Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

TRONG ĐỘNG TUYẾT SƠN

TENZIN PALMO và CUỘC SUY TẦM CHÂN LƯ

 

Nguyên tác: Cave in The Snow Tenzin Palmo and The Quest For Enlightenment

Tác Giả: Vickie Mackenzie

Người Dịch: Thích Nữ Minh Tâm

 

MỤC LỤC

 

Lời giới thiệu

1. Cuộc gặp gỡ

2. Nơi không thích hợp

3. Buổi b́nh minh

4. Bước đầu tiên

5. Vị đạo sư

6. Cô đơn và đau khổ

7. Lahoul

8. Động Tuyết Sơn

9. Đối diện tử thần

10. Các vị đạo sư Du Già

11. Con đường của người phụ nữ

12. Xuất động

13. Thực hiện ước mơ

14. Vị đạo sư

15. Những cuộc thách đố

16. Một hang động ẩn tu có cần thiết không?

17. Bây giờ

 

Lời giới thiệu

 

Dianne Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên, đă ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao 12.300 bộ trên dăy Hy Mă Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh năm.

 Tenzin Palmo đă sống một ḿnh và tu tập trong động tuyết này. Cô đă chạm trán với những thú rừng hoang dă, đă vượt qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người, và những trận băo tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông (theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao gị ngủ nằm. Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong h́nh tướng một người nữ.

 Sanh vào năm 1943, Tenzin Palmo lớn lên ở trung tâm khu London's East End. Cô là con gái một người bán cá. Khi c̣n bé, Tenzin Palmo đă thích sống lặng lẽ một ḿnh. Cô đă t́m hiểu nghiên cứu các tôn giáo phương Đông và khát khao được giác ngộ chân lư.

 Năm 20 tuổi, thể theo tiếng gọi tâm linh, Tenzin Palmo đă bỏ việc làm tại thư viện và đáp tàu đi Ấn Độ.

 Năm 1964, sau ba tuần lễ diện kiến và học hỏi với một vị đạo sư, Tenzin Palmo đă trở thành vị ni cô Tây Phương đầu tiên xuất gia tại Ấn Độ. Cô sống trong một tu viện Phật Giáo Tây Tạng và cũng là người phụ nữ duy nhất trong số hàng trăm tăng sĩ. Do đó, cô đă kinh nghiệm sự đối xử cách biệt đối với hàng nữ tu. Cô đơn và đau khổ, cô đă thề nguyện sẽ chứng đạo trong h́nh tướng một người nữ, dù phải trải qua vô lượng số kiếp.

 Với tư tưởng đó, năm 1970, cô bắt đầu cuộc sống độc cư tại một nơi tĩnh mịch vắng vẻ; và 3 năm sau, cô t́m đến một động tuyết cao chót vót trên dăy Hy Mă Lạp Sơn để ẩn cư thiền đĩnh.

 Năm 1988, cô rời khỏi động Tuyết Sơn với ư định sẽ thành lập một nữ tu viện ở miền Bắc Ấn để giúp cho các phụ nữ khác đạt tới cảnh giới giác ngộ. Từ lúc bắt đầu sống đời ẩn sĩ chỉ với 80 Anh kim một năm, Tenzin Palmo đă trở thành một người nổi tiếng với những cuộc du thuyết toàn cầu; và tổ chức quyên góp xây nữ tu viện của cô càng lúc càng hoạt động sôi nổi. Tenzin Palmo đă đến với cuộc đời này, rời bỏ nó, và rồi lại trở về một lần nữa để giúp đỡ mọi người.

Tenzin Palmo đă kể lại cuộc sống ẩn cư của cô cho Vickie Mackenzie với tất cả ḷng nhiệt thành cởi mở. Cô nói về những trở ngại, gian nan cô đă vượt qua, những thôi thúc thử thách mănh liệt, và những xúc cảm tâm linh mà cô đă chứng nghiệm. Cô cũng có đủ can đảm để trung thực diễn tả những dằng co khắc khoải mâu thuẫn giữa t́nh yêu trai gái và tiếng gọi nội tâm đầy ân sủng.

 "Trong Động Tuyết Sơn" là một kiệt tác phẩm diễn tả sự can đảm, khí phách, và trí tuệ của một vị ni cô Tây Phương đầu tiên đầ đối phó và vượt qua một cách dũng mănh những chướng ngại thiên nhiên; cũng như sinh lư và tâm lư để đạt tới cảnh giới giác ngộ giải thóat.

 Qua những sự kiện và kinh nghiệm chứng đạt của cô, Tenzin Palmo đă chứng tỏ cho chúng ta thấy cô là một nữ anh hùng của thời đại chúng ta,một ngọn đuốc sáng đốt cháy hàng rào cản ngăn bước tiến của giới phụ nữ, và san bằng mọi ranh giới phân chia cách biệt giữa người và người, giữa nam và nữ từ ngàn xưa cho đến tận thế kỷ 20 này.

 

Vickie Mackenzie

 

 

Tenzin Palmo và tác giả Vickie MacKenzie

 

CHƯƠNG MỘT

CUỘC GẶP GỠ

 

Tôi nhớ lại lần hội ngộ đầu tiên với Tenzin Palmo tại Pomaia, một thành phố nhỏ của Ư nằm giữa những ngọn đồi hùng vĩ của Tuscany khoảng một giờ đường lái xe từ Pisa.  

Đó là một buổi xế trưa mùa hè và không khí ngột ngạt hơi nóng và mùi nhựa thông. — đó, chúng ta thấy những ṭa lâu đài một thời nguy nga tráng lệ với những bức tường chạm trổ tinh xảo, những cửa cái có ṿm cao, mái nhà kiểu tháp nhọn lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời tháng Tám, và chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả phá tan bầu tĩnh lặng của buổi trưa hè. Nhưng chỉ độ vài giờ nữa thôi, cuộc sống dưới phố kia sẽ náo nhiệt ồn ào vào buổi tối. Những cửa tiệm bán thực phẩm, giầy dép, bánh ngọt, và bia rượu sẽ mở cửa đón khách; và bọn đàn ông sẽ tụm năm tụm ba tán dóc đủ mọi chuyện từ chính trị, kinh tế, đến những hoạt động của các tổ chức phe nhóm địa phương. Tuy nhiên, lần đó, nét lộng lẫy gợi cảm nồng nàn của xứ Ư, nơi mà thiên hạ đua chen nhau hưởng thụ dục lạc, đă phải nhường bước cho ánh sáng thế giới nội tâm của Tenzin Palmo.

 Lần đầu tiên, tôi gặp Tenzin Palmo khi cô đang đứng dưới bóng các cây cổ thụ trong một ṭa lâu đài. Đó là một phụ nữ mảnh khảnh vào độ tuổi trung niên, với làn da trắng và lưng hơi kḥm. Cô mặc áo nữ tu Tây Tạng mầu đỏ xậm và tóc cạo sát đầu. Đứng vây quanh cô là một đám đông phụ nữ. Chúng ta có thể thấy đó là một buổi nói chuyện rất hào hứng, và bầu không khí rất thân mật, cởi mở. Đúng ra th́ họ không được phép nói chuyện như vậy; tuy nhiên, sau cả một tháng trời tu học giáo lư và thực tập thiền định, th́ buổi nói chuyện ngoại lệ đó cũng là điều tất yếu thôi.

Tôi và khoảng 50 người nữa cũng tham dự vào buổi nói chuyện đó. Những sinh hoạt hào hứng ngoại lệ như thế đă trở thành quen thuộc nhưng quan trọng đối với tôi, sau khi tôi gặp các vị Lạt Ma ở Nepal từ năm 1976 trở về trước và khám phá ra tính chất đặc biệt phong phú trong những thông điệp của các ngài. V́ thế, những buổi nói chuyện sống động như tôi đang chứng kiến đây, là một phương pháp thư giăn xả hơi sau những giờ dài ngồi kiết già thiền định hay lắng nghe các vị tu sĩ trùng tuyên lại lời dạy của Đức Phật.

 Tối hôm đó, mọi người quây quần ăn uống ngoài trời. Một người đàn ông ngồi bên cạnh, th́ thầm vào tai tôi, và chỉ vào Tenzin khiến tôi đặc biệt chú ư. Tenzin Palmo lúc đó đang ngồi ở bàn ăn bên kia và nói chuyện vui vẻ, hăng say với đám đông vây quanh cô.

 - "Đó là Tenzin Palmo, một phụ nữ Anh Quốc đă sống 12 năm trong một hang động cao hơn 12.000 bộ trong dăy Hy Mă Lạp Sơn đó. Cô ta sống một ḿnh ở đó và vừa mới rời khỏi động tuyết."

 Bây giờ, sự chú ư của tôi đối với Tenzin Palmo không c̣n là một sự ṭ ṃ nữa, mà là một sự chú tâm đặc biệt.

 Nhiều năm qua, tôi đă đọc, đă nghe về những nhân vật kỳ đặc - những bậc đạo sư du già ở Tây Tạng, Ấn Độ hay Trung Hoa. Những bậc đại nhân này đă ĺa bỏ những tiện nghi sung măn vật chất của đời sống con người để ẩn cư thiền định tại những núi rừng hoang vu tĩnh mịch hết năm này qua năm khác. Con đường của họ đi thật khó khăn và cô độc làm sao! Hoàn toàn cô đơn, trên người chỉ có một tấm vải thô hay một chiếc áo mỏng manh, họ dấn thân vào cuộc chiến đấu với bản thân và những cơn đói lạnh khủng khiếp ghê hồn. Thân họ chỉ c̣n da bọc xương, râu tóc họ mọc xồm xoàm rậm rạp đến tận lưng. Họ đối diện với thú rừng hung dữ và những tên cướp của giết người không gớm tay. Những tên cướp này không có lương tâm, không có một chút t́nh nhân loại. Chúng không cần biết đó chỉ là những vị đạo sĩ vô sản; khi không t́m thấy được một vật ǵ, chúng đánh đập dă man các vị đạo sĩ này không chút nương tay, có khi gần chết. Tuy nhiên, những khổ sở đau đớn của ngoại cảnh không làm cho các đạo sĩ này nao núng lùi bước; cũng không thể nào so sánh với những chướng ngại nội tâm mà các đạo sĩ cần phải vượt qua để đạt tới giác ngộ giải thoát. Những lớp sóng ngầm độc hại của nội tâm như sân hận, chấp thủ, tham luyến... v.v... sẵn sàng trổi dạy và trào dâng úp chụp lấy họ không biết lúc nào. Họ phải vượt qua tất cả - và ngay cả khi chiến thắng chúng th́ các vị đạo sĩ này cũng phải dẹp tan sự phấn chấn hứng khởi đó th́ mới có thể gọi là Vô Ngă được.

 Cảnh giới giải thoát đó rộng răi thênh thang, vượt qua biên giới nhị nguyên - không Ngă - không Nhân - Đó là cảnh giới thanh b́nh an lạc tối thượng, không có ǵ so sánh được. Đó là trạng thái tinh thần sung măn cao nhứt mà con người có thể chứng được nếu muốn.

 Tôi đă đọc, đă nghe; nhưng hôm nay, tại Pomaia Ư đại Lợi, tôi đă gặp, đă chứng kiến một con người thực sự chứ không phải trong huyền thoại truyền thuyết; một con người bằng xương bằng thịt đang ngồi trước mặt tôi - và hơn thế nữa, đó không phải là một đạo sĩ người Á Đông, mà là một phụ nữ Tây Phương tân tiến thời đại. Một phụ nữ Tây Phương thời đại!

 Đầu óc tôi quay ṃng ṃng với hàng trăm câu hỏi. Cái ǵ đă xui khiến người phụ nữ Anh này rời bỏ được những tiện nghi văn minh vật chất để rút vào độc cư thiền định nơi núi thẳm rừng sâu như vậy? Làm sao cô có thể sống sót qua những cơn gió lộng băo tuyết kinh hồn? Cô ăn ǵ, tắm làm sao, ngủ thế nào, và không có cả điện thoại nữa? (đời sống người Tây Phương gắn liền với máy điện thoại; không có nó, họ cảm thấy thiếu thốn, có thể chết đi được). Làm sao cô có thể tồn tại khi không có một chút hơi ấm của t́nh người, của một người bạn đồng hành qua nhiều năm như vậy? Cô đă chứng đạt được ǵ? Và, ṭ ṃ hơn nữa, làm sao cô có thể chịu đựng nổi sự cô đơn và im lặng tuyệt đối giữa cảnh núi tuyết lạnh lùng hoang vắng, khi chính cô xuất thân từ một hoàn cảnh tương đối tốt đẹp?

 Nhưng tất cả sự ṭ ṃ nóng nảy đó của tôi đă vội nhường bước cho ḷng kính trọng pha lẫn sự ngạc nhiên đối với một người phụ nữ đă can đảm kiên tŕ phiêu lưu đến một nơi chốn mà tôi chưa hề biết và cũng không thể tưởng tượng ra được. Sự khao khát t́m cầu chân lư của cô, hoàn toàn khác tôi, đă đẩy cô vượt qua những khóa tu tập b́nh thường để dấn thân vào một cuộc chiến đầy cam go và thử thách, cốt làm sao vượt qua khỏi sanh tử luân hồi.  

"Nhập Thất", theo kiến thức nông cạn của tôi, là một việc làm lâu dài đ̣i hỏi tánh bền bỉ chịu đựng ngày này qua ngày khác; những thời khóa tu tập, tụng kinh, ngồi thiền, niệm chú, v.v... cứ lập đi lập lại dài vô tận; hay đối phó với những khủng hoảng dao động tâm lư chợt đến, chợt đi, khuấy phá nội tâm hành giả - và hành giả phải kiên tŕ, tin tưởng, can đảm đi đến cuối con đường ḿnh đă chọn.

 Ngày hôm sau, tôi lại gặp cô ta ở ngoài vườn, và chỉ ngồi một ḿnh. Thấy có cơ hội, tôi tiến lại gần. Không biết cô có chịu tiếp chuyện với tôi không? Nhưng nụ cười rộng mở, nét mặt khả ái của cô, và đôi mắt xanh trong sáng đă thúc giục tôi tiến bước. Từ người cô tỏa ra một sự b́nh an, hoan hỷ, tự tại, và thản nhiên; nhưng tính chất nổi bật nhất của cô là sự tinh khiết trong sáng hoàn toàn không chút vẩn đục của thân tâm.

 

CHƯƠNG HAI

NƠI KHÔNG THÍCH HỢP 

 

Tenzin Palmo sinh ra tại căn nhà truyền thống lịch sử Woolmers Park ở Hertfordshire. Đúng ra đó là một thư viện nổi tiếng. Không phải v́ Tenzin thuộc ḍng dơi quư tộc nên cô được sanh ra ở đó; mà bởi v́ đúng vào ngày sanh của cô, 30 tháng 6 năm 1943, nhà độc tài Đức quốc xă Hitler Luftwaffe đă tấn công Luân Đôn trong trận Đệ Nhị Thế Chiến. Những bệnh viện đều trở thành hầm trú ẩn, cứu thương, và tạm cư.

 Khi mới sanh ra, Tenzin trông rất xấu xí, không có tóc, không có lông mi, và cả móng tay nữa; nhưng người mẹ vẫn cưng yêu đứa bé gái và âu yếm đặt tên con là Diane.

 Tenzin lớn lên trong cửa tiệm bán cá của gia đ́nh số 72 đường Old Bethnal Green Road, khu London East End. Ngày nay, khu phố này không c̣n nữa; nhưng vào thập niên 40, khu phố này rất đông đúc, chật hẹp, và ám khói.

 Tenzin kể lại:

 "Từ bé, tôi đă có cảm giác rất mạnh mẽ là nơi này không thích hợp với tôi. Ngay bây giờ, tôi vẫn có các cảm giác là Anh Quốc không phải là đất sống của tôi."  

Cha của Tenzin, ông George Perry, là chủ của cửa hàng bán cá. Ông là một người nhỏ con, và lớn hơn vợ ông đến 20 tuổi; v́ thế, ông rất cưng ch́u vợ con. Ông hay lui tới những trường đua ngựa, nuôi chó, và các nhà hát kịch. Năm Đại Thế Chiến thứ I, ông gia nhập quân đội, và khi tàn chiến tranh, ông trở về với căn bịnh viêm phế quản nặng. Làm việc trong cửa hàng bán cá vừa ướt vừa lạnh, căn bệnh quái ác đó đă tàn phá cơ thể ông và ông đă chết lúc 57 tuổi khi Tenzin chỉ mới lên 2.

 Tenzin kể lại rằng:

  - "Thật đau buồn v́ tôi không biết ǵ về cha tôi; nhưng tôi nghe nói lại rằng ông là một người rất tử tế và dễ thương. Tôi nhớ là người ta nói rằng mẹ tôi trẻ hơn cha tôi đến 20 tuổi, và bà thường đi khiêu vũ với các bạn nhẩy của bà. Cha tôi luôn khuyến khích mẹ tôi vui hưởng tuổi xuân của bà. Ông thường dọn đồ ăn sẵn để dành cho bà mỗi lần bà đi chơi khuya về. Tôi biết là cha tôi rất muốn có đứa con gái v́ ông đă có hai đứa con trai với người vợ trước. Nhưng đối với tôi, ông chỉ c̣n trong tấm ảnh mà thôi."

 Khi cha của Tenzin mất, mẹ của Tenzin, bà Lee Perry, một người nội trợ, phải vất vả lắm mới nuôi nổi hai con, Tenzin và anh trai của cô, Mervyn lớn hơn cô 6 tuổi.

 Mẹ của Tenzin là một phụ nữ vui tánh, lạc quan, phóng khoáng, và giúp đỡ Tenzin trong mọi hoàn cảnh suốt cả cuộc đời bà. Họ rất thương yêu và gần gũi nhau.

  - "Mẹ tôi thật đáng yêu. Tôi vô cùng tôn trọng bà." Tenzin nói. "Mẹ tôi đă làm việc rất vất vả và luôn luôn để ư đến ư kiến hay tư tưởng mới lạ. Bà là người có đầu óc tân tiến, cởi mở. Khi bà gặp cha tôi, ông đă sống ly thân nhưng chưa ly dị. Mẹ tôi không cho điều đó là quan trọng và đă sống với cha tôi và có 2 con với ông. Thời bấy giờ, việc một ngườI phụ nữ lấy một người đàn ông chưa ly dị vợ là một sự kiện khó chấp nhận. Nhưng đến khi cha tôi ly dị người vợ trước rồi, mẹ tôi cũng không công khai kết hôn với ông; v́ bà thích tự do và độc lập của riêng ḿnh."

 Dù lớn lên trong một môi trường ồn ào, náo nhiệt của dân cư vùng đông Luân Đôn với bản tánh dí dỏm, khôi hài của họ; và dù ngay cả khu East End là một thị trấn đáng yêu, dễ sống, Tenzin Palmo, ngay từ hồi c̣n bé, đă là một cô bé thích sống yên tĩnh và đầy nội tâm. Tenzin cũng có bạn nhưng không hề dẫn bạn về nhà chơi. Cô nói: "Tôi không bao giờ quan tâm về chuyện bạn bè cả. Tôi biết có một cái ǵ khác mà tôi cần phải làm hơn. Tôi chỉ thích ngồi yên lặng và đọc sách. Tôi nhớ là các thầy giáo của tôi thường cho tôi mượn sách. Các bạn tôi th́ không bao giờ được như vậy."

 Tenzin rất chú tâm đến những ǵ liên quan đến phương Đông, mặc dầu lúc bấy giờ, đối với người dân Anh và gia đ́nh Tenzin, Đông Phương là một cái ǵ hoàn toàn xa lạ.

  - "Tôi đă bỏ nhiều th́ giờ một ḿnh ngồi vẽ các cô gái Nhật Bản duyên dáng xinh tươi trong tà áo kimono. Tôi c̣n nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt tôi đă vẽ họ. Khi người Trung Hoa đầu tiên đến khu vực West End mở tiệm ăn, tôi đă năn nỉ mẹ tôi dẫn tôi đến đó để xem mặt mũi người phương Đông thế nào." Và cô nói rằng: "Nhất là đối với giới nữ tu và tông phái Thiền, tôi cảm thấy có một cái ǵ hấp dẫn, lôi cuốn tôi không thể giải thích được." "Tôi rất thích các ḍng tu kín. Nếp sống khổ hạnh, giản dị, những buổi cầu nguyện không dứt và lời thề dâng trọn đời cho hạnh phúc mọi người thực sự làm tôi rung động và ngưỡng mộ. Có lần một người bán hàng thực phẩm đă hỏi tôi sau cùng muốn làm ǵ, tôi trả lời không do dự "Làm nữ tu". Bà ta phá lên cười và nói rằng tôi sẽ đổi ư khi tôi lớn lên. Tôi nghĩ thầm "Bà lầm rồi"; nhưng lúc đó, tôi không hiểu là tôi muốn trở thành nữ tu tôn giáo nào."

C̣n vài sự kiện khác thường nữa như Tenzin Palmo luôn luôn nghĩ là ḿnh đă sanh lầm làm con gái. "Người lớn nói với tôi rằng thân thể con người sẽ thay đổi khi họ trưởng thành, và tôi rất thích thú khi suy tưởng tôi sẽ thành con trai khi tôi lớn lên"

Ngay từ tấm bé, Tenzin là một đứa trẻ yếu đuối, ốm đau luôn. Cô sanh ra đă bị dị dạng; xương sống bị vặn vẹo về phía trái và do đó, cả cơ thể lệch hẳn đi, không ngay thẳng. Năm cô độ vài tháng tuổi, cô bị viêm màng năo, nằm bịnh viện chữa khỏi độ ít lâu, sau lại bị đau lại. Cứ vài tháng, cô lại vào nhà thương chữa trị; một tuần độ 3, 4 lần đi điều trị dược liệu pháp. Tenzin ốm yếu bịnh hoạn luôn đến nỗi nhà trường tài trợ cho cô bé được đi dưỡng bịnh ở một vùng ven biển để dưỡng sức.

- "Không một ai có thể t́m ra nguyên do xác đáng, nhưng cứ một năm độ 2, 3 lần, tôi lại bị những cơn sốt cao độ quật ngă và chứng bịnh đau đầu kinh khủng lại hành hạ tôi kịch liệt. Sau này, khi lớn lên, tôi tự biết đó là quả báo của những kiếp trước của tôi, bởi v́ những căn bịnh đó từ từ biến mất theo thời gian và nhất là tôi không hề bị bịnh nặng lúc tôi ở trong động tuyết."

Cuộc sống của ba mẹ con Tenzin không được sung túc cho lắm; v́ sau khi cha cô qua đời, mẹ cô không biết quản lư cửa hàng cá nên bị người anh họ gạt sạch tiền. Nợ nần ngập lụt đầu, mẹ Tenzin phải làm việc cật lực ngày đêm mới xoay sở nổi qua ngày và trả nợ. Mặc dù mất cha và sống thiếu thốn như vậy, anh em Tenzin vẫn vui vẻ an ổn trong t́nh thương của mẹ và tuổi thơ anh em họ êm đềm trôi qua. Cô học rất giỏi, nhất là về môn Anh văn, Lịch sử, và những môn trắc nghiệm tâm lư hay trí thông minh; nhưng cô kể lại rằng cô vẫn không thích thú các môn học này bởi v́ cô biết chúng không ích lợi ǵ cho mục dích cô đă chọn.

 Mẹ của Tenzin, bà Lee Perry, là một người sùng đạo và rất tin về thuyết linh hồn có thực sau khi chết.

 Hàng tuần vào tối thứ tư, lúc 8 giờ, những người hàng xóm thưỡng tụ tập tại nhà của Tenzin để cầu cơ gọi hồn. Cô kể lại:

 - "Chúng tôi thường ngồi quanh một cái bàn tṛn bằng gỗ rất nặng, và người ngồi ở giữa sẽ là người cầm cơ để chuyển đạt lại những ǵ người chết nói. Tôi nhớ có một đêm nọ, mẹ tôi đùa nói là những người chết không có sức mạnh đâu và họ đánh cá với nhau xem ai thắng. Họ mời bà chủ tiệm tạp hóa rất nặng kư ngồi lên bàn và họ yêu cầu người chết nhấc bàn lên. Thật dễ sợ, cái bàn gỗ nặng nề và người phụ nữ mập mạp đó như được bàn tay vô h́nh nào đó nhấc bổng lên một cách nhẹ nhàng và từ từ di động xung quanh căn pḥng."

 "Từ những buổi cầu cơ đó, mẹ con chúng tôi thường nói chuyện với nhau về thế giới vô h́nh bên kia. Có nhiều người sợ không dám nói, thâm chí không dám nghĩ đến cái "Chết"; nhưng đối với chúng tôi, "Chết" là một cái ǵ tự nhiên và tất yếu sẽ xảy đến cho mọi người.

"Tôi nghĩ "Chết" chỉ là một t́ến tŕnh, là bước kế tiếp sau sự sống. Chúng ta đă trải qua không biết bao nhiêu sự kiện trong các đời quá khứ và sẽ tiếp tục như vậy trong tương lai. Chết cũng như là thay đổi một lớp áo mà thôi. Lối suy nghĩ thực tiễn như vậy sẽ làm con người bớt lo sợ về cái Chết và hăng hái hơn trong hiện tại. Như một giọt nước nhỏ trong đại dương, kiếp sống này chấm dứt, một cuộc đời khác xuất hiện. Chúng ta hăy làm những ǵ chúng ta cần làm bây giờ."

"Ngay từ hồi c̣n nhỏ, tôi cũng không phải hạng người dễ tin. Tôi không thích những buổi cầu cơ vô ích như vậy. Người ta không hỏi những vấn đề quan trọng, cần thiết, mà chỉ đưa ra những câu hỏi ấm ớ để tán dóc với người chết mà thôi. Thật vô ích và phí th́ giờ!"

Những vấn đề làm bận tâm cô bé Tenzin thật sâu xa, quan trọng, và có vẻ nghiêng nặng về triết thuyết Phật giáo: "Tôi luôn luôn tự hỏi con người tái sanh như thế nào và làm sao rút được kinh nghiệm trong kiếp sống nhiều đau khổ này?"

Một sự kiện rất quan trọng xảy đến trong thời niên thiếu của Tenzin và đă khiến cô suy nghĩ thật nhiều:

- "Lúc đó tôi khoảng 13 tuổi và đang trên đường trở về nhà với mẹ tôi sau khi ghé thăm các bà con. Chúng tôi đă trải qua một buổi chiều thú vị với nhau, và sau đó giă từ họ hàng, hai mẹ con ra về bằng xe buưt. Ngồi trên xe buưt, tôi chợt có một cảm nghĩ lạ lùng - cảm nghĩ này đến với tôi như làn điện chớp - rằng tất cả con người đều phải chết; nhưng trước khi chết, họ phải trải qua cảnh ốm đau hay già nua. Tôi nh́n những chuyến xe buưt chạy lên xuống và những hành khách cười nói ồn ào trước mặt: "Họ có biết là cái ǵ chắc chắn sẽ xảy đến cho họ không nhỉ? Họ suy nghĩ ǵ và thế nào để đón nhận cái chết chắc chắn sẽ tới với họ?"

"Tôi nói với mẹ tôi rằng: "Cuộc đời thật đáng buồn và nhiều đau khổ"; nhưng mẹ tôi, dù đang sống một cuộc đời đầy thử thách, thiếu thốn, và nhiều bất hạnh, đă vui vẻ trả lời:

- "Đúng vậy, cuộc đời tuy có nhiều đau khổ nhưng nó cũng có nhiều thứ đáng yêu thú vị nữa chứ!"

Tôi nghĩ rằng:

- "Những ẩn chứa đằng sau cái bóng hạnh phúc giả tạm đó là ốm đau, già yếu và chết chóc."

"Tuy nhiên, người ta không nhận thức ra điều đó, mà họ cũng không quan tâm đến những chi tiết quan trọng như vậy. Tôi không thể hiểu tại sao họ lại không thấy cái bẩy đáng ghê sợ đó nhỉ?"

"Riêng tôi, tôi thấy rất rơ, thấy tận cùng thâm tâm tôi. Nhưng tôi biết mọi người không ai thèm chú ư đến những ǵ tôi nói, dù đó là sự thật, v́ thế, tôi không bàn đến vấn đề đó nữa."

Thật là một sự trùng hợp lư thú. Những ǵ cô bé Tenzin suy tư t́m hiểu cũng chính là những vấn đề làm nhức nhối trái tim chàng Thái Tử trẻ tuổi Sĩ Đạt Ta cách đây hơn 2500 năm, khi chàng dạo chơi 4 cửa thành trông thấy một người già, một người bịnh, và một thây chết. Những cảnh tượng đau buồn chết chóc đó đă gây ấn tượng sâu đậm trong ḷng Thái Tử; và người vương giả uy quyền kia, một đêm, đă rời bỏ hoàng cung kiêu sa lộng lẫy, dấn thân vào đời sống khổ hạnh chốn rừng sâu để mong t́m ra giải đáp bài toán hóc búa của kiếp nhân sinh.

Sau nhiều năm suy tầm chân lư, trắc nghiệm nhiều phương pháp tu học, Bồ Tát Sĩ Đạt Ta đến ngồi tham thiền dưới cội cây Bồ Đề suốt 49 ngày đêm. Chiến đấu không ngừng với nội tâm, cuối cùng, Ngài đă xô xập những thành tŕ chướng ngại tâm linh do "Vô Minh", "Tham Ái" và "Chấp Thủ" gây ra, và chứng đạt giải thoát giác ngộ.

Ngoài ra, c̣n một câu hỏi lớn nữa xâm chiếm đầu óc Tenzin Palmo khi cô c̣n bé. Đó cũng là một vấn đề then chốt trong đạo Phật. Đó là "Làm sao con người trở nên 'toàn thiện'?"

Tenzin kể lại:

- "Khi tôi c̣n bé, tôi đă tin tưởng rằng bản tánh con người vốn sáng suốt, thánh thiện, nhưng v́ một lư do nào đó, bản tánh đó đă bị che lấp đi, và người ta cứ măi luân hồi tái sanh bất tận." Tôi hỏi mẹ tôi rằng "Bà có tin vào thuyết Tái Sanh không?" Bà đă trả lời "Thuyết Tái Sanh có vẻ rất xác tín."

Tenzin Palmo đi t́m câu giải đáp nơi các vị cha xứ, linh mục. Cô kể lại:

- "Tôi hỏi một vị cha xứ:
        -  Có một vị Thượng Đế hay không?
        - Chúng ta tin chắc chắn rằng có một Đấng Sáng Tạo, có một Thượng Đế Toàn Năng, nhưng không phải theo nghĩa b́nh thường là một con người như chúng ta. Nhưng chúng ta cảm thấy có một Ánh Sáng, T́nh Yêu, và Trí Tuệ Thông Minh của Ngài.
        Tôi nghe thấy cũng hay hay. Tôi lại hỏi tiếp
        - Nhưng thế nào làm cho con người trở nên toàn thiện?
        - Con cần phải sống tốt lành và rất tử tế với mọi người.
        Tôi nghĩ là các vị cha xứ này chỉ lập đi lập lại các giáo điều mù quáng mà chẳng biết ǵ cả. Một lần nữa, tôi lại mất phương hướng".

Cô lại đi t́m cha Hetherington, cha xứ nhà thờ nơi cô cư ngụ, nguời mà cô cho là phạm hạnh và thanh cao.

Ông ta cũng trả lời: "Con cần phải sống thiện và thương yêu".

Lẽ dĩ nhiên, người ta phải sống thánh thiện, và thương yêu mọi loài; nhưng "sự giác ngộ hoàn toàn" không phải chỉ có vậy. Phải có một cái ǵ khác xa hơn nữa. "Tôi biết nhiều người cũng sống tốt đẹp, tử tế và giúp đỡ thương yêu mọi loại, nhưng họ đâu có giải thoát, giác ngộ!"

"C̣n một cái ǵ hơn thế nữa", tôi biết chắc như vậy, "c̣n một cái ǵ hơn thế nữa".

Tôn giáo chính của xứ sở Tenzin là Công Giáo; nhưng thực ra, Tenzin nhận Công Giáo có nhiều giáo điều hơn là phương pháp giải đáp vấn đề. Nó bắt người ta phải chấp nhận, phải tin tưởng tuyệt đối, và không cần phải thắc mắc, t́m hiểu.

Tenzin nói:

- "Tôi không tin là Chúa sáng tạo ra tất cả. Tôi nhớ những bài thánh ca tôi đă hát ở trường học: "Chúa đă sáng tạo ra tất cả, từ những vật thể nhỏ bé xinh đẹp cho đến bộ óc thông minh sắc sảo ... Chúa là người đă sáng tạo ra thế giới này". Nhưng ngay lúc đó, tôi thắc mắc "Vậy Chúa cũng là người đă tạo ra đau khổ, nghèo đói, thù hận, chiến tranh, và hạn hán v.v... và v.v..."

Tenzin tiếp tục t́m hiểu và t́m hiểu không mỏi mệt. Cô t́m đọc kinh Koran, giáo lư Ấn Độ giáo, nhưng cô vẫn không t́m ra được giải đáp về sự thắc mắc của ḿnh. Cô lại quay ra đọc các triết thuyết phương Tây như thuyết Hiện Sinh của Jean Paul Sartre, Kierkegărd, và Albert Camus, nhung theo cô, các triết gia Tây Phương đă chạm trán với bế tắc và khủng hoảng. Họ chẳng t́m ra được câu giải đáp hoàn toàn.

Một ngày kia, thầy giáo cho cô mượn đọc một quyển sách của Heinrich Harrer "Bảy năm sống ở Tây Tạng" (Seven years in Tibet). Heinrich viết về chuyến hành tŕnh đến xứ tuyết của ông và t́nh bạn thân mật giữa ông và Ngài Đạt Lai Lạt Ma. Tenzin bắt đầu mơ về đất nước tuyệt vời đó, và h́nh ảnh Đức Phật bắt đầu ngự trị tâm hồn cô khi cô đọc một chương tŕnh giới thiệu những cảnh chùa ở Thái Lan.

 

 

CHƯƠNG BA

BUỔI B̀NH MINH
- T̀M THẤY CON ĐƯỜNG

 

Nỗi thắc mắc tâm linh của Tenzin đă được giải tỏa khi cô và mẹ sắp sửa đi Đức để hưởng mùa Giáng Sinh với Mervin, anh của cô. Mervin gia nhập vào Không Quân và đóng quân ở Đức. Đó là năm 1961, và Tenzin tṛn 18 tuổi. Cô đă thôi học và xin làm tại thư viện Hackney, một nơi lư tưởng thích hợp với thú đọc sách của cô. Mẹ cô không thể chu cấp cho cô theo đuổi đại học được, nên Tenzin đă tự an ủi ḿnh bằng cách cố gắng kiếm tiền để rời khỏi Anh quốc. Cô rất khao khát được du hành về phương Đông.

Khi sắp đi Đức, cô rút đại ba quyển sách để giết th́ giờ trong những ngày ở Đức. Một quyển của Sartre, một quyển của Camus và một quyển về Phật giáo với h́nh b́a Đức Phật, nhưng chính tựa sách mới hấp dẫn cô. Tựa sách là "The Mind Unshaken" (Tâm Trí Bất Động). Nhưng khi ở Đức, cô đă quên không đọc sách này.

Chuyến máy bay từ Đức về Anh quốc đă bị trở ngại và trễ tới 8 tiếng đồng hồ. Ngồi ở phi trường, Tenzin chán nản lật sách ra xem. Đọc được vài trang thôi, Tenzin hớn hở quay lại nói với mẹ "Con là Phật tử". Bà Lê ôn tồn đáp:

- "Được rồi, cứ đọc hết sách đi và cho mẹ biết trong sách nói những ǵ".

- "Thật ngạc nhiên biết chừng nào, Mẹ ạ. Những ǵ con thắc mắc hay con tin tưởng đều nằm trong sách này hết. Tất cả những ǵ con nghĩ, con cảm thấy đều có hết, và cùng với những lư thuyết, c̣n có một phương pháp, một con đường để đưa chúng ta về cảnh giới tâm linh tuyệt hảo".

Quyển sách đó tŕnh bày khúc chiết rơ ràng mọi thắc mắc của Tenzin về sanh, lăo, bịnh, tử, theo quan điểm Phật giáo. Một điều lư thú nữa mà Tenzin t́m thấy trong sách là thuyết Tái Sanh và không có một đấng thần linh nào chỉ huy giựt dây cả.

Tenzin kể:

 - "Khi tôi t́m hiểu về Ấn Độ giáo, tôi nhận thấy đạo giáo này chủ trương về "Thần Ngă" (Atman) nhiều quá. Phật giáo, trái lạí chủ trương "Vô Ngă". Đối với tôi, danh từ Vô Ngă đó hàm chứa một sự tự do tuyệt đối vô cùng. Cuối cùng, tôi đă t́m được cho tôi một tôn giáo, một con đường tâm linh tuyệt vời để đi theo."

 Quyển sách "The Mind Unshaken" đă thay đổi đời tôi hoàn toàn. Tôi nhớ lại ba ngày sau khi đọc xong quyển sách; vừa đi đến sở làm, tôi vừa suy nghĩ "Tôi đă là Phật tử được bao lâu rồi. Ba ngày thôi sao? Không, tôi đă là Phật tử từ vô lượng kiếp rồi vậy."Một khi đă thấy con đường ḿnh phải đi, Tenzin Palmo không bỏ lỡ cơ hội để đi đến đích. Cô nói "Khi bạn muốn làm ǵ, bạn phải làm ngay, đừng phí phạm th́ giờ." Đó là tiêu chuẩn sống của Tenzin.

 Nhưng đó không phải là chuyện dễ dàng thực hiện ở Anh quốc, nhất là vào thập niên 60. Ngày nay, Phật giáo đă lan rộng khắp năm châu; hàng trăm thiền viện mọc lên như nấm và tài liệu nhan nhăn khắp nơi; người ta t́m hiểu Phật giáo dễ dàng - nhưng vào những năm 60, th́ quả là một việc rất khó khăn.

  - "Tôi luôn luôn nhớ trong ḷng là Đạo Phật dạy con người phải nên diệt dục - nghĩa là diệt trừ bớt những ham muốn thô thiển, thấp hèn - v́ thế, tôi đă dẹp bỏ hết quần áo và chỉ mặc một lọai áo dài mầu vàng, một chiếc thắt lưng và mang vớ đen. Tôi không trang điểm, và không hẹn ḥ với đám thanh niên nữa. Tôi cố gắng hết sức để diệt trừ những ham muốn b́nh thường của một con người."

 Ít lâu sau, Tenzin khám phá được một hiệp hội Phật giáo ở Eccleston Square, do ngài Chánh Án Christmas Humphreys sáng lập vào năm 1924.  

Humphreys là người đầu tiên giới thiệu tư tưởng triết lư phương Đông đến người Tây Phương. Ông đă làm quen, và học hỏi với những triết gia nổi tiếng thời đại như Carl Jung, học giả thiền sư Suzuki và các hoàng thân Thái Lan; ông cũng là một trong những người ngoại quốc đầu tiên đến tham vấn Đức

 Đạt Lai Lạt Ma khi Ngài vừa lưu vong ra khỏi Tây Tạng. Nhưng, mặc dù Hiệp Hội Phật giáo này đă thành lập lâu năm, nó cũng vẫn chỉ là một căn nhà nhỏ với số thành viên rất hạn chế.

 "Khi bước vào căn pḥng chính của Hiệp Hội này, tôi rất ngạc nhiên v́ không có ai mặc áo dài mầu vàng cả. Có lẽ tôi đă sai lầm khi vứt bỏ hết quần áo của tôi."

 "Tôi nói chuyện với mẹ tôi và bà lặng lẽ đưa ch́a khóa tủ quần áo cho tôi. Bà không vứt đi một cái nào hết. Bà cũng chẳng hỏi tại sao, bà chỉ thản nhiên chờ đợi. Mẹ tôi rất nhạy bén và hiểu tôi rất nhiều."

 - Eccleston Square, Tenzin Palmo đắm ḿnh vào kho tàng giáo lư Nguyên Thủy Phật giáo. Tông phái này đang phát triển tại Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, và Cam Bốt. Cô học Tứ Diệu Đế và thấu suốt được nguyên nhân đau khổ của con người và phương pháp diệt trừ đau khổ. Cô t́m hiểu Bát Chánh Đạo và Thiền học. Cô cũng tập tŕ niệm 6 chữ "Án Ma Ni Bát Dị Hồng", mặc dù cô chẳng hiểu thần chú ấy có ư nghĩa ǵ - nhưng với ḷng nhiệt thành và niềm tin sắt đá, Tenzin nói là đă cảm thấy có hiệu lực kết quả khi cô luôn thầm niệm "Án Ma Ni Bát Dị Hồng."

 Tuy nhiên, giáo lư Nguyên Thủy Phật giáo vẫn chưa thỏa măn được Tenzin. Cô vẫn thấy có một cái ǵ thiêu thiếu như một lỗ hổng trong giáo lư Nguyên Thủy với sự tu chứng của các vị A La Hán.

"Tôi rất ngưỡng mộ sùng kính Đức Phật; những ǵ Ngài dạy đều hoàn toàn minh bạch và tùy duyên, căn cơ của chúng sanh. Đối với tôi, quả vị A La Hán không phải là con đường tôi muốn theo. Với tŕnh độ hiểu biết của tôi lúc đó, tôi chỉ nhận thấy giáo lư Nguyên Thủy không thích hợp với tôi."

Vài tháng sau, t́nh cờ cô đọc được một quyển sách của ngài Long Thọ, vị hiền thánh và triết nhân Phật giáo nổi tiếng ở thê kỷ thứ 2. Trong sách, Ngài Long Thọ luận giải về quả vị Bồ Tát. Lư tưởng hành "Bồ Tát Đạo" cứu giúp chúng sinh đă hấp dẫn Tenzin Palmo và cô nhận thức ngay rằng đây mới chính là con đường cô muốn đi.

Đại thừa Phật giáo và lư tưởng Bồ Tát do ngài Long Thọ khai phá và luận giải, đă phát triển nhanh chóng, thu hút nhiều tín đồ; nhất là ở Tây Tạng. Nhưng Phật giáo Tây Tạng vào những năm 60 th́ hầu như không có ai biết đến và cũng khác hẳn những ǵ người ta biết về Phật giáo.

Những huyền thoại hay chuyện hoang đường bao phủ xứ Tây Tạng và được thêu dệt thêm lên do những tay du hành t́m cách len lỏi vào vùng "Đất Cấm" này. Những câu chuyện đầy thần bí đó càng lúc càng hấp dần người nghe hơn - "những vị Lạt Ma có thể bay trên hư không, tùy ư biến hóa đồ vật hay hóa thân ra đủ mọi loài, hoặc vượt qua những khoảng cách, chướng ngại một cách tự tại." Họ kể lại rằng "— Tây Tạng, người ta thờ rất nhiều vị thần; có những ngẫu tượng có nhiều tay nhiều chân, răng nanh và mắt lồi ra thật hung dữ." Tuy nhiên, theo đa số các học giả trong hội London Buddhist Society, th́ Phật giáo Tây Tạng là một cái ǵ huyền bí và không có sự truyền thừa; khác với truyền thống chính phái Thiền và Nguyên Thủy Phật giáo. Lúc đó, không một ai nghĩ rằng Phật giáo Tây Tạng có thể phát triển mạnh được. — điểm này, Tenzin Palmo, một thành viên mới của hội, lại nghĩ khác và thiên về Phật giáo Tây Tạng nhiều hơn. Cô bắt đầu t́m hiểu kỹ thêm về Phật giáo Tây Tạng và một hôm, t́nh cờ cô đọc một quyển sách nói về 4 trường phái cổ của Phật giáo Tây Tạng : 1) phái Nyingmapa: thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên là trường phái cổ về Mật Tông bí thuật, 2) phái Sakya thế kỷ thứ 11 trước Công Nguyên là phái pha lẫn cả hai ḍng mới và cổ về Mật Tông, 3) phái Geluppa vào thế kỷ thứ 14 trước Công Nguyên là trường phái triết học, và 4) phái Kargyupa vào khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên là phái ẩn sĩ ở núi cao hang thẳm.

"Khi tôi đọc đến chữ "Kargyupa", h́nh như có một giọng nói vô h́nh nói với tôi rằng "Con là Kargyu". Tôi hỏi "Kargyu là ǵ?" "Điều đó không quan trọng" "Con chỉ biết đích thực con là Kargyupa." Tim tôi cơ hồ như ngưng đập trong giây lát. Trở thành một tín đồ Phật giáo Tây Tạng là ước muốn cuối cùng của tôi."

Theo sự chỉ dẫn của Tiếng Nói Nội Tâm vô h́nh, Tenzin Palmo t́m gặp một người duy nhất ở Luân Đôn mà cô biết là ông ta rất am tường về Phật giáo Tây Tạng. Ông ta đưa cho cô ta đọc một quyển sách viết về Milarepa, một vị cao tăng ẩn sĩ của Tây Tạng. Ngài là một bậc thi nhân hiền triết nổi tiếng đồng thời cũng là người sáng lập ra tông phái Kargyupa.

Milarepa là một hiện tượng phi phàm, là một biểu tượng về trí tuệ xuất chúng ở thế kỷ thứ 11.

Khi c̣n trẻ, Milarepa đă tu luyện tà thuật và đă giết một số người. Sau khi nhận rơ sự sai lầm của ḿnh, Milarepa đi t́m một vị đạo sư và tỏ ư cầu đạo.

Trải qua những cuộc thử thách kịch liệt, có lần suưt mất mạng, Milarepa được Thầy thâu nhận và truyền dạy bí mật chân truyền.

Một ngày kia, chỉ một tấm y, một bát, Milarepa đă biến mất trong đỉnh núi Cô Đơn phủ đầy tuyết trắng. Thân thể Ngài chỉ c̣n da bọc xương và trở thành xanh xám như rong rêu. Ngài vẫn an nhiên thiền định trên tuyết, và khí hậu dưới 0o độ kia hầu như không ảnh hưởng ǵ được tới Ngài cả. Toàn thân Ngài như có luồng hỏa hầu tỏa ra khiến chung quanh chỗ Ngài ngồi thiền không thể đông đặc lại. Các cư dân vùng cao độ đă kể lại rằng chính họ đă chứng kiến Ngài phi hành qua những đồng bằng thung lũng phía dưới núi.

Sau vài năm tinh cần hành tŕ, Milarepa bắt đầu du hóa thuyết giảng, và mỗi lần Ngài đăng đàn thuyết pháp, hoa trời rơi xuống như mưa và cầu vồng ngũ sắc xuất hiện trên bầu trời.

Khi Tenzin Palmo đọc xong, cô hoàn toàn bị chinh phục.

"Tôi không thấy lạ lùng về những điều ghi trong sách. Những quan niệm về Cực Lạc, thiên giới hay địa ngục rất quen thuộc với tôi. Thiền Tông và phái Nguyên Thủy Phật giáo không đề cập đến những hiện tượng siêu phàm này. Tôi không phải là người mê tín, trái lại, tôi là người có đầu óc lư luận của phương Tây; tuy nhiên, khi tôi t́m hiểu về Phật giáo Tây Tạng và những điều huyền bí ngoài tầm suy luận của con người, tôi nhận thấy rất xác tín và khoa học".

"Bước kế tiếp là tôi phải đi t́m một vị đạo sư cho tôi. Tôi nghĩ vị đạo sư đó chắc phải ở Ấn Độ, nơi mà tất cả các dân Tây Tạng lưu vong đều chạy đến. Tôi suy nghĩ và quyết định phải đi Ấn Độ để t́m thầy dẫn đường cho tôi".

Nhưng cùng lúc đó, trong tâm của Tenzin Palmo nổi lên những tư tưởng chống đối kịch liệt. Cô đang trong tuổi thanh xuân, đầy nhựa sống; bọn con trai thấy cô đều hấp dẫn bởi mái tóc dải quăn tự nhiên và đôi mắt xanh to của cô. Mọi người đều đặt cho cô biệt danh là "Bubbly" (cô gái hấp dẫn đáng yêu). Cô có nhiều bạn trai và cũng hẹn ḥ với vài người. Đời sống ở Luân Đôn thật náo nhiệt ồn ào. Đó là những năm đầu 60, thời đại của vua nhạc rock Elvis Presley, Ricky Nelson, Beatniks, Radio Luxembourg và loại nhạc Rock 'n Roll. Tenzin Palmo vui sướng hưởng thụ tuổi xuân của ḿnh và cô hoàn toàn đắm ḿnh vào những cuộc ăn chơi đó.

"Tôi mang giầy cao, mặc quần áo đẹp, nghe nhạc jazz và đến vũ trường, hộp đêm. Tôi thần tượng mê say Elvis Presley. Khi tôi xuất gia, có thể nói Elvis Presley là "sự rũ bỏ" lớn nhất của tôi. Tôi có nhất nhiều bạn trai và tất cả bọn họ là người Á Đông. Thật lạ lùng và buồn cười là tôi không có duyên với đàn ông Tây Phương. Một điều chắc chắn nữa là tôi không bao giờ có ư lập gia đ́nh. Tôi rất rơ về điều đó. Tôi nhớ lại năm tôi 16 tuổi, tôi đă làm phụ dâu 3 lần. Có một người bạn đă nói với tôi là "Đừng làm phụ dâu nữa! Làm phụ dâu 3 lần th́ khó lấy chồng lắm!" Tôi không tin vào điều mê tín đó và tôi cũng không quan tâm đến nó. Tôi thích độc lập. Tôi không thích bị ràng buộc và mất tự do, kềm hăm tư tưởng v́ bất cứ người đàn ông nào".

Tuy nhiên, trong Tenzin Palmo vẫn có hai luồng đối kháng mănh liệt làm cô bứt rứt, khó chịu. Một bên là sự tự do ăn chơi, vui thích thỏa thuê với dục lạc, một bên là đời sống nghiêm túc, thanh khiết và thánh thiện.

"Tôi có lần lo sợ là bản năng thấp kém của con người tôi sẽ thắng. Nhưng ngay lúc tôi lo sợ đó th́ giọng nói vô h́nh trong tâm tôi lại khuyến khích "Đừng lo sợ về điều đó. Khi thời cơ thuận duyên đến, bạn sẽ rời bỏ tất cả. Bạn c̣n trẻ, hăy tự nhiên hưởng thụ tuổi trẻ của bạn; và một khi thời điểm tốt đến, bạn sẽ sẵn sàng rời bỏ tất cả". Nghe như vậy, tôi cảm thấy yên ổn và thư thái rất nhiều".

Tenzin tiếp tục vui chơi nhưng vẫn không quên mục đích t́m đạo của ḿnh. Một ngày kia, cô nghe thấy có một phụ nữ người Anh tên là Freda Bedi. Bà này lấy chồng người Ấn, và sau đó trở thành một Phật tử thuần thành. Bà lập ra một ni viện nhỏ cho những ni cô thuộc tông phái Kargyupa, và một học viện nhỏ cho những vị Lạt Ma tái sanh ở Dalhousie, Bắc Ấn. Tenzin vội viết thơ cho Freda Bedi và giải thích ư nguyện của cô. Freda Bedi trả lời: "Đừng lo ǵ cả. Hăy đến đây!"

Cánh cửa cơ hội đă mở nhưng vẫn c̣n khó khăn. Tiền vé máy bay sang Ấn rất mắc và đối với Tenzin Palmo ngày đó, số lương ít ỏi hàng tháng của cô làm việc tại thư viện Hackney quả là c̣n lâu lắm mới dành dụm nổi. Cô quyết định đi t́m một việc làm khá lương hơn. Một lần nữa, cô lại nhận thấy có một mănh lực siêu h́nh nào đó giúp cô toại nguyện.

- "Tôi t́m thấy có một việc làm ở Khoa Nghiên Cứu Đông Phương và Phi Châu ở Blơmsbury và tôi lập tức đi gặp ông Pearson, Quản Thủ thư viện. Ông này vừa từ Miến Điện và Ấn Độ về Anh. Ông ta hỏi tôi có muốn thi ngành thư viện không; tôi liền đáp rằng:

- "Không, tôi chỉ muốn kiếm đủ tiền vé máy bay sang Ấn để giúp cho dân tỵ nạn Tây Tạng".

Tôi nghĩ rằng chắc tôi sẽ không được làm.

Nhưng vài ngày sau, ông Pearson điện thoại cho tôi. Ông nói: "Tôi quên là không hỏi cô cần bao nhiêu tiền sang Ấn để sắp xếp giờ làm việc cho cô. Chúng tôi rất hoan nghinh cô đến làm việc tại thư viện chúng tôi".

Ông Pearson tận t́nh giúp đỡ Tenzin Palmo. Ông sắp xếp công việc cho Tenzin có th́ giờ học thêm tiếng Tây Tạng với nhà ngôn ngữ học nổi tiếng David Snellgrove.

Vào những năm 1960, David Snellgrove là một trong rất ít người Tây Phương biết đến Tây Tạng. Những bài học vỡ ḷng này rất hữu ích cho Ten zin sau này khi cô gia nhập vào cộng đồng người Tây Tạng và tụng đọc kinh sách bằng tiếng Tây Tạng. Qua ông David, Tenzin được gặp ba vị Lạt Ma tây Tạng đầu tiên. Họ thuộc phái Bon (một giáo phái xưa trước thời Phật giáo du nhập vào Tây Tạng). Trong ba vị, có ngài Rato Rinpoche, hiện nay đang quản lư ""Tibet House" ở Nữu Ước (New York) và đă góp mặt trong bộ phim "The Little Buddha" do Bertolucci đạo diễn, và một vị Lạt Ma trẻ tuổi, hoạt bát, học thức cao Chögyam Trungpa.

Trungpa hoạt động trong nhiều lănh vực và rất thành công. Ông cũng đă giúp cho Tenzin tu học và t́m hiểu Phật Pháp. Tuy nhiên, một thời gian sau đó, v́ say mê danh vọng, Trungpa đă sa ngă và mang tai tiếng rất nhiều ; cac tổ chức hiệp hội do ông ta dựng lập lên cũng đều tan ră. Nhưng đó là chuyện sau này. C̣n năm Tenzin gặp Chögyam Trungpa th́ ông ta đang t́m kiếm một người đệ tử. Trungpa quả là một "từ điển sống". Ông ta thông thạo và thành công trong nhiều lănh vực từ học đường đến chính trị, tôn giáo. Tenzin đă học hỏi nơi ông ta rất nhiều, nhưng cô vẫn không muốn trở thành đệ tử của Trungpa.

Tháng 2 năm 1964, Tenzin Palmo được 20 tuổi và cô đă để dành được 90 Anh kim đủ để mua vé tàu đi Ấn Độ. Đó là giá vé hạng rẻ nhất, nhưng tiền lương mỗi tuần chỉ có 8 Anh kim, th́ đối với Tenzin, cô đă phải làm việc và dành dụm  rất lâu vậy.

Chuyến tàu cô đi, có tên là "Le Vietnam", sẽ khởi hành từ Marseille phía Nam nước Pháp, và cô phải đi thêm vài chuyến xe lửa nữa và vượt qua eo biển Manche trước khi chuyến du hành qua Ấn chính thức bắt đầu.

 

 

CHƯƠNG BỐN

BƯỚC ĐẦU TIÊN 

 

Tenzin không khóc khi chuyến xe lửa lăn bánh, bỏ lại sau lưng mẹ cô, quê hương cô, và cũng không biết bao giờ cô mới trở lại; c̣n hai người bạn gái của cô là Ruth Tarling và Christine Morris th́ lệ rơi đầm đ́a. Cả ba cô gái đều trực chỉ tới tu viện của bà Freda Bedi.

  - "Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không cảm thấy buồn ǵ khi xa gia đ́nh, xa đất nước tôi như vậy. Tôi chỉ cảm thấy vô cùng sung sướng. Đây là giây phút tôi đă mong đợi từ bao năm qua."

 Con tàu "Le Vietnam" là con tàu cũ từ thực dân Pháp. Thủy thủ đoàn gồm có người xứ Ethiopie, Vịêt Nam, Sudan, và Algérie. V́ là tàu cũ nên gía vé đi Ấn Độ rất rẻ. Trên tàu chẳng có quầy rượu hay hồ bơi ǵ cả; chỉ có một dúm hành khách mà thôi. Chuyến đi mất hai tuần, dừng lại Barcelona, Port Said Aden, và Bombay trước khi dong buồm thẳng về hướng đông.  

Trên tàu, Tenzin quen với một thanh niên người Nhật. Chàng thanh niên này vừa thấy Tenzin đă choáng váng và yêu ngay người thiếu nữ duyên dáng, xinh đẹp này; và Tenzin cũng có cảm t́nh với anh chàng Phật tử người Á Đông này.

 Một đêm đẹp trời, Tenzin đang ngồi hóng mát trên boong th́ anh ta tiến đến gần và ngỏ lời cầu hôn cô.

 Tenzin cười phá lên và cho anh ta đùa cợt. Nhưng không, anh ta có vẻ đứng đắn thật sự.

- "Tôi không hề nghĩ tới chuyện bất ngờ đó cả. Nhưng tôi cảm thấy hơi phân vân nghĩ ngợi. Thực ra anh ta rất đẹp trai và nồng hậu vô cùng. Các bạn tôi đều nói, nếu tôi không lấy anh ta th́ có lẽ không bao giờ tôi kiếm được một người chồng tử tế đáng yêu như vậy. Tuy nhiên, tôi đă cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định. Đức Phật đă dạy "Đời là bể khổ" - một ngày nào đó, anh ta sẽ chán tôi, và cuộc sống gia đ́nh thực tế cũng chẳng có ǵ hay ho thơ mộng cả. Tôi sẽ là một ni cô - Cuộc đời xuất gia mới đúng là cuộc đời của tôi."

 Tenzin ước hẹn với chàng thanh niên Nhật Bản là Tenzin sẽ ở lại Ấn một năm thử thách, và nếu cô không tu được, cô sẽ đi Nhật để gặp anh ta.

 Tenzin và hai người bạn gái đến Dalhousie, Bắc Ấn vào tháng 3.

 - "Khi tôi đến Dalhousie, tôi gặp cả ngàn vị tăng sĩ Tây Tạng đang ở đó; và tuyết , tuyết rơi trắng xóa phủ khắp nơi, nổi bật trong nền trời xanh lơ. Tuyệt vời quá! Đẹp quá!

 Cô kể tiếp tục:

 - "Chúng tôi thấy bà Bedi đang nấu ăn trong bếp. Bedi là một phụ nữ to lớn, đẫy đà, với đôi mắt xanh to, mũi cao thẳng, và tóc đă hoa râm. Trông bà độ khỏang 50 tuổi. Trong chiếc áo cổ truyền Tây Tạng mầu đỏ xậm, bà Bedi trông c̣n to lớn kinh khủng hơn; nhưng bà ấy rất cởi mở và thân thiện."  

Cuộc đời bà Bedi kể ra cũng rất lư thú. Bà thuộc ḍng dơi qúy tộc Anh quốc; và cuộc t́nh giữa bà và người sinh viên gốc Ấn tại đại học Oxford (sau này là chồng bà) đă chấn động cả thành phố bà đang ở với gia đ́nh. Bà quyết định lấy người bà yêu và chống lại thành kiến phân biệt giai cấp và chủng tộc của chế độ phong kiến Anh quốc. Bà và người chồng rời khỏi xứ Anh, nơi đă đem lại cho bà nhiều đau khổ hơn là sung sướng.

 Năm 1959, khi dân Tây Tạng lưu vong theo chân Đức Đạt Lai Lạt Ma chạy trốn qua Ấn, bà Bedi xin xuất gia và được Ngài cho pháp danh là Khechock Palmo. Bà đă giúp đỡ người Tây Tạng thật nhiều và ngay cả Trungpa cũng đă theo học Anh văn cơ bản tại học viện do bà sáng lập. Tuy nhiên, bà Bedi không biết nắm lấy thời cơ; khi thị trường đất đai tại Ấn sụt giá, bà lại đi mua những thứ không cần thiết - v́ thế, khi giá cả thay đổi, bà Bedi đă mất sạch tiền. Nhưng dù sao đi nữa, Bedi vẫn là người cống hiến rất nhiều cho Phật giáo Tây Tạng trong những năm đầu lưu vong tại Ấn.

 Dalhousie là vùng đồi núi đẹp phủ đầy thông xanh. Hàng ngàn con khỉ đủ loại đang chen chúc nhau ở tại đó. Khi Tenzin đến Dalhousie, cô thấy vẫn c̣n những ngôi nhà thờ Chính Thống giáo Anh quốc, vài trụ sở, và những căn nhà cổ kiểu Anh với trần nhà cao, hành lang rộng và vườn hoa đầy hoa hồng, hoa thược dược. Khi ta leo lên tới độ cao 7.000 bộ, Dalhousie không những cống hiến cho ta một cảm giác sảng khoái lâng lâng tuyệt đỉnh của tâm hồn, mà c̣n phơi bầy trước mắt ta một phong cảnh thần tiên diễm lệ tuyệt vời của những cánh đồng xanh mướt chân trời xứ Ấn và dăy Hy Mă Lạp Sơn hoành tráng sừng sững như một vị thần linh đầy uy quyền đang dang tay che chở toàn dân Tây Tạng. Đứng trước quang cảnh hùng vĩ đó, Tenzin cảm thấy con người thật nhỏ bé, quá yếu đuối trước thiên nhiên.

 Qua bà Bedi, Tenzin biết rằng Dalhousie là trạm dừng chân đầu tiên của 5.000 dân lưu vong Tây Tạng. Sau đó họ di chuyển xuống vùng Dharamsala, đi Nam Ấn và vài vùng định cư khác; nhưng năm 1963, khi dân số lưu vong Tây Tạng đă lớn rộng, các vị Lạt Ma cao cấp đă quyết định dựng tu viện như các tu viện lớn Sera và Drepung tại Tây Tạng, và họ cố gắng tái tạo và ǵn giữ những di tích cổ truyền hay phong tục Tây Tạng tại xứ người.  

Tenzin nhớ lại:

 - "Dalhousie là nơi tu học lư tưởng, tuyệt vời. — đó, không có xe hơi và bụi bặm dơ bẩn. Không khí trong lành, mát mẻ. Sáng và chiều, mọi người đều ra đồng làm việc, các vị Lạt Ma tụng đọc kinh điển. Ai nấy đều vui vẻ tự do, ca hát sảng khoái."

 Là một phụ nữ Tây Phương đầu tiên trong số rất ít người ngoại quốc đến Dalhousie, Tenzin được sự lưu ư đặc biệt của dân Tây Tạng cũng như các vị Lạt Ma.

 Lần đầu tiên được gọi đến chào hỏi ngài Karmapa, vị Lạt Ma cao cấp nhất của tông phái Kargyu, Tenzin thấy run sợ trước vẻ nghiêm khắc của Ngài. Ngài Karmapa được tôn sùng không kém Đức Đạt Lai lạt Ma.

 Ba tháng sau ngày Tenzin đến Dalhousie, cô được diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, "Phật Sống" của dân Tây Tạng. Tenzin mặc quốc phục của người nữ Tây Tạng để vào đảnh lễ Đức Đạt Lai Lạt Ma.

 Vừa thấy cô, Ngài nói:

 - "Ồ, trông cô giống như người ở vùng Lhasa. Thế nào, ni cô, sự tu tập của cô có tiến bộ chút nào không?"

 Câu hỏi của Đức Đạt Lai Lạt Ma làm Tenzin sửng sốt.

  - "Tôi không hiểu sao Ngài lại gọi tôi là "Ani-la" (ni cô) giống như cách của hai vị tu sĩ gặp nhau và chào hỏi nhau. Không lẽ Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy được quá khứ và tương lai của tôi?"

 Tenzin nh́n Đức Đạt Lai Lạt Ma và tự nhiên cô buột miệng nói: "Không, tôi không phải đến từ Lhasa. Tôi là Khampa, người xứ Kham." (Khampa là một sắc dân thuộc miền Đông Tây Tạng)

  - "Cô có những kế hoạch, phương án như thế nào?" Đức Đạt Lai Lạt Ma hỏi tiếp.

  - "Những chương tŕnh dự án, dù vĩ đại đến đâu, cũng đều tan thành tro bụi. Ngài biết rơ như vậy." Tenzin bướng bỉnh trả lời. Cô biết là Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ hỏi đố vậy thôi. Vạn vật đều vô thường. Cô không có một chương tŕnh dự án ǵ cả; ngoài sự nỗ lực đi t́m chân lư.

 Một tuần lễ sau, Tenzin gặp được người quan trọng nhất đời cô - người mà cô đă bỏ xứ sở để qua Ấn Độ t́m kiếm.

 

CHƯƠNG NĂM

VỊ ĐẠO SƯ 

 

Khamtrul Rinpoche là một vị Lạt Ma hóa thân đời thứ 8.

 Ngài đă đến Ấn Độ sau những ngày vượt biên giới đầy gian nan khổ sở. Một đêm, Ngài đă rời bỏ tu viện của Ngài ở Kham, miền Đông Tây Tạng, cải trang thành một người lái buôn cùng một số ít đệ tử và tùy tùng, vượt biên giới Tây Tạng để trốn khỏi sự áp bức của Cộng Sản Trung Quốc.

 Khampagar là một tu viện đồ sộ nguy nga như một ṭa lâu đài với những bức tường mầu vàng và mái nhà dát vàng thật lấp lánh chiếu dưới ánh mặt trời xứ Tây Tạng.

 Khampagar là thế giới của ngài Khamtrul Rinpoche gần suốt 30 năm. Nếu chúng ta đi ngược ḍng thời gian 450 năm trước, từ năm 1548, suốt 8 đời hóa thân trước của đức Khamtrul Rinpoche, th́ có thể nói, Khampagar là mái ấm, là hơi thở, là sự sống của Khamtrul Rinpoche.

 Khi ngài Khamtrul Rinpoche ra đời khoảng vào năm 1930, tu viện Khampagar đă là một trung tâm Phật học sầm uất và ảnh hưởng rộng lớn trên 200 tu viện lớn nhỏ khác, đă đào tạo hàng trăm ngàn tăng sĩ, và cả một ḍng truyền thừa những vị đạo sư nổi tiếng khắp Tây Tạng. Ngoài ra Khampagar c̣n là trung tâm nghệ thuật nổi tiếng Tây Tạng và vũ thuật cổ truyền của các vị Lạt Ma.

 Khi Cộng Sản Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, họ đă phá hủy biết bao chùa chiền, tu viện, và các di tích lịch sử của xứ này cùng giam cầm tra tấn hàng ngàn vị sư và dân chúng.

 Ngài Khamtrul Rinpoche bắt buộc phải rời bỏ tu viện dấu yêu và gạt nước mắt ra đi lưu vong qua Ấn Độ.

 Chuyến vượt biên của Khamtrul Rinpoche và đoàn tùy tùng thật vô cùng gian nan và nguy hiểm. Họ phải vượt qua những ḍng sông đóng băng hay những con thác khổng lồ sẵn sàng cuốn phăng người ta trôi về biển cả. Nghe nói lại là, Ngài Khamtrul Rinpoche phải chú nguyện thần linh cầu xin giúp đỡ và tung cát vào những ngọn sóng nước kinh khủng đó mới trấn áp nổi tốc độ của sóng. Và huyền dịu thay, không có một ai bị chết và chút đỉnh đồ đạc đem theo cũng không bị mất. Sau trận hăi hùng đó, đoàn người của Khamtrul Rinpoche c̣n kinh hồn bạt vía v́ chạm trán phải đoàn công-voa của lính Trung Quốc đang vận tải vũ khí trên đường. Nhưng một lần nữa, như có chư thiên hộ vệ, lại không có một ai bị bắt gặp. Sau cùng và có lẽ cũng là chướng ngại gian nan nhất là vượt qua dăy Hy Mă Lạp Sơn, dăy núi cao nhất thế giới. Khamtrul Rinpoche, với niềm tin sắt đá và nghị lực kiên cường, cuối cùng đă hướng dẫn đoàn người đến được Ấn Độ an toàn.

 Trong vài năm đầu, Khamtrul Rinpoche đi đi về về Dalhousie, quy tụ lại những tăng sĩ từ từ trốn khỏi Tây Tạng và tái lập lại tu viện theo đường lối của tu viện Khampagar ở Tây Tạng.

 Ngày 30 tháng 6 năm 1964, Khamtrul Rinpoche đến học viện "Young Lama" viếng thăm Freda Bedi.

 Trong thời gian ở Dalhousie, Tenzin Palmo tạm làm thư kư cho trường học và nhiệm vụ của cô là kiểm soát đơn từ, thư tín các nơi gửi đến. Một lần, cô thấy có một bức thơ đề tên Khamtrul Rinpoche. Cô không biết Khamtrul Rinpoche là ai, nhưng khi cô đọc tên Khamtrul Rinpoche đến lần thứ hai, th́ cô cảm thấy có một cái ǵ đó như là niềm tin dâng lên trong ḷng cô.

 Cô hỏi bà Bedi, và sau khi nghe xong câu chuyện về ngài Khamtrul, cô mong mỏi được gặp ngài:

  - "Càng nghe về Lạt Ma Khamtrul, tôi càng nao nức được gặp Ngài. Tôi cảm thấy đó là một vị đạo sư mà tôi sẽ quy y và tu học theo." Khamtrul Rinpoche đến thăm học viện của bà Bedi đúng vào ngày Tenzin Palmo được 21 tuổi, ngày 30 tháng 6 năm 1964.

 Khi được bà Bedi báo cho biết, Tenzin quưnh quáng chạy vội vào pḥng thay áo Tây Tạng và quàng mảnh vải trắng để dâng cúng Ngài Khamtrul theo nghi thức của Tây Tạng.

 Khamtrul Rinpoche ngồi trên ghế bành cao, với hai vị Lạt Ma trẻ tuổi (người ta nói hai vi Lạt Ma này là hóa thân của hai vị Bồ Tát).

 Tenzin kể lại:

 - "Tôi sợ quá nên không dám ngẩng đầu lên xem Khamtrul Rinpoche mập ốm, cao lùn thế nào. Tôi chỉ nh́n gấu áo và đôi giầy nâu của Ngài."

 Bà Bedi giới thiệu Tenzin lên ngài Khamtrul và kể sơ về mục đích cô đến đây cốt yếu chỉ t́m một vị đạo sư để dẫn dắt cô tu học. Tự nhiên Tenzin buột miệng nói lớn :"Thưa với Ngài rằng, tôi muốn xuất gia."

  - "Ồ, lẽ dĩ nhiên là được." Khamtrul Rinpoche ôn tồn trả lời.

 Ngay lúc ấy, Tenzin ngước mắt nh́n lên Khamtrul Rinpoche. Ngài là một người đàn ông cao lớn với khuôn mặt tṛn nhưng rắn rỏi và mái tóc búi cao trên đầu như Đức Phật. Ngài lớn hơn Tenzin độ hơn mươi tuổi. Khi nh́n thấy Khamtrul Rinpoche, Tenzin cảm thấy như gặp lại một h́nh bóng thân thiết đă xa cách bao nhiêu lâu nay.

 Ba tuần lễ sau, Khamtrul Rinpoche chủ tŕ buổi lễ xuất gia của Tenzin vào ngày 24 tháng 7 năm 1964.

 Tenzin gửi tấm h́nh cô cạo đầu, mặc áo nữ tu Tây Tạng cho bà Lee Perry, mẹ cô, và viết: "Mẹ xem con trông rất khoẻ mạnh và gọn ghẽ hay không? Con rất sung sướng được xuất gia."

  - "Tôi biết mẹ tôi không muốn tôi đi tu và sống xa bà ấy; nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy giải thoát nhẹ nhàng khi cạo sạch đầu, và mặc chiếc áo tu sĩ này."  

Cô được thầy cô, Khamtrul Rinpoche, ban cho pháp danh Drubgyu Tenzin Palmo (có nghĩa là "vị nữ tu sẽ làm rạng danh giáo pháp truyền thừa"). Cô là người nữ Tây Phương thứ nh́ sau Freda Bedi xuất gia theo tông phái Phật giáo Tây Tạng. Sau này, có rất nhiều phụ nữ từ các nước Âu Châu, Nam Mỹ, Úc đại Lợi, và Tân Tây Lan đă theo Tenzin Palmo xuất gia cầu đạo.

T́nh thầy tṛ giữa Khamtrul Rinpoche và Tenzin Palmo thật sâu đậm. Cô luôn luôn được sư phụ tŕu mến gọi "Tenzin, đệ tử của ta !", và cô cảm thấy được che chở bao bọc trong t́nh thương của Sư Phụ.

 Khamtrul Rinpoche là một vị đại sư không những nổi tiếng về thần lực mà c̣n về tác phong đạo hạnh. Ngài luôn luôn được mọi người sùng bái kính mến; cả những người theo đạo Hồi và Ấn Độ giáo cũng rất tôn trọng kính sợ Ngài.

 Tenzin Palmo đă từ giă quê hương, rời xa gia đ́nh, và ngay cả những đam mê ước vọng của tuổi trẻ để xuất gia t́m đạo; nhưng c̣n một vấn đề uẩn khúc trong tâm mà cô chưa hoàn toàn dứt khoát được. Đó là vấn đề t́nh cảm giữa cô và người thanh niên Nhật Bản.

 Không bao lâu sau ngày Tenzin xuất gia, cô nhận được thơ của John Blofeld, một văn sĩ người Anh nổi tiếng, mời cô viếng thăm gia đ́nh ông ta ở Thái Lan. Tenzin nghĩ đó là một đề nghị hấp dẫn. Thái Lan là một quốc gia Phật giáo; hơn nữa John Blofeld và vợ ông ta rất hiếu khách, và tiện nghi nhà ông ta ở Thái Lan th́ quả hết chê vào đâu được. Cô xin phép Khamtrul Rinpoche và được Ngài cho phép đi với lời nhắn nhủ "Con nhớ trở về sớm."

 Khi Tenzin Palmo đến Thái Lan th́ một sự t́nh cờ xảy ra quá sự tưởng tượng của cô.

 Tenzin gặp lại anh chàng si t́nh người Nhật Bản mà cô đă gặp trên chuyến tàu qua Ấn. Cô đă viết thơ nói rơ với anh ta là cô đă xuất gia và lời ước hẹn giữa họ ngày nào coi như chấm dứt - nhưng anh ta nghe các bạn cô nói lại rằng Tenzin sẽ qua Thái Lan nên anh ta t́m cách qua Thái mong Tenzin sẽ hồi tâm chuyển ư nhận lời cầu hôn của anh ta. Thực sự, Tenzin Palmo cũng do dự xiêu ḷng khi thấy sự thành khẩn của anh ta. Cô mới xuất gia và Khamtrul Rinpoche chỉ mới cho cô thọ có một giới là "Cấm Sát Sanh". Người thanh niên Nhật Bản này thật có sức hấp dẫn cuốn hút, Tenzin thấy bối rối pha lẫn thích thú mê đắm mỗi lần gặp anh ta.

  - "Chúng tôi tṛ chuyện thật tâm đầu ư hợp. Anh ta đề nghị tôi đi Hồng Kông và ở đó vài tháng chờ cho tóc mọc ra trở lại; sau đó chúng tôi sẽ làm đám cưới ở Nhật. Bố mẹ anh ta rất giàu có và tân tiến. Nếu tôi bằng kết hôn với anh ta, họ sẽ xếp đặt mọi việc chu đáo và ổn thỏa.

  "Tôi nhớ lại những ngày ở Dalhousie. Nếp sống ở đó thật cơ cực. Ngày đó, những tu viện Tây Tạng chưa được xây dựng hay tái lập lại. Những tăng sĩ đều sống trong những túp lều ngoài đồng trống hay núi. Họ không có cả ṿi nước máy, và có chỗ th́ bùn śnh ngập đến đầu gối - c̣n nhà cửa của bố mẹ anh chàng Nhật Bản th́ thật tiện nghi và sang trọng , hết chỗ nói. Đời sống sẽ đáng yêu hạnh phúc biết chừng nào bên cạnh người yêu và vật chất sung măn!"

 Tenzin bị dằng co mâu thuẫn giữa lư trí và con tim. Tiếng gọi tâm linh trong cô vẫn có một mănh lực khiến cô không thể nào quay lưng để chạy theo t́nh yêu được. Cô lo sợ, đau khổ, dằn vặt; và một đêm, trong nước mắt nghẹn ngào, cô chằp tay cầu cứu Sư Phụ hăy giúp cô sáng suốt chọn đúng cho ḿnh một hướng đi nhất định.

 Kỳ diệu thay, ngài Khamtrul Rinpoche đă nghe được tiếng kêu cầu cứu của đệ tử ḿnh.

 Tenzin thấy như có một luồng ánh sáng mầu vàng soi sáng toàn thân và giọng nói của Khamtrul Rinpoche, Sư Phụ cô, rơ ràng bên tai: "Hăy trở về Ấn Độ lập tức!"

 - "Tôi vô cùng sung sướng. Tôi đă được che chở, đă được cứu độ. Tôi chắc chắn sẽ dứt khoát được sự sa lầy vào ṿng luân hồi đau khổ."

 Sáng mai, Tenzin mua vé về Ấn Độ lập tức, và từ đó cô không bao giờ gặp lại người thanh niên Nhật Bản đó nữa.

 

 

CHƯƠNG SÁU

CÔ ĐƠN và ĐAU KHỔ 

 

Sự can đảm và ḷng trung thực thiết tha cầu đạo của Tenzin đă giúp cô vượt qua biển t́nh để tiếp tục hoàn thành tâm nguyện của ḿnh. Nhưng bây giờ mới chính là giai đoạn thử thách cay đắng nhất của Tenzin khi cô bắt đầu thực tập đời sống xuất gia tại các thiền viện Tây Tạng. Nên nhớ, Tenzin là người nữ duy nhất trong số hàng trăm tăng sĩ tại thiền viện của ngài Khamtrul Rinpoche.

Nếu người ta nói Kim Tự Tháp chỉ có ở Ai Cập, th́ sự khắc nghiệt phân biệt nam nữ phải nói là ở Tu viện Tây Tạng. Mặc dù Tenzin là đệ tử của Lạt Ma Khamtrul, nhưng Ngài không thể phá lệ để ưu đăi cô.

Trong mắt của các tăng sĩ ở tu viện, Tenzin là một phụ nữ, hơn nữa, lại là một phụ nữ Tây Phương với mắt xanh tóc nâu và ngôn ngữ khác biệt. Vai tṛ người phụ nữ Á Đông thật yếu kém và phụ thuộc - trong tự viện, người nữ tu sĩ c̣n bị đối xử khác biệt hơn nữa. Trong lúc các tăng sĩ được học giáo lư, thực tập thiền định hay học hỏi các môn pháp thuật, vũ thuật; th́ Tenzin chỉ loanh quanh lẩn quẩn bên ngoài nh́n vào. Các tăng sĩ có vẻ tử tế, nhưng luôn luôn họ cách xa Tenzin v́ họ đă được giáo huấn rằng người nữ là đầu mối của sa đọa và cạm bẫỵ

 "Tôi thật cô đơn và lạc lơng ngay giữa chốn đông người. Cái cảm giác yêu thương mọi người nhưng không được phép tới gần là một cảm giác đau đớn trong ḷng nhất.

"Bạn sống giữa loài người nhưng bạn không thuộc về một ai cả, không thuộc về một cái ǵ cả. Bạn cũng là con người như họ nhưng họ tạo cho bạn có cảm giác bạn là một loài chúng sinh nào khác họ hoàn toàn. Cô đơn và cô đơn kinh khủng. Người duy nhất tới gần tôi là Sư Phụ tôi, Khamtrul Rinpoche. Nhưng Ngài rất bận việc, và thỉnh thoảng mới tới thăm hỏi tôi. Hằng đêm, tôi khóc thầm v́ cô đơn và lạc lơng."

Tenzin bị sống cách biệt với mọi người. Cô không thuộc về Tăng đoàn mà cũng chẳng phải là cư sĩ. Cô thuê một căn pḥng nhỏ xíu chỉ kê đủ một cái giường và một cái bàn. Cô tắm ở cái ṿi nước lạnh và đại tiểu tiện trong một cái thùng gỗ. Cô tự nấu ăn lấy và sắp xếp mọi thứ, không được ai chỉ bảo. Ban ngày, cô tới văn pḥng của Khamtrul Rinpoche phụ Ngài về giấy tờ sổ sách; ban đêm cô rúc về căn pḥng trống lạnh của cô.

-"Sau này, có người hỏi tôi là có cô đơn khi ở trong động tuyết không? Tôi trả lời là không bao giờ. Nhưng chính thời gian ở tu viện mới đúng là chuỗi ngày sầu khổ và cô đơn nhất của tôi."

Nhưng, khôi hài thay, chính sự cô đơn, đau khổ, lạc lơng trong tu viện đó của Tenzin Palmo lại giúp cho cô nh́n rơ được nội tâm ḿnh một cách sâu sắc hơn.

Cô giải thích:

- "Một ngày kia, tôi ngồi thiền quán chiếu tự tâm ḿnh và tư duy về những thao thức, khắc khoải, mâu thuẫn, cũng như những ham muốn của bản ngă con người tôi. Tôi đă nh́n rơ được sợi giây ràng buộc bấu víu của khát ái đang trói gh́ lại tôi. Tôi nh́n thật rơ, thật thẩm thấu; và từ giây phút đó, tôi đă khám phá được nguyên nhân của Khát Ái và Đau Khổ."

Tenzin Palmo đă học được bài học "Ly Dục" và "Xả Ngă" (rời bỏ sự bám víu dục lạc, danh lợi và xả được cái "Ta"). Đó là nền tảng của giáo lư Phật giáo; là thềm thang bước lên quả vị giải thoát hoàn toàn. Làm sao con người có thể có ḷng từ bi đối với mọi loài chúng sanh khi chính tâm họ c̣n quan niệm, phân chia về "bạn hay thù, quen hay lạ." Xả bỏ đưọc dục lạc hay bản ngă không phải là điều dễ làm; con người luôn khát khao, bám víu, đ̣i hỏi, và thỏa măn cho bằng được những dục vọng vật chất hay xác thịt, và họ không bao giờ bằng ḷng với hiện tại. Họ cảm thấy xa lạ với quan niệm b́nh đẳng giữa người và người, giữa người và vật, hay giữa nam và nữ.

Tenzin Palmo nhận xét khá khôi hài rằng người ta thường hỏi cô là làm sao dứt trừ được sân hận; nhưng không ai hỏi cô là làm sao dứt trừ được ham muốn?

Hoàn cảnh sống của Tenzin Palmo tại Dalhousie càng ngày càng tệ hơn. Trong tất cả sự bạc đăi phân biệt mà Tenzin phải chịu đựng th́ sự việc "không được phép học giáo lư và các nghi lễ" khiến Tenzin đau khổ nhứt. Lư do duy nhất chỉ v́ Tenzin là "phái nữ". Họ cho rằng "phụ nữ không đủ tŕnh độ và tiêu chuẩn để học Phật pháp và các nghi lễ trang trọng." Khi chư tăng hành lễ trong chánh điện, Tenzin chỉ ngồi ở ngoài nh́n vào và không được phép tham dự. Khi cô tỏ ư muốn học kinh điển và các nghi thức, cô bị từ chối một cách phũ phàng và quyết liệt. Cô chỉ được Choegyal Rinpoche, đệ tử thân tín nhất của Khamtrul Rinpoche, kể cho cô nghe những mẫu truyện Phật giáo đơn giản, không chứa đựng giáo lư cao siêu ǵ. Đó là đăc ân mà họ nghĩ một phụ nữ, nhất là phụ nữ Tây Phương, nên bắt đầu học hỏi.

Nỗi chán chường buồn tủi trong Tenzin càng ngày càng lớn dần ra. Cô nói :"Tôi cảm thấy ḿnh như là một kẻ thừa thăi trong hội chúng. Nếu tôi là đàn ông, th́ chắc chắn sự việc sẽ khác hẳn ngay. Tôi sẽ có thể học hỏi và gia nhập Tăng đoàn. Thực sự, đây là thế giới trị v́ của đàn ông. Họ là những người có quyền hành nhất trong tay. Tôi như lọt vào một thế giới lạ lùng, không có chỗ đứng của ḿnh. Các vị tăng sĩ rất ḥa nhă tử tế với tôi - nhưng tôi biết trong tâm họ, người phụ nữ chỉ là một vật thừa, không giá trị; và họ cảm thấy sự có mặt của một phụ nữ trong Tăng đoàn như là một sự thách thức đố kỵ !"

Tenzin Palmo đă chạm phải bức tường ngăn cách rắn chắc nhất. Đă bao thế kỷ trôi qua, trong khi các tăng sĩ được học cao, hiểu rộng, và được sự ủng hộ tôn trọng của tín đồ; th́ người nữ tu Tây Tạng không được đọc hay viết, không được t́m hiểu học hỏi giáo lư. Họ ở trong những tu viện nhỏ bé, nghèo nàn, đơn sơ, và tụng kinh làm lễ cho một số ít các cộng đồng địa phương hay tệ hơn nữa, là phục vụ hầu hạ cơm nước cho các Tăng sĩ. Dó là lư do v́ sao không có những vị Lạt Ma nữ, không có những vị nữ đạo sư, giảng sư. Không có địa vị, cấp bực hay học thức, giới nữ tu Tây Tạng chẳng có một thế đứng hiện hữu trong xă hội, trong Tăng đoàn.

Không riêng ǵ ở Tây Tạng mà giới nữ tu ở Thái Lan hay ở các nước Á Đông khác cũng không tốt đẹp ǵ hơn. Ở Thái Lan, vị trí các nữ tu sĩ rất thấp kém - thậm chí họ không được quyền chạm tay đến các chiếu trải tọa cụ của các vị Tăng. (Các ni cô nào lỡ có bộ ngực quá khổ th́ phải bó cho thật sát, thật chặt, để không một ai để ư đến bộ phận nữ của ḿnh).

Căn nguyên của vấn đề "trọng Tăng khinh Ni" này bắt nguồn từ thời Đức Phật c̣n tại thế (hay c̣n trước đó nữa); khi người nữ không có được một quyền lợi hay vị thế nào trong gia đ́nh và ngoài xă hội.

Trong một môi trường xă hội quá phân biệt về giới tính và giai cấp như vậy, ngay chính Đức Phật cũng đă từ chối không muốn cho người nữ gia nhập vào Tăng đoàn, bởi v́, có thể Đức Phật nghĩ rằng "đời sống một du tăng rày đây, mai đó không thích hợp và nguy hiểm đối với phái nữ"; và c̣n nhiều chướng ngại nữa như : thân nữ có nhiều nghiệp chướng không thể đắc đạo được, hay thành Ma Vương cũng không xong. Ngay như ngài Xá Lợi Phất, đại đệ tử của Phật, khi nghe Long Nữ 8 tuổi đắc quả vị giải thoát, đă thốt lên rằng :"Chuyện đó khó tin, quả thực khó tin, v́ thân nữ nhiều nghiệp chướng, không thể thành Phật được !" (Kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ 12).

 

 

CHƯƠNG BẢY

LAHOUL 

 

Đường về Bảo Sở (Phật tánh, Chơn Như) thật khó khăn, nhiều thử thách. Nó đ̣i hỏi người hành giả phải có sự quyết tâm và can đảm để đương đầu với mọi gian nan nguy hiểm.

 Con đường dẫn về Lahoul cũng vậy; thật cheo leo hiểm nghèo và gập ghềnh khó đi. Dăy Hy Mă Lạp Sơn hoang vu cách biệt hẳn thế giới loài người bởi hàng rào dày đặc tuyết và đá. Suốt cả 8 tháng trời trong năm, rặng Trường Sơn này luôn luôn bị tuyết đá bao phủ. Nh́n đâu đâu cũng thấy một mầu trắng xóa đến rợn người.

Thời gian mùa hè ở Hy Mă Lạp Sơn rất ngắn. Hơn nữa, con đường dẫn tới vùng đất bí mật này lại c̣n được bảo vệ bởi đường đèo rùng rợn Rhotang Pass. V́ thế, ở độ cao 3.978 mét, vùng đất này đă được mệnh danh là "Cánh Đồng Xác Chết". H́nh như đường lên Lahoul đă được các thần linh xếp đặt thật hiểm trở khó khăn để thử thách tâm người cầu đạo.

 Ngày đó, người ta chưa khai quang con đường và rất ít, rất ít người biết đến Lahoul : không có xe và chẳng có một phương tiện ǵ để leo lên tới Lahoul ngoài đi bộ; chứ không phải như ngày nay, du khách đă biết nhiều đến Tây Tạng và Lahoul cũng đă trở thanh một địa điểm du lịch hấp dẫn. V́ vậy, Tenzin phải tính toán thật kỹ nếu cô muốn leo lên Lahoul.

 Cô bắt đầu khởi hành trước b́nh minh. Cô phải làm sao vượt qua đèo Rhotang Pass trước buổi trưa, bởi v́ độ nửa ngày th́ những cơn cuồng phong sẽ bất thần bốc lên dữ dội thổi tung tuyết và đá khiến người ta mất phương hướng và bị lạc đường. Bị lạc đường ở đèo Rhotang Pass th́ chỉ có nước giáp mặt Tử Thần mà thôi ! Do đó, các cơ quan hữu trách bắt buộc Tenzin phải viết đơn cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về an ninh bản thân trước khi cô khởi hành. Tenzin rất vui vẻ làm theo ư họ.

 Tenzin cắm cúi leo, leo măi; bỏ lại sau lưng những cánh đồng xanh bát ngát, những vườn hoa hồng, hoa cúc tươi thắm, và khói bếp nồng ấm tỏa ra từ những căn nhà vang rộn tiếng cười trẻ thơ. Cô trực chỉ đèo Rhotang Pass, leo vượt qua rặng cây dày đặc; đất dưới chân càng lúc càng gồ ghề, lồi lơm, khó đi; chung quanh vắng ngắt không có một bóng người qua lại. Thỉnh thoảng, đó đây, Tenzin chỉ thấy thấp thoáng một vài con trâu "yak", vài chú ngựa hoang, và một con kên kên khổng lồ đậu trên mỏm đá. — độ cao này, những dốc núi phủ đầy tuyết trông thật hung hăn, gớm ghiếc như một tử thù sẵn sàng xô ngă bất cứ kẻ nào xâm phạm đến nó. Gió hú lên từng cơn, đem theo cơn lạnh giết người; dù thời tiết đang ở vào đỉnh cao mùa hè, gió vẫn lồng lộng buốt giá. Đường đi trơn trợt v́ có chỗ tuyết tan chảy dọc theo sườn núi; có chỗ th́ đóng băng cứng ngắc. Tenzin vẫn cắm cúi leo từng bước một, từng bước một. Cuối cùng cô đă leo tới đỉnh núi; và như để trọng thưởng sự kiên nhẫn và can đảm của cô, một quang cảnh hùng vĩ tráng lệ trăi dài ra trước mắt Tenzin.

 - "Thật tuyệt vời. Trước mắt tôi là một vùng đất bằng phẳng rộng độ khoảng một dặm, bao bọc chung quanh là những ngọn núi tuyết trằng xóa nổi bật trên nền trời xanh thẳm. Thiên nhiên thật quá ưu đăi con người. Cảnh trời cao núi biếc làm tâm hồn người ta thanh tịnh, lâng lâng một niềm thoát tục.  

 "Tôi gặp một vị Lạt Ma trên đỉnh núi. Vị ấy đeo một cái trống cơm nhỏ và một khúc xương người.Vị Lạt Ma cho tôi biết khúc xương ấy là biểu tượng để quán tưởng về cái chết của vị ấy. Chúng tôi trèo qua rặng đèo và để người trượt xuống theo sườn núi qua phía bên kia."

 Khi Tenzin chạm tới chân núi th́ cô lại như lọt vào một thế giới khác.

  - " ... đây giống như ở Shangri-la. Từ văn hóa tập tục Ấn Độ, tôi bước vào thế giới văn hóa phong tục người Tây Tạng. Những mái nhà ở đây th́ bằng phẳng; rải rác dọc theo các sườn núi là những tu viện Phật giáo, những bánh xe cầu nguyện, và những bảo tháp.

 Người Tây Tạng ở vùng Lahoul này sống lam lũ hơn, nhưng họ có vẻ rắn chắc và thoải mái hơn các cư dân vùng khác v́ họ sống gần với đất trời, rừng núi, cỏ cây. Người Tây Tạng hao hao giống như người Trung Hoa, nhưng đôi g̣ má họ cao hơn, và đôi mắt thuôn đẹp như trái hạnh đào."

 Từ nhiều thế kỷ trước, khi đạo quân Hồi giáo tràn sang xâm chiếm Tây Tạng và Ấn, và tàn phá hủy diệt hàng ngàn ngôi chùa, tự viện, người dân Tây Tạng đă phải bồng bế nhau chạy đến vùng Lahoul này để lánh nạn; Phật giáo cũng đă theo gót chân người Tây Tạng đến mảnh đất hoang vu xa xôi hẻo lánh này và bắt đầu nẩy mầm mọc rễ tại đây do sự nỗ lực tinh cần của các vị đạo sư sau này sống ẩn dật tại các hang động trong núi tuyết. Năm tháng trôi qua, người ta thêu dệt nhiều huyền thoại về các vị Lạt Ma ẩn sĩ đó và quyền năng của họ; v́ thế, quang cảnh ở Lahoul cũng bao phủ một màu huyễn hoặc.  

Năm 1970, khi Tenzin đến Lahoul, th́ dân chúng ở Lahoul vẫn c̣n kém, chưa hiểu biết ǵ nhiều về thế giới bên ngoài. Đời sống họ mộc mạc giản dị, ngày ngày ra đồng trồng khoai trồng lúa, hay chăn nuôi súc vật. Nếp sống đơn thuần đó ảnh hưởng đến tính t́nh bản chất con người nên người dân Tây Tạng rất hiền ḥa chất phác và niềm tin Phật giáo của họ rất thuần khiết dung dị. Những sáng kiến phát minh khoa học kỹ thuật của thế kỷ 20 này như điện lực, máy truyền h́nh, truyền thanh, xe hơi, v.v... chưa xâm nhập vào Lahoul, cũng như những bộ mặt da trắng của người Tây Phương vẫn c̣n xa lạ với dân Tây Tạng vùng đất Lahoul này.

 Sự có mặt của Tenzin Palmo, với chiếc áo nữ tu Tây Tạng mầu đỏ xậm, đă làm cho dân Lahoul xôn xao và hiếu kỳ. Người đàn bà đó là ai vậy? Làm sao mà một phụ nữ Tây Phương lại dám bỏ hết vật chất để đi tu vậy? Có phải cô ta tu thiệt không đó, hay là gián điệp ǵ đây? Cô ta muốn ǵ ở người Tây Tạng chúng ta? v.v.. và v.v... Nhưng Tenzin đă chinh phục được cảm t́nh của dân Lahoul và đè bẹp được làn sóng dư luận xầm x́ nghi kỵ đó bằng chính sự nhiệt tâm, cởi mở, và chân thành của cô. Cô được họ đặt cho tên gọi là "Saab Chomo" (Ni cô Tây Phương), và sau này khi Tenzin ẩn cư trong động tuyết, th́ họ đă kính trọng cô như một vị Thánh.

 Lúc đó, Tenzin muốn tới Tayul Gompa, có nghĩa là "vùng đất chọn". Đó là một toà nhà cổ nguy nga độ 300 năm, tọa lạc giữa rừng cây cách thủ đô Keylong độ vài dặm. — đó, có một thư viện lư tưởng, những bộ sưu tập tranh lụa tôn giáo và một bức tượng rất lớn của ngài Padmasambhava, vị Thánh Đạo Sư đầu tiên truyền bá đạo Phật từ Ấn vào Tây Tạng. Người dân Tây Tạng tôn sùng ngài như là một vị Phật.

 Bây giờ Tenzin đă có thể sống yên ổn thoải mái ở Lahoul rồi. Mấy năm qua, cô trôi dạt từ pḥng thuê này đến nhà trọ khác; giờ đây cô đă có một căn nhà nhỏ xây bằng đá và bùn cho riêng cô đằng sau ngôi chùa, nơi mà các vị tăng sĩ hay các ni cô thường ở riêng biệt.

 Tenzin sống vui vẻ, thân mật, ḥa đồng với tất cả mọi người. Ai ai cũng qúi mến cô cả. Tenzin thân nhất với Tshering Dorje, người mà cô thường thân mật gọi là "Anh trai người Lahoul của tôi".

 

CHƯƠNG TÁM
ĐỘNG TUYẾT SƠN 

 

Tenzin Palmo và nhóm bạn đồng hành bắt đầu trèo lên ngọn núi sau tu viện Tayul Gompa, hướng tới hang động trong dăy Tuyết Sơn.

 Họ bám vào đá, rướn người leo lên từng bước, từng bước một; họ leo cao, cao măi, bỏ lại sau lưng thế giới loài người. Họ kiên tŕ cẩn thận leo lên cao, cao hơn nữa. Hơi thở họ đă khó nhọc, nặng nề; buồng phổi họ như bị sức ép không khí trên độ cao hơn 1000 bộ này ở rặng núi tuyết nén chặt lại muốn vỡ tung. Cuộc leo núi này thực sự không phải tṛ đùa hay một tṛ chơi mạo hiểm. Những người bị yếu tim hay người có máu xây xẩm không thể lên tới độ cao này được. Đường dốc núi thật cheo leo, nguy hiểm đến rợn người. Các tảng đá lớn nhỏ chất chồng lên nhau, có ḥn th́ sần sùi lởm chởm, có ḥn th́ sắc bén cứa đứt cả tay, có ḥn th́ chênh vênh nhô tận ra ngoài, chỉ cần sơ ư một chút hay sẩy nhẹ chân cũng đủ toi mạng.

 Tuy nhiên, không dễ bị khuất phục, đoàn người Tenzin Palmo vẫn bám chặt leo lên từng bước. Sau hai giờ leo núi vất vả, họ bất thần nh́n thấy động núi.

 Hang động này nằm tọt trong hốc núi, và như là có bàn tay "ngụy trang" khéo đến nỗi họ súyt không nhận ra được. Động tuyết này không giống như các ṿm cửa hang động trong các cuốn phim tưởng tượng của Hollywood. Nó cũng không có lỗ sâu đen ng̣m, bụi bặm, dơ dáy như các hang động của các người thời cổ đại. Động tuyết này chỉ là một vách đá nhô ra lơ lửng trên sườn núi, và 3 phía đều toang hoác. Trần động thấp chủm nên người ta không thể nào đứng thẳng người lên được nếu chui vào bên trong. Mái động là một vách đá lởm chởm nhô ra ngoài, lưng động nghiêng nghiêng cheo leo theo sườn núi, và bên ngoài dưới gờ vách đá là một dốc nhọn h́nh chữ V chạy dài xuống thung lũng Lahouli. Suy cho cùng, đây là một nơi trú ẩn mong manh, không kiên cố và có thể dễ bị sụp bất ngờ. Nó chỉ là một lỗ hổng nhỏ tụt vào trong hốc núi, rộng độ 10 bộ bề ngang và 6 bộ chiều sâu; trông nó giống như một cái tủ áo vậy. Có thể nói, động tuyết này như một cái ḷ giam cô đơn.

 Tenzin Palmo đứng sát mép vực và quan sát quang cảnh chung quanh. Cảnh trí thật thanh tịnh, hùng vĩ, và cô liêu. Trước mặt cô, theo h́nh ṿng cung 180 độ là dăy Hy Mă Lạp Sơn phủ tuyết trắng xóa, bao la đến nỗi Tenzin có cảm tưởng như mặt chạm mặt với núi vậy. Nh́n đâu cũng thấy núi và núi, tuyết và tuyết. Bây giờ là mùa hè nên chỉ có đỉnh núi phủ tuyết; nhưng vào 8 tháng mùa đông th́ tuyết đổ xuống dầy đặc tạo thành một bức thành tŕ trắng toát khổng lồ nổi bật trên nền trời xanh lơ, không gợn một chút mây. Ánh sáng mặt trời chiếu xuống núi trong suốt như pha lê, chan ḥa trên mọi vật khiến cảnh sắc thêm lung linh tươi đẹp. Không khí th́ dễ chịu, trong lành. Sự yên tĩnh ở đây thật sâu lắng. Người ta chỉ nghe tiếng róc rách nhè nhẹ của ḍng sông Bhaga ở dưới thung lũng, tiếng gió ŕ rào, và lâu lâu vài cánh chim vỗ bay phá tan bầu tĩnh mịch chốn núi đồi. Bên tay phải của Tenzin là một cánh rừng nhỏ có thể cung cấp nhiên liệu. Bên trái của cô, độ một phần tư dặm là một con suối nhỏ chảy ngang qua các khe đá giúp cho cô có được nước uống thiên nhiên trong mát, sạch sẽ; và đằng sau cô là một ngọn núi cao nhọn như tháp canh bảo vệ cho cô.

 Với tất cả cảnh trí thiên nhiên tuyệt vời chung quanh, và sự tuyệt đối yên tĩnh cô đơn, động tuyết sơn này sẽ tạo cho Tenzin một cảm giác thanh b́nh êm ả vô cùng lư tưởng, và những ngọn núi hùng vĩ hoành tráng của dăy Hy Mă Lạp Sơn, như một bà mẹ hiền, dang rộng đôi tay che chở bảo vệ Tenzin.  

Cô đang đứng ở độ cao 13,000 bộ trên mực nước biển - một độ cao chóng mặt rợn người. Tung độ này thấp hơn đỉnh núi Mount Whiney và Mont Blanc không bao nhiêu. Nếu so sánh động tuyết này với ngọn núi cao nhất nước Anh Ben Nevis cao 4,402 bộ, th́ Ben Nevis thấp lè tè như chú bé con và anh chàng khổng lồ.

 Ở đây, cheo leo một ḿnh như cánh chim đại bàng cô đơn trên đầu vũ trụ, Tenzin sẽ nhập thất yên ổn không bị quấy rầy phiền nhiễu bởi tiếng động trần gian. Cô sẽ được tận hưởng sự yên tĩnh tuyệt đối mà cô cần có. Sự yên tĩnh của ngoại cảnh quan trọng và cũng rất cần thiết cho sự tu tập của vị hành giả trong công cuộc khám phá tâm linh. Trong cảnh giới hoàn toàn yên lặng, tiếng nói Tuyệt Đối Vô Cùng sẽ được tiếp nhận một cách trọn vẹn.

 Ngoài ra, c̣n có một vài sự trùng hợp ngẫu nhiên thật lư thú. Trên đỉnh núi đối diện hang động Tuyết Sơn là một phiến đá đen thật ngộ nghĩnh mà dân địa phương đặt tên là "Tượng Nữ Thần Keylong". Dù ngay giữa mùa đông, phiến đá này cũng không bao giờ bị phủ tuyết cả. H́nh tượng nó đó đen ś nổi bật trên nền tuyết trắng của đỉnh núi. Càng nh́n gần, người ta càng thấy rơ h́nh thù đặc trưng của phiến đá đen đó. Rơ ràng đó là h́nh dáng của một phụ nữ bồng con sát vào ngực và tay kia của nàng đang cho chim ăn. Theo mắt người phương Tây, h́nh tượng đó rất giống tượng Mẹ Madoona đang bồng con, và người dân Lahoul th́ tin tưởng đó là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

 Cách phiến đá đen đó xa xa, lại có một bức tượng đá mầu vàng và xanh nhạt của một nữ thần khác. Vài thế kỷ trước, h́nh như người ta cũng đă thấy một bức tượng đá giống như vậy ở thung lũng bên kia đồi, nên dân Lahoul càng truyền miệng kháo nhau rằng"Tượng Nữ Thần" đă di chuyển từ bên này đồi lên đỉnh núi tuyết", và dọc xuống sườn núi, không cách xa động tuyết bao nhiêu là một lỗ hổng lớn tụt hẳn vào trong vách núi. Có người nói lại rằng "xưa kia, đó là nơi cư ngụ của nữ thần Phật giáo Tây Tạng Palden Lhamo. Vị Nữ Thần này bảo vệ toàn dân Tây Tạng. Ngài cỡi trên lưng một con la (loại thú giống như lừa). Vài năm sau, khi Tenzin lên động tuyết cư trú, chính mắt cô nh́n thấy những dấu chân la ấn lơm trên tuyết chung quanh lỗ hổng này. Lạ lùng nhất là cô không tài nào t́m thấy một dấu chân nào khác dẫn lên lối này.

 Tất cả những ǵ Tenzin đang nh́n trước mắt đây thật viên măn hoàn hảo. Cô nghĩ rằng: "— động Tuyết Sơn, cô có thể dành hết th́ giờ và năng lực cho sự tham thiền nhập định thật miên mật; để từ đó, cô có thể vén bức màn bí mật của thế giới tâm linh - đó là một thế giới đầy kỳ hoa dị thảo; một thế giới bao la, vô cùng vô tận, mà mọi người tu đều muốn khám phá; một thế giới không có sự "bắt đầu" (vô thỉ) cũng không có sự "kết thúc" (vô chung). Thật đúng như câu:

 "Càn khôn tận thị mao đầu thượng
         Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung."

tạm dịch:

 "Vũ trụ nằm trên đầu lông xíu
         Thế giới lọt trong hạt cải ṃng."

 Tenzin quá hài ḷng và quyết định sẽ cư trú tại hang động này; nhưng các vị đồng tu phạm hạnh khác lại thấy bức rức, áy náy cho cô.

  - "Cái động này cao quá! Không ai có thể để một phụ nữ sống một ḿnh ở đây như vậy. Cô sẽ chết cóng ở độ cao này!"

  - "Ồ, qúi vị không biết chứ, hang động luôn luôn ấm áp hơn nhà. Các hang động như điều ḥa được thời tiết. Khi tôi ở Tayul, tôi đă rét cóng trong căn nhà vào mùa đông; nhưng ở động này th́ ấm áp vô cùng."

  - "Nhưng mà vẫn c̣n nhiều thứ bất tiện và nguy hiểm. Cô ở đây th́ cứ như con vịt già bị trói chờ bọn cướp đến bẻ cổ và cướp sạch."

 

 

CHƯƠNG CHÍN
ĐỐI DIỆN TỬ THẦN 

 

Cuộc sống của Tenzin tại hang động Tuyết Sơn không quá thơ mộng và lư tưởng như cô đă kể cho chúng ta nghe, mà những bịnh tật, thiên tai, đói khát đă thay phiên nhau tấn công cô một cách khắc nghiệt vô cùng. Tenzin đă đối phó chịu đựng những hiểm nghèo tật bịnh đó chỉ một ḿnh và một ḿnh lẻ loi; không có bác sĩ, không có bạn bè, không có thân nhân, không có điện thọai hay cũng chẳng có một cơ sở y tế cứu giúp nào.  

 - "Khi bạn nhập thất, bạn phải phát nguyện sẽ ở trong thất bao lâu và bạn phải giữ đúng lời nguyện đó. Ngay cả khi bạn mắc phải bịnh nan y, bạn cũng không được ra khỏi thất - Nếu chết, bạn chết trong thất."  

Ngạn ngữ Tây Tạng có câu "Nếu phải bịnh, th́ bạn đă bịnh - Nếu phải chết, th́ bạn phải chết." Vậy th́ bạn đừng thắc mắc ǵ cả, chỉ an nhiên chờ đợi mọi sự việc đến."  

Thật lạ lùng, Tenzin không hề bị bịnh nặng kinh khủng như ngày cô c̣n bé; tuy nhiên cô vẫn thường đau ốm luôn. Trong động, cô thường bị sốt rét hay đau nhức ḿnh mẩy thấu xương. Có lần, cô khám phá thấy có một cục bướu nhỏ dưới cánh tay, nhưng cô phớt lờ đi, không quan tâm tới; và khi cô hết hạn nhập thất ở động Tuyết Sơn, cô chợt nhớ tới cục bướu đó và rờ cánh tay th́ nó đă biến đi tự lúc nào không hay nữa.

  - "Trong thời gian tôi nhập thất, có lần tôi bị bịnh đau mắt; v́ không có thuốc mắt tôi đă sưng húp lên thật to và đau đớn đến nỗi tôi không thể nháy mắt được. Tôi cũng không chịu được ánh sáng chói vào mắt nên tôi sống trong bóng tối hoàn toàn. Tôi không thể nhóm bếp được v́ hơi nóng và ánh sáng chói vào mắt khiến tôi đau đớn kinh khủng, v́ thế tôi nhịn ăn luôn.

  - "Tôi không thể làm ǵ cả. Tôi cũng không tập trung ngồi.

 - "Tôi không thể làm ǵ cả. Tôi cũng không tập trung ngồi thiền được v́ mắt tôi cứ sụp xuống, không dở lên được. Cuối cùng tôi chỉ ngồi yên, chờ đợi, và quán sát từng cơn đau hoành hành cơ thể tôi. Tôi chỉ ngồi yên, dù muốn nằm xuống một chút cũng không được, v́ hễ nằm xuống là mắt tôi nhức buốt kinh khủng, đau nhói lên tận màng óc. Đo đó, tôi chỉ ngồi yên chịu đựng. Càng quan sát cơn đau, tôi lại càng thấy kỳ diệu. Từng cơn đau trỗi dậy như từng nốt nhạc của cung đàn, nhịp trống của một bản nhạc tấu. Giai điệu âm tiết khác nhau của bản nhạc "Khổ Đau" chập chùng nhảy múa trong mắt tôi.

 "Khi tôi bắt đầu tính nhẩm lại thời gian cơn đau mắt nầy th́ nó đă hành hạ tôi đúng 49 ngày. Thật thú vị v́ 49 ngày là giai đọan của trung ấm thân (Bardo) - giai đoạn tiếp nối giữa Cái Chết và Sự Tái Sanh của một kiếp chúng sinh - Cơn đau mắt của tôi cũng giống giống như vậy."

 "Qua sự quán chiếu tư duy, tôi cảm nhận được một điều là sự đau đớn có mặt trong chúng ta, hành hạ chúng ta, bởi v́ chúng ta khăng khăng chống trả lại nó."  

 "Sự phản ứng đó tạo thành một luồng đối kháng mănh liệt công kích toàn bộ con người và đưa đến khổ đau phiền năo triền miên.

  "Điều quan trọng là chúng ta nên tập làm bạn với khổ đau, sánh vai với nó, dạo chơi với nó, nhẫn nhục uyển chuyển theo nó. Lúc đó, sự dày ṿ và đau đớn của bịnh tật sẽ thuyên giảm, bớt công kích chúng ta. Làm sao chúng ta có thể day tay, mắm miệng đánh trả lại "bịnh tật" (một sự cố đương nhiên phải xảy đến cho một kiếp chúng sinh?). V́ thế, tốt hơn hết là chúng ta nằm dài trườn ḿnh ra như loài rắn, uyển chuyển ḅ nhịp nhàng theo nghiệp quả và t́m cách chuyển hóa nghiệp lực theo chiều hướng tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể làm được."

 Tenzin cũng đă suưt bị chết đói trong động. Có một lần Tenzin nhập thất hoàn toàn trong động và chỉ nhờ vào Tshering Dorje cung cấp thực phẩm lên động cho cô; nhưng Tshering Dorje đă quên hay v́ lư do nào đó, không mang thực phẩm lên cho Tenzin được. Cô đợi và đợi măi, thức ăn dự trữ trong động cạn dần, cạn dần. Cô đă nhịn đói và duy tŕ sự sống qua tư duy thiền định. Đến khi Tshering Dorje mang thực phẩm lên, Tenzin sắp tàn hơi kiệt sức v́ thời gian nhịn ăn quá lâu. Tuy nhiên, cô cũng không hỏi v́ sao Tshering Dorje chậm trễ giúp cô; cô nghĩ là ông ta có những lư do cá nhân của ông.  

Một thảm kịch gây ấn tượng mạnh nhất xảy ra cho Tenzin khi cô ở trong động khiến cô nhớ măi không quên. Đó là vào tháng 3 năm 1979 khi Tenzin đang tọa thiền như thường lệ trong hộp gỗ. Bỗng đâu bên ngoài, một trận băo tuyết dữ dội nổi lên, và kéo dài suốt 7 ngày 7 đêm. Âm thanh của gió lốc và băo tuyết xoáy rít trong không trung như tiếng gầm thét của loài mănh thú khi tử chiến. Tenzin đă quen với những cơn lốc tuyết, nhưng thực sự trận băo tuyết này vô cùng kinh khủng và dữ dội. Tuyết đổ xuống như thác, chất chồng lên cao, cao măi, cao qua khỏi cửa cái, qua khỏi cửa sổ căn động và phủ lấp luôn. Tenzin chợt rùng ḿnh hăi sợ.

 "Cô đang bị CHÔN SỐNG DƯỚI TUYẾT".

 Cảm giác kinh hoàng đó vẫn c̣n đậm nét trong kư ức cô khi cô kể lại.

 - "Th́nh ĺnh tất cả bị đắm ch́m trong tối đen và lạnh giá. Tôi không thể nhóm ḷ được v́ ống thông hơi đă bị tuyết dập nát trên ṿm động. Không có cách ǵ để nấu ăn hay sưởi ấm ǵ cả. Tôi cũng không dám thắp đèn cầy v́ sợ thiếu dưỡng khí. Khi tôi nh́n ra phía cửa sổ, tôi chẳng thấy ǵ ngoài một tấm màn trắng toát đến rùng rợn của tuyết. Khi tôi cố gắng đẩy cửa cái ra th́ một mầu tối đen như mực phủ kín tất cả.

 "Không hy vọng ǵ được cứu hay có một lỗ thủng thông hơi để tôi thở được một chút, trong hang động lạnh giá tối om như cái huyệt này, tôi biết là tôi đang đối diện với cái chết đang từ từ nuốt lấy tôi.

 "Tôi nhớ lời dạy của Đức Phật "Cái chết chắc chắn sẽ đến với chúng ta, nhưng thời gian đợi chờ cái Chết mới vô tận."

  "Tôi đă quán tưởng về đề mục Cái Chết từ lâu, tôi quán tưởng khi xác thân tứ đại này tan ră đi trong ḷng đất hay thiêu rụi đi trong hỏa ḷ; tôi sẽ không c̣n ǵ sót lại trên cơi đời này, ngay cả cái tên gọi "Tenzin" rồi cũng quên lăng đi; những người thân, bè bạn bỏ lại sau lưng.

 "Đến từ HƯ KHÔNG và trở về HƯ KHÔNG", nhưng đó chỉ là quán tưởng; c̣n lúc đó thực sự tôi chạm mặt với Tử Thần đang từ từ tiến tới.

  "Là một hành giả tu tập Mật tông, tôi biết đó là giai đoạn quan trọng nhất trong quá tŕnh tu tập của một hành giả.

 Qua những tầng lớp tư duy về diễn tiến của quá tŕnh Cái Chết, nếu tôi đầy đủ công phu, tôi sẽ chứng đạt đưọc cảnh giới tối thượng, vượt qua sống chết. Do đó, đối với một đạo sư, cái chết không có ǵ đáng sợ cả mà chính nó là một cơ hội hiếm có, một cơ hội bằng vàng để giúp họ giải thoát.

  "Tôi không lo sợ. Tôi có nhiều thời gian để suy tư về Cái Chết đang thực sự giáp mặt tôi. Tôi nghĩ "Nếu tôi chết, tôi sẽ chết". Từ bé, tôi đă nhận thức được thân xác tứ đại này của con người thật tạm bợ, vô thường rồi, và con người cứ tái sanh đi, tái sanh lại bao nhiêu kiếp trong ṿng tṛn Luân Hồi vô tận.

  "Tôi đă có trong tay "Những Viên Thuốc Cứu Độ Giải Thoát" sẵn sàng khi nào và nếu cái chết xảy đến cho tôi. (Những viên thuốc Giải Thoát này là đặc chế của ngành Y Dược Tây Tạng. Được bào chế bằng nhiều nguyên liệu đặc biệt, cỏ thuốc, đất thiêng và những bộ phận của các hài cốt, những viên thuốc này càng được tăng thêm hiệu lực và nhiệm mầu do sự nguyện cầu nhiều tháng của các tăng sĩ và huyền lực của các mạn đà la. Khi cái chết xảy ra cho một người nào, với sự trợ giúp của các viên thần dược này, người sắp chết sẽ dễ dàng chuyển hóa ḍng ư thức đến cảnh giới an lạc cao hơn).

 "Tôi hồi tưởng lại quá khứ và suy nghĩ xem tôi dă làm những ǵ, tốt hay xấu. Tôi nghĩ là tôi vô cùng may mắn. Tôi đă gặp nhiều vị Lạt Ma và đă tiếp nhận nhiều đặc ân giáo dưỡng. Thật vô cùng hạnh phúc được xuất gia thành ni cô !"

 "Tôi rất ngưỡng mộ và tin tưởng Sư Phụ tôi, ngài Khamtrul Rinpoche. Tôi luôn luôn cầu nguyện sẽ được ngài lo cho phần trung ấm thân (Bardo) và kiếp sau của tôi. Tôi biết chắc chắn Ngài là nơi nương tựa duy nhất của tôi."

 Tenzin cũng quán chiếu về thế giới Tịnh Độ, nơi Đức Phật Di Đà là tọa chủ. Cô nói: "Nếu chúng sanh nào văng sanh được về thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà th́ sẽ được vô lượng lợi lạc, v́ đó là cảnh giới An Lạc Tối Thượng của Niết Bàn."

  "Mặc dù vậy, chúng sanh cũng không nên chấp trước về bất cứ một cảnh giới nào, v́ c̣n chấp trước là c̣n tham cầu, c̣n tham cầu là c̣n rơi rớt vào ṿng sanh tử luân hồi vô tận. Các vị Lạt Ma cao cấp đă văng sanh về thế giới Cực Lạc đó, nhưng các ngài lại phát nguyện trở về thế giới Sa Bà này để cứu độ chúng sanh. Hơn nữa, cũng rất cần thiết là chúng ta nên phát nguyện trở về thế giới này và ngụp lặn trong khổ đau để thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh, bởi v́ chỉ khi nào chúng ta hiểu được th́ chúng ta mới thương; và khi t́nh thương phát khởi th́ chúng ta sẽ dễ dàng xả bỏ được Ngă Chấp và Tham Ái được. Chư Phật, và chư Bồ Tát đă hóa hiện thân khắp nơi, ngay cả địa ngục để cứu chúng sinh thoát khỏi khổ đau. Đó chính là đại nguyện của chư Phật và Bồ Tát vậy."

 

 

CHƯƠNG MƯỜI
CÁC VỊ ĐẠO SƯ DU GIÀ 

 

Quang cảnh bên ngoài động Tuyết Sơn th́ vô cùng tráng lệ và hùng vĩ, nhưng c̣n thế giới nội tâm của Tenzin th́ ra sao? Cô đă chứng nghiệm được ǵ trong quăng thời gian dài 12 năm sống ẩn cư trong động núi? Cuộc hành tŕnh đi về nội tâm của cô thế nào, có kết quả ǵ không? Cô đă thấy những ǵ xuyên qua quá tŕnh thiền định công phu? Cô có được thấm nhuần ân sủng hay cô có nghe thấy những tiếng gọi thiêng liêng không? Cô có kinh nghiệm được những đợt sóng chuyển hoá tâm thức không?

 Những ǵ chúng ta thắc mắc cũng là ưu tư khắc khoải của Tenzin khiến cô đă phát đại hùng tâm ẩn cư đơn độc trên động núi cách xa loài người hơn 12,000 bộ cao.

 Theo huyền thoại của các thiền sư ẩn sĩ, đó cũng là một nan đề, một công án cần phải giải đáp. Tít tận trên hang động giá băng hoang sơ, vị Đại hiền giả đạo sư du già Milarepa, người sáng lập ra tông phái ẩn sĩ Karmapa, sau nhiều năm khổ hạnh, đă chứng đạt tới một cảnh giới huy hoàng kỳ lạ. Những bức vách và nền căn động nơi Milarepa ở đều chảy tan ra nước bởi những dấu ấn tay chân của ngài và chỗ ngồi tham thiền của ngài th́ lơm sâu vào trong đá. Trong thời gian Milarepa tham thiền nhập định, các vị nữ thần đă xuất hiện và cung cấp thức ăn cho Milarepa đỡ đói. Nhưng dù thân h́nh của Milarepa chỉ c̣n xương bọc da và đă đổi màu biến thành xanh rêu v́ Ngài chỉ ăn có một loại lá cây ban (cây dại mọc trên núi), Milarepa vẫn an nhiên tham thiền nhập định, không hề biến động v́ ngoại cảnh. Trong khi thiền quán, Milarepa có thể tùy ư biến hoá ra bất cứ h́nh dạng nào, hay phiêu du tự tại trong vũ trụ càn khôn không hề bị trở ngại. Khi ngài xả thiền, th́ có khi Milarepa đă dùng khinh công để vượt qua những dăy núi đồi đám dân làng đang cày bừa ở các thung lũng phía dưới chân núi.  

Liệu cô gái Tenzin Palmo, con người bán cá ở Bethnal Green, có chứng đạt được như Milarepa không?

 Không một ai biết chắc chắn được Tenzin Palmo đă chứng nghiệm được ǵ trong những năm tháng dài ẩn cư cô tịch, nhẫn nhục chịu đựng giá rét, đói khát, và bóng tối hoang vu. Tenzin đă thấm nhuần tư tưởng thanh cao của các vị Togdens, những vị đạo sư du già; họ không bao giờ bộc lộ hay khoe khoang thành tích chứng quả của họ.  

Xả bỏ được Ngă Chấp và Kiêu Mạn chính là một trong nhiều đức tính của các vị đạo sư chân chính, phạm hạnh. Hơn nữa, mật hạnh của một vị tu sĩ cùng không cho phép Tenzin bộc lộ ra sở tu sở đắc của ḿnh. Ngay chính Đức Phật, Ngài cũng đă từ chối không thi triển phép lạ thần thông khi một đạo sĩ khác thách thức Ngài. Ngài nói: "Chỉ có giáo hóa chúng sanh thoát khỏi tham dục, si mê, ngă chấp, và chứng đạt được trí tuệ giải thoát. Chỉ có giáo hóa thần thông mới có khả năng giúp chúng sanh vượt qua khỏi biển khổ tiến lên bờ giác ngộ. Ngoài ra, những phép thuật hay thần thông, nếu sử dụng không đúng chánh pháp, sẽ gây tác hại cho chính người sử dụng và người khác."

 - "Thẳng thắn mà nói, tôi không thích đề cập đến vấn đề này. Có nhiều người thích mọi người biết đến ḿnh, có người lại không quan tâm đến những vặt vănh đó. Cá nhân tôi, tôi nhận thấy đó là chuyện riêng của tôi. Tôi không cần phải phô trương hay khoe khoang với mọi người là tôi tu thế nào, chứng đắc làm sao."  

Khi cô bị cật vấn quá mức, Tenzin chỉ tiết lộ đại khái:  

 - "Lẽ dĩ nhiên, khi bạn nhập thất lâu dài, theo quá tŕnh đúng đắn tu tập, bạn sẽ gặt hái được hiệu quả tốt đẹp, rất to lớn. Bạn sẽ cảm nhận được nhũng phút giây cơ thể bạn trở thành khinh an như bay bổng hay cảm giác thể xác này đang hoà tan trong chân không vũ trụ. Bạn sẽ vô cùng minh mẫn, nhạy bén, và tỉnh giác."

 "Điểm tối yếu quan trọng của sự tu tập không phải để nắm bắt những ảo giác khinh an đó, mà chính là phải chứng đạt được giác ngộ. Giác ngộ chân lư không phải là một hiện tượng mơ hồ, siêu h́nh, mà rất đơn giản, đó là "Chúng ta phải nh́n sự vật y như chúng đang là" (như thị), không qua một bức màn nào. Sự vật như thế nào, chúng ta nh́n như thế ấy."

"Sự chứng đạt không phải là một quan niệm cũng không phải là một sản phẩm tư duy hay t́nh cảm.  

"Sự chứng đạt có thể nói như là ánh sáng trong suốt từ trung tâm của một lăng kính, chứ không phải là những mầu sắc cầu vồng chung quanh nó."  

 "Trạng thái an lạc hạnh phúc cũng có nhiều tầng lớp khác nhau. "An Lạc" rất quan trọng cho sự nhập thất lâu dài - như là xăng dầu cần cho máy xe vậy - Thiếu sự an lạc, bạn không thể nào nhập thất lâu dài được. Từ niệm hỷ lạc trong tâm đó, bạn có thể sống cô độc và yên tĩnh suốt năm này qua năm khác, không hề cảm thấy thiếu thốn, bức rức, sợ hăi hay cô đơn buồn chán. V́ thế, Đức Phật đă khẳng định "An Lạc chính là yếu tố quan trọng nhất đưa đến Hạnh Phúc, Giác Ngộ, Giải Thoát." Nhưng chúng ta cũng không nên nhầm lẫn An Lạc và Khoái Lạc của vật dục thị hiếu thấp hèn và bám chặt lấy sự khoái lạc đó. Đối với những kẻ mê đắm vật chất thú vui thế gian th́ họ cho là tiền bạc, vật chất, và ngay cả khoái cảm nhục dục là hạnh phúc tối thượng của đời họ; họ bám víu và khao khát được có trong tay những thứ vật dục đó; nhưng họ có biết đâu rằng chính những vật dục khoái lạc đó là cạm bẫy, là trở ngại cho một cuộc sống thực sự an ổn, nhẹ nhàng.            

 

 

CHƯƠNG MƯỜI MỘT
CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ 

 

Mọi người đă đánh giá sai về Tenzin Palmo. Người phụ nữ mảnh khảnh, mắt xanh này của phố thị Bethnal Green, Anh Quốc, không dễ ǵ chịu thua hay bị các trở ngại khuất phục, làm nản chí. Cô đă sống sót trong động tuyết qua những trận thử lửa kinh hồn, và hiên ngang an nhiên tiếp tục con đường đạt tới Chân Lư Tối Thượng của cô qua h́nh tướng một người nữ. Cô vẫn kiên gan quyết tâm thực hiện lời thệ nguyện của ḿnh "Thành Phật trong h́nh tướng một người nữ". Trái tim cô thật sắt đá, nghị lực cô thật phi thường, ư chí cô thật bền vững, nhưng dù sao đi nữa, Tenzin cũng cần nương tựa vào hay noi theo gương các bậc nữ đạo sư c̣n sinh tiền để khuyến khích ủng hộ nhau khi cần thiết trên bước đường tu tập. Tenzin chỉ có một ḿnh, không thầy, không bạn. Ngay cả một ư nghĩ hay lời nói hướng dẫn của các nữ đạo sư cũng không có, để cho Tenzin có thể mường tượng được trí tuệ xuất chúng của người nữ khi chứng đắc ra sao? Thực sự, cô chẳng biết ǵ về các nữ đạo sư đương thời.

 Qua kinh sách Phật giáo Tây Tạng, Tenzin chỉ biết các vị nữ Bồ Tát như nữ thần Tara với nụ cười từ bi, trong dáng ngồi co một chân trên ṭa sen, sẵn sàng ứng hiện cứu giúp chúng sinh. Tenzin đă cầu nguyện tŕ tụng danh hiệu Tara rất nhiều lần để chúc phúc lại cho dân làng Lahoul khi cô đi khất thực xung quanh làng. Người Phật tử Tây Tạng rất sùng bái Bồ Tát Tara. Khi gặp phải những sự cố bất an, lo sợ, hay đau khổ, họ luôn luôn cầu nguyện Tara đến giúp đỡ cứu thoát cho họ, vị nữ thần Tara nghe tiếng chúng sanh kêu khổ và đến cứu giúp tức th́. Ngài là biểu tượng của Từ Bi và Hùng lực. Được biết nữ thần Tara được hóa sanh từ những giọt nước mắt xót thương chúng sanh của Đức Phật Chenrezig. Đức Phật đă thấy các nỗi khổ triền miên của chúng sanh và muốn giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau bằng cách cho nữ thần Tara hóa thân ra giúp đỡ. Cũng được biết là nữ thần Tara đă phát nguyện sẽ chứng đắc quả vị Phật trong h́nh tướng một người nữ.

 Người dân Tây Tạng c̣n thờ phượng nữ thần đầy quyền năng Vajrayogini với toàn thân bao bọc trong ṿng tṛn ánh sáng lửa rực đỏ. Với bản tánh độc đoán, hăng say, mạnh mẽ, linh hoạt, Vajrayogini là biểu tượng một người nữ độc quyền cai trị lănh thổ riêng của nàng. Trong số các nữ thần Mật Tông, Vajrayogini tự ḿnh ngài lo liệu mọi việc và cầm quyền cai trị, không cần người chồng hay phụ tá giúp đỡ. Hơn thế nữa, Vajrayogini c̣n mang người t́nh bí mật của nàng đi theo khắp nơi như là một dụng cụ lủng lẳng trên vai, và sẵn sàng dùng phép biến hóa vật đó thành người đàn ông để tùy nghi sử dụng trong mọi trường hợp cần thiết.

 Tín đồ Phật giáo Tây Tạng c̣n tôn thờ sùng bái Đức Bồ Tát Quán Thế Âm với ḷng bi mẫn nghe tiếng kêu khổ liền hiện thân ra cứu giúp; họ cũng thờ Bát Nhă Ba La Mật Đa, Mẹ của chư Phật, ngồi oai vệ lẫm liệt trên ngai vàng hoa sen, rực sáng hào quang trí tuệ và bi mẫn.

 Các nữ Bồ Tát này măi măi là biểu tượng tôn thờ sùng bái và kính ngưỡng của toàn dân Tây Tạng khi hạnh phúc cũng như khi hoạn nạn quyền biến.

 Nhưng, thực tế hơn, lịch sử Phật giáo Tây Tạng đă chứng minh về những thành quả chứng đạt của một số ít phụ nữ đă sống tại vùng núi tuyết này và đă can đảm kiêu hùng vượt qua hàng rào trở ngại bước tiến giới nữ của chế độ phong kiến phân biệt của xă hội Tây Tạng ngày xưa, để từ đó tên tuổi họ đă đi vào huyền thoại lịch sử như mặt trời rực sáng không bao giờ tắt.

 Các phụ nữ này rất kiên cường bất khuất. Có thể nói, họ là biểu tượng nữ anh hùng cho mọi thời đại. Sống trong một chế độ xă hội bất công, phong kiến, nặng đầu óc phân biệt nam nữ, họ đă trí dũng chiến đấu phản kháng lại những tập tục lề thói cũ rích đă đè nặng lên vai, lên cổ người phụ nữ như cái gông, cái ách, cái cùm xiềng xích phụ nữ vào xó bếp đời đời. Họ đă nhóm bùng lên bó đuốc "Cách Mạng Nữ Giới" và trí tuệ hơn nữa, họ đă xả thân tu tập không ngừng nghỉ để chứng đạt Giải Thoát Trí Tuệ. Những hành động phi thường đó đă trở thành truyền thuyết dân gian, và đứng vững như thành đồng của sự Kiên Tŕ, Bất Khuất, Niềm Tin, và Quy Ngưỡng.

 Người nổi tiếng nhất trong số ít các phụ nữ tiên phong đó là Yeshe Tsogyel, c̣n được biết đến qua danh hiệu "Vũ Công trên không gian". Sanh ra năm 757 sau Công Nguyên trong một gia đ́nh qúi tộc, Yeshe Tsogyel từ thuở bé đă cho thấy nàng có những tín hiệu trí tuệ thiêng liêng khác thường. Nàng cũng đă tuyên bố sẽ thành Phật trong một đời hiện tại mà thôi. Với tư tưởng đó, nàng đă từ chối mọi lời cầu hôn để đi đúng con đường ḿnh đă chọn. Sau nhiều thăng trầm thử thách, nàng t́nh cờ gặp được vị cứu tinh của đời nàng, Ngài Padma Sambhava, người đầu tiên đă mang và truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ vào lănh thổ Tây Tạng, và cũng đă trở thành biểu tượng "Phật Sống" đối với toàn dân tín đồ Phật giáo Tây Tạng.

 Padma Sambhava không những chỉ là vị cố vấn, vị thầy hướng dẫn tâm linh mà đối với Yeshe Tsogyel, Ngài c̣n là người yêu tối thượng tâm linh bí mật của riêng nàng. Yeshe Tsogyel đă yêu say đắm Padma Sambhava, đồng thời cũng kính trọng tôn sùng Ngài. T́nh yêu của nàng đă thể hiện qua ẩn dụ sau:

"Với ḷng trong sáng và kính ngưỡng, tôi, Yeshe Tsogyel, đă kết một tấm mạn đà la huyền bí để dâng lên đạo sư Padma Sambhava của tôi. Nụ cười rạng rỡ và từ bi của Ngài chiếu sáng như hào quang ngũ sắc khiến các ánh sáng khác mờ nhạt đi và ḥa tan vào hào quang đó, chan ḥa trên toàn thân Ngài, kết thành một ṭa sen hồng đỡ bước chân Ngài trong điệu nhạc từ ái muôn đời của vũ trụ."

 Nhưng, dù yêu say đắm Padma Sambhava, Yeshe Tsgyel vẫn không quên mục đích tu tập của ḿnh và đă khẩn cầu Padma Sambhava hăy dạy cho nàng Lư Nhân Quả để làm pháp môn thiền quán. Yeshe đă đi vào tận rừng sâu núi thẳm, chịu đựng gian khổ, đói rét, dăi dầu với nắng táp mưa sa. Nàng đă ăn tất cả những ǵ có thể ăn được ở núi rừng đến nỗi sau đó, nàng đă tập "ăn không khí" và gầy ốm đến nỗi xương trán lồi hẳn ra ngoài - nhưng Yeshe vẫn kiên gan chịu đựng. Cuối cùng, sự quyết tâm kiên tŕ đó của nàng đă được tưởng thưởng xứng đáng với sự chứng đạt giải thoát.

 Chính những lời nói của Yshe đă được chép lại bởi người viết hồi kư tiểu sử của nàng, Taksham Nuden Dorje, và sau đó được Keith Dowman dịch ra trong quyển "Vũ Công trên không gian" (Sky Dancer) của ông ta để diễn tả trạng thái sung măn tuyệt đỉnh khi chứng đắc của Yeshe Tsogyel do công phu khổ hạnh tinh cần tu tập: "Tôi đă biến hóa tan ḥa vào khối tinh thể của vũ trụ để thấm nhuần đặc tính linh huyền của Chân Không Diệu Hữu, và tôi đă đạt được khả năng tuyệt đối để ứng xử mọi diệu dụng của chư Phật."

 Yeshe Tsogyel đă hóa hiện khắp nơi để cứu giúp che chở dân Tây Tạng với ḷng từ bi, trí tuệ, và quyền năng vô biên của nàng. Nàng có thể đi xuyên qua những vật rắn chắc như tường vách, núi đồi, cỡi lên ánh sáng của mặt trời, hay bay lơ lửng trên không trung. Có lần, nàng đă cứu sống trở lại con trai của một thưong gia người Nepal bằng cách chỉ ngón tay trỏ ngay tim người chết cho đến khi trái tim hắn đập trở lại và máu bắt đầu lưu thông trong cơ thể. Nhưng, lần thi thố pháp thuật trước phái Bon, (một giáo phái cổ Tây Tạng rất giỏi về pháp thuật) Yeshe đă đánh bại hoàn toàn các pháp sư của giáo phái này và thu phục nhân tâm hoàn toàn. Trong tư thế ngồi kiết già trên hoa sen bay lơ lửng trên không trung, Yeshe đă biến hóa lửa phun ra từ mười đầu ngón tay, bao phủ toàn vùng trong khối lửa đỏ rực và lại biến lửa thành thành những sợi mềm như bơ vẽ lên trời hàng vạn h́nh ảnh khác nhau. Sau cùng, nàng phóng những tia sấm sét dữ dội vào đám tà sư phù thủy của phái Bon khiến chúng kinh hồn bạt vía. Dân chúng và cả đám tà đạo đó đă bị thâu phục, cải hóa hoàn toàn. Họ tin rằng chỉ một người nữ đắc đạo như Yeshe Tsogyel mà c̣n giỏi như vậy, huống chi là Đức Phật th́ c̣n xuất chúng đến đâu nữa. 

 

CHƯƠNG MƯỜI HAI
XUẤT ĐỘNG 

 

Đúng lư ra Tenzin Palmo ẩn cư trong động c̣n lâu dài hơn nữa, nhưng một sự cố nhỏ xảy ra khiến cô phải rời khỏi động thất ngoài ư muốn và thời hạn.  

Một ngày mùa hè năm 1988, Tenzin Palmo rất ngạc nhiên sửng sốt v́ sự xuất hiện của cảnh sát.

 Chẳng thèm để ư đến hàng rào bên ngoài động, hay tấm biển "Xin đừng quấy phá sự yên tĩnh", tên cảnh sát này ồn ào đập cửa ầm ầm bắt Tenzin ra mở. Hắn hạch hỏi tại sao Tenzin đă quá thời hạn nhập cảnh mà cứ ở ĺ tại đây? Hắn ra lệnh đến ngày mai Tenzin không đến tŕnh diện tại sở cảnh sát, Tenzin sẽ bị câu lưu điều tra.

 Đó là tiếng nói con người đầu tiên, gương mặt người đầu tiên Tenzin gặp và nghe thấy trong 3 năm qua - nhưng gặp mặt và nghe lại gịong nói loài người trong một t́nh cảnh vô duyên, khiếm nhă, và thô lỗ làm sao! Tuy vậy, Tenzin vẫn ôn ḥa, nhă nhặn rời khỏi động tuyết để đi gặp ông giám thị cảnh sát. Ông ta xin lỗi về thái độ bất lịch sự của nhân viên, nhưng ông ta rất tiếc phải trục xuất Tenzin khỏi Ấn Độ v́ đă quá thời hạn cư trú. Tenzin phải rời Ấn trong ṿng 10 ngày. Tenzin kiên nhẫn giải thích cho ông Giám Thị hiểu rằng cô đă ở Ấn Độ 24 năm rồi và cô cũng không dự định sẽ rời khỏi nơi đây chỉ trong ṿng 10 ngày nữa. Hơn thế nữa, đó không phải là lỗi của cô v́ cô đă báo cho người nhân viên cũ của sở Di Trú để họ làm cái mới lại cho cô.

 Trước sự thành thật và hợp lư của Tenzin, viên giám thị dịu giọng lại và nói rằng ông ta sẽ nghỉ phép một tháng và không trục xuất Tenzin ngay lập tức, nhưng dù sao đi nữa, cô cũng phải rời khỏi nơi ẩn cư trước khi ông nghỉ phép trở về.

 Tenzin Palmo leo lên động tuyết trở lại, nhưng đă vô ích. Cô đă bị người khác trông thấy, cô bắt buộc phải nói chuyện và như thế coi như cô đă dứt khoát bị "bể thất". Cô không thể tiếp tục được nữa. Theo luật lệ nhập thất, người hành giả không được tiếp xúc, không được để bị bắt gặp - tất cả những chuyện xảy ra dù ngoài ư muốn của Tenzin, nhưng coi như là cô đă bị động tâm rồi. Thời gian hạn định nhập thất của cô chỉ c̣n 3 tháng, 3 tuần, và 3 ngày nữa thôi là hoàn tất mỹ măn; nay thế là hỏng cuộc.

 Đáng lẽ cô phải hét lên mới hả hết cơn giận dữ bực tức của cô, nhưng nhờ vào tu tập, Tenzin chỉ cười và nói: "Chắc chắn đó không phải là cách mà tôi lựa chọn để chấm dứt thời kỳ nhập thất. Nhưng, dù sao đi nữa, tôi cũng phải ở lại vài ngày để thu xếp và từ từ gặp lại mọi người."

 Tin Tenzin Palmo bị "ra thất" đă lan truyền nhanh chóng, và các bạn cùng người quen biết cô đều náo nức muốn gặp lại Tenzin để xem cô thế nào, có khác xưa nhiều không, cô đă chứng nghiệm được ǵ trong thời gian dài một ḿnh ở động tuyết? Có thể cô đă trở thành một nữ thần đầy quyền năng và linh thiêng?  

Bà Didi Contractor, người ghé thăm Tenzin lần đầu tiên khi cô mới lên ở động tuyết, lên gặp Tenzin lại và trở về thuật chuyện: "Tenzin Palmo không thay đổi ǵ, ngoại trừ sự tiến bộ tâm linh thật rơ rệt. Sự nồng nhiệt, thái độ cởi mở ḥa nhă, sự nhạy bén tinh thông vốn sẵn có trong cô, nay c̣n hơn thế nữa. Tenzin đă thành công rơ ràng. Tôi nghĩ rằng những người bên ngoài khó thấy được kết quả của sự phát riển của Tenzin. Đó là sự bí mật giữa Tenzin và đấng thiêng liêng. Tenzin đă gặt hái được kết quả tâm linh hơn những vị hành giả Tây Phương mà tôi đă gặp."

 Một người khách khác đến thăm Tenzin là Lia Frede, một phụ nữ người Đức cư ngụ trong một căn nhà rất đẹp ở Dharamsala. Lia Frede đă biết Tenzin từ vài năm trước. Lia cũng rất quan tâm về các vấn đề tâm linh và hơn thế nữa, cô ta đă hành tŕ pháp môn thiền Vipassana (thiền Minh Sát), và cũng đă nhập thất vài lần. Thật trùng hợp là Lia Frede đang hướng dẫn một nhóm sinh viên nghiên cứu về Sinh Thái học vùng Lahoul khi cô nghe tin Tenzin ra thất.  

 - "Tôi nôn nóng muốn có cơ hội để nói chuyện với Tenzin v́ tôi muốn biết cô đă đạt được những ǵ. Tôi và hai người bạn t́m đường để leo lên động. Tới nơi, tôi cảm thấy sỗ sàng quá v́ chưa báo trước, nên nói hai người bạn đứng ở ngoài cổng để tôi vào trước xem sao. Nhưng Tenzin đă ra cửa lập tức và cười thân mật nói: "Vào đây và mời bạn của cô vào luôn. Tôi đang nướng bành ḿ. Cô dùng trà không?" Tenzin thật b́nh dị. Chúng tôi dùng trà, ăn bánh ḿ nướng với dầu mè và có cảm tưởng như đang dùng cữ trà buổi xế trưa ở Anh quốc vậy. Thật êm đềm và thú vị."  

Khi Tenzin tiễn chúng tôi ra cửa động, tôi không kềm được nữa nên hỏi ngay cô đă chứng đạt những ǵ. Tôi mong muốn sẽ được cô chỉ bày. Tenzin lặng lẽ nh́n tôi và trả lời: "Chỉ có một điều duy nhất tôi nói với cô là tôi không hề bao giờ buồn chán cả." Thế thôi - Tenzin chỉ nói một câu độc nhất và không hé răng ra nữa.

 Và cũng giống như Didi Contractor, Lia Frede đă nhận thấy những đặc tánh nổi bật của bạn gái ḿnh.

 "Tenzin Palmo thật chân thành, trong sáng, giản dị, và b́nh đẳng thực sự. Cô không hề bị ảnh hưởng hay thiên kiến về bất cứ một sự việc ǵ. Cô đối phó hay ứng xử mọi trường hợp hay biến cố xảy ra cho cô với một tâm hồn thẳng thắn, khách quan, không hề bị vướng mắc. Không phải cô tỏ vẻ ra như vậy, mà thực sự cái "Ta" tầm thường, nhỏ mọn cố hữu của con người đă biến mất nơi cô. Tôi cũng rất kính phục sự gan dạ và b́nh tĩnh của cô khi bị vùi sâu trong trận tuyết lở năm nào. Nếu tôi gặp trường hợp đó, chắc tôi sẽ kinh hoàng mà chết. Ngược lại, Tenzin vẫn b́nh thản ngồi quán "Tử Niệm"; và khi tôi nghe tin là cô cũng suưt bị bỏ chết đói, tôi rất giận dữ và muốn t́m hiểu lư do, nhưng Tenzin cũng chẳng thèm để tâm tới và cô cũng không hề càu nhàu trách cứ viên giám thị cảnh sát đă làm khó dễ cô không cho cô nhập thất nữa. Cô biết tự mỗi chúng sanh đều mang theo nghiệp quả của riêng ḿnh; ngay cô cũng vậy, cô cũng chưa thoát khỏi mănh lực của quả báo do vô lượng kiếp trước của cô nên cô rất thản nhiên chấp nhận và t́m phương chuyển nghiệp. Đối với tôi, thái độ khách quan và tâm b́nh đẳng đó của Tenzin đă chứng tỏ một tŕnh độ cao về tâm linh."  

Riêng đối với Tenzin, cái quan trọng hơn những lời b́nh phẩm suy luận của mọi người về cô là cô sẽ ứng xử ra sao khi tiếp xúc lại với thế giới bên ngoài sau một thời gian quá lâu tĩnh tu nhập thất không hề tiếp cận với mọi người chung quanh? Theo sự thú nhận của vài hành giả Tây Phương, sau một thời kỳ ngắn tĩnh tu, đă quen với không gian thanh vắng yên tịnh, khi tiếp xúc lại với cuộc thế, hầu như họ đều bị choáng váng như bị một cú "sốc" chấn động vào năo bộ và các giác quan; cảm tính của họ. Phải mất vài tuần lễ sau, họ mới từ từ quen thuộc trở lại. C̣n Tenzin đă cắt đứt quan hệ với thế giới trần tục gần 12 năm và sống cô liêu trong một hang động cheo leo cao hơn 13.000 bộ, th́ cô phải làm sao khi bắt buộc phải trở lại vùng triền phược luẩn quẩn này? Cô nói:

  - "Lần đầu tiên tiếp xúc lại với mọi người, tôi cũng cảm thấy hơi khó chịu, choáng ngộp, và mệt mỏi v́ tiếng động ồn ào và h́nh ảnh mầu sắc lăng xăng - nhưng sau đó một lúc th́ tôi đă trấn tĩnh lại và không có ǵ. Mọi việc đều tốt đẹp."

 Lia Frede nhận xét thêm về Tenzin Palmo:

 - "Tenzin Palmo có tấm ḷng từ bi bao la vô cùng. Cô rất khách quan và tiếp nhận mọi lời khuyên góp ư hay lắng nghe tất cả những lời than thở của mọi người. Cô đă khôn khéo sáng suốt tùy trường hợp mà hóa giải mọi nguời, không kể người dó là Thánh nhân hay kẻ tội lỗi. Tôi thấy rằng hễ bất cứ ai cần đến sự giúp đỡ của cô, cô đều sẵn ḷng cả. Đó là v́ sao mọi người đều chạy đến cô để t́m cầu một sự an ủi, cảm thông, dạy bảo hay hướng dẫn cách tu tập, và ai ai cũng nói là khi tiếp xúc với cô, họ đều cảm thấy thoải mái, êm dịu, và được chan chứa một sự thuần khiết thanh cao tỏa ra từ cô."

 Tenzin chỉ trả lời giản dị khi nghe b́nh phẩm như vậy:

 - "Tôi là tôi, không thay đổi và bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào. Tôi nghĩ tôi cũng có hai mặt của tâm hồn tôi. Một mặt tôi rất thích được sống yên tĩnh một ḿnh; một mặt là sự giao tiếp với xă hội và t́nh cảm thân thiết. Tôi không biết là tôi có khả ái với mọi người hay không, nhưng tôi biết chắc rằng với bất cứ ai, quen thuộc hay xa lạ, tôi đều cư xử b́nh đẳng như nhau, trân trọng và cởi mở. V́ thế, dù tôi rất thích được sống cô độc, nhưng tôi vẫn không buồn hay khó chịu khi phải trở lại thế giới bên ngoài."

  "Một khi người tu đă đạt được "Tự Do Nội Tại Tuyệt Đối" th́ họ sẽ không bị ảnh hưởng ǵ bởi hoàn cảnh bên ngoài. Tâm họ như như bất động, vạn sự đến đến đi đi như mây gặp gió, sóng biển dập dờ; nhưng dù như như tự tại đối với vạn duyên, tâm vị hành giả vẫn thấy xót thương cho đám người ngu muội cứ măi ngụp lặn vui chơi trong bể khổ, không muốn t́m lối thoát."

 Khi được hỏi tại sao người tu cần phải nhập thất, Tenzin đáp:

 - "Vị hành giả muốn nhập thất để tự ḿnh chứng nghiệm "Ta là ai?" và "Ta muốn ǵ?" - Một khi người đó đă thực thấu suốt chính ḿnh th́ họ sẽ dễ dàng hiểu được người khác, bởi v́ vạn vật trên cơi đời này đều tương quan tương tức với nhau. Nếu chúng ta không hiểu được ḿnh và c̣n vướng mắc vào triền phược th́ làm sao lắng nghe được nỗi khổ hay chia xẻ niềm vui của kẻ khác?

 "Có hiểu mới có thương" - do đó, khi gặp một vị ẩn tu đă 25 năm hơn chẳng hạn, bạn sẽ thấy vị ẩn sĩ đó không lạnh lùng hay cách biệt ǵ cả; mà trái lại, họ rất dễ thương và tràn đầy từ bi. Ḷng từ họ ban bố cho bạn không đặt trên một tiêu chuẩn kích thước gia thế, vọng tộc, hay địa vị xă hội hoặc t́nh cảm cá nhân của bạn. Họ rất khách quan và b́nh đẳng, không thiên vị. Duy nhất chỉ có từ bi ban bố cho tất cả chúng sinh không phân biệt, như mặt trời chiếu sáng lên vạn vật, chan ḥa khắp mọi nơi. Từ bi khác với cảm giác, t́nh cảm bởi v́ t́nh cảm th́ luôn luôn có sự đối chiếu - "Cho đi và Nhận lại" - và loại t́nh cảm đó rất vô thường, mong manh, dễ tan biến; nhưng Từ Bi th́ thuần nhất, b́nh đẳng, không đ̣i hỏi phân biệt."

 Tenzin nói tiếp:

 - "Tôi biết là thời hạn tôi sống ở Ấn Độ đến đây là chấm dứt. Tôi cần phải trở về phương Tây để làm những ǵ tôi cần phải làm. Suy cho cùng, tôi không phải là người Tây Tạng. Sau 24 năm sống ở Ấn và không đọc ǵ hết ngoài kinh sách Phật giáo, tôi biết là tôi cũng bị thiếu sót về kiến thức thế gian, và nếu tôi muốn hoằng dương Phật pháp ở phương Tây, tôi cần phải trám lỗ hổng kiến thức để hoàn thành những ǵ tôi cần phải làm."

 

CHƯƠNG MƯỜI BA
THỰC HIỆN ƯỚC MƠ 

 

Một buổi sáng tháng 3 năm 1993 tại Dharamsala, trước kia là trụ sở của Anh trên một ngọn đồi ở Himachal Pradesh, Bắc Ấn, nay là chỗ cư ngụ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và chính phủ lưu vong của Ngài, Tenzin Palmo được mời tham dự buổi hội thảo Phật giáo Tây Phương đầu tiên với chủ đề "Những vấn đề liên quan đến sự truyền bá Đạo Phật sang phương Tây." Cùng tham dự với Tenzin có 21 vị đại diện các tông phái Phật giáo chính thống ở Âu Châu và Mỹ Châu, cũng như các vị Lạt Ma nổi tiếng của các ḍng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng. Buổi thảo luận xoay chung quanh những chủ đề như: "Vai tṛ của vị lănh đạo tinh thần", "Những khác biệt tâm lư giữa Đông Phương và Tây Phương", "Những tiêu đề đạo đức", v.v... bỗng một nữ cư sĩ người Đức, Sylvia Wetzel, phát biểu ư kiến về "Vai tṛ của phụ nữ trong Phật giáo."

 Khi Sylvia Wetzel tung ra ngón đ̣n độc đáo này, cả hội trường chợt nín lặng. Sylvia đứng lên mời Đức Đạt Lai Lạt Ma và tất cả quan khách hăy cùng cô ta thử tưởng tượng như thế này:

 - "Xin qúy vị hăy tưởng tượng ḿnh là một người đàn ông duy nhất đi vào một trung tâm Phật giáo. Qúy vị thấy bức tranh của Nữ Bồ Tát Tara và 16 vị Nữ La Hán. Qúy vị cũng thấy Nữ Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, hóa thân của 13 vị Nữ Đạt Lai Lạt Ma trong quá khứ cũng đă lần lượt hóa thân từ h́nh tướng một người nữ. Qúy vị bị vây bọc xung quanh toàn là các vị "Nữ Lạt Ma Cao Cấp" xinh đẹp, khỏe mạnh, và trí tuệ. Qúy vị lại thấy hàng lô các ni cô hoạt bát, mẫn tiệp, đầy tự tin, và nổi bật. Và qúi vị lại thấy những nam tu sĩ rụt rè, khép nép,e sợ, đi vào đằng sau các ni cô. Qúi vị đă nghe, đă biết sự kế tục tuyền thừa các vị Lạt Ma Nữ từ đời nữ Bồ Tát Tara truyền xuống cho đến nay."

 - "Tại sao các biểu tượng Bồ Tát toàn là người nữ không vậy?"

Sylva giả bộ làm vị Nữ Lạt Ma trả lời:

  - "Ồ, đừng lo. Nam và Nữ đều b́nh đẳng; ồ, gần như vậy. Chúng ta cũng có vài bộ kinh sách nói là "Sanh ra làm người Nam th́ vị trí thấp kém hơn và phải gặp nhiều khó khăn hơn v́ tất cả các vị lănh đạo tinh thần, thể chất, và chính trị đều là người nữ cả - nhưng không sao, trên giấy trắng mực đen, chúng ta đều b́nh đẳng."

  "Rồi lại có một nam cư sĩ rất ngây thơ, đến hỏi một vi tu sĩ thuộc tông phái Đại Thừa Phật giáo:

 - "Tôi là một người đàn ông, làm sao tôi có thể nhận diện được tôi như thế nào khi xung quanh toàn là biểu tượng Nữ thế này?"

 Sylvia lại giả bộ trả lời:

 - "Con cứ quan niệm về Chân Không. Trong Chân Không, không có nam, không có nữ, không có h́nh tướng - không có ǵ cả th́ đâu có vấn đề ǵ phải lo, phải không?

 "Rồi qúi vị lại đi đến một vị tu sĩ Mật Tông và hỏi:" "Họ là phụ nữ, c̣n tôi là đàn ông. Tôi không biết phải làm sao để giao tiếp cư xử với họ?" và Sylvia lại trả lời: "Ồ, các người nam xinh đẹp kia ơi, thật tốt làm sao khi các vị sanh ra làm người nam để giúp người nữ chúng tôi mau đắc thành Chánh Giác." v.v... và v.v...

 Sylvia nêu ra một loạt các lời biện luận đối xử phân biệt giữa Nam và Nữ với một thái độ duyên dáng, buồn cười đến nỗi tất cả mọi người ngay cả Đức Đạt Lai Lạt Ma phải bật cười ha hả.

 Sylvia đă nói lên tiếng nói của hàng triệu con tim phụ nữ từ ngàn xưa tới nay. Họ đă kiên nhẫn chịu đựng, chấp nhận một cách câm lặng từ hơn 2500 năm qua và nay, họ phải lật đổ sự chèn ép phi lư của phái nam trên bản thân người nữ.

 Những người khác hưởng ứng theo Sylvia. Một vị giảng sư và tác giả Phật học, Ni Sư người Mỹ Thubten Chodron, nói: "Chính bản thân tôi cũng đă bị đối xử thiên lệch như vậy trong những khóa tu hay ở thiền viện, mặc dù người ta khéo che giấu nhưng tôi vẫn nhận ra sự thiên kiến trọng nam khinh nữ đó."

 Một vị thiền sư phát biểu:

 - "Đây quả đúng là một sự thách đố gay cấn thú vị cho phái nam phải thấy rơ tiềm năng người nữ và chấp nhận sự thật."

 Một vị tăng sĩ Phật giáo Tây Tạng người Mỹ, Thubten Pende cũng bày tỏ ư kiến của ông: "Khi tôi dịch những kinh sách có nói về luật xuất gia, tôi rất ngạc nhiên và sửng sốt là giới ni bị áp đặt quá mức như: một vị Ni Trưởng nhiều tuổi hạ vẫn phái đi sau một vị tăng sa di, mặc dù tuổi đời, tuổi đạo của vị ni trưởng đó cao hơn, lớn hơn; nhưng tại v́ là nữ nên phải chấp nhận như vậy. Tôi có nghe nói về điều này nhưng tôi chưa hề t́m ra chứng cớ về điều luật đó. Trong một giới đàn, tôi phải đọc lên điều luật đó và tôi cảm thấy bối rối lẫn xấu hổ về sự phân chia cách biệt đó. Tôi đă tự hỏi: "Nếu bị xếp đặt như vậy, tại sao vị ni sư đó không đứng lên và rời khỏi? Nếu là trường hợp tôi, tôi sẽ không tham dự nếu đối xử kỳ thị với tôi như vậy."

 Một vị tăng sĩ phái Nguyên Thủy người Anh, Thượng Tọa Ajah Amaso cũng nói:

 - "Khi thấy giới ni không được nhận sự cung kính tôn trọng như tăng sĩ, tôi cảm thấy đau ḷng vô cùng; cũng giống như ai đó cầm cái giáo, cái mác đâm vào ngực tôi vậy."

 Và giờ đến lượt Tenzin Palmo phát biểu:

 - "Khi tôi mới đến Ấn, tôi sống trong một tu viện có đến cả trăm vị tăng. Tôi là vị ni cô duy nhất ở đó. Sự đối xử kỳ thị của các tăng sĩ đă khiến tôi quyết định rời bỏ tu viện để lên động tuyết ở. Các vị tăng rất tử tế, tôi cũng chẳng hề bị gây rối t́nh dục hay bất cứ một vấn đề nào khác, nhưng phải nói là tôi bị cư xử khác biệt v́ tôi là phái nữ. Họ thường nói với tôi là họ luôn cầu nguyện cho tôi chuyển được thân nam vào kiếp sau để tôi có thể gia nhập vào Tăng đ̣an và được tu học như họ. Họ cũng không chống đối tôi quá mức v́ tôi là nữ, nhưng dù sao đi nữa, tôi vẫn phải chấp nhận sự coi thường rẻ rúng đó trong tu viện cũng như của các tín đồ."

 "Các vị Lạt Ma đă cạo đầu, làm lễ xuất gia cho giới ni, nhưng họ đă phủi sạch tay và quăng bỏ các ni cô ra ngoài, không dạy bảo, không chuẩn bị cho họ ǵ cả, không khuyến khích, không nâng đỡ hay hướng dẫn - hơn nữa, các ni cô phải tinh nghiêm giữ giới, nỗ lực tu hành và điều khiển các tu viện. Thật là khó khăn và tôi rất ngạc nhiên là có nhiều thiền viện Phật giáo Tây Phương được xây cất nhưng nhiều ni cô đă hoàn tục. Họ đă vào tu với tấm ḷng khao khát t́m đạo, hăng say hướng thượng, niềm tin chân chánh và sẵn sàng xả thân hy sinh v́ đạo pháp, nhưng không có một ai giúp đỡ họ cả.

 "Kính bạch Đức Đạt Lai Lạt Ma, đó là một sự thật chưa từng xảy ra trong lịch sử Phật giáo ngày xưa."

 "Trong quá khứ, Tăng đ̣an được tổ chức rất chặt chẽ, được Phật tử cúng dường và bảo vệ. Nhưng ở phương Tây th́ không được như vậy. Tôi thực sự không hiểu tại sao. Có rất ít tu viện Phật giáo ở phương Tây, và hầu hết là theo truyền thống Nguyên Thủy Phật giáo. Như qúi vị đă biết, các ni cô tu theo Phật giáo Nguyên Thủy th́ kể như không có tiếng nói hay vị trí ǵ cả. Sự phân biệt kỳ thị rơ ràng đó là một sự thật không thể chối căi được."

 "Tận cùng thâm tâm, tôi luôn cầu nguyện rằng sự trong sáng thanh cao của đời sống xuất gia và chánh pháp sẽ không bao giờ bị chôn vùi trong đống bùn lănh đạm và khinh miệt phi lư giữa người và người, giữa nam và nữ như vậy."

 Tenzin Palmo đă thống thiết chân thành nói lên tất cả cảm nghĩ của ḿnh khiến cử tọa đều xúc động; ngay Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đỏ hoe đôi mắt. Ngài chậm răi lau kính, nói nhẹ nhàng: "Cô thật can đảm."

 Bài diễn văn ngắn gọn của Tenzin đă đánh dấu bước đầu thực hiện ước mơ thành lập nữ tu viện của cô. Cô đă dám can đảm phê b́nh hệ thống cũ rích của Tăng đoàn, nhưng nói là một lẽ, c̣n cần phải hành động nữa; và ai sẽ là người đứng lên đảm nhiệm trọng trách cải tổ hệ thống Tăng đ̣an?

 Những kinh nghiệm rút tỉa được trong sự cô độc và đối xử kỳ thị phân biệt ở Dalhousie nay lại giúp Tenzin làm tṛn vai tṛ lănh đạo của ḿnh. Cô đă chờ đợi gần 30 năm mới có cơ hội để bày tỏ ư kiến cá nhân, phản đối lại hệ thống cũ ṃn của Giáo hội, nhưng chậm vẫn c̣n hơn không. "Thời điểm giải phóng phụ nữ đă đến rồi !". Tenzin biết rất rơ con đường trí tuệ mà giới nữ đang bước tới sẽ gặp nhiều gập ghềnh khó khăn. Cô đă đau khổ, đă chịu đựng, nhưng chắc chắn cô phải vượt qua và giúp giới Nữ tu khắc phục khó khăn. Tenzin bắt đầu giúp các ni cô Tây Phương ở Bồ Đề Đạo Tràng tổ chức một cuộc hội thảo để trao đổi quan niệm và giải quyết một số vấn đề về tài chánh và cộng đồng. Sau đó, cô lại ủng hộ một nhóm phụ nữ khác đ̣i hỏi quyền lợi được thọ giới Tỳ Khưu Ni. Tenzin cũng định sẽ nhập thất trở lại nhưng một công tác Phật sự tối cần thiết hơn chờ đợi Tenzin - đó là thành lập một nữ tu viện theo tông phái Drukpa Kargyu của cô. Ư định này đă được Tenzin ấp ủ từ lâu theo kế hoạch của Sư Phụ là ngài Khamtrul Rinpoche. Khamtrul Rinpoche đă chỉ một mảnh đất vùng thung lũng Kangra, nơi ngài đă xây lại tu viện Tashi Jong, và nói : "Sau này, con có thể xây dựng một nữ tu viện tại đây." Lúc đó, Tenzin chưa nghĩ tới việc thành lập một nữ tu viện, v́ có vẻ xa vời quá. Nhưng nay, cô đă già hơn, chững chạc hơn, và đă xong thời hạn 12 năm ẩn cư ở động tuyết, và nhập thế trở lại. Cô nghĩ bây giờ là phải lúc để thực hiện Phật sự quan trọng này v́ các ni cô người Tây Tạng đang cần sự giúp đỡ của Tenzin hơn ni chúng Tây Phương. Cũng như t́nh trạng bên ni giới Tây Phương, giới nữ tu Tây Tạng không có nơi chốn nhất định để ở hay để đi, bởi v́ họ đă bị người ta bỏ quên qua một bên để gấp rút xây tu viện cho Tăng chúng tị nạn khỏi Tây Tạng. Ni chúng c̣n bị giảm bớt đi trong số các người nấu cơm cho Tăng chúng hay là bắt buộc phải về gia đ́nh lại để tiết kiệm ngân khoản của chùa. Điều đó khiến Tenzin đau buồn vô cùng.

 

 

CHƯƠNG MƯỜI BỐN
VỊ ĐẠO SƯ 

 

Do nhiều biến cố ngoài ư muốn, Tenzin bất đắc dĩ phải đảm nhiệm vai tṛ giảng sư. Cô không hề vạch ra kế hoạch thay đổi lạ lùng này, cũng không thích thú ǵ mấy trách nhiệm lănh đạo tinh thần đó; cô chỉ thích sống yên tịnh và cô liêu để đạt mục tiêu thành đạo của cô; nhưng những đ̣i hỏi cấp bách về tài chánh để thành lập một Ni viện giúp cho các nữ tu khác bắt buộc Tenzin phải thay đổi kế hoạch của riêng ḿnh và đứng lên đảm trách công tác nặng nề này.

 Muốn mua một mảnh đất gần Tashi Jong để xây tu viện phải cần tới hàng 100.000 đô la để mua gạch, xi-măng, cát, đá, v.v... ; v́ thế, Tenzin đă đi thuyết giảng hết trung tâm Phật giáo này sang tu viện khác, giảng cho nhóm nghiên cứu này sang nhóm tu học nọ, trao đổi, góp ư kinh nghiệm cá nhân về tâm linh cũng như trí tuệ 30 năm tu học của cô để quyên góp tiền bạc. Mặc dù công tác hoằng dương Phật pháp và lạc quyên rất khó nhọc, và trải qua những tuần, những tháng, những năm dài đi khắp mọi nơi trên thế giới để thuyết giảng, Tenzin vẫn ôn ḥa kiên nhẫn, b́nh tâm, và cư xử b́nh đẳng trân trọng đối với mọi người (người cho 5 đô la hay người cho 5000 đô la đều ngang hàng nhau, không thiên vị, phân biệt).

 Tenzin tâm sự:

 - "Các vị Lạt Ma cao cấp đă cầu nguyện và nói công tác xây cất nữ tu viện này sẽ thành tựu. Tôi rất tin tưởng và an tâm tiếp tục, không nản chí."

 "Có nhiều lúc tôi nghĩ làm sao tôi có thể đảm nhiệm trọng trách này, tôi cũng không biết nữa. Nếu cách đây vài năm, có người nói với tôi rằng nên đi thuyết giảng khắp thế giới để quyên tiền, chắc tôi nghĩ là họ đă điên rồi. Nhưng bây giờ, nếu tôi không làm th́ ai làm đây? Và đó cũng là cách báo ơn Sư Phụ của tôi."

 Ḍng thời gian cứ lặng lẽ trôi qua. Tenzin bắt đầu chương tŕnh du thuyết của cô tại Singapore năm 1994, một năm sau khi cô tŕnh bày quan điểm của cô về t́nh trạng Ni giới lên Đức Đạt Lai Lạt Ma. Cô không chuẩn bị nên vừa đến Singapore, cô gặp trắc trở liền. Không một ai biết Tenzin là ai, thế nào, và họ cũng không biết là cô đă đến Singapore. Trong lúc bối rối đó, cô bỗng gặp lại một người quen cũ, một người phụ nữ Trung Hoa tên Wong Pee Lee. Thật là một sự gặp gỡ kỳ thú, v́ đêm trước Wong Pee Lee đă nằm mơ thấy Tenzin đứng giữa các nữ thần Dakinis lộng lẫy với xiêm y lụa là đủ mầu sắc. Trong giấc mơ, Wong Pee Lee nghe văng vẳng một giọng nói vang lên: "Đă đến lúc nhà ngươi phải giúp đỡ các phụ nữ khác !"

 Tenzin nói cho Wong Pee Lee biết về mục đích xây Ni viện của cô. Giấc mơ của Wong Pee Lee đă ứng nghiệm. Wong Pee Lee bắt tay thực hiện và buổi thuyết tŕnh đầu tiên của hàng trăm buổi giảng khác về sau được tổ chức với sự giúp đỡ ủng hộ của rất đông người. Từ Singapore, Tenzin du thuyết xuyên qua Đông Nam Á, ṿng quanh Mă Lai Á (Malaysia), Đài Loan (Taiwan), Brunei, Hồng Kông, Sarawak, Nam Dương (Indonesia), Cao Miên (Cambodia), Phi Luật Tân (The Philippines), rồi tới nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ qua các tiểu bang Washington, Seatle, Nữu Ước, Maryland, Vermont, Hạ uy Di; và qua lại vùng biển California trước khi trở về Á Châu và lại đi thuết giảng một ṿng khắp các nước khác. Mỗi lần tổ chức thuyết giảng đều có người giúp Tenzin soạn thảo chương tŕnh. Bất cứ nơi nào cô đến đều đông đảo người nghe và họ rất quan tâm đến những kinh nghiệm sống tâm linh của một nữ tu sĩ ẩn cư 12 năm trong động tuyết. Họ khát khao được nghe giáo pháp và náo nức xem Tenzin chuyển đạt kinh nghiệm tâm linh của cô như thế nào. Họ đă không thất vọng. Tenzin đă chứng tỏ cô là một giảng sư, một đạo sư xuất sắc. Tenzin đă nói với tất cả sự chân thành tận đáy tâm hồn cô, không cần giấy, không cần chuẩn bị, và với lời nói cứ tuôn ra đều đặn trong suốt như pha lê. Đại chúng đă uống từng lời nói của Tenzin và từng vấn đề của họ đă được Tenzin giải đáp. Hơn thế nữa, tất cả mọi người như cảm nhận được làn sóng tâm linh của cô trong những năm dài ẩn cư thiền định. Tenzin không nói ṿng vo tam quốc mà trực thẳng vào trung tâm vấn đề một cách chân thành, cởi mở, thực tiễn, thẳng thắn, và đầy thông minh, sắc sảo. Tenzin khác hẳn với các triết gia hay các giảng sư khác chứa đầy những kinh sách chữ nghiă vay mượn; cô nói bằng chính sự chứng nghiệm cá nhân thực thụ, bằng sự nỗ lực tinh cần tu tập bền lâu, bằng niềm tin sắt đá vào Tam Bảo, và Trí Tuệ Từ Bi khai phóng tự nhiên.

 Đối với các vị Lạt Ma Tây Tạng khác gặp nhiều khó khăn trong công tác hoằng dương truyền bá Phật pháp qua Tây Phương v́ ngôn ngữ bất đồng, văn hóa sai biệt và tŕnh độ Anh ngữ của các sư c̣n quá kém, nhất là giáo lư Phật giáo Mật Tông lại quá thâm sâu khó hiểu; Tenzin được thuận duyên hơn khi giảng giải Phật giáo đến các ngườI Âu Mỹ, v́ tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của cô và dù sao đi nữa, là ngườI bản xứ, Tenzin quen với phong tục tập quán Âu Mỹ hơn các vị tu sĩ Tây Tạng. Cô đă đi từ trung tâm thiền viện Phật giáo Tây Tạng này qua những nhóm thiền sinh khác, giảng Thiền Minh Sát cho các tín đồ cộng đồng Thiên Chúa Giáo, ngay cả những nhóm phi tôn giáo cũng chịu tu tập nghiên cứu giáo lư; và càng hoạt động Phật sự, tiếng tăm Tenzin càng nổi lên như cồn bởi đức hạnh và trí tuệ uyên bác của cô.

 Khi giảng cho một nhóm nghiên cứ trị liệu pháp ở Seatle, Tenzin đă nói:

- "Đầu óc chúng ta như băi chứa đồ phế thải. Cái ǵ chúng ta cũng chất chứa vào cái băi đó. Những buổi tranh luận, hội thảo, hội họp báo chí, những tṛ chơi giải trí, v.v... chúng ta đều chất chồng trong đầu óc chúng ta, và đó là lư do v́ sao chúng ta mệt mỏi quá. Chúng ta mệt mỏi v́ chúng ta ôm đồm quá, tham lam quá nên không chịu buông bỏ ǵ hết.

 "Tôi rất hoan nghinh công việc các bạn đang làm. Các bạn chọn công việc này không phải chỉ v́ miếng ăn sự sống - nếu chỉ là kiếm sống th́ dễ quá - nhưng các bạn chọn công việc này v́ các bạn muốn giúp đỡ người khác. Các bạn đă cho đi tất cả những ǵ các bạn có, và các bạn cũng cần tiếp thu lại, nếu không, đầu óc các bạn sẽ giống như những cái thùng rỗng tuếch. Chúng ta luôn luôn cho đi và nhận lại, cho đi và nhận lại."

 "Người ta thường nghĩ rằng mỗi khi họ mệt, cần phải nghỉ ngơi th́ họ bật TV lên, hay ra ngoài dạo phố, hoặc uống vài ly bia rượu, v.v... nhưng thực ra, những thức đó không giúp được ǵ mà trái lại, c̣n nhồi nhét sự mỏi mệt thêm vào đầu óc vốn đă căng thẳng v́ bao công việc - ngay cả giấc ngủ cũng chưa chắc đă là sự nghỉ ngơi thực sự.

 "Muốn được yên nghỉ thực sự và hoàn toàn, chúng ta cần chuẩn bị sẵn cho chúng ta một khoảng trống vắng, yên tịnh tâm linh. Chúng ta cần dọn dẹp sạch sẽ đống rác trong cái băi chứa, và lắng đọng lại những tiếng động bên trong, và phương cách thực hiện để t́m sự yên tịnh tâm hồn là Thiền Quán trong Tỉnh Thức. Đó là phương cách hữu hiệu nhất để giúp cho đầu óc chúng ta được nghỉ ngơi nhưng nhậy bén. Chỉ cần 05 phút thôi, chúng ta sẽ cảm thấy con người chúng ta tươi mát trở lại, tinh xảo trở lại, minh mẫn trở lại, nhậy bén trở lại."

  "Người ta hay nói: "Tôi không có th́ giờ để thiền, không có th́ giờ để nghỉ, không có th́ giờ để làm cái này cái nọ, v.v.." Điều đó không đúng. Chúng ta có thể thiền khi đi dọc hành lang sở làm hay nhà, khi đợi máy vi tính thay đổi những chương tŕnh, hay khi chúng ta dừng xe ở đèn đỏ các ngă tư, khi đứng xếp hàng, khi vào pḥng tắm, hay cả khi chải đầu. Chúng ta hăy tỉnh giác trong từng giây phút, ư thức trong từng hành động. Chúng ta thử chọn một việc làm nào đó trong ngày và tập trung hoàn toàn tư tưởng vào nó, và rồi chúng ta sẽ thấy kết quả ngoài ư muốn - Một sự thư giản và tỉnh thức thức trọn vẹn .

  "Thiền định không phải là chỉ ngồi yên trong hang động cả 12 năm, mà chính là phải tu tập từng phút, từng ngày. Chúng ta thực tập hạnh bố thí, nhẫn nhục, tinh tấn ở đâu? Pháp Phật không phải là những giáo điều nói suông, rỗng tuếch - Pháp Phật vi diệu ở nơi thực hành để chuyển hóa tâm thức; những sự chuyển hóa tâm thức đó sẽ không bao giờ đạt được kết quả nếu chúng ta mê muội cho là chỉ cần ngồi yên thiền định và không hiểu biết lư lẽ của các pháp vốn biến chuyển sinh diệt từng giây phút trong ḍng sinh mệnh của con người. Lư do đơn giản là chúng ta đă quên, đă đánh mất đi thực tại."

 Chúng ta nghĩ giác ngộ là một cái ǵ thật là to lớn, thật vĩ đại, thật phi thường - nhưng chúng ta đă lầm.

 "Giác ngộ chân lư thật ra vô cùng đơn giản, nó ở ngay trước mắt chúng ta, ngay trong phút giây hiện tại và bây giờ. Và một khi chúng ta ư thức được hiện tại, chúng ta giác ngộ được chân lư.

  "Tiếng Sanskrit gọi là Tâm Thức là "Smriti", tiếng Pali gọi nó là "Sati", và tiếng Tây Tạng là "Drenpa". Nói chung, tất cả đều có nghiă là "Hồi tưởng, Nhớ lại". Khái niệm đó quả không dễ hiểu. Nếu Tâm Thức c̣n có một nghiă "Hồi Tưởng, Nhớ" th́ kẻ thù của nó là "Quên Lăng". Chúng ta chỉ tỉnh thức trong chốc lát và rồi chúng ta lại quên. Quên rồi nhớ, nhớ rồi quên. Vấn đề rắc rối là ở chỗ đó, v́ sao? Bởi v́ chúng ta không có thói quen nhớ nên cứ hay quên.

 Cái đau khổ nhất của con người là họ luôn nh́n sự vật qua lăng kính khái niệm, phán xét, hay suy diễn. Thí dụ như khi chúng ta nh́n một người nào đó, chúng ta không nh́n đúng người đó đang là, mà chúng ta nh́n người đó qua sự liên hệ giữa ta và người đó, qua t́nh cảm cá nhân chúng ta thích hay không thích họ, hay người đó gợi cho chúng ta nhớ lại kỷ niệm ǵ, h́nh bóng nào, hoặc là người đó có những đức tính hay cá tánh ǵ hợp vớI chúng ta - Đối với tất cả sự vật, chúng ta đều đánh giá qua những giác quan thấy, nghe, nếm, ngửi, sờ mó, cộng thêm suy tưởng và kinh nghiệm của chúng ta. Và rồi, ư thức và kinh nghiệm đó đă đánh lừa chúng ta và biến chúng ta thành những con người máy móc, điều kiện. Hễ ai bấm nút th́ người máy đó cử động, nói năng."

  "Có người sẽ nghĩ rằng "Vậy th́ đă sao đâu? Có ǵ quan trọng đâu?" Nhưng rồi chúng ta sẽ dần dần tách rời thực tại, quên lăng kinh nghiệm, và chúng ta đánh mất luôn con người thật của chính chúng ta.

  "Những ǵ chúng ta cần làm là đem tất cả sự vật trở về lại nguyên vẹn h́nh hài, bản thể của chúng, và nh́n vạn vật "y như chúng "đang là"; giống như cái nh́n trong sáng, hồn nhiên của đứa bé con không đốI đăi, không phân biệt. Đứa bé con nh́n mầu sắc và các h́nh dáng không qua một lăng kính phán xét nào, đánh giá nào; tâm hồn đứa bé thật tươi mát, trong trắng làm sao ! Đó, trạng thái hồn nhiên tự tại đó chính là cái mà chúng ta phải có trở lại, phải áp dụng trở vào lại đời sống hàng ngày của chúng ta. Nếu chúng ta có thể tập làm được như vậy, tự nhiên chúng ta sẽ chuyển hóa được chính ḿnh và ngoại cảnh."

 "Ngài Milarepa đă từng nói: "Càng nhiều sóng gió, càng thêm hưng phấn", bởi v́ ngài đă cưỡi lên được đầu ngọn sóng phiền năo và lèo lái ngọn sóng đó một cách khéo léo và thăng bằng.

  "Đứng ở một lập trường quan điểm trí tuệ, chúng ta cũng nên thích ứng trở thành một con cọp hơn là một chú thỏ con hiền lành. Những chú thỏ th́ rất dễ thương, mũm mĩm, nhưng chúng nó không có đủ năng lực để vượt qua trở ngại. Trái lại, những con cọp dù hung dữ, nhưng với năng lực mạnh mẽ sẵn có, nếu biết sử dụng khéo léo, th́ năng lực đó chính là sự cần thiết quan trọng nhất để đối địch chốn rừng sâu của loài cọp.

 

CHƯƠNG MƯỜI LĂM
NHỮNG CUỘC THÁCH ĐỐ 

 

Từ một người ẩn cư trong hang động cô liêu, Tenzin đă phóng ḿnh ra khỏi qũy đạo của ḿnh để đi vào thế giới trần tục đầy u ám, phiền muộn. Từ một người sống yên tĩnh, Tenzin đă phải nói suốt hàng giờ không ngưng nghỉ. Từ một cuộc sống giản dị đơn thuần, Tenzin đă nhẩy vào cuộc chơi của cuối thế kỷ thứ 20 này; và thế giới mà cô tham dự trở lại đó thật khác xa hoàn toàn cái thế giới mà cô đă bỏ ra đi để tới Ấn độ năm 1963.

 Tenzin đă chứng kiến những khủng hoảng, bất an, căng thẳng của một nền văn minh xă hội vật chất dồn dập lên con người; đă thấy t́nh trạng thất nghiệp leo thang, và đời sống bấp bênh, không biết ngày mai của những kẻ vô gia cư, vô nghề nghiệp. Cô cũng đă đọc báo viết về mức độ tội ác bạo lực gia tăng và vấn đề sử dụng buôn bán ma túy càng ngày càng lan rộng trong xă hội. Cô cũng đă tận mắt trông thấy các bạn cô chạy đua tốc độ đến bở hơi tai theo nhịp sống vật chất cuồng loạn này. Đi đến đâu, cô cũng nghe các cấp chính quyền rao gọi thay đổi chính sách phục vụ cộng đồng cho nền kinh tế duy lư, và bây giờ lại đến những nhu cầu xa hoa mới như sự yên tĩnh, không gian, thời gian, và sinh thái môi trường, và cô cũng nhận thức rơ sự cần thiết cấp bách cho những giá trị tâm linh trong một xă hội thăng tiến vật chất kinh khủng này. Tenzin nói:

  - "— đây, người ta nung nấu v́ ham muốn. Khác với ở Lahoul, người dân sung măn về tinh thần hơn dù đời sống tiện nghi văn minh vật chất quả thật thua kém; và ở đây, ngoài vật chất ra, người ta cũng khao khát t́m ṭi một cái ǵ đó sâu xa và có ư nghĩa hơn trong đời sống của họ. Khi người ta dừng lại những đam mê bản năng, th́ người ta lại theo đuổi những nhu cầu khác. V́ thế,con người luôn luôn thất vọng, chán nản, và bức rức. Họ cảm thấy đời sống và mọi thứ sao phi lư, vô nghĩa quá. Họ đă có những ǵ họ muốn, nhưng rồi sao? Xă hội cứ thôi thúc bắt ép con người ta chiếm hữu hết cái này đến cái khác, nhưng rồi cuối cùng con người sẽ về đâu?

 "Tôi đă thấy sự cô đơn đang ngự trị khắp nơi, và con người chán nản không muốn hoạt động ǵ nữa khi cô đơn. Đó là trạng thái tâm lư hững hờ, lănh đạm, lệch lạc."  

Nhưng đặc biệt hơn những câu chuyện của Tenzin là vào giữa những năm 90, nhánh cây Phật giáo và nền triết lư thâm sâu, mật hiển đă sanh sôi nẩy mầm trên mảnh đất màu mỡ Tây Phương và người dân Âu Mỹ đă bắt đầu t́m hiểu một tôn giáo phương Đông với cái nh́n đúng đắn hơn, trưởng thành hơn, và khách quan hơn - và rồi từ đó, dân chúng gồm đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi ở Âu Châu, Hoa Kỳ, Gia nă Đại, Úc Châu và Tân Tây Lan đều hết sức ngưỡng mộ thán phục nền triết học uyên bác vĩ đại của Phật giáo và hết ḷng cung kính các vị Lạt Ma đức hạnh đă truyền bá đạo Phật sang Âu Mỹ. Kết quả rỡ ràng của sự hoằng pháp thành công này là các trung tâm thiền đường Phật giáo, nhất là Phật giáo Tây tạng, đă mọc lên như nấm trên khắp thế giới. Những thời kỳ thịnh vượng của Phật giáo tại Âu Mỹ nay đă suy rồi. Nhưng tín đồ buổi đầu tiên đó, sau 30 năm nghiên cứu thực hành giáo lư, đă bắt đầu t́m hiểu tính chất nhân bản và thực tiễn hơn của nền tôn giáo đang trồng rễ trên đất nước họ. Những nhược điểm và sự không nhất quán trong nội bộ đồng loạt bị phơi bày ra, và có thể nói, khi Đông Phương bị ràng buộc bởi hàng rào tập tục luân lư xă hội th́ Tây Phương, được tự do ngôn luận hơn, không có những đắn đo, ngại ngùng, hay e dè nào cả, sẵn sàng nói huỵch tẹt ra mọi việc.

 Tenzin Palmo đă trở về lại cái thê giới trần tục này ngay trong giai đoạn rộn ràng đó; và những cuộc tranh luận, bàn căi, thách đố nhau công khai, hay những mâu thuẫn trường phái đố kỵ lẫn nhau đă vô t́nh giúp cho cô tự t́m ra con đường của chính ḿnh.

 Những lũng đoạn trong Tăng đoàn Phật giáo ở Âu Mỹ bắt nguồn từ những tật xấu lợi dưỡng cá nhân của các vị Tăng sĩ. Theo Phật giáo Tây Tạng, vai tṛ và cương vị của vị đạo sư rất quan trọng. Các tín đồ kính ngưỡng vị đạo sư của ḿnh như một vị Phật. "Đạo sư (guru) là Phật, Đạo sư là Pháp, Đạo sư là Tăng." Từ sự suy tôn đó, người ta thần thánh hóa vị đạo sư và cho tất cả những ǵ vị đạo sư đó nói đều đúng, đều thật, và họ đă vô t́nh tôn vinh bản ngă ông đạo sư để rồi đưa đến những hậu quả thảm hại, ê chề. Ông đạo sư cũng vẫn c̣n bằng xương bằng thịt, đă chứng quả Thánh ǵ đâu, nên những sự cúng dường tôn sùng quá mức đă làm nảy sinh tâm tham đắm mê muội. Ví dụ như trường hợp của Chogyam Trungpa, người thầy hướng dẫn tâm linh và cũng là người bạn đầu tiên của Tenzin Palmo, đă để lại bao nhiêu là tai tiếng bê bối sau khi ông ta qua đời năm 1987. Trungpa không những đắm ch́m trong men rượu mà c̣n liên hệ t́nh dục với các nữ tín đồ hay đệ tử của ông ta. Nhiều người đă than phiền và tố cáo hành vi sai trái xúc pham danh tiết phụ nữ của Trungpa; họ c̣n cho biết là cuộc đời họ thực sự đă bị phá hủy bởi ông này. Kinh khủng hơn nữa là người đệ tử kế thừa của Trungpa, Thomas Rich, pháp danh là Osel Tendzin, sanh tại Mỹ, không những đă nhiễm căn bệnh nguy hiểm AIDS mà ông ta đă hết sức dấu kín, mà c̣n lây luôn cho một nữ đệ tử trong số hàng loạt các nữ tín đồ dấu tên của ông ta. Đó là một vài trường hợp điển h́nh trong số rất nhiều vụ tai tiếng bê bối của các vị đạo sư ở Âu Mỹ.

 Các nữ tín đồ thật vô cùng ngây thơ khi bị các ông thầy lừa bịp nói là các cô đă được tuyển chọn để làm vợ các ông trong sự liên hệ "thần bí" theo phái Mật tông Tây Tạng; v́ thế, các cô rất ư là hănh diện và sung sướng là ḿnh đă trúng tuyển đặc biệt. Niềm tin mù quáng vào ông thầy đă khiến các cô bị lừa bịp thảm thương và đồng thời cũng gây tiếng xấu ảnh hưởng đến Tăng đoàn Phật giáo. Tenzin Palmo nhận xét rằng người phụ nữ Tây Phương c̣n kém kinh nghiệm và không hiểu biết phải làm thế nào để t́m cho được một vị minh sư, và ngay cả đến ư nghĩa thế nào là một vị đạo sư chân chính, đúng đắn, họ cũng không rơ nữa. Sự khao khát học hỏi giáo lư và nương tựa vào một vị lănh đạo tinh thần đă khiến các phụ nữ Tây Phương dễ bị mắc lừa và trở thành con mồi ngon cho sự lợi dụng thỏa măn t́nh dục.

  - "Nhiều người Tây Phương đă hiểu sai về thiên chức vị đạo sư. Họ cho rằng vị đạo sư là người d́u dắt họ từng bước một trên con đường t́m cầu chân lư, như đứa con cần sự dắt d́u của người mẹ. Nhưng thức ra không phải vậy. Vị đạo sư là người có bổn phận giúp đỡ mọi người nhận thức rơ ràng hơn, trưởng thành hơn, tỉnh thức hơn. Chức năng của vị đạo sư là giới thiệu cho chúng ta con đường trở về với bản nguyên và sợi dây liên kết giữa thầy tṛ là một sự cam kết tôn trọng lẫn nhau. Về phần người học tṛ th́ phải có trí tuệ suy xét những ǵ thầy ḿnh làm có đúng chánh pháp hay không, nghe lời Thầy dạy, và thực hành theo những ǵ Thầy hướng dẫn. Về phần người thầy cũng phải dạy dỗ hướng dẫn học tṛ ḿnh đạt đưọc chân lư, dù phải trải qua vô lượng kiếp.

 Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng có lời khuyên chân thực rằng "Qúy vị phải t́m hiểu ḍ xét về người thầy ḿnh ít nhất là 10 năm. Qúy vị phải nghe, phải quan sát, phải nh́n cho thật kỹ cho đến khi qúy vị nhận xét ông thầy đó chắc chắn là trong sạch. Ngay trong lúc t́m hiểu đó, qúy vị cư xử với vị thầy đó như một người b́nh thường và nhận những lời dạy của ông ta như là "một thông báo, một lời giới thiệu." Một người thầy chân chính, đúng đắn không bao giờ đi t́m cầu học tṛ hay tín đồ ǵ cả. Chính đức hạnh và đời sống thanh cao của vị thầy sẽ hướng dẫn các tín đồ t́m đến vị thầy xin nương tựa."

 Đối với tất cả những phán xét, phê b́nh hay chê trách những vị đạo sư, Tenzin vẫn luôn luôn kính trọng Sư Phụ của cô là ngài Khamtrul Rinpoche :

 - "Tôi có thể nói Khamtrul Rinpoche là người tôi tuyệt đối tin tưởng. Tôi không bao giờ nghi ngờ Thầy tôi dù là một phút giây. Ngài đă chỉ dạy tôi thật chính xác, tuyệt hảo. Tôi không hề thấy có điều ǵ tôi cần thắc mắc. Sư Phụ tôi lúc nào cũng sắc sảo, trí tuệ, và vô ngă."

 Đối với nhiều tín đồ Phật giáo Âu Mỹ, h́nh tượng "Đạo Sư" đă bị tổn thương nặng nề. Đó không phải chỉ v́ những vụ bê bối tai tiếng mà chính v́ thời điểm của họ đă tận. Theo sự nhận xét của người Âu Mỹ cuối thế kỷ 20 này, h́nh tượng vị đạo sư chẳng qua chỉ là sản phẩm của một hệ thống giai cấp trưởng lăo trên cơ bản cấu trúc và tôn ti cấp bực; và với sự phát triển của giới lănh đạo nữ, ngày tàn của hệ thống quyền hành trưởng lăo đó sắp sửa kết thúc.

 Andrew Harvey, cựu học giả đại học Oxford và cũng là một thi sĩ, đă mất nhiều năm đi t́m chân lư với sự hướng dẫn của nhiều đạo sư khác tôn giáo trên khắp thế giới, kể cả vài vị Lạt Ma nổi tiếng đương thời, Linh Mục Bede Griffiths (người xây một đền thờ ở Ấn), và một nữ đạo sư Ấn Độ Mẹ Meera, đă nói lên kinh nghiệm học hỏi của ông ta trong một cuộc phỏng vấn ở đài phát thanh :"Tôi rất sung sương được học hỏi với các vị thầy của tôi, nhưng đồng thời tôi cũng nhận thức rằng, nếu sự liên hệ giữa thầy tṛ xảy ra trong t́nh trạng lệch lạc, kém tinh thần th́ chúng ta dễ mất đi niềm tin và phương hướng. Nếu chúng ta không được hướng dẫn đúng đắn th́ chúng ta khó có thể tiếp cận đối phó với thế giới bên ngoài được, và sự lệch lạc đó cũng làm băng hoại ông thầy đi. Chúng ta đang đi t́m một kiến thức mới, một mô h́nh mới của sự liên kết giữa thầy tṛ phải như thế nào.

 Tôi nghĩ rằng trong ṿng 10 hay 15 năm tới, sẽ có nhiều thay đổi. Chúng ta sẽ không c̣n giữ đường lối xưa cũ của các vị thầy phương Đông nữa. Nó không c̣n phù hợp với thực tế hiện trạng bây giờ. Chúng ta cần một sức một sức mạnh tinh thần thực sự giúp chúng ta phấn chấn lên và đẩy chúng ta đi tới phía trước

 Những ǵ mà giới trí thức tân tiến ngày nay cần để thay thế cương vị "người thầy" là người bạn tâm linh. H́nh tượng người "bạn tâm linh" đó không cần phải rêu rao là đă chứng đắc, cũng chẳng cần phải được tôn sùng tuyệt đối và phải được vâng lời dạy bảo hoàn toàn; mà người bạn đó chỉ cần đồng hành, cùng đi chung một con đường với người đang đi t́m chân lư. Đó là một giải pháp dân chủ phù hợp với văn hóa phương Tây. Tenzin Palmo đồng ư với quan điểm đó. Cô đă gặt hái được nhiều kinh nghiệm vô giá qua sự liên hệ giữa cô và vị đạo sư của cô; nhưng đă nói, Tenzin quả là một người may mắn và phi thường nhất trên đoạn đường t́m chân lư. Tenzin nói :

 - "Thẳng thắn mà nói, tôi nghĩ người Tây Phưong nên thực tập giáo lư Phật giáo và nương tựa nơi những vị thầy đạo hạnh hơn là những vị đạo sư. Hai danh từ "Thầy" và "Đạo Sư" không cùng một ư nghĩa như nhau đâu. Một vị Đạo sư có sợi dây liên hệ rất mật thiết và đặc biệt quan trọng với người đệ tử, và chúng ta chỉ có một đạo sư mà thôi - nhưng chúng ta có thể có nhiều thầy; như ngài Atisha (vị sáng lập Phật giáo Tây Tạng vào thế kỷ thứ 10), ngài có tới 50 vị thầy. Hầu hết các vị thầy đều có đầy đủ khả năng để hướng dẫn chúng ta và ngay tự chúng ta, chúng ta cũng có thể tự ḿnh đi tới đích một cách hoàn hảo. Chúng ta có trí tuệ, có sức mạnh tâm linh. Nếu chúng ta gặp một thiện hữu trí thức giúp đỡ chúng ta, quá tốt; nếu không, chúng ta vẫn có thể tự chứng qua sự thực hành giáo pháp. Điều quan trọng hơn hết là chúng ta phải hiểu biết rơ ràng sâu sắc về Phật, Pháp, và Tăng."

 

 

CHƯƠNG MƯỜI SÁU
MỘT HANG ĐỘNG ẨN TU CÓ CẦN THIẾT KHÔNG? 

 

Khi Tenzin Palmo ẩn thân trong động tuyết để theo đuổi mục đích cầu đạo của cô, th́ các phụ nữ Âu Mỹ khác đang bận rộn phong trào đấu tranh đ̣i quyền lợi cho phái nữ của riêng họ. Khi Tenzin xuất động, giới nữ cũng đă tạo được một số thành tích đáng kể, và đă tự tin rất nhiều, không c̣n e dè kiêng nể ǵ sự thống trị của phái nam hay tôn giáo.

 Những thời đại đă thay đổi nhanh chóng, cái cũ phải nhường bước cho cái mới. Vị trí người nữ trong Phật giáo cũng đă thay đổi và họ bắt đầu t́m hiểu tận cùng gốc rễ nguyên lư nền truyền thống cổ xưa ở Tây Tạng mà Tenzin đă noi theo một cách trung thành, và họ cũng bắt đầu đ̣i hỏi các h́nh tượng Phật cũng phải mang nét nữ nhiều hơn.

 Trong số những câu hỏi hóc búa của giới nữ đặt ra cho Tenzin, sự thắc mắc "Một hang động có cần thiết cho sự ẩn tu không?" là câu hỏi rất đặc biệt gây chú ư.

 Họ nghĩ là "Một hang động không tiện lợi cho phái nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ, và làm chủ gia đ́nh. Khi người đàn ông có thể xuất ly khỏi gia đ́nh, như Đức Phật đă cắt ái từ thân, dấn thân vào những chặng đường thiền định cô độc lâu dài để mong đạt được giác ngộ - th́ người phụ nữ không thể làm được như vậy hoặc họ cùng không muốn làm như vậy hoặc họ cũng không muốn làm như vậy. Tuy nhiên, không thể kết án hay xem nhẹ người nữ như là một kẻ bị tật nguyền nếu họ không thể ẩn cư thiền định nơi núi rừng, hang thẳm. Người nữ, với thiên chức làm mẹ, đă tiếp tay tạo ra giống ṇi, ngay cả Đức Phật, Chúa Jesus, hay các Thánh Nhân khác đều nhờ vào cơ thể người nữ mà hiện thân ra.

 Động thất, theo ư họ, chỉ là một mô h́nh lư tưởng để cầu t́m giác ngộ - Những người phụ nữ trí thức trong mọi lănh vực đă lên tiếng nói những ǵ họ muốn. Họ cho rằng cả hai vấn đề tâm linh và gia đ́nh đều quan trọng như nhau. Họ muốn thực tập các pháp môn bao gồm luôn cả trẻ con và gia đ́nh. Họ cũng giới thiệu pháp môn trị liệu cảm xúc như là một môn pháp thiền định, và họ cho rằng nhà bếp cũng là một chỗ tốt để thiền quán đạt giác ngộ như là một thiền đường hay hang động Hy Mă Lạp Sơn xa xôi kia. Đó là sự cách mạng tư tưởng đă làm thay đổi bộ mặt Phật giáo.

 Tsultrim Allione, một phụ nữ người Mỹ, đi bước tiên phong cho phong trào cách mạng tư tưởng này. Bà đă xuất gia năm 1970 nhưng bốn năm sau đă hoàn tục, lấy chồng, và sanh con. Bà là tác giả cuốn "Women of Widsom", một trong những quyển sách đầu tiên nói về vị trí người nữ trong Phật giáo, và sau đó thành lập trung tâm thiền "Tara Mandala" ở Pagosa Springs, Colorado, nơi sản sinh ra nhiều người nữ trí thức, kinh nghiệm, và cấp tiến. Bà Allione là người phụ nữ đầu tiên đă kinh nghiệm cả hai mặt tu tập và đời sống gia đ́nh bằng chính cuộc đời bà.

 - "Tôi đă hoàn tục bởi v́ tôi là vị ni cô Phật giáo Tây Tạng duy nhất ở Hoa Kỳ lúc bấy giờ. Tôi cảm thấy rất cô đơn, lẻ loi, và không nhận được sự trợ cấp dưỡng bảo vệ ǵ cả. Lúc đó, tôi mới 25 tuổi, sức sống đang tràn trề, sự khao khát t́nh dục đ̣i hỏi, và bắt đầu chán nếp sống độc thân cô đơn của đời tu sĩ. V́ thế, tôi hoàn tục và một năm sau, tôi trở thành một người mẹ và một nữ văn sĩ. Đối với tôi, sự quyết định đó thật đúng và tốt. Từ ư nghĩ muốn vượt qua được sự ganh tỵ, giận hờn hay tất cả những cảm xúc tư tưởng bi quan yếm thế, tôi lại bị những xúc cảm đó tạt trở lại vào mặt. Từ ư nghĩ muốn có được nhiều th́ giờ cho riêng tôi, tôi lại chẳng được ǵ hết. Tôi nhận xét rằng, khoác chiếc áo nhà tu, tôi có cảm tưởng như được che chở khỏi suy nghĩ đến những cảm xúc đột biến thầm kín riêng tư - nhưng không, chúng vẫn trơ trơ nằm đó. Tôi phải nghiền ngẫm sâu hơn, tận cùng hơn lớp vỏ bên trong của năm món độc kia để thấy chúng là ǵ và học cách đối phó thẳng với chúng, không bao che hay trốn chạy chúng nữa. V́ thế, tôi quyết định hoàn tục để sống đúng với cảm xúc và con người thật của tôi. Nếu tôi vẫn c̣n là một ni cô, có lẽ tôi đă tự che dấu ḿnh và kiêu căng ngă mạn cho là tôi đă vượt qua được tất cả."

 Tsultrim Allione, trong 5 năm sanh 4 người con (một đứa chết lúc c̣n bé). Bà đă tranh căi về vấn đề gia đ́nh và vai tṛ làm mẹ là một trở ngại lớn cho công cuộc khám phá tâm linh. Bà nói:

 - "Chúng ta phải tự hỏi ḿnh là "Nhận thức tâm linh là ǵ?" Bản năng làm mẹ trong người nữ cũng mạnh và cần thiết như t́nh yêu và họ sẵn sàng hy sinh cá nhân. Sự nhận thức được định nghĩa bởi con người qua những sự kiện thăng trầm thay đổi. Chúng không phải là kinh nghiệm giác ngộ giải thoát. Người nữ cũng sẵn sàng xả ly những ǵ họ đang có. Đó là phẩm chất cao qúy của người nữ và để hiểu rơ về con người, chúng ta cần phải làm mẹ và làm một phụ nữ b́nh thường. Là một người mẹ, tôi đă dứt bỏ được ảo ảnh về cá nhân tôi. Tôi đă chọn cách thất bại như thế nào để sống đúng với cảm giác tư tưởng của chính tôi."  

Đối với bản thân Allione, bà cam đoan rằng một hang động không cần thiết cho việc tu tập. Bà nói:

 - "Tôi tin rằng người phụ nữ ở nhà cũng có thể giác ngộ được. Đó là điểm tối ưu của Mật Tông. Có một câu truyện về một phụ nữ giác ngộ khi gánh nước. Cô ta miên mật hành thiền ngay cả khi gánh nước hay làm bất cứ công chuyện ǵ. Một ngày kia, cô đang gánh nước về nhà, bỗng bị đứt dây thùng, nước đổ ào ra và cô hoát nhiên đại ngộ. Giáo lư thâm huyền của Mật Tông cũng đă được giới cư sĩ đạt được uyên áo chứ không phải chỉ có giới tăng sĩ mới thấu triệt được. Điều đó cho chúng ta thấy hai hệ thống tu sĩ và cư sĩ cũng có những khái niệm hay tư tưởng, lư tưởng khác nhau. Mỗi người nên tùy căn cơ của chính ḿnh mà thực hành để đạt kết quả; cuộc đời tu sĩ quá tốt mà nếp sống gia đ́nh cư sĩ cũng không phải quá dở."  

Yvonne Rand, một trong nhũng vị dạy thiền nổi tiếng người Mỹ, cũng đă nói lên tư tưởng của bà về đời sống một người cư sĩ. Yvonne cũng đă có lần mời Tenzin Palmo tham dự một cuộc họp cuối tuần tại trung tâm thiền của bà ở Muir Beach, California. Bà cũng nhận xét thấy những khó khăn trở ngại lớn nhất mà người phụ nữ phải đối phó với những ước vọng tâm linh. Trước khi thành lập trung tâm độc lập của riêng bà, Yvonne là chủ tịch Trung Tâm Thiền ở San Francisco, một địa vị mà bà cảm thấy như có đối kháng mâu thuẫn với vai tṛ làm mẹ của bà.

 - "Là phụ nữ, tôi cũng muốn được gánh vác nhiều trách nhiệm, nhưng tôi cảm thấy mọi người xem tôi như là người phụ thuộc, người thứ hai trong xă hội mà thôi. Người ta không cảm thông mấy cho vai tṛ một bà mẹ độc thân của tôi và tôi thường hay bị tẩy chay v́ chưa đủ nghiêm túc khi thực hành công phu thiền định. Ví dụ như thật khó tin khi phải dậy sớm mỗi buổi sáng và đi tọa thiền ở các thiền đường th́ phải để các con nhỏ của tôi một ḿnh ở nhà. Tôi không thể nào yên tâm được nên dù cố định tâm để thiền quán cũng không được."

 Đúng ra Yvonne xác nhận là bà thực hành nhiều theo khoa tâm lư trị liệu của Nhật Bản hơn là Phật giáo, và bà nghĩ rằng căn nhà là chỗ thích hợp nhất để tu tập cho các nhóm cư sĩ tụ hội lại với nhau. Cuốc cùng, tôi nghĩ rằng dù dưới h́nh thức một người cư sĩ, một vị tăng sĩ, hay một bà nội trợ và ở bất cứ nơi đâu, tôi vẫn đều đặn tu tập như một tu sĩ ở trong thiền viện. Khi quán tưởng được như vậy, lần đầu tiên, tôi cảm thấy yên ổn và thư giăn được đầu óc."

 Khi được hỏi "Người phụ nữ có thể đạt được cảnh giới giác ngộ tối thượng không?" Yvonne trả lời :"Tôi không biết ǵ về giác ngộ giải thoát, nhưng tôi nghĩ người phụ nữ sẽ tiến được rất xa. Tôi kinh nghiệm được mùi vị giải thoát khi tôi bắt đầu nhận thức thực tại hiện hữu trong từng giây phút, tại đây, ngay trong lúc này, khi tôi không đeo hành lư nặng nề của ngày hôm qua, hay khi tôi ôm đồm cả hai, hôm qua và ngày mai.

 "Cái quan trọng nhất của sự tu tập là Miên mật hành tŕ, không gián đoạn. Nếu bạn đang thực hành một pháp môn nào, ví dụ như thực tập chánh niệm, bạn phải miên mật tu tập 12 lần trong 1 ngày th́ mới thâu lượm được nhiều kết quả; hay bạn tập cười hàm tiếu, bạn nhích nhẹ đôi môi, cười, và giữ yên như vậy độ 3 hơi thở. Nếu tôi tập làm như vậy 6 lần hay hơn nữa mỗi ngày, trong ṿng 3 ngày thôi, chắc chắn tôi sẽ cảm thấy có điều kỳ diệu xảy ra cho tôi, trong tôi, trong đầu óc và cơ thể tôi. Bạn có thể thực tập như vậy khi đứng chờ đợi người nào, khi phải giữ máy điện thoại, lúc ở tiệm bán thực, ở phi trường, hay dừng xe những ngă tư đường lúc đèn đỏ, v.v... "

 Những lời của bà Yvonne nói sao nghe giống lời của Tenzin Palmo đă tŕnh bày về phương cách hành thiền.

 Yvonne tiếp tục: 

- "Có rất nhiều cách bạn có thể thực tập ở nhà. Bạn có thể thực tập kiên nhẫn hay sử dụng chuyển hóa những trở ngại vướng bận một cách khéo léo như thầy các bạn đă làm. Trước kia, tôi thường ngồi bên cạnh những người đang hấp hối, và sau những giờ quán niệm Vô Thường, tôi trở thành một với xác chết. Đó là một phương pháp tu học kỳ diệu. Tôi không những hiểu được về lư vô thường của vạn vật và sợi dây liên hệ giữa hơi thở và tâm thức, mà tôi c̣n hiểu rằng Chết và Sống có chiều liên quan với nhau - Ta sống như thế nào, ta chết như thế ấy. Sống vui vẻ, tốt đẹp th́ Chết an ổn, thoải mái. (living well, dying well).

 "Nếu bạn đă chọn được những pháp môn thích hợp nào, bạn thực hành theo đó trong vài năm, bạn sẽ thấu đạt được toàn vẹn ư nghĩa của những pháp môn đó và bạn cũng không cần áp dụng những pháp môn mới cho đến khi bạn thực hành một cách viên măn những pháp môn đă chọn lựa. Một trong những chướng ngại tâm lư của người Mỹ là họ sống không khiêm tốn, giản dị. Họ tham lam, hấp tấp hưởng thụ và mong muốn chiếm đoạt tất cả cùng một lúc."

 Không phải chỉ có giới nữ mới đặt ra câu hỏi hóc búa đó, mà ngay cả giới nam cũng e dè lên tiếng trả lời câu hỏi "Động thất ẩn tu có cần thiết không?"

 Một vị thầy dạy về thiền Minh Sát, Jack Kornfield, một trong những vị thiền sư nổi tiếng người Mỹ, đă tŕnh bày về phương cách, khái niệm "nhập thất ngắn hạn (vài tháng vào thất, vài tháng ra thất) như là một giải pháp thay thế cho những ai muốn nhập thất ở những nơi u tịch thanh nhă. Ông ta cho rằng sự nhập thất quá lâu sẽ tạo ra những trạng thái tâm lư bất ổn, không thích ứng cho hành giả một khi người đó muốn ḥa nhập lại xă hội. Tâm lư những người Âu Mỹ không thể thích hợp được với những pháp môn tu tập ẩn cư xuất thế như vậy, và sự nhập thất dài hạn (theo ông nghiên cứu qua vài người tu tập) đă dẫn tới sự khủng hoảng tâm lư và lănh đạm xa lánh người đời.

 - Anh quốc, một vị giáo sư Phật học nổi tiếng, Stephen Bachelor, Khoa trưởng Phật học và khoa Thông Tin Thời Đại ở đại học Sharpham, đă đồng ư với nhận xét của Jack Knornfield. Ông này đă xuất gia hơn 10 năm theo truyền thống Thiền Phật giáo trước khi trở thành một trong những người Phật tử theo chủ nghĩa hoài nghi nổi tiếng, thường đặt những câu hỏi về những nguyên lư cơ bản giáo lư như là Thuyết Tái Sanh, Hóa Thân, v.v... Là bạn của Tenzin Palmo, ông ta cũng có ư kiến phê b́nh về vấn đề nhập thất ở hang động.

-"Nhập thất ở một nơi cô tịch thanh vắng ảnh hưởng rất nhiều đến tánh khí vị hành giả. Tenzin Palmo là một trong những người ngoại lệ có kinh nghiệm cao, sống thực, và khi cô nhập thế trở lại, cô không bị ức chế hay trở ngại ǵ. Cô rất thân thiện, cởi mở, và ḥa hợp ngay được với mọi người; chứ không giống như một số các vị hành giả khác nhập thất quá lâu, có khuynh hướng hướng nội hoàn toàn và xa lánh thế tục. Tôi nghĩ tới vài trường hợp khác của những người không có được cơ sở tâm lư vững chắc và những cuộc nhập thất quá dài sẽ đưa đến hậu quả khủng hoảng tâm lư. Họ nên đi t́m câu trả lời về trạng thái bất an và lănh đạm đó, và khóa chặt chúng nó lại hơn là để chúng nó vượt quá trớn phạm vi tâm lư. Chúng ta cần phải buộc dây những cảm xúc lại làm sao để chúng ta có thể đối phó được với sự cô đơn, u tịch của nội tâm lẫn ngoại cảnh."

 

CHƯƠNG MƯỜI BẢY
BÂY GIỜ 

 

Đă chín năm trôi qua từ lần đầu tiên tôi gặp Tenzin Palmo trong ṭa lâu đài ở Tuscany và từ đó, tôi thâu lượm tài liệu viết lại câu chuyện đời Tenzin.

 Tenzin đă giảm bớt đi ánh sáng linh động rực rỡ nội tâm cô đă có từ lúc cô bắt đầu xuất động, mặc dù ánh mắt cô vẫn sáng ngời và tính cách cô vẫn thân thiện, cởi mở, và hoạt bát.

 Những năm tháng dài miệt mài đi giảng dạy không ngừng nghỉ đă hằn dấu chân trên nét mặt Tenzin. Thật là một Phật sự nặng nề, khó nhọc. Khi tôi viết quyển sách này, Tenzin đă quyên góp được một số tiền đủ để mua đất và đặt xây nền móng.

 Đối với người có cơ sở vững chắc mà làm được như vậy th́ cũng đà thành công tốt đẹp rồi, huống chi đối với Tenzin, một phụ nữ không nhà không cửa, không nghề nghiệp, không một đồng xu dính túi, và cũng chẳng có một cơ quan từ thiện nào giúp đỡ mà xây dựng được như vậy th́ quả là phi thường xuất sắc. Tức nhiên đó là một hành tŕnh dài, thật dài Tenzin phải đi để quyên góp xây dựng Ni viện. Tenzin không hề nản chí, bực dọc, hay mất hy vọng v́ Phật sự quan trọng này. Cô không bao giờ lộ ra vẻ mệt mỏi, chán nản cả. Cô cứ miệt mài làm việc và đi thuyết giảng không ngừng nghỉ. Cô cũng chẳng có một tham vọng cá nhân nào trong công cuộc này. Cô làm v́ đó là một Phật sự nên làm, phải làm, vậy thôi.

- "Cuộc đời tôi đặt trong tay Đức Phật, Pháp, và Tăng. Tôi đă tùy duyên xoay chuyển mọi t́nh thế thật tốt đẹp. Những ǵ cần thiết đối với tôi là phụng sự hạnh phúc của chúng sanh. Hăy để tôi hoàn thành bổn phận này, ngoài ra, tôi không cần ǵ cả. Hơn thế nữa, tôi khám phá ra rằng nếu tôi cố thúc đẩy mọi việc để sớm thành công th́ tất cả lại đi sai bét. Cứ để cái ǵ tới sẽ tới, vạn sự tùy thuận duyên mà tới".

 Với niềm tin kiên cố và hoàn toàn vào chư Phật, Tenzin vững bước tiến tới, không e dè sợ sệt ǵ cả. Đi đến đâu, cô cũng được mọi người sẵn sàng giúp đỡ cô mọi mặt từ vật dụng cá nhân, chỗ ở, di chuyển, ăn uống, vé máy bay hay tiền bạc; tất cả những ǵ cô cần, cô đều được giúp đỡ chu đáo.

 Tenzin nói:

 - "Đời sống một vị tăng sĩ, không có một sự bảo đảm xă hội nào, có thể nói tùy thuộc vào ḷng quảng đại của mọi người - nhưng trái ngược lại với ư nghĩ của một số người Tây Phương thiển cận, đó không phải là sự ăn bám mà đó là Đức tin. Ngay chúa Jesus cũng nói :"Các ngươi không cần nghĩ ngày mai các ngươi sẽ ăn ǵ và sẽ mặc ǵ."

 Chúng ta cần có một niềm tin vững chắc rằng nếu chúng ta tu hành đúng đắn, chúng ta sẽ không bao giờ chết đói cả, chúng ta sẽ được giúp đỡ không những chỉ là vật chất mà c̣n tất cả."

 Tenzin Palmo đă đứng vững giữa ḍng đời xuôi ngược của cuối thế kỷ 20 này, không chao đao ngă nghiêng theo thời cuộc. Tenzin không sở hữu một vật ǵ đáng giá ngoại trừ mấy bộ y áo, vài quyển kinh sách, một túi ngủ du lịch, và vài ba thứ vật dụng cá nhân cần thiết. Có một lần Tenzin nổi hứng mua một cái gối nhỏ đắt tiền để kê dưới cô khi đi du lịch, nhưng chỉ một thời gian rất ngắn sau, cô đă đánh mất nó. Cô cười nói :

  - "Tôi nghĩ rằng mất cái gối đó thật đúng, nếu không tôi chắc sẽ bám víu chấp giữ nó quá." Trương mục ngân hàng của Tenzin vẫn rỗng tuếch như từ hồi xưa đến giờ. Cô không bao giờ tơ hào một đồng xu những số tiền đóng góp để xây Ni viện, dù là dùng tạm đi đó đây thuyết giảng. Cô không hề quan tâm tới tiền bạc để lợi dưỡng cá nhân. Cô sẵn sàng mở bóp và dốc hết tiền (nếu có) cho những ai cần đến. Cô theo đuổi đời sống xuất gia mà cô đă lư tưởng và mơ ước, và cô quan niệm rằng sự Thiểu Dục Tri Túc chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc b́nh yên cho tâm trí.

 Đi du lịch ṿng quanh một số nước với Tenzin, tôi đă thấy những nét tương phản tâm lư trên gương mặt Tenzin mà chúng ta không thể nào hiểu thấu được. Tenzin vẫn luôn hoạt bát, ḥa đồng, giản dị khi tiếp xúc với quần chúng, nhưng đồng thời nh́n sâu vào mắt cô, chúng ta sẽ thấy như cô đang nh́n vào cơi xa xăm nào đó cuối tận chân trời ; nơi đó h́nh như quá xa và chúng ta chưa nh́n thấy được. Cô có thể đợi chờ người ta, những chuyến bay, những sự việc hằng giờ hoặc hằng ngày không cau có mệt nhọc, không phàn nàn phiền trách ǵ cả; nhưng mỗi khi Tenzin cần quyết đoán một việc ǵ, cô rất thẳng thắn và mạnh mẽ cương quyết bảo vệ lập trường của cô không lùi bước, ví dụ như cô cực lực khuyến khích mọi người không nên sát sanh ăn thịt, hay thở dài khi đề tài nói chuyện bỗng chuyển sang ngày Lễ Tạ Ơn Chúa với gà tây quay, hay khó chịu khi thấy cả một dăy sách dạy câu cá trưng bày một cách hănh diện hợm hĩnh trên giá sách. Tuy nhiên, cá tánh đặc biệt nổi bật của Tenzin luôn luôn là thái độ thân thiện, cởi mở, ḥa nhă, và không phân biệt thân sơ với tất cả mọi người. Cô không bao giờ lộ vẻ mệt mỏi hay buồn chán khi phải tiếp chuyện với ai quá lâu. Bạn bè của cô rất đông, và nếu người nào đó đă tiếp xúc với cô chỉ một lần thôi, họ cũng không bao giờ quên cô. Cô gần gũi thân mật ngay cả các em nhỏ.

 Tenzin vẫn thường liên lạc hoặc ghé thăm Khamtrul Rinpoche đời thứ 9 (thân tái sanh của Sư Phụ Tenzin, Khamtrul Rinpoche đời thứ 8) mỗi khi có dịp ghé về Tashi Jong, miền Bắc Ấn. Khamtrul Rinpoche đời thứ 9 bây giờ là một thiếu niên cường tráng, nổi bật, và hơi mắc cỡ. Tenzin dạy Khamtrul thiếu niên này tiếng Anh và t́m cách đưa vào thế giới cô đơn và khô khan của chàng Khamtrul Ripoche những tư tưởng phóng khoáng của Âu Mỹ. Bây giờ, người dẫn đường tâm linh cho Tenzin là các nữ thần Dakinis. Cô luôn cảm thấy có sợi dây vô h́nh liên hệ mật thiết giữa cô và các nữ thần Dakinis. Cô nói "Tôi luôn luôn được các ngài bảo vệ."

 Thời gian này cũng có nhiều sự kiện thay đổi trong Ni chúng Phật giáo. Từ năm 1993, khi Tenzin và các phụ nữ khác dự cuộc hội nghị Dharamsala và tŕnh bày lên Đức Đạt Lai Lạt Ma những trường hợp kỳ thị, phân biệt về giới tính, nếp sống Ni chúng đă bắt đầu cải thiện đôi chút. Một phái đoàn Ni cô được mời đi du lịch khắp thế giới và các ni cô này đă tự tŕnh bày những mạn đà la vẽ h́nh Nữ Thần Kalachakra bằng cát mầu để cổ vũ cho nền ḥa b́nh thế giới - một công việc mà xưa kia chỉ có tăng sĩ mới được làm. Một ni viện mới Dolma Ling đă được xây cất tại Dharamsala và cho phép giới Ni được học nghệ thuật tranh luận về giáo pháp. Đó là một bước nhảy vọt rơ rệt cho Ni chúng v́ ngày xưa môn học trí thức này chỉ có tăng sĩ mới được học và công khai tranh luận. Vào năm trước, các ni cô đă thu hết can đảm công khai thách đố tranh luận giáo pháp ngay tại tu viện của Đức Đạt Lai Lạt Ma, trước sự hiện diện của đông đảo tăng sĩ. Các ni cô đứng đó, nhỏ bé, trẻ măng, và gương mặt rạng rỡ hồn nhiên, đập chân vỗ tay tranh luận theo cung cách của Phật giáo Tây tạng, và có một số quan sát viên người Âu Mỹ tham dự buổi tranh tài đó và họ đă nói là họ thấy các ni cô trẻ đó đă chảy nước mắt v́ xúc động được lên tiếng cho chính ḿnh; và rồi sự đ̣i hỏi được thụ giới Tỳ Khưu Ni cũng được tán thành chấp thuận. Đức Đạt Lai Lạt Ma đă gởi phái đoàn đi Đài Loan để học hỏi về truyền thống tu học của Ni chúng Trung Hoa, với hy vọng sẽ áp dụng được cho Ni giới Tây Tạng. Cuối cùng, sau 1000 năm, thời điểm giải phóng Ni chúng cũng đă đến rồi. Đă nhiều năm trôi qua những h́nh tượng của Tenzin Palmo người phụ nữ Tây Phương đầu tiên xuất gia và ẩn cư 12 năm trong động tuyết Hy Mă Lạp Sơn vẫn đậm nét và măi măi là h́nh ảnh lư tưởng trong ḷng Ni chúng và mọi người trên thế giới. Tenzin Palmo sẽ măi măi là biểu tượng anh hùng và ngọn đuốc dẫn đường cho phụ nữ trí thức khắp nơi trên đường t́m về vùng đất tâm linh.

 Dự án của Tenzin, sau khi hoàn thành Ni viện, sẽ nhập thất trở lại ở một hang động, tuy nhiên, cô không thể trở về Lahoul được nữa. Cô đă quá già để có thể chịu đựng khí hậu và hoàn cảnh khắc nghiệt vùng núi cao trên 13,000 bộ ở dăy Hy Mă lạp Sơn; cô cũng không c̣n có thể mang vác trên vai 15 kư vật dụng như cô đă làm ngày xưa nữa. Tổ ấm trên núi của Tenzin giờ đă xa vời rồi, cô không thể tiếp tục được nữa; và từ ngày Tenzin xuất động vào năm 1988, cũng không có một ông tăng hay một ni cô nào dám lên đó ở nữa. Căn động bị hư hỏng, cánh cửa và cửa sổ đă tháo gỡ ra và mang xuống phố để dùng trong tu viện khác, và những ḥn đá cũng theo gió cuốn bay về nơi chốn cũ. Quang cảnh căn động của Tenzin trở nên hoang tàn, cô tịch. Vài năm sau, căn động lại có sinh khí trở lại nhờ sự hiện diện của một ni cô người Đức, Edith Besh, đă t́m ra căn động của Tenzin và tu bổ trở lại. Edith làm thêm một căn pḥng nhỏ, một góc bếp, và một cầu tiêu bên ngoài. Mặt tiền của căn động cùng được sửa sang lại. Nhưng Edith chỉ sống được có một năm trong động thôi. Bệnh ung thư của cô đă đến thời kỳ cuối cùng, và cô đă chết ở tu viện phía dưới thung lũng vào năm 43 tuổi. Những cư dân Lahoul đă nói rằng Edith khi mới tới Lahoul th́ lên cơn sốt thật cao, nhưng sau 12 tháng sống ở động thất th́ đă có phần bớt vật vả v́ bệnh và sau đó cô đă chết trong yên ổn thoải mái. Một lần nữa, động thất đă chứng tỏ có sự mầu nhiệm xảy ra.

 Tenzin tâm sự là nơi nhập thất sau này của cô có thể sẽ là một căn nhà tranh nhỏ tại một nơi rất thanh tịnh, nhưng cũng không quá hẻo lánh hoang sơ. Có thể là một góc nhỏ trên mảnh đất của một vị thí chủ nào đó để không gặp khó khăn mỗi khi cần dùng vật liệu hay di chuyển. Nơi nhập thất đó có thể ở bất cứ nơi đâu nhưng chắc chắn không phải là Anh quốc.

  - "Tôi vẫn không cảm thấy Anh quốc là quê hương, là tổ ấm của tôi. Tôi luôn luôn nghĩ là tổ ấm của tôi là phương Đông và tôi sẽ chết ở đó."

 Quê hương tâm linh của Tenzin đă được định hướng rơ rệt và cô cũng chỉ có một mục tiêu duy nhất "Chứng đắc Quả vị Giải Thoát trong h́nh tướng người nữ."

Dịch xong ngày 28/9/1999

Thích nữ Minh Tâm

         from www.bachhac.net

 

          Minh Quang posted December 29, 2005

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]