Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Hành hương Nước Phật nhân mùa Đản sinh Đức Thế Tôn - Phật lịch 2550

 

MƯỜNG GIANG

 (Gia Đ́nh Phật Tử B́nh Thuận từ 1952)

Viết tặng Sao Mai và Nguyễn Văn Đồng, Ngọc Hoài Phương – Ngọc Dung và Trần Việt Hải

 

Theo sử liệu cho biết, Đức Phật Thích Ca tịch diệt vào năm 544 trước Tây lịch (TrTL), tại vườn Kausinara, xứ Malla, thuộc Ấn Độ ngày nay. Xá lợi (Sarrira – Phạn ngữ), của Đức Phật, sau khi hỏa táng, được Hương Tánh (Dona), một thày tu Bà La Môn, dâng cho 8 vị vua, cung thỉnh về nước cúng dường, xây tháp, lễ bái, tưởng nhớ Phật ngàn đời. Ḍng họ Sakya của Đức Phật, là môt trong tám nước trên,nên cũng được nhận một phần và đem về chôn cất tại quê hương của Đức Thế Tôn. 

Năm 1898, W.C.Peppé, một nhà khảo cổ Pháp rất nổi tiếng, sau nhiều năm lần ṃ theo đống tài liệu cổ, đă đào được một chiếc va ly bằng đá to, tại miền Nam Piprava thuộc Népal. Khai quật hộp đa, thấy bên trong có chứa mấy b́nh đựng tro xương Phật. Trên nắp một b́nh có ghi ḍng chữ Brahmi ‘Đây là hộp đựng Xá Lợi Phật‘. Công tŕnh này, do một người nổi tiếng trong Thích Ca Tộc, cùng em gái và vợ con, làm để cúng thờ Ngài‘. Từ những chứng liệu trên, đă xác nhận, đây là một trong tám phần Xá Lợi Phật, mà nước Cà Ti La Vệ, đă được chia vào năm 544 Tr TL. 

Các b́nh tro cốt trên, sau đó được nhà khảo cổ trao lại cho người Anh, đang cai trị Ấn Độ và Chính phủ nước này, đă giao lại cho các quốc gia Nam Á, theo Phật giáo như Tích Lan, Miến Điện,Thái Lan để họ xây tháp tôn thờ. Năm 1952, Thiền sư Narada của Tích Lan lại đem phần Xá Lợi được Nước Anh giao, tặng lại cho Tổng Hội Phật giáo VN và Chùa Kỳ Viên ở Sài G̣n. Năm 1953, Tổng Hội PG đem phần Xá Lợi Phật của ḿnh, trao cho Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (Mẹ của Vua Bảo Đại), tôn giữ trên Biệt điện của Hoàng tộc ở Ban Mê Thuột. Từ sau năm 1954, chia hai đất nước, Xá Lợi lại được đem về tôn thờ tại Chùa Phước Ḥa và cuối cùng là Chùa Xá Lợi tại Sài G̣n, cho tới ngày nay, giống như phần tại Chùa Kỳ Viên. 

Tóm lại, dù căn cứ vào tài liệu nào chăng nửa (Ấn, Hồi, Tích Lan...), th́ quê hương của Đức Phật Như Lai, vẫn là mền đất ở về phía Tây-Nam của nước Népal, dưới chân Rặng Hy Mă Lạp Son hùng vỹ, bốn bề cao ngất tận trời cao. Đây là nóc nhà thế giới, đời đời như cách biệt với bên ngoài, trong cảnh thâm sơn cùng cốc, giữa các nước Tây Tạng, Ấn Độ và Trung Hoa, hiện nay có chừng 20 triệu người. 

Căn cứ theo truyền thuyết, Népal thuở xa xưa là một biển hồ rất lơn, nằm giữa núi non cáo ngất, trong hồ có nở môt Bông Sen kỳ lạ, nhụy hoa phát ra hào quang xanh biếc chiếu sáng cả trời đất. Văn Thù Bồ Tát (Manjush), lúc đó đang tu tại Ngũ Đài Sơ, thuộc tỉnh Sơn Tây (Trung Hoa), đến cúng bái đoá sen, đồng thời dùng kiếm chém vào vách núi phía Nam, làm cho nước tràn ra ngoài, cuốn theo đất đai ph́ nhiêu ở dưới đáy hồ, tạo thành ruộng đồng màu mỡ, thu hút dân chúng tứ xứ kéo về lập nghiệp, xây dựng thủ đô Kathmandu phồn hoa đô hội tới ngày nay. 

Népal là quốc gia duy nhất trên thế giới, đă lấy Bà La Môn làm quốc giáo, dù rằng đây chính là quê hương của Đức Phật Thích Ca, Tổ sư của Phật giáo là một trong bốn tôn giáo lớn nhất hoàn cầu. Bởi vậy Phật giáo đă trường kỳ truyền bá ở đây, nên dù Ấn Độ giáo có trở thành đạo chính trong nước nhưng Phật giáo vẫn ảnh hưởng rất sâu đậm trong cuộc sống tinh thần và văn hóa của bản địa. 

Tại thủ đô, hai tôn giao cùng song hành tồn tại suốt mấy ngàn năm qua, từ việc tổ chức tế lễ tới địa điểm, h́nh thức... gần như rập khuôn, khó mà phân biệt. Sự pha trộn đặc biệt này, theo các sử gia cũng như nhà biên khảo, th́ đó mới chính là Tôn giáo đích thực của Népal. 

Ngày 4-2-1996, phái đoàn khảo cổ quốc tế, do Babukhrisna (Népal) và Storu Vesaka (Nhật Bổn), đă t́m thấy bằng chứng chính xác, nơi sinh của Đức Phật, tức Thái tử Gotama Siddhâtar (Cổ Đàm Tất Đạt Đa), con quốc vương nước Sâkyamuni (Thích Ca Mâu Ni), là Lumbini, trong vùng Tây-Nam Népal, chứ không phải Kapilavastu hay Quận Gorakhpua, thuộc Tiểu bang Uttar Pradesh (Bắc Ấn Độ). Riêng ngày sinh và mất của Đức Phật, qua nhiều thế kỷ bàn căi, cũng được các học giả khắp thế giới,căn cứ vào sự kiểm chứng của khoa học, chấp nhận Đức Phật sinh ngày Rằm tháng tư âm lịch, năm 563 Trước TL và mất năm 483 Tr TL. 

Bốn trăm năm sau ngày Đản sinh Đức Phật, Hoàng đế Ashoka, người có công rất lớn trong việc phát huy và bành trướng đạo Phật, đă tới hành hương tại Lumbini, đặt một tảng đá chính xác, nơi Phật ra đời, đồng thời dựng cột khắc chữ, nói về ư nghĩa cũa tảng đá, cuối cùng xây ngồi đền Maya Devi.  

Ngôi đền nay đă hoang tàn đổ nát, giống như sự đổi thay của Phật giáo, trong hai mươi lăm thế kỷ qua. Nhưng những lời ĐứcThế Tôn đă dạy, cũng như Sắc lệnh của Vua A Dục (Ahoka), thiên thu không hề thay đổi. Tóm lại, tuy ngày nay Phật giáo đă phân thành ba hệ phái (Yana), với học thuyết, nghi lễ và khu vực ảnh hưởng khác biệt. Đó là Phật giáo Đại Thừa (Mahayana), chủ trương đại chúng, dùng kinh điển bằng tiếng Sanskrit, ảnh hưởng mạnh tại Cao Ly, Trung Hoa, Nhật Bổn, Việt Nam... C̣n Tiểu thừa (Hina Yana), quan niệm bất khả tri, bi quan, nặng về sự giải thoát cá nhân, dùng kinh kệ bằng tiếng Pali, bành trướng tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt. Cuối cùng là Kim Cương Thừa (Vajrayana), mang nặng huyền bí, được các nước Tây Tạng, Mông Cổ... tin tưởng, sùng kính. 

Nhưng sự chia cách trên, thật ra cũng chỉ là h́nh thức v́ với Phật giáo đồ, niềm tin tưởng nhất vẫn là cái không khí Thiền môn thuần khiết, ḷng từ bi bác ái, vô lượng vô biên, tự bao đời đă bàng bạc gắn bó, giữa chúng sinh với những ngôi chùa, các tăng sĩ và đạo pháp. Cũng do ḷng sùng kính trên, mà hơn 25 thế kỷ qua, dù đă trải qua nhiều nạn kiếp, Phật giáo vẫn hiên ngang trường tồn với thời gian. 

Nhân mùa Đản sinh Đức Thế Tôn – Phật lịch 2550, trong ḍng sông biến chuyển liên tục nhưng những lời Phật dạy, đă giúp cho nhân loại, sống trong thế giới đầy khổ đau này, đă chuyển hoá tâm thức hướng thượng, tâm làm chủ các pháp, tạo được sự an lạc vĩnh hằng: 

“Muôn việc, nước cuốn nước
            Trăm năm ḷng nhủ ḷng
            Dựa lan, nâng sáo ngọc
            Ngực bụng, ánh trăng lồng
            (Trần Nhân Tông)

 

1 – THEO CHÂN VIỆT SỬ, T̀M VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM: 

Các nhà nghiên cứu xưa nay, qua hai từ ngữ BỤT và PHẬT, đă kết luận rằng Phật giáo đă truyền vào VN từ đầu Công nguyên, bằng hai con đường từ Ấn Độ và Trung Hoa. Do giáo lư nhà Phật về luân hồi, nhân quả, nghiệp chướng... rất gần gũi với tâm t́nh của tầng lớp người b́nh dân nông thôn, miền biển và lao động... nên đă nhanh chóng đi vào đời sống của dân tộc. Ngoài ra những kinh điển của Phật giáo bằng chữ Hán, từ Trung Hoa truyền sang, lại đáp ứng được nhu cầu đ̣i hỏi của tàng lớp quan lại trí thức trong nước thời đó, vốn được đào tạo bằng Nho học. Chính sự ḥa hợp này, đă tạo thành Phật giáo VN với những sắc thái đặc thù phổ quát, thường trưc và đồng hành với lịch sử Việt, bằng tất cả tinh hoa, hùng tâm, thần trí và đại lực. 

Đặc tính huyền diệu cao thâm của Phật giáo VN là cứu khổ cứu nạn cuộc đời, cho nên người Phật tử VN lúc nào cũng vững ḷng bền chí trong mọi hoàn cảnh, v́ bên cạnh luôn luôn có Đức Thế Tôn, đầu trần chân đất, lặn lội khắp nhân gian, để mà phổ độ chúng sinh. Đây chính là lư tưởng của Phật Như Lai ngay khi c̣n là Tất Đạt Đa, luôn nhập thế ở giữa cuộc đời, chứ không bao giờ xuất thế, cho nên nói ‘Phật tại tâm‘ là thế đó... Tóm lại tôn chỉ của Phật giáo VN là nhập thế và sinh phong vào đời, để phụng sự dân tộc, phát triển đất nước và khai phóng mọi người, đến cơi chân thiện mỹ, mà nhân gian quen gọi là chốn cực lạc. 

Bởi vậy cho nên khắp hang cùng ngơ hẹp, qua mọi nẻo đường đất nước, không có nơi nào không có bóng dáng ngôi chùa, cho dù ở thành thị náo nhiệt hay chốn thôn ổ đ́u hiu, ngôi chùa vẫn trầm mặc hương khói, ḥa quyện cùng tiếng chuông mơ niệm kinh, để rồi theo gió, trải ra mênh mông như muốn xóa nḥa tất cả những phiền muộn của cuộc đời, mang lại niềm thanh thản, hạnh phúc, trong ḷng mọi người. 

Sử đă viết, đời Lư lấy đạo Phật làm quốc giáo, nên đă đạt được nhiều thành tựu hiển hách, xây dựng Đại Việt thành một quốc gia văn hién bề thế, tạo điều kiện để cho nhà Trần, qua các vị vua anh minh Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn... có đủ sức mạnh, đánh đuổi được Đế quốc Nguyên-Mông, ba lần xăm lăng nước ta. Ngoài ra đời Lư cũng là triều đại đầu tiên trong gịng Sử Việt, đă phục hưng lại truyền thống và tập tính của dân tộc, đă bị người Tàu nhồi sọ, qua mười thế kỷ đô hộ. Qua ư thức phát xuất bằng từ tâm của người Phật tử, các vị vua nhà Lư đă dấn thân nhập thế, cấm chỉ việc tra tấn ngược đăi tù nhân, cung cấp đầy đủ cơm áo cho, với tấm ḷng ‘ thương người như thể thương thân. 

Trong lănh cực văn hóa, đời Lư qua các kỳ thi tuyển chọn nhần tài phục vụ cho dất nước, nội dung thi cử vẫn là đề tài từ các học thuyết của Tam giáo (Phật, Nho, Lăo). Với các vị Thiền sư thời Lư-Trần, đă trị nước bằng những ứng dụng tâm thức tu hành theo giáo lư của Đức Phật. Đó chính là những khải thị về không gian mà Đức Phật đă nhập pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm ‘Mười phương thế giới đồng nhất thể ‘hay mở bày ư niệm về thời gian, trong kinh Kim Cang ‘Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc‘. 

Mới đây, người ta đă t́m thấy một pho Kinh Phật bằng đồng, được xem là cổ nhất, tại chân tháp Viên Quang, chùa Phât Tích, thuộc Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (Bắc phần). Pho kinh là hai lá đồng mỏng 1,5mm, khổ 11cm x 17cm, trên khắc chữ Hán, được khâu dính lại bằng một sợi dây đồng... Đây là bộ Ba La Mật Tâm Kinh, một kinh rất quan trọng của Phật giáo. Ngoài ra cuối bản đồng, c̣n ghi rơ là cùng khắc chung, c̣n có nhiều bộ kinh khác như Pháp Hoa, Lương Hoàng, Địa Tạng, Kim Cương Dược Sư, Di Đà, Quan Âm... tất cả các bộ kinh kể trên không t́m thấy.  

Theo các nhà sử học và biên khảo trong nước, th́ Bộ Kinh Phật bằng đồng trên, là một quốc bảo, có từ thời nhà Lư khi thực hiên khắc kinh trên đồng, với tâm nguyện mong cho quốc đạo trường tồn vĩnh cửu. Theo sử liệu, Phật tích, Chùa Dậu (Kinh đô Phật giáo Lủy Lâu – xây dựng từ thế lỷ thứ II sau TL) và Chùa Bút Tháp, được xem là Trung tâm Phật giáo đời Lư.  

Nói chung các đời Ngô, Đinh, Lư, Trần... đều mộ đạo Phật nên đă xây dựng rất nhiều chùa chiền khắp nước. Nhiều vị cao tăng như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Không Lộ, Măn Giác... được triều đ́nh phong chức quốc sư, nên đă góp phần rất lớn với quốc gia, trong việc đánh bại quân xâm lăng Tàu và Mông Cổ, khi chúng tấn công nước ta. 

Sau khi Lê Lợi b́nh định được giặc Minh, thành lập nhà Hậu Lê, chọn Nho học làm quốc giáo, coi thường đạo Phật nhưng ảnh hưởng của tôn giáo này vẫn không hề sút giảm chút nào, trái lại tín đồ Phật giáo càng lúc càng đông, v́ từ xa xưa người dân trong nước đă có quan niệm, nơi nào có chùa là có Phật. Cho nên chỉ cần đi lễ chùa, học giáo lư và tu niệm theo nhà Phật, đă là Phật tử của Phật môn. 

Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp áp chế nhà Nguyễn, mươn lệnh triều đ́nh Huế để ban hành sắc lệnh, qui định Phật giáo là một tôn giáo phụ. Tuy nhiên điều này, chẳng những không làm sút giảm uy thế ngàn đời của đạo, mà c̣n tạo cơ hội để Phật giáo bành trướng mạnh mẽ thêm khắp mọi nẻođường đất Việt. Đặc điểm của Phật giáo VN, là từ lúc du nhập vào VN cho tới đầu thế kỷ thứ XIX, đă không có một hệ thống lănh đạo thống nhất, dù lúc đó Phật giáo vẫn là một tôn giáo lớn và có nhiều tín đồ nhất tại VN.  

Năm 1931 một đại hội Phật giáo đầu tiên, do Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, được nhóm họp tại Sài G̣n. Kế tiếp là các đại hội khác cũng được tổ chức tại Trung Việt năm 1932 và Bắc Việt năm 1934. Cả ba đại hội đều chung một mục đích : Chỉnh đốn Thiền Môn, Văn hồi quy giới, giáo dục tăng ni và phổ thông đạo pháp bằng tiếng Việt. 

- Ngày 6/5/1951, nhóm họp Phật giáo toàn quốc tại Huế.
            - Năm 1955, Giáo Hội Phật giáo Thống nhất VN được thành lập và chính thức hiện hửu từ ngày 4-1-1964. 

Hiện nay tại VN, Phật giáo có nhiều hệ phái đang hoạt động :  

- Giáo hội Phật giáo nguyên thủy (Theravada), thuộc Phật giáo Tiểu Thừa.- Giáo hội Phật giáo cổ truyền
            - Phật giáo Hoa Tông (của Người Việt gốc Hoa).
            - Thiên Thai Giáo Quán Tông.
           
- Tịnh Độ Tông
            - Phật Giáo Ḥa Hảo...  

Từ sau ngày 1-5-1975,Cộng Sản Hà Nội dùng đạn súng hợp nhất Phật giáo cả nước thành Giáo Hội Quốc Doanh, đặt Cáo Hồ ngang hàng với Chư Vị Bồ Tát, do cán bộ tôn giáo của Đảng lănh đạo. Năm 1981, Giáo Hội PG.VN Thống nhất, bị VC ra lệnh sáp nhập vào Phật giáo nhà nước. Tuy nhiên đó chỉ là lệnh và tuyên truyền, v́ từ năm đó cho tới ngày nay, Giáo Hội Phật Giáo VNTN (GHPGVNTN), chưa hề tham gia vào bất cứ một cơ cấu tôn giáo nào của đảng CSVN, nên đă bị VC đàn áp dă man và đặt ra ngoài ṿng pháp luật. Mới đây, trong kỳ Đại Hội Đảng lần X, lần nửa VC lại to tiếng phủ nhận sự hiện hưu của Giáo Hội PG.VNTN trong nước. Tuy nhiên đó là lời Đảng, c̣n dân chúng VN bao đời đă trải qua không biết bao nhiêu lần pháp nạn, cho nên đâu có ai thèm để ư làm ǵ những nghị quyết này nọ, trong lúc cuộc sống cơm áo thêm phần khó khăn, trước thảm trạng tham nhũng từ trên xuống dưới của VC. 

Tại B́nh Thuận, theo tài liệu của Tâm Quang viết trong ‘Giai Phẩm B́nh Thuận Xuân Canh Th́n’ th́ khoảng năm Đinh Tỵ (1677), ở Đàng Trong, Thiền sư Nguyễn Triều Siêu Bạch, thuộc thiền phái Lâm Tế ở Trung Quốc, hệ truyền thừa Vạn Phong Thời Uy (đời 21) và Đạo Mân (đời 31), cùng các đệ tử lập các ngôi chùa Phật giáo Lâm Tế tại Qui Nhơn, Phú Xuân. Tiếp nối đệ tử, đồ tôn như Minh Hải Pháp Bảo lập chi phái Chúc Thánh Lâm Tế tại Quảng Nam, c̣n Thiệt Diệu Liễu Quán th́ khai sinh chi phái Liễu Quán Lâm Tế ở Huế. Ngoài ra c̣n một hệ của Trí Thắng Bích Dung trực thuộc Lâm Tế đời thứ 25. Tóm lại theo lịch sử Phật giáo Việt Nam th́ Khai Tổ Thiền phái Lâm Tế ở Đàng Trong là Thiền sư Nguyên Thiều Siêu Bạch. Tại B́nh Thuận, chùa Linh Sơn Trường Thọ (Chùa Núi Cú), theo chi phái Lâm Tế Trí Thắng Bích Dung, do Kim Tiên Tịch Ni khai đạo. 

Theo Phật sử, th́ sự h́nh thành Phật giáo tại B́nh Thuận có lẽ phát xuất từ lúc dân Đại Việt vào lập nghiệp tại Thuận Trấn từ năm 1693, do dân chúng và các ni sư trong đoàn người di cư. Lúc đầu chỉ mới có Đ́nh - Chùa, do dân tạo lập vừa thờ Phật, thờ Thành Hoàng cũng là nơi sinh hoạt chung của người dân lưu xứ. Riêng các ni sư, nếu có điều kiện th́ tự lập các thảo am rồi theo thời gian, đ́nh, chùa, thiền viện phát triển và được xây dựng quy mô đẹp đẽ như ngày nay. Tóm lại qua ba trăm năm xây dựng, Phật giáo B́nh Thuận chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Phú Yên (các tổ Bảo Tạng, Hữu Đức, Thái B́nh, Hưng Từ, Viên Quang, Tịnh Hạnh...) và Biên Ḥa - Gia Định (Tế Tín, Chánh Trực, Liễu Thành, Liễu Đoan...). 

Năm 1800 Ḥa Thượng Đạo Chơn Quang Huy (Phú Yên) lập chùa Liên Tŕ (Phan Thiết) và Đạo Chơn Thường Trung chùa Phật Quang (Chùa Cát), hai vị trên đều thuộc phái Lâm Tế Liễu Quán. Thật ra các chùa Cát, Liên Tŕ, Long Quan... được lập từ năm 1736 nhưng chưa có trụ tŕ. Riêng bản gỗ khắc bộ kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, hiện c̣n nguyên vẹn tại chùa Phật Quang, cũng được khởi công khắc từ năm 1736 và măi 28 năm sau mới hoàn thành. Tổ sư chùa Bửu Lâm (Phước Thiện Xuân) là Tánh Giác Trí Chất. Riêng cao tăng danh tiếng của B́nh Thuận là Ḥa Thượng Thông Ân Hữu Đức xuất gia với Tổ Trí Chất và Phổ Quang. Hầu hết các tăng, ni tại B́nh Thuận, phần lớn là truyền thừa của Tổ Hữu Đức, tổ sư chùa Kim Quang (Bầu Trâm), Kỳ Viên và Linh Sơn Trường Thọ (Chùa Cú), ngài viên tịch ngày 5-10-1887 tại chùa Cú. Khoảng 1838-1839, Thiền sư Hải B́nh Bảo Tạng khai sinh chùa Linh Sơn Vĩnh Hảo và chùa Cổ Thạch (Tuy Phong). Năm 1850 Đại Sư Như Thành Nhất Bổn, đúc chuông và trùng tu chùa Long Quang (Phan Rí). Năm 1930, Ḥa Thượng Phật Huệ khai sinh chuà Pháp Bảo. Năm 1936 Ni Trưởng Diệu Tịnh, đệ tử chùa Chí Thiện Châu Đốc, đến trụ tŕ B́nh Quang Ni Tự ở B́nh Hưng, chùa này được vua Bảo Đại sắc tứ và là tổ đ́nh của chư ni B́nh Thuận. 

Năm 1938 An Nam Phật Học Hội B́nh Thuận thành lập do Đoàn Tá, Ấm Cương, Thừa Tiêu, Thừa Châm... và hội trưởng đầu tiên là Đoàn Tá. Năm 1940 chùa Phật Học được xây dựng và là trụ sở tỉnh hội B́nh Thuận, nhiều chi nhánh được phát triển tại Mũi Né, Phan Rí... Năm 1948 giáo hội tăng già B́nh Thuận thành lập, trụ sở tại chuà Linh Thắng, Lạc Đạo. Năm 1950 gia đ́nh phật tử B́nh Thuận thành lập. Năm 1958 lập Ṭng Lâm Vạn Thiện, đồng thời Ḥa Thượng Thích Giác An lập hệ phái khất sĩ B́nh Thuận, trụ sở là Tịnh xá Ngọc Cát trên động Làng Thiềng. Tại Núi Cú, trụ tŕ Ḥa Thượng Thục Châu Vĩnh Thọ đúc ba tượng Phật Di Đà cao 7m, Quan thế Âm cao 6m và Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 49m. Đây là tượng Phật lớn nhất Việt Nam. Năm 1962 hoà thượng Thích Hưng Từ lập chùa Linh Sơn Tánh Linh. 

Tóm lại, tuy B́nh Thuận chỉ mới được thành lậo có 300 năm, nhưng so với các địa phương khác, lại là một tỉnh có rất nhiều ngôi chùa nổi tiêng: 

BẢO SƠN TỰ: nằm trên núi Bảo Sơn thuộc địa phận ba thôn Thiện Chính, An Hải và Xuân Ḥa, Tuy Phong. Phía sau chùa có hai tháp cổ nên thường gọi là Chùa Tháp. Năm 1795, chuá Nguyễn Ánh văn cảnh chùa, ban biểu ngạch năm chữ: ‘Ngự Tứ Bảo Sơn Tự’, hằng năm vào dịp Tết Trung Nguyên, người trẩy hội chùa rất đông, hội có khi kéo dài tới 10 ngày.  

CHÙA CỔ THẠCH: Được dựng trên một ngọn núi cao 64m, sát băi biển Cà Dược thuộc B́nh Thạnh, Tuy Phong, lúc đầu chỉ là thảo am do thiền sư Bảo Tạng khai phá khoăng giữa thế kỷ XIX. Sau này được cư sĩ Hồ công Điểm xây dựng thành ngôi chùa to lớn, khang trang với tên Cổ Thạch. Từ năm 1956-1964, chùa Cổ Thạch nhập chung vói B́nh Phước và được trùng tu nhiều lần. Ngày nay đường lên chùa được xây bậc, có lan can hai bên đắp rồng. Trên ngọn núi nhỏ sát bờ biển có tượng Phật Quan thế Âm và tượng Phật Thích Ca trong chánh điện. 

LINH SƠN TRƯỜNG THỌ: C̣n gọi là chùa Núi, cách Phan Thiết chừng 30km về hướng nam, cách quốc lộ 1 khoăng 3km về hướng đông, tọa lạc trên đỉnh núi Tà Cú (TAKOU) cao 666m, nay thuộc về huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh B́nh Thuận. Có hai chùa, chùa trên do Tổ Hữu Đức khai sơn vào khoăng giữa thế kỷ XIX trên đỉnh núi nhưng có mặt bằng khá rộng, phía bên phải là một hang núi sâu thăm thẳm không biết đă có ai vào thám hiểm chưa nhưng không thấy nói tới. Trong khu vực này có ngôi tháp tổ và ba tượng Phật A Di Đà, Quan Âm nhưng đồ sộ nhất là tượng Phật Tổ nhập niết bàn dài 49m, được dựng năm 1963 về phía nam chính điện. Chùa dưới c̣n gọi là chùa Long Đoàn, tên một đệ tử của Tổ, sáng lập. Cái tên Linh Sơn Trường Thọ là do vua Tự Đức sắc tứ vào năm thứ ba và lưu truyền đến ngày nay. 

Từ tết Ất Tỵ (2001), con đường đất đỏ đă được tráng nhựa vào tận chân núi, hai bên có mắc điện để canh chừng kẻ trộm chặt cây rừng, v́ khu vực này đă được công nhận là khu du lịch và bảo tồn thiên nhiên quốc gia. Nhiều người thăm viếng chùa Cú rấât thích thú v́ ngoài việc được tắm nước suối, dẫn qua các ṿi hoa sen làm bằng tre lồ ồ, được ngắm cảnh trời, mây, rừng, biển, được sống trọn vẹn với không khí trong lành của thiên nhiên và trên hết cùng với Phật Trời rủ sạch thị phi, gian dối... ít ra trong lúc đó, v́ vậy ai cũng thích văn cảnh chùa dù phải leo núi rất cực nhọc. Từ mấy năm qua, Tà Cú cũng là nơi diễn ra giải leo núi truyền thống vào mồng 7 tết nguyên đán, giữa nhiều tỉnh thành từ Nha Trang vào tới Sài G̣n. Ngoài ra c̣n có chương tŕnh dây cáp treo như tại núi Bà Đen, Tây Ninh, nghe nói đang sắp thực hiện. 

CHÙA PHẬT QUANG: Tọa lạc trên một đồi cát trắng ở làng Hưng Long, nên c̣n được gọi là chùa Cát, xây dựng vào tiền bán thế kỷ XVIII. Về kiến trúc, gần giống như các đ́nh, làng trong tỉnh nhưng về giá trị văn hóa phía bên trong chùa lại rất to lớn, v́ chùa Cát gần như là tổ đ́nh của Phật Giáo B́nh Thuận - Phan Thiết, so về tuổi tác cũng như quá tŕnh hoạt động suốt mấy thế kỷ qua. Ở đây hiện c̣n chiếc đại hồng chung bằng đồng, chạm trổ công phu, đúc từ thời Chuá Nguyễn phúc Khoát, năm Canh Ngọ 1750. Trong chùa c̣n một báu vật vô giá khác mà các trụ tŕ bao đời cố công ǵn giữ, đó là những bản gỗ khắc bộ kinh Pháp Hoa gồm 118 bản, phần lớn khắc cả hai mặt bằng chữ Hán rất đẹp và sắc sảo với 60 vạn lời, bảy bản ghi lại lời Đức Phật thuyết pháp... Theo niên lịch ghi trong bản khắc cuối cùng (118), th́ bộ kinh khắc gổ hoàn thành năm 1734, nhằm đời vua Lê thành Tôn nhà Hậu Lê ở Đàng ngoài (thời vua Lê, chúa Trịnh). Bộ kinh trên do hai nhà sư Minh Dung và Thiết Huệ chủ xướng, với đóng góp tài vật và công sức của người B́nh Thuận. 

Cố Ḥa Thượng Thích Đức Niệm, Thượng Tọa Thích Minh Tâm, Thích Quảng Thanh... đều sinh quán tại B́nh Thuận, hiện là những danh tăng của Phật giáo VN, rất được kính trọng tại hải ngoại về tài năng, đạo đức và những công quả đă cống hiến cho đồng bào. 

 

2 – PHẬT GIÁO TÂY TẠNG: 

Nói tới Phật giáo cũng không thể không nhắc đến Phật giáo Mật Tông hay Kim Cương Thừa của Tây Tạng, một quốc gia độc lập nhưng đă bi Trung Cộng xâm lăng và cưởng chiếm bằng quân sự vào năm 1949.  

Tây Tạng (Xizang) ở Trung Á, tiếp giáp với Tàu, Népal, Ấn Độ và Miến Điện, có diện tích 1.222.000 km2, dân số 2.600.000 người, thủ đô là Lhasa lớn nhất nước. Xưa nay ai cũng gọi Tây Tạng là nóc nhà của thế giới, v́ đây là miền đất cao nhất của địa cầu, bốn phía bao bọc bởi rặng Hymalaya ở phía nam, Karakoram phía tây và Kunlun phía bắc.Đây cũng là nơi phát nguyên của nhiều con sông thiêng nhất thế giới như Hằng Hà, Ấn Hà, Hoàng Hà, Dương Tử và Mekông. Đỉnh Everest (8.848m) nằm trong lănh thổ Tây Tạng, cao nhất thế giới, quanh năm tuyết phủ, nên cũng c̣n được gọi là xứ tuyết. 

Đạo Phật là quốc giáo của Tây Tạng, nên các Lạt Ma thường tổ chức lễ đăng quan tại đền Jokhang, nằm ở trung tâm thủ đô. Điện Potala cao 120m với diện tích 360 km2, gồm 13 tầng lầu với mái mạ vàng, trong đó có 999 căn pḥng rộng, với lối kiến trúc độc đáo, dùng làm nơi tàng trử kinh sách và di cốt các vị Lạt Ma. Phật giáo được truyền đầu tiên vào đất Tạng do một đại sư Ấn Độ tên Padmasambhava. Nhưng sau đó, Phật giáo Tây Tạng đă biến chuyển không ngừng với nhiều yếu tố thần bí, khác biệt với Phật Giáo Đại lẫn Tiểu Thừa. Do đó mới được gọi là Phật Giáo Mật Tông, với 16.000 Thiền Viện, Tu viện và đ́nh chùa. Riêng danh xưng Đạt La Lạt Ma, dùng để chỉ các vị lănh đạo t6n giáo ở đất Tạng, là bắt nguồn, từ Thành Cát Tư Hăn ((Genghis Khan), do ḷng ngưỡng mộ những vị chân tu đắc đạo thời đó, nên đă ban tặng danh xưng Dalai Lama, với ư nghĩa ‘Nhà sư với biển kiến thức‘. 

Theo ḷng tin của người Tây Tạng, th́ những Đạt La Lạt Ma, cũng chính là hậu kiếp của Phật, sau nhiều lần đầu thai chuyển kiếp luân hồi (Samsara). Do đó linh hồn của vị Lạt Ma tiền bối sẽ hóa kiếp tái sinh vào một hài nhi và sẽ được t́m thấy qua lời dặn ḍ của vị đại sư trước khi nhắm mắt. 

Theo sử liệu cho biết, Đạt La Lạt Ma đầu tiên của Tây Tạng là Sonam Gyatso, nguyên là người cai quản tu viện Drepung, đồng thời cũng là giáo chủ của giáo phái Gelugpa. Năm 1642, Gushri Khan, một lănh tụ Mông Cổ, trở thành Đạt La Lạt Ma thứ 6 và cũng là người đầu tiên thành lập quốc gia Tạy Tạng mà người Tàu gọi là Tây Hạ, rồi trở thành một chư hầu của Nhà Thanh từ năm 1720. Cũng nhờ một nữ kư giả người Pháp tên Alexandra David Neel,vào năm 1924, vào tận Lhasa ghi chép được những bí mật của người Tạng, phổ biến ra thế giới bên ngoài. Kế tiếp là quyển hồi kư ‘The Rampa story‘, được một cao tăng Tây Tạng tên Lobsang Rampa, hóa thân của Lạt Ma thời trước, nên được đào tạo tại Chakpori và Potala. Chính ông đă hé mở canh cửa thần bí của quê hương ḿnh, để cho thế giới hiểu biết thêm.

 

Hiện Tây Tạng đă bị Trung Cộng đô hộ và biến thành một tỉnh của ḿnh. Nhưng người dân trong và ngoài nước vẫn tôn sùng Đức Đạt La Lạt Ma đời thứ 14, tẹn Tenzin Gyatso, xem như một vị lănh đạo tối cao về tôn giáo cũng như chính trị. Ngài trốn khỏi nước năm 1959, hiện sống lưu vong tại miền bắc Ấn Độ. Năm 1989 đoạt được giải Nobel Ḥa B́nh và đă xuất bản tác phẩm ‘Violence and Compassion – Bạo lực và t́nh thương‘, với một tư tưởng quán tuyệt, nên đă trở thành quyển sách thu hút nhân loại nhất trong năm 1996.

Dưới ách nô lệ của giặc Tàu, Tây Tạng được mở cửa v́ nhu cầu du lịch, trong đó người ngoại quốc cũng được phép tu hành như dân chúng bản địa. Tuy nhiên những bí ẩn ngàn đời của các vị chân tu, luôn vẫn là sự huyền bí mà khoa học cũng không thể khám phá được. Một trong những bí ẩn đó là câu chuyện của Lạt Ma Dashi-Dozhho Itigilov (1852-1927), dù đă viên tịch cách đây 79 năm nhưng thân xác vẫn không bị thối rữa và nguyên vẹn như người sống. Theo Ayusheyev, viện trưởng tu viện Ivolginsk, giải thích rằng, đó không phải là phép mầu ǵ cả, mà v́ Lạt Ma trên đă tu đến tầng tối thương (Shunyata). 

Nói chung, con đường tu tŕ của các bậc Thánh tăng Tây Tạng là sự chuyển hóa tâm thức, thực chúng và tuyên thuyết, theo đúng con đường mà Đức Phật Như Lai đă t́m thấy hơn 2500 về trước

 

3 - RẰM THÁNG TƯ ÂM LỊCH – ĐÓN MỪNG NGÀY ĐẢN SINH PHẬT TỔ: 

Hằng năm cứ vào ngày rằm tháng tư âm lịch, đồng bào cả nước, dù là Phật tử hay theo đạo thờ cúng ông bà, đều tưu về các đ́nh chùa, để đón mừng ngày Đản sinh của Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha), sau khi xuất gia, đă t́m được con đường giải thoát, cứu khổ cho nhân loại, nên được mọi người tôn kính và xưng tụng là Đức Phật Thích Ca (Sakya). Đây là một ngày hội lớn và quan trọng nhất của tín đồ Phật giáo trong năm, nên bất kỳ chùa nào dù lớn nhỏ, cũng đều tổ chức nghi lễ cúng kính rất long trọng. 

Nhưng trang nghiêm thu hút mọi người nhất, vẫn là Đại Lễ Phật Đản được tổ chức hằng năm tại chùa Vĩnh Nghiêm, ở quận 3, thủ đô Sài G̣n. Bởi vậy, ngay từ đầu tháng tư âm lịch, Ban tổ chức đă bắt đầu dựng lễ đài tại sân trước chánh điện, với đủ nghi thức tôn giáo. Trên hương án, có chưng bày một tượng Phật Đản Sinh đứng trên một ṭa sen, tay phải chỉ lên trời, tay trái chỉ xuống đất, theo đúng những ghi chép từ Phật sử truyền lại. Phía sau hương án là một tấp phông cao lớn, trên đó vẽ cảnh khu vườn Lumbini là nơi Đức Phật chào đời. Khắp nơi,toàn là cây cảnh hoa trái xinh tốt. Trong tranh, có vẽ Hoàng Hậu Maya, thân mẫu của Đức Phật, tay vịn vào một nhánh cây, mắt nh́n hài nhi đầy tŕu mến. C̣n bọn cung nữ hầu cận, ai nấy cũng đều hân hoan vui mừng.  

Chung quanh khu vực lễ đài, dâng đầy cờ đèn sặc sở. Đèn lồng màu hồng h́nh hoa sen, c̣n cờ Phật giáo với năm màu xanh, đỏ, trắng, vàng, cam, theo gió tung bay phất phới, tạo thêm khung cảnh yên ấm thanh b́nh, trước vẽ mặt hân hoan hạnh phúc của mọi người.

Sáng sóm ngày rằm tháng tư, trong sân lễ đă có đủ cac vị tăng ni trụ tŕ tại các chùa và đồng bào Phật tử, ở Sài G̣n-Chợ Lớn-Gia Định và vùng phụ cận.,tụ tập về, làm cho khuôn viên nơi hành lễ như rực rỡ thêm, qua những màu áo vàng, áo lam chen lẫn trong màu cờ, đèn lồng và những lẳng hoa tươi thắm của khách thập phương mang tới cúng dường. 

Đại lễ khai mạc bằng ba hồi chiêng trống bát nhă, âm thanh trăi ra mênh mông như muốn xóa nḥa tất cả mọi náo loạn ngoài đời, khiến cho những người đang có mặt tại chỗ, cũng tưởng ḿnh tan loảng trôi bồng bềnh về một nơi chốn xa xăm nào đó. Những nghi thức niệm hương tưởng nhớ, cầu nguyện... nhất nhất đều tuân thủ theo truyền thống không hề thay đổi, tạo cho không khí đại lễ thêm tôn nghiêm trang trọng. Tiếp theo là lễ dâng hoa cúng Phật, do các thiếu nữ Phật tử, vận trang phục cổ truyền Ấn Độ tŕnh bày, qua màn tung những cánh hoa tươi thơm ngát, vào tượng Phật trên hương án. Trong lúc đó, tiếng nhạc được trổi lên dồn dập, với những ca khúc tán tụng công đức của Phật Tổ, làm cho không khí đang tĩnh lặng, bổng trở nên sinh động muôn trùng. 

Đại lễ được tiếp nối phần nghi thức ‘Nhập Từ Bi Quán‘, được xem như là một trong nhưng phương pháp tu tŕ của người Phật tử, giúp chuyển hóa tâm thức của chúng sinh, tẩy rữa tống sạch mọi nhiểu loạn, dẫn đến sự thanh tịnh, làm thanh thản nội tại. Đây là giây phút trầm tư nhất trong buổi lễ, với ư nghĩa tạo ḷng từ bi bác ái tới toàn thể chúng sinh và pháp giới. Sau cùng là nghi thức tụng niệm Kinh Phật bằng Hán tự của Bắc Tông Đại Thừa và tiếng Phạn của Nam Tông. Lời kinh nhặt khoan, ḥa lẫn trong tiếng mơ chuông, ngân nga như nhắc nhở thế nhân, đửng quên những giáo lư từ bi hỷ xă, mà Đức Phật đă truyền dạy hơn mấy ngàn năm về trước. Đại lễ kết thúc bằng nghi thức hồi hương,thả bong bóng, cầu nguyện cho mọi người an lành, hạnh phúc, hướng thiện cùng quốc thái dân an,... nhân ngày Đản Sinh Đức Phật Tổ.  

Nói chung, suốt ngày rằm tháng tư âm lịch, Phật tử cả nước hầu như ai cũng đều tới chùa để dâng hương cúng Phật, nên nơi nào cũng đông nghẹt người trẩy hội, cúng dường, lễ bái, dâng hương. Đêm tới, cả trong lẫn ngoài chùa đều rực sáng, qua ánh đèn lồng màu hồng... Trước năm 1975, mùa Phật Đản năm nào cũng có rước xe hoa ban đêm, với hàng trăm chiếc xe hoa, được trang trí rực rỡ bằng các tượng Phật đủ kiểu, ngời sáng dưới ánh đèn màu. Hai bên đường dẫn tới ngôi chùa hành lễ chật ních người. Ai cũng thành kính, tạo nên một lễ hội độc dáo nhất trong năm. 

Tại Huế, miền đất từ trước tới nay được mệnh danh là Xứ Phật,v́ tuyệt đại người dân trong tỉnh đều theo Phật giáo. Bởi thế hằng năm, Đại lễ Phật Đản cũng đuợc tổ chức rất trang trọng, không thua kém Thủ đô Sài G̣n. Đặc biệt năm nào Huế cũng đều có rước xe hoa, theo truyến thống. Qua báo chí đă đăng tải, năm 2004 ở Huế đă có tới 30 xe hoa diễn hành và xe nào cũng được đánh giá là kỳ công nghệ thuật... Ngoài ra, xe nào cũng được thực hiện theo các chủ đề mang ư nghĩa về lịch sử và tôn giáo như : Trầm hương cúng Phật, Lầu chuônglầu trống, Thánh mẫu Ma Ya mộng ứng điềm lành... Tóm lại, tất cả các xe hoa đều là những tuyên ngôn, nhằm chuyên chở cả một hệ thống tư tưởng triết lư siêu việt, nên đă vượt qua cả thơi gian và không gian, tồn tại qua suốt 25 thế kỷ, truyền bá rộng răi chẳng những tại Châu Á, mà c̣n lan rộng tới các châu khác. 

Tóm lại, Đại lễ Phật Đản quả thật không chỉ mang ư nghĩa riêng của một tôn giáo lớn, mà c̣n là một lễ hội mang tính văn hiến, văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Việt, nên đă thu hút người cả nước, dù họ là tín đồ hay ngoại đạo.

 

4 – NHỮNG NGÔI CỔ TỰ NỔI TIẾNG CỦA PHẬT GIÁO VN:

 

Việt Nam là một quốc gia Phật giáo với 90 % tín đồ, nên nơi nào cũng đều có đ́nh chùa thờ cúng Phật nhưng nổi tiếng nhất vẫn là những ngôi cổ tự ở miền Bắc, vốn là cái nôi văn hóa của dân tộc Việt, đă có từ thời lập quốc.

 

CHIM GƠ MƠ – CÁ NGHE KINH: 

Hội chùa Hương là một trong những lễï hội quan trọng của Phật giáo đất Bắc v́ theo truyền thuyết, đây là chốn tu hành và đắc đạo của Đức Phật Bà Quan Âm. Chùa Hương cũng là một thắng cảnh với sông suối núi đèo, nên đă thu hút nhiều tao nhân mặc khách, lưu lại cho đời nhiều thi phẩm giá trị của Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Phạm Hàm... trong đó được ưa thích nhất, vẫn là bài ‘ Phong cảnh Hương Sơn ‘ của Chu Mạnh Trinh: 

‘Thỏ thẻ rừng mai, chim cúng trái
            Lửng lơ khe Yến, cá nghe kinh

            thoảng
bên tai một tiếng chày ḱnh
            khách
tang hải giật ḿnh trong giấc mộng... ’ 

Chim gơ mơ, cá nghe kinh... không phải là giai thoại nhà Phật, mà là chuyện có thật ở đây. Chim gơ mơ c̣n có tên Đạc Điểu, khi cụp cánh lại, có h́nh dáng như ếch, da màu xanh, thường bay vào tận các hang sâuăn kiến và sâu bọ. Vào những tháng đầu năm, chim thường kêu những tiếng cốc, cốc, cốc... giống như tiếng gơ mơ tụng kinh. Đặc biệt chim hay kêu từ giờ Dần trở đi, tức là khoảng thời gian gần sáng. C̣n cá nghe kinh, để chỉ loại cá chép, trên đầu màu đỏ nên cũng được gọi là cá Anh Vũ, có rất nhiều ở các suối quanh khu vực Hương Sơn. Thường Phật tử hay du khách vảng cảnh chùa Hương, hay quăng bỏng rang xuống nước cho cá nổi lên mặt nước ăn, trong lúc khắp nơi vang vang tiếng tụng kinh gơ mơ.

 

CHÙA DIÊN HỰU NAY C̉N HAY MẤT: 

Hà Nội Thăng Long), là kinh đô của nhiều triều đại trong Việt sử, nên đă có rất nhiều biểu tượng thân thương trong tâm khảm mọi người. Đó là Hồ Gươm với Tháp Bút, Cột Cờ Thủ Ngữ, gác Khuê Văn soi ḿnh xuống giếng Thiên Quang trong Quốc Tử Giám... Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Chùa Một Cột, đă có trên ngàn tuổi. 

Chùa c̣n có tên là Diên Hựu, theo các nhà biên khảo,th́ hiện nay đă trở nên xa lạ,qua những chứng tích c̣n lại. Căn cứ vào những ghi chép từ tài liệu cổ, cho biết ngôi chùa xưa, được kiến trúc toàn thể rất hoàn chỉnh, bằng sự kết hợp giữa thiên nhiên và tôn giáo, xứng đáng là danh lam thắng cảnh bậc nhất tại Thăng Long Thành, vào đời Nhà Lư. Do tính chất đặc thù trên, nên tự ngàn xưa, Chùa Mùa Cột không những đă khắc sâu trong tâm khảm của người Hà Nội, mà c̣n là niềm tự hào chung của nền văn hóa VN. 

Tương truyền Lư Thái Tông (1028 – 1054), một đêm nằm mộng thấy ḿnh được Phật Bà Quan Âm, từ trên ṭa sen bước xuống, cầm taydắt nhà vua cùng lên ngự trên ṭa sen. Tỉnh mộng, nhà vua cho tuyển tất cả thợ giỏi tại kinh đô Thăng Long lúc đó, ứng theo điềm mộng,xây dựng một ngôi chùa có h́nh dạng giống một đóa sen, được dặt trên một cột đá đứng giữa hồ Linh Chiểu trồng toàn sen.  

Chùa thờ Đức Phật Bà Quan Âm, một vị Bồ Tát chuyên cứu nhân độ thế, rất phù hợp với mục đích của triều đ́nh : Cầu mong cho quốc thái dân an, nhà Lư đời đời bền vững. Bởi vậy ngôi chùa mới được đặt tên là Diên Hựu. Lần đầu, chùa được dựng lên cạnh Hồ Tây (Dâm Đàm – tên gọi thời Lư), và liên tục được tu bổ mở rộng. Năm 1101, vua Lư Nhân Tôn cho đúc một quả chuông, đồng thời với việc xây một giá, cao tám trượng bằng đá cẩm thạch xanh, để treo chuông. nhưng không dùng được v́ chuông quá lớn.  

Năm 1102, vua lại cho xây thêm một hành lang bao quanh hồ Linh Chiểu, đồng thời đào thêm Hồ Khang Bích và bắt nhiều cầu, thông từ khu vườn của chùa ra hai mặt hồ trên, làm cho diện tích tăng thêm rất nhiều. Phía sân trước của cầu dẫn vào chánh điện, vua cho dựng hai ngọn tháp lớn, với mái lợp bằng loại ngói sứ trắng, từ xa nh́n chẳng khác nào hai đoá hoa đại trắng, luôn tỏa rực ánh sáng mặt trời. 

Đây cũng là nơi mà hầu hết các vị vua nhà Lư, sau buổi chầu thường ngự tại đây, để có dịp tiếp xúc với thần dân. Đặc biệt hằng năm, vào ngày Mùng tám tháng tư (Niên lịch cổ chỉ ngày Đản sinh Phật Tổ), âm lịch, Đại lễ Phật Đản được tổ chức tại chùa Một Cột., do chính các vị vua nhà Lư tới chùa để làm lễ Tắm Phật. Trong dịp này, chẳng những các vị tăng ni và dân chúng Thăng Long kéo về tham dự, mà cả các trấn khác cũng lũ lượt tới chùa để cúng Phật. Sau đó, nhà vua đứng trên cao, tay cầm một lồng chim, rút cửa phóng sinh. Dân chúng tham dự đại lễ, ai nấy đều vổ tay reo ḥ hoan hô vang dậy và cũng bắt chước vua, thả chim làm phước. Tóm lại, Phật giáo VN, từ ngàn năm trước, qua ngày hội thả chim tại chùa Một Cột, suốt thời Lư, đă biểu lộ đức hiếu sinh của dân tộc Việt, lưu truyền cho con cháu tới ngày nay, vẫn không hề thay đổi. 

Ngày nay ngôi chùa cổ xưa và danh tiềng nhất của Phật giáo VN, chỉ c̣n là huyên thoại, v́ đă bị thực dân Pháp lẫn cộng sản Bắc Việt tàn phá thảm thê, lấn chiếm đất đai, hủy diệt những công tŕnh tạo dựng có từ ngàn năm trước, để xây Dinh Toàn Quyền Đông Dương và Lăng Hồ tại Ba Đ́nh. Điều này cho thấy VC không khac ǵ bọn đầu sỏ Taliban, khi chiếm được Afghanistan, năm 1998 đă ra lệnh tàn phá hủy diệt tất cả những pho tượng Phật bằng đá, nằm trong thung lủng Bamiyan. Từ những trang Phật sử, ta thấy việc dời đổi chùa đinh, là chuyện b́nh thường trên đất Bắc thời trước, v́ mục đích cũng chỉ muốn làm cho ngôi chùa thêm uy nghi tráng lệ hơn. Đó là việc nhà Hậu Lê, đă dời chùa Trấn Quốc, được nhà Lư xây dựng tại Làng Yên Hoa, ngoài bải sông Hồng, vào địa điểm ngày nay, v́ tránh lụt lội. C̣n chùa Quan Thánh thời nhà Lư, được dựng trong Hoàng Thành, tới nhà Hậu Lê cũng được dời ra phía nam Hồ Tây, v́ lư do mở rộng thành phố. 

Thời VNCH, đồng bào miền Bắc di cư, đă mô phỏng ngôi cổ tự danh tiếng nhất nước, để dựng lên ngôi chùa Một Cột ở miền Nam, qua danh xưng “ Nam Thiên Nhất Tru ‘.tại Thủ Đức, do kiến trúc sư Ngô Gia Đức thiết kế. Chùa hiện là một trong những ngôi Phật tự nổi tiếng nhất trong nước, thu hút rất nhiều Phật tử du khách mọi nơi, tới văng cảnh chùa hay cúng Phật, nhất là vào những ngày Tết Nguyên Đán hay Lễ Vía.

 

ĐƯỜNG LÊN YÊN TỬ MIỀN BẮC: 

Cách Hà Nội 100 cây số về hướng đông bắc, hơn 700 năm trước, vua Trần Nhân Tôn cũng là Thiền sư Điếu Ngự Giác Ḥang, sau khi rời ngôi vua nhà Trần, đă tới núi Yên Tử tu tŕ và sáng lập THIỀN PHÁI TRÚC LÂM : Trung tâm của Phật Giáo VN. 

Cũng từ đó cho tới nay, mặc cho bao đời biển dâu trầm thống, rừng núi Yên Tử và những ngôi cổ tự, vẫn im ĺm ẩn hiện trong mây khói với các huyền thoại và di tích của Thiền Tông VN. Theo truyền thuyết, mỗi khi nghe tiếng chuông từ chùa Đồng trên đỉnh cao nhất của Yên Tử (1.100m), ngân nga vang vọng, th́ tất cả các loài chim Nhạn, chim Hạc, đều rời tổ ấm nơi vách núi, bay bổng lên không trung che kín trời, sau đó tan biến trong cảnh núi rừng tĩnh lặng. 

Tên núi Yên Tử phát xuất bởi sự tích của một Thiền sư tên Yên Kỳ Sinh, thuộc ḍng Thiền của Lục Tổ Huệ Năng, ngay đầu Tây lịch, từ bên Tàu tới đây tu hành và đắc đạo hóa Phật, biến thành đá nên được gọi là Yên Tử. Ngoài ra, từ Dốc Đỏ ở dưới phía Nam dưới chân núi, nh́n lên đỉnh thấy h́nh dáng núi không khac ǵ một con voi đang phủ phục, nên c̣n có tên là Tựợng Sơn. Rặng núi nàymuôn đời như bức b́nh phong, ngăn luồn gió Nam Nồm từ Đông Hải thổi vào núi, làm cho hơi gió đọng lại biến thành mây trắng lững lơ trên đỉnh núi quanh năm, nên Yên Tử c̣n được gọi là Phù vân sơn hay núi Bạch Vân. 

Sau nhiều thế kỷ Phật giáo du nhập và truyền bá vào VN, môn phái của Thiền Sư Yên Kỳ Sinh cũng có rất nhiều đệ tử, rất được trọng vọng thời nhà Trần. Một trong những cao tăng trên, là Quốc Sư Phù Vân, cũng chính là sư phụ của vua Trần Nhân Tông. Ngài là chiếc cầu nổi, dẫn dắt nhà vua, rời bỏ vinh hoa phú quư nơi cung vàng điện ngọc, để lên chốn rừng núi Yên Tử muôn trùng, tu tŕ và sáng lập Trúc Lâm Thiền Phái, chủ trương đạo đời hợp nhất, có ảnh hưởng rất lớn tại VN. 

Do đó, hệ thống chùa chiền am thất tại Yên Tử, đều được khởi công xây cất từ khi vua Trần Nhân Tông tới đây tu tŕ. Về sau lại được trùng tu nhiều lần. quan trọng nhất vào thời Vĩnh Thịnh (1345 – 1358) và Vĩnh Khánh (1729 – 1732). Tuy nhiên những chùa miếu c̣n lại tới nay trên Yên Tử, đều được xây dựng vào thời Nhà Nguyễn, dựa vào dấu ấn kiến trúc và điêu khắc từ các thời Trần-Hậu Lê. 

Ngoài những kiến trúc xây dựng, vua Nhân Tông c̣n cho trồng nhiều cây Tùng, vừa lấy bóng mát dọc theo những con đường nối liền hệ thống chùa am từ chân lên đỉnh núi. Rễ Tùng c̣n được xử dụng như những bậc thang, giúp khách hành hương lên núi, khỏi bị rơi xuống vực thẳm. Có ba loại Tùng được trồng ở đây là Thủy Tùng (gỗ màu trắng), Thanh Tùng (gỗ màu xanh) nhưng qúy nhất vẫn là Xích Tùng (gỗ đỏ). Bởi vậy đường lên Yên Tử xưa nay, vẫn được gọi là Đường Tùng với sự hiện hữu của 274 cây c̣n xanh tốt, dù tuổi thọ của chúng đă 700 năm. 

Hệ thống chùa am ở Yên Tử, đều tập trung ờ sướn núi phía nam, mà ngôi chùa đầu tiên là Đền Tŕnh, coi như là cửa ngơ lên núi, c̣n Chùa Đồng là đỉnh cao nhất, từ đó có thể nh́n thấy Bạch Đằng Giang, biển Đông và biên giới Hoa Việt... Chùa Đồng nguyên thủy được các vua Nhà Trần xây dựng toàn bằng đồng, được coi như một biểu tượng của sự đồng nhất, giữa đạo-đời, con người và vũ trụ. Nhưng rồi chiến tranh triền miền, kéo dài từ thời này sang đời khác, nên chẳng những ngôi chùa nguyên thủy bằng đồng, mà cả chùa xây dựng sau này bằng đá và xi măng, cũng bị tàn phá, dột nát hư hại. Năm 1993, một ngôi chùa Đồng mới đă được xây cất theo h́nh chữ Đinh với h́nh dáng một Bông Hoa Sen nở. Trong chùa, có tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngự trên ṭa sen. Bên dưới là ba pho tượng của Tam Tổ Trúc Lâm : Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, cùng ngự trên đài sen. Phía trước có bốn chuông đồng, một quả lớn và ba quả nhỏ, lúc nào cũng như ngân nga trong cơn gió thoảng, lẫn trong mùi thơm ngát của hương khói và trăm hoa chen nở. 

Hiện c̣n các chùa Vân Tiêu, Bảo Xái, Thanh Long, An Tự, Hoa Yên, Giải Oan, Cầm Thục... cùng với nhiều di vật đặc sắc đầy huyền thoại. Theo các nhà biên khảo xưa nay, th́ nét đẹp tuyẽt mỹ của Yên Tử, chẳng những là chùa, am, tùng bách mà c̣n bao gồm cả khu rừng trúc xanh ngắt, những cụm hoa Trà My, Dành Dành có màu trắng muốt, đứng chen lẫn khoe sắc hương với từng khu vườn Cúc, Vạn Thọ màu vàng, mái chùa đỏ ối... thấp thoáng ẩn hiện như sương khói muôn trùng. 

Hoa Yên là ngôi chùa lớn và đẹp nhất ở Yên Tử, nên c̣n được gọi là chùa Cả, chùa Chính hay chùa Yên Tử, nằm trên cao độ 800m, trên một dăi đất h́nh đài sen, bao quanh sườn núi,từ chính điện có thể nh́n ra Suối Giải Oan ở phía dưới, là lượt chảy giữa rừng núi xanh ngắt, đâu có khác nào một giải lụa trắng mềm mại. Quanh chùa có năm cây đại cổ thụ to lớn hơn 700 tuổi. Bên trong có nhiều tượng Phật toàn bằng đồng nhưng bề thế nguy nga nhất vẫn là tượng vua Trần Nhân Tông, đặt tại Bái đường. Phía dưới chùa là Kim Tháp, chốn an nghĩ ngàn đời của các vị Thiền Tăng Tam Tổ và 97 Tháp khác vây quanh Tháp Tổ, phụng thờ các vị Sư đă tu hành tại Yên Tử.  

Ngày nay đường lên rừng núi cheo leo Yên Tử, phần nào được rút ngắn và bớt nguy hiểm, nhờ một hệ thống Cáp treo, đă được thiết kế từ mặt đất lên tới chùa Hoa Yên. Nhờ vậy khách hành huơng như có cái căm giác đang bồng bềnh trong sương khói, trong lúc có thể thưởng thức được trọn vẹn bức tranh thủy mạc trọn vẹn của non nước VN,từ rừng núi Quảng Ninh, biển đảo Hạ Long, khiến cho ai nấy ḷng trần biến mất theo luồng gió mát lạnh của vũ trụ miên man.

 

TRÚC LÂM YÊN TỬ TẠI ĐÀ LẠT:  

Cách thành phố Đà Lạt chừng 7 km về hướng Tây-Nam, giữa lưng chừng núi Phụng Hoàng, trên cao nguyên Lang Biang, thuộc tỉnh Tuyên Đức. Chính nơi đây, một Trúc Lâm Yên Tử thứ hai, đă được xây dựng, làm sống lại truyền thống Thiền Tông VN từ thời Nhà Trần.  

Thiền viện được Thiền sư Thanh Từ và đệ tử xây dựng từ năm 1993, dựa theo lối kiến trúc nguyên thủy từ hệ thống Yên Tử ở miền Bắc, một mặt th́ dựa lưng vào vách núi Phượng Hoàng, một phía th́ ngó xuống hồ Tuyền Lâm, ẩn hiện giữa núi rừng ngắt xanh tĩnh mịch.  

Chùa được Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, phần xây dựng chiếm diện tích 2 Ha nhưng toàn thể trong ngoài lên tới 24 Ha, được bao bọc bởi một rừng thông và khu vườn trăm hoa khoe sắc, gồm Lăo Tùng, Thiết Mộc Lan, Đại Hồng Môn, Trà Mi, Mimosa, Liễu, Cẩm tú Cầu, Đổ Quyên...  

Theo đúng qui luật của Thiền Môn VN, với tâm thức ḥa đồng, giữa Đạo-Đời, Con người và vũ trụ. Bởi vậy, bước vào Trúc Lâm Đà Lạt, ta chỉ thấy cái không khí ‘ Hư không – Trú cư ‘, rất chân phương đơn giản, nên chùa không được xây dựng bề thế như những chùa khác tại VN. Nhưng không phải v́ thế, mà Thiền Viện Trúc Lâm tại Đà Lạt, mất đi nét thanh thoát, trang nghiêm, qua những nếp cong trên mái ngói. Bên cạnh chánh điện, c̣n có Lầu Chuông, Gác Trống, Nhà Văng Lai Thập Phương, Thư Viện và Khu Bảo tàng Phật giáo. 

Như Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử, Thiền viện tại Đà Lạt cũng ẩn hiện như sương khói trong rừng thông cao vút, làm cho tha nhân đă lắng ḷng thế tục, tĩnh lặng trước cảnh thuần khiết của thiên nhiên, vũ trụ. Cảnh c̣n là bức tranh thơ, trong đó như đă có sẳn một con đường hành hương, tượng trưng cho nẽo chánh niệm, dẫn ta vào thế giới của sự giải thoát niệm nguyện, cho ta, cho người, cho đời, cho cơi ta bà của mười phương khổ lụy. 

‘Gá thân mộng – dạo cảnh mộng
            Mộng tan rồi – cười vỡ mộng
            Ghi lời mộng – nhắn khách mộng
            Biết được mộng – tỉnh cơn mộng‘ 

Bài kệ của Thiền sư Thanh Từ, đâu có khác ǵ những lời Phật Tổ đă dạy thế nhân trên con đường ngộ đạo. Tóm lại đời người như cơi mộng, một thế giới vô minh. Vào chùa thắp hương niệm Phật, chưa hẳn thiện nam tín nữ đă được bước ra khỏi cơn mộng. Cho nên có thoát được nghiệp chướng hay không, đó là do chính tâm của ta, c̣n nhà chùa hay Thiền viện, chỉ nên coi đó như một điểm tựa của tâm linh., giúp ta đốn ngộ.

 

VĂNG CẢNH CHÙA TRÊN NÚI BÀ ĐEN (TÂY NINH): 

Tỉnh Tây Ninh nằm cuối QL1 từ Bắc vào Nam, tận biên giới Việt và Kampuchia, giáp giới B́nh Long, B́nh Dương, Hậu Nghĩa. Hiện tỉnh có diện tích 4028 km2 và dân số trên 1.000.000 người, gồm Thị xă Tây Ninh và các huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành,, Ḥa Thành, Bến Cầu, G̣ Dâu và Trảng Bàng. Núi Bà Đen (986m), cao nhất Nam Phần cũng như Tây Ninh. 

Trong tỉnh, ngoài người Việt (Kinh) cư ngụ, c̣n có người Chàm và Việt gốc Khmer., theo Phật Giáo, đạo Thiên Chúa và Cao Đài. Tây Ninh ngay từ thời Pháp thuộc, đă là Trung tâm của Cao Đài giáo, với truyền thống chống Thực dân Pháp, Cộng Sản Quốc Tế. Thánh thất Cao Đài được xây dựng rất qui mô hoành tráng, tại Long Hoa, nay là Ḥa Thành, cách tỉnh lỵ chừng 4 km. Ngày nay Đạo Cao Đài, chẳng những truyền sang các tỉnh Nam phần, mà như cả nước đều tin theo với số tín đồ trên mấy triệu người. 

Nhắc đến Tây Ninh, không ai không biết tới Lễ Hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu, với Hội Xuân được tổ chức từ 15-18 tháng giêng, Lễ Vía Bà ngày Mồng 5 tháng 5 với các nghi thức tắm tượng Bà và Lễ Tŕnh Thập Cúng, trên núi Bà Đen. Đền thờ Bà được xây dựng ở lưnh chừng núi, quanh năm thường có mây trắng che kín, nên núi Bà Đen c̣n có tên Vân Sơn. 

Về sự tích Bà Đen, theo truyền thuyết kể lại là ngày xưa trong Trấn Tay Ninh, có quan trấn thủ sinh được một tiểu thư tên Đênh. lên 13 tuổi, đă theo nhà sư Trung Hoa học đạo. Đến tuổi trưởng thành, tiểu thư đă từ khước hôn nhân với con trai Huyện lệnh Trảng Bàng, bỏ nhà lên núi Bà Đen tu tŕ nhưng nửa đường bị cọp vồ ăn thịt. Dân chúng trong vùng vô cùng thương tiếc, nên lập miểu thờ cúng cho tới ngày nay. 

Ngoài ra trong dân gian c̣n truyền tụng câu chuyện về vua Gia Long (Nguyễn Ánh), lúc tẩu quốc, bị quân Tây Sơn truy giết, từ Gia Định theo sông Vàm Cỏ Đông tới Tây Ninh, đă vào ấn trốn trong Miếu thờ Tiểu Thư Đềnh, nên được che chở thoát nạn. Sau khi thống nhất được VN, nhớ ơn, Vua đă cho đúc tượng Bà bằng đồng, lập đền thờ và sắc phong là ‘ Linh Sơn Thánh Mẫu ‘. Do đó tên núi Một cũng được đổi thành núi Điện Bà hay núi Bà Đênh. Về tượng đồng của Bà, đúc từ thời vua Gia Long, nay được thờ tại Chùa Phước Lâm ở thị xă Tây Ninh, c̣n tượng thờ trên núi được đúc bằng xi măng. 

C̣n có truyền thuyết khác kể rằng, lúc trước núi Bà Đen có tên là Núi Một, trên có một ngôi chùa thờ một tượng Phật đúc bằng đá, rất được nhiều người lên cúng lễ nhất là vào những ngày vía, mùng một hay ngày rằm. Trong số thiện nam tín nữ du sơn hành hương, có một cô gái quê ở Trảng Bàng, tên Lư Thiên Hương, tuy nước da ng8m đen nhưng rất có duyên, nên được nhiều chàng trai trong vùng để ư theo đuổi., trong số này có c6ng tử con quan Tri Huyện Trảng Bàng. Một ngày nọ, trên đường lên chùa cúng Phật, nàng bị chàng trai trên chọc ghẹo và làm bậy nhưng lúc đó có Lê Sĩ Triệt, người cùng quê ra tay giải cứu, v́ vậy t́nh yêu đă tới với hai người. 

Sau đó Lê Sĩ Triệt bị sung quân tận biên giới, nàng Lư Thiên Hương vẫn một ḷng đợi chờ người yêu trở lại. Nhưng một hôm trên đường tới chùa lễ Phật, nàng lại bị tên công tử đón bắt, nên đă nhảy xuống vực sâu tử tiết. Nhà sư trên chùa dược nàng Lư báo mộng, nên t́m được thi thể người tiết phụ, đem lên chùa chôn cất và lập miếu thờ cúng. V́ da nàng ngăm đen, nên tên núi Một từ đó được đổi thành núi Bà Đen. Hiện sắc phong của Bà từ thời vua Gia Long v́ chiến tranh đă bị thiêu hủy, chỉ c̣n lưu lại sắc phong của vua Bảo Đại mà thôi.

 

HỆ THỐNG CHÙA PHẬT TRÊN NÚI BÀ ĐEN: 

Theo các tài liệu c̣n lưu trử, th́ hệ thống chùa miếu trên núi Bà Đen (Tây Ninh), được h́nh thành đầu tiên, qua tín ngưỡng dân gian. Giống như những di dân đầu tiên từ Thuận Quảng vào khẩn hoang lập nghiệp ở Thuận Trấn, sống bằng nghề biển, nên đă tin thờ Nam Hải Đại Tướng Quân (Cá Ông), để cầu xin gia hộ che chở, trong lúc hành nghề đạm bạc trên sông biến sóng gió. Tại Tây Ninh cũng vậy, những người tiều phu, khai rẩy, phá rừng, cũng cảm thấy ḿnh thật bé nhỏ, trước thiên nhiên hùng vĩ và chúa sơn lâm, nên trong vô thức, đă bộc phát những nguyện cầu tới các đấng thần linh và theo thời gian trở thành một tón ngưởng, được mọi người đồng t́nh chấp nhận và tồn tại tới ngày nay.  

Khởi đầu vào thế kỷ XVII sau TL, người Việt đă bắt đầu tới Lục Chân Lạp (Nam Phần) để lập nghiệp và đă dựng trên núi, một ngôi chùa lá không tên, để làm nơi gởi gấm kư thác về thành tâm cầu nguyện các đấng thần linh hộ tŕ giúp đỡ.  

Năm 1745, có Thiền sư Thiệt Diệu (Liễu Quán), thuộc đời thứ 35 của Thiền Phái Tế Thượng Chánh Tông, nhân đi ngang núi Bà Đen, rung động trước sự tĩnh lặng và phong cảnh hửu t́nh trong vùng, nên Ngài đă quyết định ở lại tu tŕ. Cũng từ đó, chấm dứt thời kỳ tín ngưỡng dân gian tự phát và một hệ thống chùa Phật được xây dựng tại đây. 

Trải qua 252 thành lập, từ Tổ sư thứ 1 cuả Thiền Phái Tế Thượng, tới nay đă truyền được 11 đời. (35-46), nối tiếp nhau khai hóa hành đạo tại núi Điện Bà (Tây Ninh). 

Năm 1857, Tỳ Kheo Thanh Thọ (Phước Chi), xây dựng Đại Hùng Bửu Điện và Giảng đường. Năm 1864, Thiền sư Huệ Mạnh, khai mỡ Linh Sơn Long Châu tự (Chùa Hang), cách chùa củ chừng 300m. Năm 1871, xây dựng chùa Phước Lâm, trên bờ con sông nhỏ, chảy ngang Ấp Vĩnh Xuân (Chợ Tây Ninh), được xem như tiền trạm của thiện nam tín nữ trên đường lên núi hành hương cúng Phật, nhất là ngày vía Bà mùng năm tháng năm hay Tết Nguyên Đán. 

Từ 1880-1910, Thiền sư Chơn Thoại (Trừng Tùng), xây thêm chùa Trung, tyức Linh Sơn Phước Trung, để cho khách leo núi có chỗ nghĩ ngơi. Từ năm 1910 về sau, núi Bà Đen rộng mở, thu hút khách thập phương tới cúng Phật đông đảo. Đây cũng thời gian Ḥa Thượng Tâm Ḥa, kiến tạo và mở rộng chùa Trung.Từ 1920-1924, toàn thể khu vực quanh chùa được mở rộng, qua hệ thống 21 tu viện chùa am lớn nhỏ. Đồng thời một con đường, dài 1300m, rộng 6m, cũng được hoàn thành, từ chân núi lên chùa, tới nay tất cả vẫn c̣n lưu dấu. 

Năm 1945, quân Nhật chiếm núi Bà Đen, thiêu hủy toàn bộ hệ thống tu viện trên núi. Ngày 2-11-1945 thực dân Pháp thay thế quân Nhật chiếm đóng, ngoài việc đốt phá chùa chiền, c̣n bắt giết sát hại nhiều tăng ni

Năm 1954 chia hai đất nước và Tây Ninh thuộc lănh thổ VNCH, nên Ḥa Thượng Thích Giác Điền, trở lại núi, tái tạo lại hệ thống chùa Phật năm xưa, thêm to lớn và đẹp đẽ. Nhưng Cọng sản Hà Nội lại phát động cuộc xâm lăng Miền Nam qua cái gọi là MTGPMN công khai lộ diện từ tháng 12/1960. Tây Ninh v́ gần biên giới Kampuchia, nên được Bắc Việt, chọn đặt căn cứ của Trung ương Cục Miền Nam., gọi tắt là cục R, cách tỉnh lỵ 64 km. Từ năm 1960-1975, chiến tranh càng lúc thêm ác liệt, các tăng ni trên núi Bà Đen, phải theo Ḥa thượng Thích Huệ Phương về tu tại chùa Phước Lâm trong thị xă. Trên chùa chỉ c̣n hai Ni cô Thích Nữ Diệu Châu và Diệu Nghĩa ở lại lo nhang khói. Núi Bà Đen vắng ngắt mọi người. 

Sau năm 1975, đất nước ngưng tiếng súng, cũng nhờ VC không c̣n phá hoại và trên hết là tiềnvàng cúng dường của Việt kiều muôn phương, tuôn về giúp xây dựng lại chùa Phật trên núi Bà Đen, hiện do Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa làm Viện chủ. Từ 1992-1997, trùng tu lại các ngôi chùa Linh Sơn Long Châu tự (Chùa Hang), Linh Sơn Phuớc Trung tự (Chùa Trung) và nhiều chùa Phật khác trên núi. Điện Bà lại mở rộng như từ 300 năm trứơc với khách thập phương lên núi cúng Phật như không bao giờ dứt. 

Mùa Phật Đản năm nay, trong lúc cả nhân loại, kể cả người Việt tị nạn VC trên mọi nẻo đường viễn xứ, đang rộn rịp hoan hĩ đón mùng, th́ ngay trên quê hương VN, giặc vẫn không ngừng đàn áp tôn giáo, quyết tâm bắt ép cả nước, phải tùng phục cái gọi là Phật giáo nhà nước, đem tượng Hồ Chí Minh, ngồi ngang với Đức Phật Tổ và chư vị Bồ Tát. Bởi vậy cho nên Uỷ Ban Tự do tôn giáo quốc tế (USCIRF), đă kiến nghị Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice, phải đưa VC vào danh sách 10 nước, bị LHQ đánh giá là gây tổn hại cho tôn giáo, mà tháng trước Ngô Yên Thi, trưởng Ban Tôn giáo cuả Hà Nội, đă to miệng nói rằng ở VN hiện nay rất có tự do tôn giáo của XHCN 

Như nhận xét của sử gia Hoàng Xuân Hản ‘Đời Lư là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta, đó chính là nhờ ảnh hưởng của Phật giáo’. VN từ 1975-2006, qua chủ thuyết man rợ Mác-Lê-Mao-Hồ, đă làm cho xă hội và con người VN biến đổi, đánh mất tất cả những cao quư của Dân tộc Việt có tự ngàn xưa, đưa đến hậu quả biến thành nô lệ của Tàu, v́ không c̣n chỗ dựa của tâm linh và lư tưởng ái quốc. Nhưng linh hồn đất Việt vẩn c̣n đó, nhất là Phật giáo VN, suốt bao thế kỷ, luôn đồng hành chia xẽ nổi bất hạnh với dất nước, luôn đặt sự tồn vong của đạo với sự tồn vong của dân tộc Việt. Bởi vậy: 

“Dân tộc ta không thể nào thua chủ thuyết Cộng Sản
            Đạo Phật muôn đời sáng lạn, sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa vô thần Lê Mác
            VN vẫn c̣n núi c̣n sông và ngôi chùa
            Muôn đời không dời đổi“
 

Xóm Cồn – Mùa Phật Đản 2550

MƯỜNG GIANG

            from www.viet.no

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]