên đường đi Kuzu.

Vùng thôn quê vốn ít có những thay đổi lớn như ở Ôsaka, nhất là Kuzu là một nơi hoàn toàn thô lậu, sâu trong ngơ ngách của vùng núi non Yoshino. Ngay cả một gia đ́nh bần bách nhất cũng không dễ ǵ biến mất sau hai ba thế hệ. Mang trong ḷng đầy ắp niềm hy vọng, khi đến chợ Kamiichi, Tsumura mướn một chiếc xe kéo và vào buổi sáng tháng chạp đẹp trời đó, anh ta tất tả nhắm hướng Kuzu theo con đường quan lộ mà anh và tôi, hai đứa đă đi bộ suốt hôm nay. Khi đôi mắt trông chờ của anh bắt gặp những ngôi nhà trong làng, th́ cái thu hút anh trước tiên là những tấm giấy mà người ta đang hong khô trước hàng hiên hầu như của mỗi ngôi nhà. Những tấm giấy h́nh chữ nhật phơi gọn gàng trên mấy thanh gỗ dựng đứng bên nhau, cùng một cách thức như dân làng chài phơi rong biển. Những tấm giấy trắng toát bày ra rải rác khắp nơi dọc theo đường cái quan, cao thấp trên những vạt ruộng lưng chừng đồi, phản chiếu lấp lánh ánh nắng xế của buổi chiều lạnh lẽo. Nước mắt tự dưng ứa lên mi Tsumura. Đây đúng là mảnh đất của tổ tiên ḿnh rồi. Bây giờ, anh đă đặt được chân lên quê hương của mẹ anh, nơi mà anh vẫn nh́n thấy trong giấc mộng từ lâu nay. Khi mẹ anh mới chào đời, cái ngôi làng trong hốc núi muôn thuở không biết bước thời gian đi qua là ǵ chắc cũng thanh b́nh êm ả như khung cảnh đang hiện ra trước mắt anh. Bốn mươi năm về trước, ngày cũng bắt đầu với mặt trời mọc lên rồi sau đó lặn xuống y như chuyện của ngày hôm qua.Tsumura có cảm tưởng anh đă đến sát và chỉ đứng cách "quá khứ" có mỗi một bức vách. Nếu anh thử nhắm mắt một lúc th́ khi mở mắt ra, biết đâu anh chẳng bắt gặp mẹ ḿnh đang nô đùa giữa mấy cô bé con sau bờ dậu ở một nơi nào bên cạnh.

Lúc đầu Tsumura lầm tưởng Konbu là một họ ít người có, anh sẽ t́m ra gia đ́nh mẹ anh tức khắc nhưng khi đến xóm Hơm Rào (Kubokaito) bên cạnh, anh mới vỡ lẽ ra v́ gia đ́nh mang họ Konbu nhiều vô cùng, không biết bắt đầu t́m từ nhà nào trở đi . Không biết cách ǵ hơn là nhờ người kéo xe đi từng nhà mang họ Konbu để hỏi thăm. Nhưng ai cũng bảo không biết ngày xưa thế nào chứ nay th́ không thấy ai tên Konbu Sukaezaemon cả. Đi măi hồi lâu mới có một cụ già có lẽ là bậc cố lăo từ trong một góc sâu cửa hàng bánh kẹo hiện ra dưới mái hiên, lấy tay chỉ về phía xa mà nói: "Nói như thế th́ có lẽ là cái nhà đằng kia rồi!". Đó là một mái tranh tranh nằm lưng chừng trên sườn đồi ở phía trái đường cái quan. Tsumura bèn dặn người kéo xe đợi ḿnh ở trước tiệm bánh kẹo rồi rời con đường cái, lần theo bậc thang cấp thoai thoải leo lên đồi về phía mái nhà tranh. Khí trời buổi sáng lành lạnh nhưng một chùm ánh sánh vây bọc mấy ngôi nhà đang chụm đầu lại thành một khối và được ngọn núi lài lài bao quanh che gió máy. Nhà nào cũng làm giấy. Vừa leo lên con đường ṃn, Tsumura để ư thấy từ những căn nhà bên trên, có mấy người con gái đang dừng tay làm việc một khoảnh khắc để đưa cặp mắt hiếu kỳ nh́n người khách đàn ông thành thị. Công việc chế tạo giấy h́nh như dành cho mấy người con gái với con dâu. Họ làm việc trước sân nhà, người nào cũng có khăn buộc tóc quấn ngang trán. Đi giữa những vệt nắng tươi trong phản chiếu màu giấy đang phơi và màu những chiếc khăn bịt đầu, Tsumura tiến về phía căn nhà mà cụ cố lăo đă chỉ cho anh. Biển treo ghi tên Konbu Yoshimatsu chứ không phải Sukezaemon. Bên tay mặt của ngôi nhà chính, họ có cất một gian nhà kho và trên sàn gỗ, một người con gái tuổi độ mười bảy mười tám đang khom lưng, hai tay ngâm trong một chất lỏng đục lờ như nước vo gạo. Cô ta đang nhúng một cái khung gỗ, đưa qua đưa lại và nhẹ nhàng múc từ dưới đáy lên. Chất nước màu trắng, bị chắn lại trong khung gỗ, cặn đọng thành h́nh mảnh giấy trên tấm lưới đan theo kiểu mành mành để chưng hấp. Thế rồi người con gái đặt những tờ giấy lên trên sàn rồi tiếp tục nhúng cái khung trong nước. V́ cánh cửa lối vào nhà bỏ ngỏ, Tsumura đứng đằng sau hàng dậu cúc dại đă tàn và quan sát trong khi người con gái làm được hai ba tấm giấy. Cô ta người mảnh mai nhưng đúng là gái đồng quê nên trông cứng cáp và chắc nịch. Hai g̣ má cô săn, đầy ắp sinh lực nhưng cái lôi cuốn Tsumura là những ngón tay đang d́m trong nước đục. Anh sẽ không lấy làm lạ nếu đó là hai "bàn tay đă nứt nẻ" và những "đầu ngón tơi ra hết". Tuy nhiên những ngón tay ửng đỏ v́ cái lạnh, nứt nẻ, hao ṃn, lại tràn trề sức sống của tuổi dậy th́ ngày một vươn lên như không có ǵ có thể cản trở được, chứa đựng một vẻ đẹp làm mủi ḷng người.

Bất chợt lúc đó, sự chú ư của Tsumura lại chuyển qua một chỗ khác. Anh ta nhận ra có một cái miểu thờ thần Inari ở góc tay trái ngôi nhà chính. Anh đi như có ai kéo chân, qua bờ dậu về hướng cái sân. Anh tiến gần một người đàn bà trạc hăm bốn hăm lăm có vẻ là chủ nhà tự năy giờ đang đem giấy ra phơi.

Sau khi nghe Tsumura nói về lư do anh đến thăm, cô ta ra dáng hồ nghi. Mọi việc đến quá đột ngột với cô. Thế nhưng khi anh đưa bức thư ra làm bằng th́ cô ta bắt đầu có vẻ tin tưởng. "Tôi không rơ mấy chuyện nầy đâu. Ông phải gặp những người lớn tuổi hơn" và gọi một bà già trạc sáu mươi từ trong căn nhà chính ra. Đó là "con O-rito" , người đă được nhắc đến trong lá thư. Bà là chị của mẹ Tsumura, vai bác anh.

Trước những câu hỏi sốt sắng và dồn dập của Tsumura, bà bác tỏ ra bối rối và phải lần ṃ t́m lại mối giây trong quá khứ để trả lời anh từng chút một với cái miệng móm mém đă khuyết hết răng. Có nhiều câu hỏi bà không thể trả lời, phần v́ đă quên bẵng, phần v́ bị lẫn, phần v́ ngần ngại không muốn tiết lộ một vài chi tiết, cho nên có chỗ tiền hậu bất nhất, nhiều khi lúng búng trong miệng hay thều thào như đứt hơi. Do đó lắm lúc anh không nắm được ư bà muốn nói ǵ cho dù hỏi gặng đi gặng lại. Phân nửa những điều bà nói th́ rơ ràng c̣n phân nửa kia chừng như có thêm bớt bằng trí tưởng tượng nhưng tất cả cũng đủ để giúp anh giải đáp những thắc mắc liên quan đến người mẹ mà anh đă đặt ra từ hai mươi năm nay. Theo lời bà bác, mẹ anh đă bị gửi đi Ôsaka vào thời Keiô, khoảng giữa năm 1865-68 . Nhưng bà c̣n nói thêm rằng vào thời đó bà (năm nay 67 tuổi) đă mười ba mười bốn và mẹ của anh cũng phải mười một mười hai. Nếu thế, th́ nhất định câu chuyện chỉ phải xảy ra sau cuộc Duy Tân thời Meiji (1868). Đúng thật, mẹ anh chỉ làm việc ở Shinmachi có hai, ba, hoặc cùng lắm bốn năm rồi về làm dâu nhà Tsumura ngay. Dựa vào những điều bà bác O-rito cho biết, thuở ấy gia đ́nh Konbu đang lâm vào cảnh túng ngặt và v́ họ là một nhà cố cựu khá trọng thể diện cho nên đă cố dấu cho bằng được chuyện con ḿnh đi làm ở một nơi như thế. Không những trong thời gian con gái đi làm mà ngay cả sau khi nó về làm dâu một gia đ́nh danh giá, có lẽ họ vẫn nghĩ đó là một điều đáng hổ thẹn cho con và cho cả chính ḿnh nên không hề đi lại thăm hỏi. Ngoài ra, trên thực tế th́ người làm ở những xóm lầu xanh, con hát, gái làng chơi, gái trà thất hay ǵ ǵ đi chăng nữa, một khi triện đă đóng vào tấm văn tự bán ḿnh rồi th́ việc cắt đứt hoàn toàn quan hệ với cha mẹ là đúng với tập quán thông thường. Sau đó, với danh nghĩa "kẻ ăn người ở" trong nhà th́ dù có chuyện ǵ xảy ra cho họ nữa, phía cha mẹ cũng không có quyền can thiệp. Tuy vậy, theo những ǵ bà bác c̣n nhớ một cách mù mờ th́ khi cô em gái trở thành dâu con nhà Tsumura, mẹ của bà ta có đi Ôsaka thăm con một hai lần th́ phải. Khi trở về, bà có kể lại những thay đổi đáng kinh ngạc trong đời cô con gái, bây giờ đă là bà chủ một gia đ́nh trưởng giả và sống trong nhung lụa. Dưới Ôsaka cũng có nhắn O-rito thế nào cũng xuống chơi nhưng bà bác cho biết v́ không muốn cho những người sang trọng họ thấy cái tướng lùi xùi quê mùa của ḿnh nên không đi. Và từ đó O-rito cũng chẳng thấy người em về thăm Kuzu nữa nên không biết lúc lớn lên, dung mạo em ḿnh thế nào. Rồi em rể và em gái lần lượt chết, phía bà th́ cha mẹ cũng măn phần cho nên mối liên lạc với nhà Tsumura coi như đoạn tuyệt.

Bà bác O-rito khi nhắc đến người em ruột, bà mẹ của Tsumura, thường gọi ṿng vo là "đẻ của ông" . Có lẽ bà chỉ muốn lễ phép với Tsumura nhưng cũng có thể là bà đă quên bẵng tên cô em gái. Khi Tsumura hỏi về người tên là O-ei trong câu  "Con O-ei mỗi ngày vào trong núi chỗ tuyết ngập dày, để đào củ sắn" th́ được biết đó là bà chị cả, bà bác O-rito hàng thứ hai và O-sumi, mẹ của anh là cô gái út. V́ hoàn cảnh đặc biệt, O-ei đă đi làng khác lấy chồng [xxxx] trong khi đó chồng của O-rito vào ở rể trong nhà, lấy họ Konbu và thành người chủ gia đ́nh. Hai người chồng của O-ei và O-rito đều đă chết, chủ gia đ́nh hiện tại là con trai của O-rito tên gọi Yoshimatsu và vợ anh ta là người đàn bà đă tiếp chuyện khi Tsumura bước vào trong sân hỏi thăm. Khi mẹ của O-rito c̣n sống, cụ có giữ lại ít giấy tờ và thư từ liên quan đến O-sumi nhưng trải qua ba đời rồi, khó ḷng c̣n vật nào tồn tại. Sau khi nói thế, bất thần O-rito như nhớ ra điều chi. Bà đứng lên, mở cửa cái ban thờ Phật trong nhà, lấy ra một tấm ảnh trưng bày bên cạnh mấy cái bài vị. Tsumura có cảm tưởng ḿnh đă được nh́n thấy ở đâu. Đó là chân dung mẹ anh, khổ bưu thiếp, chụp khoảng trước khi bà qua đời. Anh cũng có một bức sao như thế trong tập ảnh của ḿnh.

- Đây, đây, đẻ của ông có để lại vật nầy...

O-rito như nhớ thêm được điều ǵ khác:

- Ngoài tấm ảnh c̣n có chiếc đàn koto. Cụ tôi giữ cẩn thận lắm, xem nó như vật kỷ niệm của con gái dưới Ôsaka. Lâu nầy không giở ra xem, chẳng hiểu bây giờ nó thế nào...

Bà bảo cây đàn koto được cất trong kho trên gác. Tsumura nán lại chờ Yoshimatsu về lấy xuống cho anh xem.Trong khi chờ đợi, anh ghé xóm bên cạnh ăn cơm. Sau khi trở lại, anh giúp hai vợ chồng trẻ khênh món đồ kềnh càng bám đầy bụi đó ra chỗ sáng ngoài hiên.

Không hiểu sao món đồ quí ấy lại nằm ở một nơi không đúng chỗ là cái nhà nầy. Khi tấm vải dầu đă bạc màu bao quanh được mở ra, một chiếc đàn koto dài gần hai mét [xxxxi] , tuy đă cũ nhưng sơn và rắc kim nhủ tuyệt đẹp hiện ra trước mắt họ. Cây đàn được trang trí trọn vẹn bằng tranh sơn mài chỉ trừ mặt sườn gỗ gọi là "vỏ" (kô) ở dưới hàng dây đàn. Hai ŕa dọc theo thân đàn gọi là "băi" (iso) h́nh như được trang trí với phong cảnh bải biển Sumiyoshi [xxxxii] : một bên vẽ cánh cổng torii đền thần đạo và chiếc cầu h́nh ṿng cung ẩn trong rừng tùng, bên kia vẽ một ngọn thạch đăng cao với rặng tùng ngă theo gió và những đợt sóng xô lên bờ.Vô số những con chim choi choi bay lượn trên vùng từ "biển" (umi) cho đến quăng "long giác" (ryuukaku), "tứ lục" (shibunnoroku) thuộc phần đầu cao của đàn; trong khi phần đầu thấp, nơi có "vải sậy" (oginuno) và ở dưới "lá sồi" (kashiwaba) có tranh trang trí h́nh mây ngũ sắc và các tiên cô. V́ gỗ ngô đồng làm thân đàn đă lên nước cùng với thời gian cho nên những bức tranh trang trí và kim ngân nhũ rắc lên nên toàn thể cây đàn hắt lên một thứ ánh sáng làm choá mắt. Tsumura phủi bụi khỏi tấm vải dầu bọc đàn và xem xét kỹ lưỡng các h́nh vẽ. Tấm vải h́nh như được dệt theo kiểu Shioze, đường chỉ rất sít sao và dày, mặt trên phô ra bên ngoài có h́nh hoa mơ kép màu trắng hiện ra trên nền đỏ, c̣n mặt dưới có h́nh một mỹ nhân Trung Quốc ngồi trên lầu cao gảy đàn tranh. Trên hai cột lầu có viết hai câu thơ đối với nhau:

Nhị thập ngũ huyền đàn dạ nguyệt,
Bất kham thanh oán khước qui lai[xxxxiii]

Trên nền, ở phía trong là cảnh một đàn nhạn đang bay dưới vầng trăng, bên cạnh có chép một bài thơ tiếng Nhật:

Ngỡ ngỗng trời đang giăng hàng,
Ai hay trụ nhạc cũng dàn đường mây.
 
 

1) Iso (Băi) 2)Umi (Biển) 3)Ryuukaku (Long Giác)
4) Shibun-no-Roku (Tứ Lục) 5) Oginuno (Vải Sậy)
6) Kashiwaba (Lá Sồi)

Hoa mơ kép không phải hoa văn của gia đ́nh Tsumura. Có thể nó là của gia đ́nh Urakado, nhà cha mẹ nuôi hay là của hàng quán trên xóm Shinmachi. Có lẽ khi mẹ anh về làm dâu nhà Tsumura, bà thấy không cần phải giữ làm chi cái dấu vết của ngày tháng bà c̣n sống ở xóm lầu xanh nên gửi tặng nó cho gia đ́nh ở dưới quê. Cũng có thể nghĩ rằng trong gia đ́nh lúc đó có một cô gái đến tuổi cập kê, bà ngoại anh đă chấp nhận món quà để dành cho cô gái ấy. Hoặc giả, bà mẹ của Tsumura đă giữ cái đàn suốt thời kỳ bà lấy chồng ở Shimanouchi và trước khi chết, viết di chúc để nó lại cho gia đ́nh, Thế nhưng cả bà bác O-rito lẫn cặp vợ chồng trẻ, không ai biết ǵ về chuyện đó cả, Hẳn là có một phong thơ kèm với cây đàn nhưng bây giờ không ai biết nó ở đâu. Họ chỉ c̣n nhớ rằng cái đàn koto ấy là của một người trong nhà mà họ đă "gửi đi Ôsaka" để lại cho.

Ngoài ra, có một chiếc hộp nhỏ đựng ít đồ phụ tùng như trụ chăng dây và phím đàn. Những cái trụ làm bằng gỗ đen, rắn chắc, được sơn, rắc kim nhũ và trang trí h́nh tùng-trúc-mai lên trên. Mấy cái phím v́ dùng nhiều nên đă ṃn hết. Chạnh ḷng v́ cái ư nghĩ mẹ anh đă sử dụng những cái phím nầy với mấy ngón tay mảnh khảnh của bà, Tsumura thử lồng một cái vào ngón út của anh. Cái cảnh anh đă thấy hồi c̣n bé với người đàn bà thanh lịch đang ḥa bản Tiếng Chồn Tru (Konkai) với ông thầy trong gian sau căn nhà, lại thoáng hiện ra trước mắt anh. Cho dù người đàn bà ấy không phải là mẹ anh và chiếc đàn không phải là chiếc đàn koto này, mẹ anh chắc đă bao lần vừa đánh bản nhạc vừa hát theo. Anh tự nhủ nếu được thế nào cũng phải cho sửa chữa cái đàn nầy thật nhanh chóng và nhờ một nhạc sĩ có tài đánh cho nghe bản Konkai vào ngày giỗ của mẹ.

Ngôi miếu Inari trong vườn đă dùng để thờ thần chồn như vị thần phù hộ gia đ́nh từ nhiều đời và cặp vợ chồng trẻ có thể xác nhận đó là cái miếu đă được nhắc đến trong lá thư của bà ngoại anh. Thế nhưng ngày nay, trong gia đ́nh không ai có tài gọi được chồn ra nữa. Từ ngày c̣n bé, Yoshimatsu có nghe nói ông ḿnh làm được chuyện đó nhưng từ một thời kỳ nào đó "thần chồn trắng Myôbuno-shin" không thấy xuất hiện nữa và nay chỉ c̣n dấu một cái hang cũ của chồn dưới gốc cây dẻ đằng sau miếu. Khi người ta dẫn Tsumura đến đó, anh thấy có một sợi giây thiêng shimenao của Thần Đạo tết bằng giấy ai treo hờ hửng ở miệng hang.

Câu chuyện trên đây đă xảy ra vào năm bà cụ nội Tsumura qua đời nghĩa là hai ba năm trước khi anh kể lại tôi nghe trong khi hai đưa ngồi trên mỏm đá ở Mitataki. Những "người bà con ở Kuzu" mà anh nhắc trong bức thư anh gửi cho tôi không ai khác hơn gia đ́nh bà O-rito. Bà là bà bác cánh bên ngoại của Tsumura và gia đ́nh bà cũng là gia đ́nh mẹ của anh bạn tôi. Do đó, trong khoảng vài năm sau nầy, anh đă bắt đầu đi lại với gia đ́nh ḿnh. Hơn nữa, anh c̣n giúp đỡ chút đỉnh tiền bạc để họ sinh sống. Anh lại xây một ngôi nhà riêng cho bà bác và mở rộng cái xưởng làm giấy, giúp gia đ́nh Konbu có phương tiện làm ăn bề thế hơn dù vẫn trong phạm vi một nghề thủ công.

Phần Sáu: Shionoha

- Thế th́ lần nầy, mục đích chuyến đi của cậu là ǵ?

Hai chúng tôi vẫn ngồi nghỉ trên mỏm đá, quên khuấy màn đêm đă xuống dần chung quanh. Nhân lúc bạn tôi dừng lại giây lát câu chuyện kể, tôi mới hỏi xen vào;

- Cậu đi gặp bà bác, phỏng?

- Trong câu chuyện nầy, tớ c̣n quên chưa kể cho cậu một chi tiết!

Trong cái chập choạng của buổi hoàng hôn, chúng tôi bắt đầu hết nhận ra h́nh thù những bọt nước của ḍng sông đang đập vào bờ đá dưới chân ḿnh nhưng tôi vẫn cảm thấy được mặt Tsumura có hơi đỏ lên khi anh nói thế.

- Lần đầu tiên tớ đến, khi c̣n đứng ngoài rào nhà bà bác, có một cô gái trẻ mười bảy mười tám đang làm giấy ở bên trong. Cậu có nhớ là tớ đă kể cậu nghe chuyện ấy không?

- Ờ ờ!

- Cô gái đó thực ra là cháu ngoại của bà bác cả - cái bà tên O-ei và đă mất rồi đó. Hồi tớ ghé, đúng dịp cô ta đến phụ một tay cho gia đ́nh Konbu.

Đúng như tôi nhận xét, giọng nói của Tsumura dần dần trở nên hết sức ngượng ngập:

- Như tớ vừa kể cậu nghe khi năy, cô ta đúng là gái quê, lại không đẹp đẽ ǵ cho cam. V́ công việc, cô ta phải nhúng tay trong nước giữa trời lạnh cóng cho nên chân tay đă nứt nẻ và trông rất thô kệch. Thế như hàng chữ trong lá thư của bà ngoại tớ, cái "bàn tay nứt nẻ và đầu ngón tơi ra hết" đă ám ảnh tớ hay sao mà lạ lùng thay, từ lúc đầu tiên chỉ cần một lần được thấy cô gái nhúng đôi bàn tay đỏ hỏn trong nước, tớ đă thương cô ta liền. C̣n phải nói thêm nữa là cô có nhiều nét hao hao khuôn mặt của mẹ tớ trong tấm ảnh. Đă đành v́ gia cảnh, thân phận cô chỉ là người làm đứa ở nhưng nếu được trau dồi th́ cô cũng sẽ gần được như mẹ tớ thôi.

- Ra thế, cô ta là cái trống Hatsune của cậu đấy!

- Phải, đúng rồi! ..Sao, cậu thấy thế nào? Tớ định hỏi cô ấy làm vợ.

Cô ta tên là O-sawa. O-tomo, con gái của bà bác cả O-ei, lấy chồng họ Ichida, con nhà nông ở gần Kashiwagi. O-sawa sinh ra ở đó. V́ gia đ́nh sống chật vật nên khi mới xong bậc tiểu học, cô đă phải xuống thị trấn Gojô giúp việc cho người ta. V́ nhà neo người, năm mười bảy cô mới xin thôi về quê, từ đó giúp việc đồng áng. Nhưng đến mùa đông, không có nông vụ, cô được gửi đến gia đ́nh Konbu phụ họ làm giấy. Năm nay đáng lư cô cũng phải đến nhưng có lẽ chưa đến lúc. Nhân thế, theo lời Tsumura, trước tiên anh phải thổ lộ cho bà bác O-rito và vợ chồng Yoshimatsu nỗi ḷng thầm kín của ḿnh, rồi tùy theo kết quả, hoặc nhờ họ gọi cô ấy tới gấp hoặc chính ḿnh t́m đến nhà cô.

- Nếu mọi sự trôi chảy th́ tớ cũng có hy vọng gặp được cô O-sawa?

- Đúng! Chuyến đi này rủ cậu đi tớ cũng muốn cậu thế nào cũng gặp cô ấy hộ và cho tớ nghe nhận xét của cậu về cô ấy đấy. Bề ǵ hoàn cảnh của hai bên khác nhau nhiều quá, không biết cưới cô ấy về rồi có được hạnh phúc hay không đây? Tuy tin tưởng là không sao nhưngcũng không thể hoàn toàn yên trí....

Tôi thúc hối Tsumura đi ngay, hai đứa tuột xuống mỏm đá mà chúng tôi ngồi năy giờ. Thế rồi đến Miyataki, chúng tôi thuê xe kéo và khi chúng tôi đến nhà gia đ́nh Konbu ở Kuzu, nơi chúng tôi đă xin ngủ đỗ, th́ trời đă tối sẫm.Tôi xin lược hết những ấn tượng tôi có về bà bác O-rito, gia đ́nh bà, cảnh tượng nhà cửa, xưởng giấy... v́ không chỉ làm choán giấy mà c̣n lập lại những điều đă viết ở trên. Tôi chỉ xin ghi lại đôi ba điều c̣n giữ lại trong kư ức. Thời đó, điện chưa tới vùng nầy và chúng tôi và gia đ́nh họ ngồi thành ṿng tṛn quanh một bếp ḷ lớn dưới ánh đèn dầu nói chuyện với nhau. Nhà của họ đúng là một ngôi nhà tranh miền núi tiêu biểu. Họ chụm ḷ bằng gỗ sồi, dẻ xanh lẫn gỗ dâu nhưng họ cho biết chỉ có gỗ dâu là cháy chậm và toả hơi nóng dịu hơn cả cho nên cho thứ củi nầy vào đầy cả ḷ. Tôi lấy làm ngạc nhiên v́ họ xài phung phí c̣n hơn người tỉnh thành. Dưới ánh sáng của những tia lửa kêu lách tách, rui kèo và trần nhà trên bếp ḷ ánh lên một màu đen nhánh như vừa mới được tô bằng hắc ín.C̣n phải kể thêm là mấy con cá thu vùng Kumano dọn ra trong bửa cơm chiều ngon ơi là ngon. Cá thu bắt được ngoài biển Kumano được kẹp trong lá trúc c̣i và chuyển vận lên vùng núi để bán. Trong cuộc hành tŕnh dài năm, sáu ngày hay một tuần, nhờ có gió cá tự động khô đi. Nhiều khi chồn c̣n chạy ra cuổm cả cá. Đó là họ kể với tôi như vậy.

Sáng hôm sau, khi bàn định với nhau xong, Tsumura và tôi, tạm thời mỗi người sẽ hành động theo một hướng khác nhau. Tsumura sẽ tŕnh bày vấn đề thiết thân của anh và thuyết phục gia đ́nh Konbu nói vun vào hộ. Trong khi đó, nếu tôi có mặt th́ sẽ làm vướng víu anh cho nên tôi sẽ đi một ṿng khoảng năm sáu ngày t́m hiểu vùng núi sâu trên thượng nguồn sông Yoshino để thu lượm tư liệu cần thiết cho cuốn tiểu thuyết đă dự tính. Ngày đầu tiên rời khỏi Kuzu, tôi định đi đến làng Unogawa viếng phần mộ của hoàng tử Ogura, con trai thiên hoàng Go-Kameyama, sau đó vượt ngọn đèo Ngũ Xă (Gosha) đến làng Kawakami rồi qua đêm ở Kashiwagi. Ngày thứ hai tôi định vượt đèo Obagamine và ngủ lại trang trại Kawai trong làng Kitayama. Qua đến hôm thứ ba, tôi sẽ thăm chùa Long Tuyền Tự (Ryuusen) ở Otochi, chỗ có cung xưa của Vua Nhà Trời, và phần mộ hoàng tử Kitayama, rồi sau đó, leo lên rặng Ôdaigahara và ngủ một đêm trong núi. Ngày thứ tư, tôi tính ghé suối nước nóng Ngũ Sắc (Goshiki) và thám hiểm thung lũng Sannoko. Nếu đi trót lọt, tôi sẽ thăm hai vùng đất bằng là Hachimandaira và Kakushidaira cho được và xin tiều phu cho ngủ trọ trong cḥi hay lui trở lại qua đêm ở Shionoha. Ngày thứ năm tôi sẽ từ Shionoha đi Kashiwagi, và cùng ngày đó hoặc hôm sau về tới Kuzu. Đấy là chương tŕnh chuyến đi tôi đă lập ra, có tham khảo ư kiến gia đ́nh Konbu về địa lư trong vùng . Sau khi hứa hẹn ngày tái ngộ, tôi chúc Tsumura mọi điều may mắn rồi lên đường. Khi tôi sắp sửa rời chân, Tsumura cho biết anh có thể đến thăm gia đ́nh O-sawa ở Kashiwagi và chỉ cho cách tôi t́m nhà cô ta, dặn tôi nhớ ghé lại chơi khi nào tôi đặt chân đến Kashiwagi trên đường về.

Chuyến đi của tôi hầu như diễn ra ăn khớp với chương tŕnh. Theo lời người ta, ngày nay th́ ngay cả ngọn đèo Obagamine hiểm trở cũng đă có đường xe buưt, và khách có thể đi thẳng một lèo đến Kinomoto trong xứ Kii mà không cần phải xuống xe cuốc bộ. Nhớ lại t́nh huống hồi trước lúc tôi qua vùng th́ như thể đă là chuyện xưa lắc. May là trời tốt nên tôi thu thập được nhiều tư liệu hơn cả ḷng mong đợi, cho đến hôm thứ tư th́ thấy chuyện đường sá khó khăn hay nhọc nhằn "chỉ có thế thôi sao!". Thế nhưng đường vào thung lũng Sannoko mới làm tôi tá hỏa. Nhất là trước khi đi đến đó, tôi có nghe thiên hạ hay bảo: "Chỗ đó khiếp lắm!" hoặc là : "Trời ơi, ông đi Sannoko đấy à?" nên đă chuẩn bị tinh thần. Do đó, tôi mới thay đổi lịch tŕnh đôi chút. Ngày thứ tư, ngủ trọ một đêm tại suối nước nóng Goshiki, tôi mượn một người đi theo làm hướng đạo, rồi qua hôm sau, mới sáng tinh mơ đă khởi hành.

Con đường men theo ḍng sông Yoshino từ nơi phát nguyên của nó là núi Ôdaigahara để xuống dưới, đến bên bờ một chỗ chẻ nhánh tên gọi Hai Bắp Vế (Ninomata), nơi sông gặp gỡ một ḍng suối th́ con đường rẽ làm hai.Một nhánh đưa thẳng về Shionoha, c̣n nhánh kia uốn cong về bên phải trước khi đâm xuống thung lũng Sannoko.

Con đường lớn dẫn đến Shionoha th́ đúng là một "con đường" chứ cái nhánh quẹo qua bên phải chỉ là một lối ṃn chật hẹp, chỉ đủ để đánh dấu giúp cho người đi, và xuyên qua những cánh rừng tuyết tùng dày đặc. Thêm nỗi hôm qua trời mới mưa, nước lũ sông Ninomata dâng cao làm lở đi hay nhận ch́m cả mấy chiếc cầu làm bằng thân cây thô, làm tôi phải nhảy từ phiến đá nầy qua phiến đá nọ trên những chỗ xoáy của ḍng nước xiết và nhiều khi đành ḅ bốn cẳng chứ ngoài ra không có cách đi qua. Trên đầu nguồn sông Ninomata là "sông" Okutama. Từ chỗ đó, chúng tôi băng qua ḷng sông  Địa Tạng (Jizô) và cuối cùng tới được phía sông Sannoko. Đoạn đường đi từ sông nầy qua sông kia bọc bằng những vách đá dựng đứng không biết bao nhiêu trượng. Nhiều chỗ hẹp đến nỗi phải lách người mới đi lọt, nhiều chỗ đường sụp mất tích. Người ta phải bắc các thân gỗ nguyên khối hay ván lót đường làm những chiếc cầu tạm tiếp nối trong không trung để con đường ṃn ngoằn ngoèo có thể băng qua những vực thẳm. Một tay leo núi nhà nghề chắc sẽ coi là như chuyện cơm bữa , thế nhưng thể dục dụng cụ vẫn là môn tôi yếu nhất thời trung học: mấy thứ xà đôi, xà móc hay ngựa gỗ từng làm tôi sợ đến phát khóc. Hồi đi thăm Yoshino lần trước, tôi hăy c̣n trẻ, người trông thanh cảnh hơn bây giờ và có thể đi bộ trên đường bằng ba bốn mươi cây số mà không biết mệt. Thế nhưng giờ đây, ở một nơi khó đi như thế này, nếu không dùng cả bốn vó th́ không tài nào tiến tới trước được. Chân tôi hăy c̣n đủ sức nhưng vấn đề là thân h́nh đă bớt nhanh nhẹn. Chắc chắn là trên đoạn đường, mặt tôi đă hết đỏ gấc rồi lại xanh chàm không biết đến bao nhiêu lần.Thật ḷng mà nói, phải chi không có người hướng đạo đi cùng th́ tôi đă quay về phía cầu gỗ Ninomata rồi. Sự hiện diện của ông làm tôi mắc cỡ v́ không biết tính sao, tiến một bước hay lùi một bước đều ngại, rốt cuộc, hai bàn chân vừa run lẩy bẩy vừa phải tiếp tục.

V́ lư do đó nên phong cảnh mùa thu trong thung lũng đẹp như thế mà tôi lấy làm hỗ thẹn không đủ sức để miêu tả tường tận nó v́ mải bận cúi xuống, chú ư vào bước chân ḿnh. Đôi lúc có ngẩng đầu lên là khi giật nẩy người v́ tiếng mấy con chim sẻ ngô chợt đập cánh bay lên. Ngược lại, ông hướng đạo của tôi quả thật đă quen việc. Ngậm điếu thuốc lá rời quấn trong lá hải đường trên môi, ông ta tiến lên trên con đường nguy hiểm nầy mà không chút mệt nhọc, c̣n chỉ bảo đây là thác nầy, sông nọ, ghềnh kia....Thế rồi, ông đưa tay ra trỏ về phía xa:

- Đằng đó là ghềnh đá Tâu Ngài (Gozenmôsu). Ông ta bảo. C̣n kia là ghềnh Berobedo. Ông lại chỉ về hướng một nơi xa hơn.

Nghe nói thế, tôi đưa cặp mắt kinh hoàng nh́n xuống đáy vực mà không thấy thấu tới nơi và không phân biệt nổi cái nào là Gozenmôsu và cái nào là Berobedo nhưng ông hướng đạo giải thích là ngày xưa đức vua ngự ở đây cho nên có những ghềnh đá mang những cái tên như vậy. Do đó, bốn năm năm về trước, có học giả, tiến sĩ hay công chức cao cấp ǵ đó, nói chung là một vị có tiếng tăm, từ Tôkyô đến thăm thung lũng này, và đặt câu hỏi:

- Ở đây có cái ghềnh đá nào tên Gozenmôsu không?

Ông hướng đạo lúc đó cũng đi dẩn đường, mới cung kính trả lời:

- Dạ thưa có! Rồi chỉ về hướng ghềnh đá.

- Thế c̣n cái ghềnh tên là Berobedo?

- Dạ, thưa nó đây! Ông ta bảo thế rồi chỉ một mỏm đá khác.

- À ra thế, tốt lắm. Nhất định Vua Nhà Trời (Jiten.ô) có ở đây rồi!

Tấm tắc xong, vị ấy bèn quay về Tôkyô. Đó là câu chuyện mà ông hướng đạo đă kể tôi nghe nhưng không giải thích được nguồn gốc cái tên của những ghềnh đá ấy.

Cái ông hướng đạo nầy c̣n biết thêm nhiều câu chuyện truyền tụng ở vùng nầy. Ngày xưa khi bọn truy kích Vua Nhà Trời từ kinh đô đột nhập vào đây, chúng không biết ngài ở đâu, mới đi hết núi nầy sang núi nọ để lùng. Một hôm, chúng xuống thung lũng ở đây và thấy rằng trong ḍng nước sông Tanigawa chảy từ thượng lưu xuống phía chúng có lẫn cả vàng nên chúng lần ṃ đi lên th́ thấy có cung điện của ngài. Một câu chuyện khác kể rằng sau khi đến ngự trong cung Kitayama, mỗi ngày Vua Nhà Trời ra rửa mặt trên ḍng sông Kitayama chảy trước cung điện. Đức vua bao giờ cũng đi với hai kẻ tùy tùng có khuôn mặt giống ngài như đúc đến nỗi không ai phân biệt được ai là đức vua thật. Những kẻ truy kích mới ḍ hỏi một bà lăo trong thôn hay có dịp qua đó th́ bà mới chỉ cho:

- Cái người nào khi thở ra mà hơi thở màu trắng ấy chính là đức vua.

Chính nhờ đó mà bọn truy kích mới tấn công và cắt được thủ cấp đức vua nhưng nghe nói con cháu nhà bà lăo v́ thế mấy đời đều đẻ ra toàn người tàn tật.

Vào khoảng một giờ trưa, tôi đến được một túp lều ở vùng đất bằng Hachimandaira, vừa mở cơm hộp ra ăn vừa lấy sổ tay ra ghi chép những truyền thuyết nghe được. Từ đây chỉ c̣n đoạn đường khứ hồi độ dưới ba dặm (mươi cây số) để đến chỗ đất bằng tên gọi là Đồng Ẩn Náu (Kakushidaira) nhưng đoạn đường sắp tới sẽ dễ đi hơn con đường chúng tôi mới vượt qua ban sáng. Thế nhưng cho dù các nhân vật Nam Triều muốn tránh cặp mắt người đời, việc vào ở măi sâu trong nầy quả là điều bất tiện. Chắc chắn là câu thơ của hoàng tử Kitayama như sau:

Lạc loài vào chốn non sâu,
Cửa sài phong kín, dạ sầu với trăng

không thể nào được làm ra ở một nơi như nơi nầy.Nói tóm lại, phải chăng Sannoko chỉ là một địa điểm trong truyền thuyết chứ không dính dáng đến sự thực lịch sử?

Tối hôm đó, ông hướng đạo và tôi ngủ đỗ lại ở Hachimandaira trong căn lều của một sơn nhân, được đăi ăn cơm có thịt thỏ rừng. Sáng hôm sau, chúng tôi trở lại Ninomata bằng con đường cũ, ở đó, sau khi giả từ ông, tôi về Shionoha một ḿnh. Tuy nghe nói từ đấy đến Kashiwagi chỉ có bốn cây số nhưng tôi trùng tŕnh lại với ư định đi tắm suối nước nóng phun lên dọc bờ sông. Trên sông Yoshino, nơi nước dâng lên khi hợp lưu với ḍng Ninomata, có một chiếc cầu treo. Vừa vượt qua đó, tôi đă thấy suối nước nóng nằm trên băi sông dưới chân cầu. Thế nhưng khi thử nhúng tay vào, tôi thấy nước chỉ hâm hẩm như nước hấp hơi nắng là cùng. Mấy bà nhà nông đang bận rộn rửa củ cải trong đó.

- Chỗ này mùa hè mới vào tắm được. Cữ nầy, muốn tắm phải cho nước vào bồn tắm mà đun lên.

Bà ta vừa nói vừa chỉ tay về hướng một cái bồn tắm bị bỏ mặc trên băi sông.

Vừa lúc tôi ngoảnh đầu nh́n cái bồn th́ từ trên cầu treo có tiếng ai gọi ơi ới:

- Ê.. ! ê.... !.

Nh́n lại, té ra ai như Tsumura và O-sawa. Anh chàng chạy về hướng tôi, cô gái theo sau lưng. Chiếc cầu treo chao nhẹ dưới bước chân và tiếng guốc gỗ lốc cốc của họ âm vang trong thung lũng.

Về sau, tôi không viết được quyển tiểu thuyết lịch sử như đă dự tính v́ hăy c̣n thiếu một số tư liệu. Cô O-sawa mà tôi thấy trên cầu hôm đó nay đă trở thành bà Tsumura là chuyện không cần phải nói. Chuyến đi vừa qua xem ra đem lại nhiều thành quả cho Tsumura hơn là cho tôi.

Tôkyô, dịch từ 25/04 đến 05/06/2005.
Nguyễn Nam Trân


 

Chú Thích Của Người Dịch


[i] Con chồn ranh mănh trong truyền thuyết, đă giả làm Tadanobu.

[iii] Satô Tadanobu (Tá Đằng, Trung Tín, 1161-1186), một trong những người con của Satô Shôji, cùng với anh ḿnh là Tsuginobu (1158-1185) theo hầu Yoshitsune và đoạn hậu chẹn bọn tăng binh theo bắt, để cho chủ tướng thoát thân khi họ trốn chạy đến Yoshino. Ông tự sát ở Kyôto sau đó.

[iv] Minamotono Yoshitsune (1159-1159), tục gọi là Kurô (Cửu Lang), em trai Tướng Quân Yoritomo, người khai sáng Mạc Phủ Kamakura. Ông là danh tướng tài hoa nhưng yểu mệnh mà cuộc đời đă trở thành một huyền thoại trong dân gian. Sau khi diệt được nhà Taira, bị Yoritomo tranh chấp quyền lực, lùng bắt phải bôn đào từ Kyôto xuống Yoshino sau lên miền bắc, căn cứ địa cũ. Bị đồng minh phản bội và chọn cái chết.

[v] Nhân vật trong vở múa rối của Chikamatsu Monzaemon, sau được phóng tác thành tuồng Kabuki nhan đề Shigenoi kowakare (Cuộc chia tay giữa Shinegoi và đứa con). Bà vú Shigenoi có đứa con rơi là Sankichi, làm nghề mă phu. Bị giằng co giữa t́nh mẹ con và bổn phận (vú nuôi con gái lănh chúa), bà đă chọn việc theo hầu cô công nương và bỏ rơi Sankichi, con đẻ của ḿnh.

[vi] Thiên hoàng thuộc Nam Triều đă về kinh đô Kyôto năm 1392 sau cuộc ḥa nghị.

[vii] Như lịch sử nhiều quốc gia, Nhật Bản đă trải qua t́nh trạng chia cắt trong ṿng 57 năm (1336-92). Bắc Triều đóng ở Kyôto, c̣n Nam Triều đóng trong cùng núi non Yoshino. Các thiên hoàng hiện tại thuộc ḍng dơi Nam Triều.

[viii] Người thuộc ḍng họ Kutsunoki, hào tộc vùng Kawachi, Izumi, ủng hộ Nam Triều.

[ix] Ba vậy báu (sanshu jingi) tượng trưng cho quyền lực thiên hoàng.

[x] Akamatsu Mitsusuke (Xích Tùng Măn Hựu, 1373-1441?), hào tộc đời Nam Bắc Triều, ám sát Tướng Quân Ashikaga Yoshinori, cháu người dựng chùa Kim Các, sau tự sát. Sử gọi là cuộc loạn năm Kakitsu (1441-1444).

[xi] Tức Thái B́nh Kư, truyện kư về chiến tranh gồm 40 quyển miêu tả khoảng thời gian nước Nhật đi đến cảnh phân chia thành hai triều đ́nh Nam Bắc với một giọng văn hoa lệ, bằng chữ Nhật xen lẫn chữ Hán. Có lẽ do một pháp sư tên Kojima viết ra khoảng năm 1368-1379.

[xii] Một hoàng tử có chí trung hưng thế lực thiên hoàng (nhà vua) chống lại thế lực mạc phủ (nhà chúa) nhưng phải bôn tẩu khắp nơi và cuối cùng bị kẻ thù cầm tù và thảm sát.

[xiii] Nguyên là một tiểu thuyết đại chúng nói về giới du côn anh chị đời Edo do nhà văn Kyokutei Bakin (1767-1848) viết.

[xiv] Kyokutei Bakin (Khúc Đ́nh Mă Cầm, 1767-1848), nhà viết tiểu thuyết (đặc biệt là kiếm hiệp) nổi tiếng thời Edo.

[xv] C̣n gọi là trường Nhất Cao (Ikkô), trường cao đẳng chuẩn bị vào đại học, năm 1949 đă sáp nhập vào Đại Học Đông Kinh.

[xvi] Kuzu (sắn dây) thân thảo, lá chỉa ba, một trong bảy thứ cỏ mùa thu, mặt trái (ura) dễ bày ra khi trời có gió. Làm liên tưởng đến chữ urami nghĩa là "oán hận" hay "hận t́nh". C̣n gọi là kuzu kazura (sắn đèn lồng ) một chữ dùng trong thơ khi ám chỉ ḷng "oán hận". Vở tuồng Nô nhan đề Kuzu của soạn giả Zeami (1363?-1443?) cũng nói về thiên hoàng Tenmu khi c̣n là một ông hoàng lưu lạc.

[xvii] Thiên hoàng vĩ đại trong lịch sử Nhật Bản, sau khi đoạt ngôi của cháu sau loạn Nhâm Thân (672), đă lập ra luật lệnh, chế độ, biên tu quốc sử, tại vị từ 673 đến 686. Lúc cňn là hoàng tử Ôama (671), có lần vào vùng núi Yoshino ẩn cư.

[xviii] Tên một vở tuồng búp bê nghĩa là " Đem Chuyện Núi Vợ Chồng Dạy Dỗ Người Đàn Bà" do nhà soạn kịch Chikamatsu Hanji và các bạn hợp tác viết và diễn lần đầu tiên năm 1771, kể lại bi kịch của chàng Koganosuke và nàng Hinadori. Sau trở thành tuồng Kabuki.

[xix] Tiệm bán một loại sushi mà cá được ướp đặc biệt và bày trong hộp gỗ h́nh chiếc gàu múc nước.

[xx] Tức Taira no Koremori (1157-1184?), con trai cả của quyền thần Kiyomori, nổi tiếng là người đẹp trai. Lúc họ Taira bị đánh tan, phải trú ẩn trong dân. Sau chết ngoài biển, có thuyết cho là đi tu và chết bệnh.

[xxi] Nhân vật trong tuồng múa rối Jôruri nhan đề Yoshitsune Senbonzakura, đóng vai một tên vô lại con nhà bán cơm nắm cá giấm, sau được cảm hóa, hy sinh cả ḿnh và vợ con để cứu Tairano Koremori.

[xxii] Tiếng đầu tiên (Sơ Âm) thường để chỉ tiếng cuốc kêu đầu mùa hè.

[xxiii] Phu nhân Shizuka (Tĩnh) tức là Shizuka Gozen, ái thiếp của danh tướng Yoshitsune (Nghĩa Kinh), xuất thân con hát shirabyoshi (tên gọi gái làng chơi sành nghệ thuật thời Heian và Kamakura, ăn mặc nam trang), dung nghi diễm lệ, lại giỏi ca vũ nhạc. Trên đường lưu lạc, đành chia tay với Yoshitsune ở Yoshino. Bị bắt về Kamakura lúc đang có thai, phải múa ở đền Tsurugaoka trước mặt vợ chồng Tướng Quân Yoritomo (kẻ thù và là anh ruột của Yoshitsune) điệu múa mà xưa Yoshitsune yêu thích nhất. Sau nàng đi tu. Ngày sinh và mất của nàng không rơ. Mối t́nh bi đát hai người là nguồn cảm hứng phong phú của các soạn giả tuồng Nô và Kabuki . Tác phẩm liên quan đến nàng có các vở như Kuzu (Sắn Dây), Yoshino Shizuka (Shizuka ở Yoshino) , Futari Shizuka (Hai nàng Shizuka) , Funa Benkei (Con thuyền của Benkei).

[xxiv] Futari Shizuka (Hai nàng Shizuka), tuồng Nô của Zeami. Nàng con gái hái rau (Natsumi) là người bị hồn ma Shizuka ám. Nàng xưng danh tánh cho nhà sư và bắt đầu múa. Thế rồi, hồn ma của Shizuka cũng hiện ra và múa theo.

[xxv] Nhà thơ thời Man.yôshuu, hoạt động trong khoảng 20 năm từ 713 đến 733.

[xxvi] Gọi tắt tên nhà thơ Kakinomotono Hitomaro (Thị Bản, Nhân Ca Lữ), một trong Tam Thập Lục Ca Tiên.

[xxvii] Nhà thơ và danh tăng thời Heian. Sinh năm 1118, mất năm 1190. Có Sanka-shuu (Sơn Gia Tập).

[xxviii] Ám chỉ Yoshitsune, người yêu của Shizuka, trên đường bôn tẩu.

[xxix] Địa danh. Thị trấn nằm trên ḍng sông Yoshino, nơi thu thập và phân phối gỗ của vùng núi nầy.

[xxx] Tương ứng với năm 1737 nghĩa là gần 600 năm sau thời của Minamotono Yoshitsune (1159-1189) và Shizuka Gozen.

[xxxi] (Trúc Điền, Xuất Vân, 1691-1756)

[xxxii] Kaibara Ekiken (Bối Nguyên, Ích Hiên, 1630-1714) là nhà Hán học, giáo dục và bản thảo học Nhật Bản. Hoà châu tức là vùng Yamato (Đại Ḥa), quyển sách ghi chép chuyến viếng thăm vùng này của tác giả.

[xxxiii] Ken = 1, 818m.

[xxxiv] Ca từ của bài Tiếng Chồn Tru (Konkai) viết ra ở đây lấy từ tập Matsunoha (Lá Tùng, 1703), một tập thơ dân gian, thật ra rất tối nghĩa. Tanizaki có sửa đổi đôi chút cho hợp với đề tài câu truyện.

[xxxv] Những nhân vật trong vở tuồng. O-Karu, là con gái Yoichibei, để kiếm tiền giúp chồng, phải bán ḿnh vào xóm thanh lâu ở Gion. Sao v́ sợ lộ việc cơ mật, bị người giết.

[xxxvi] C̣n gọi là thời Edo (1600-1868) lúc gia đ́nh các Tướng Quân họ Tokugawa lănh đạo Nhật Bản đến trước cuộc Duy Tân (1868).

[xxxvii] Michiyuki (đạo hành, đi đường) là một điệu múa trong tuồng Jôruri, Kabuki và Kyôgen mà hai nhân vật, thường là nam nữ yêu nhau, đi ṿng vo trên sân khấu và hát, như thể sống lần cuối một cuộc đời thu gọn trước khi về cơi chết.

[xxxviii] Chim cuốc, c̣n gọi là đỗ quyên, tử qui vv... dính với sự tích Thục Đế như trong văn chương Trung Quốc và Việt Nam. "Bất Như Quy" cũng là chim cuốc (hototogisu), diễn âm tiếng kêu của chim.

[xxxix] Xóm làng chơi ở Ôsaka thời Edo. Trong niên hiệu Kan-ei (1624-1644), mạc phủ đă xây cất một khu phố mới (Shin = Mới, Machi = Khu Phố, Xóm) để tụ hợp các gái làng chơi bốn phương. Cùng với Shimabara ở Kyôto và Yoshiwara ở Edo là ba xóm b́nh khang lớn nhất nước.

[xxxx] Trong gia đ́nh chỉ có con gái, đáng lẽ chồng cô cả phải gửi rể theo họ vợ và trở thành chủ gia đ́nh.

[xxxxi] Nguyên tác honken no koto tức đàn cầm có chiều dài cở 1,82 m.

[xxxxii] Phong cảnh bải biển ở phía nam Ôsaka, nơi có đền thờ nổi tiếng.

[xxxxiii] Thơ của thi nhân Tiền Khởi đời Đường vịnh nhạn sông Tiêu Tương (vùng Giang Nam) phải bỏ đi về bắc v́ không chịu nỗi tiếng đàn buồn thảm của nàng Tố Nữ trong thần thoại:

 

 

[Home] [Up] [Cửa Tùng Đôi Cánh Gài] [Đi Chùa] [Hai Vị Thiền Sư] [Piano Sonata 14] [Đi Vào Cơi Thơ] [Vết Chim Bay] [Thơ T T Kh] [Đi Chùa Hương] [Câu Chuyện Nhà Sư] [Động Hoa Vàng] [Gốc Tùng] [Đường Lên Núi Linh] [Sư Thiện Chiếu] [Lửa Từ Bi] [Ngôi Chùa Xưa] [Phong Kiều Dạ Bạc] [Người Con Gái Mặc Quần] [Ly Tao] [V́ Em Tôi Đă Làm Sa Di] [Ngôi Chùa Nhỏ Và Vị Chân Tu] [Ngậm Ngải T́m Trầm] [Phu Thê Luận Đạo] [Tách Trà C̣n Nóng] [Hoàng Tử Bé chương 1] [Kim Các Tự] [Xuất Gia 1] [Ưu Quốc] [Sắn Dây Núi Yoshino] [Ḷng Cha - Rabindranath Tagore - Trí Hải] [Ta Thấy H́nh Ta Những Miếu Đền - Mai Thảo]