Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

Nhân mùa Phật Đản 2006

Hành hương xứ Phật khắp nơi trên thế giới

 

MƯỜNG GIANG

 Viết tặng  Mai Minh – Vơ  Đ́nh Dược – Khai Trinh – Cát Biển – Nguyễn thi Dung Và Nguyễn Văn Đồng (Na Uy)

 

Từ miền Nam nước Népal, dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn cao ngất, là quê hương ngàn đời của Dân Tộc Sakya chuyên sống bằng nông nghiệp. 

Theo sử liệu nói về tiểu sử  của Thái Tử  Siddhartha, tức Đức Phật Tổ, người sáng lập  Phật Giáo, th́ đây là sinh quán của Đức Phật. Năm đó, thân mẫu Ngài, Hoàng Hậu  Maya đă 45 tuổi mới mang thai Ngài. Trên đường  trở về quê nhà, đă hạ sanh Đức Phật tại vườn Lâm T́ Ni, từ nách phải. Ta biết xă hội  Ấn Độ  thời thượng cổ, theo chế độ đẳng cấp  rất  nghiệm ngặt. Theo đó, giai cấp thượng đẳng, được dành cho các  giới tăng lữ Bà La Môn, từ  Trời sinh ra, gọi là Bràhinana. Kế  đó là đẳng cấp  Chiến Sĩ hay Quư Tộc cầm quyền, gọi là Kshatriya, sinh ra từ bên sườn. Ngoài ra c̣n có đẳng cấp  Vaishya (thương nhân-địa chủ) sinh ra từ bụng và áp chót là Shùdra (thợ thuyền-công nhân-tôi tớ), từ đáy bàn chân. Việc Đức Phật sinh ra từ nách phải, không phải là sự ngẫu nhiên nhưng hàm ư cho biết Ngài thuộc  một đẳng cấp cao quư trong xă hội Ấn Độ lúc  đó. 

Hiện nay thành phố Kapilavastu không c̣n nữa và quê hương của Đức Phật Tổ cũng bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Phần lớn lănh thổ của Dân Tộc Sakya nay thuộc nước Népal, số c̣n lại  nằm  ở biên giới Ấn Độ. Nhưng  mấy ngàn năm qua, vết chân của Thái Tử  Tất Đạt Đa hầu như vẫn nguyên vẹn khắp  hai miền Đại Giang  nước Ấn.  Tại  Magada c̣n  di tích Linh Tựu Sơn, trên  một  ngọn núi có h́nh  dáng như một con chim Tựu. Đây là thánh địa nổi tiếng của Phật Giáo mà thuở sinh thời Đức Phật đă tới truyền đạo và qui tụ hơn 1220 đệ tử của Phật. 

Riêng Hằng Hà, muôn đời  với nước Ấn, được coi như con sông thiêng  bất tử. Sông phát nguồn từ hai nhánh trên đỉnh Hy Mă Lạp Sơn, sau đó băng qua hơn 2500 cây số và ra biển khơi tại vịnh Bangal. Đây là cái nôi  của nền văn hóa Ấn Độ, v́ thế hai bên bờ có rất nhiều thánh địa của mọi tôn giáo. Đây  cũng là phạm vi truyền giáo của Đức Phật, cho nên  thế nhân đă so sánh tư tưởng nhà Phật như nước sông Hằng, nguồn xa, van dặm, nước chảy không ngừng, có đến tận chỗ mới thấy chí lư. Thật vậy, sông Hằng đối với người Ấn, hầu như đa số khi ra đời, đều t́m đủ mọi cách  cho được tắm gội trên ḍng sông. Đến khi qua phần, th́  lại mong được hỏa táng thi thể và đem tro cốt  phóng vào trong  sông nước muôn trùng. Đức Phật  Thích Ca trong khi xuất gia cũng đă trải qua nhiều phương cách, trong đó có nhiều năm hành xác khổ hạnh và cuối cùng đă ngộ. 

Nơi đó, nay gọi là bến Ni  Liên Thiền, nơi Phật tắm gội tẩy trần và  được một bé gái mục đồng bố thí cho một bát  sữa ḅ. Chỗ bố thí này, ngày nay là một thánh đường Ấn Độ Giáo. Ngay chiều đó, Ngài qua sông và đến tọa dưới gốc một cây Bồ Đề, thuộc vùng núi  Caya, với tâm nguyện  ‘không Chính Giáo, sẽ không bao giờ đứng dây‘. Cỏ ngày xưa, Phật trải để ngồi, được gọi là Kim Cương  Ṭa, c̣n  ngôi Tháp  cao lớn uy nghi kế đó, cũng là Thánh Địa của Phật Giáo, được gọi là Đại Tháp Bồ Đề Caya. Ngày đắc đạo, Đức Phật trở lại thành Madaga và được nhà vua tặng Trúc Lâm Tịnh Xá, cũng chính là Ngôi Chùa đầu tiên của Đạo Phật nhưng Trung Tâm Thuyết Pháp đương thời lại là Kỳ Viên Tịnh Xá, ngày nay di tích này chỉ c̣n lại có một  Đại Phật Tháp hư phế, đứng cheo leo cô độc, trên một đỉnh  núi cao chừng 100m. Năm 35 tuổi, Đức Phật  ngộ đạo và bắt đầu sự nghiệp truyền giáo. 

Từ đó gót chân của Ngài  gần như giẫm nát từ  Lộc Dă Uyển Tự Miếu, ở ngoại ô thành phố Varasani (nay là Bénares), thu lại 5 đại đệ tử đầu tiên và những thánh tăng này về sau trở thành  những Tăng Già sớm nhất trong Phật Giáo. Ngày Thánh Tăng Đại Đường Trần Huyền Trang, tức Tam Tạng đến tham quan Lộc  Dă Uyển, th́ nơi đó đang có 1500 tăng lữ theo học. Năm 80 tuổi, sau 45  năm truyền đạo, Đức Phật đă  viên tịch tại Thành  Kusinàrà, bên cạnh đệ tử là Canan. Ngày nay khu rừng nơi Phật  tịch, gọi là  Niết Bàn Đường. Nhân mùa Phật Đản 20045, theo vết chân Đức Phật thăm lại những nơi chốn ngày xưa, nay đă trở thành những địa danh nổi tiếng, gắn liền với một tôn giáo hoàn cầu cũng là một nền văn hóa tuyệt diệu.

 

1- T̀M VỀ NGUỒN GỐC  CỦA BỤT-PHẬT VÀ CHỮ VẠN:  

Hai nhà nghiên cứu  Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, khi phân tích hai danh từ Bụt và Phật, đă viết rằng, ‘Bụt và Phật‘ phản ảnh hai con đường  của Đạo Phật, từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam. Bụt phiên âm từ chữ Phạn ‘Buddha’, nên coi như  trực tiếp từ Ấn Độ. C̣n  danh từ Phật, th́  bắt nguồn từ  Hán Việt, nên coi như gián tiếp  ở Trung Hoa sang. C̣n hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chí, lại viết  rằng, Bụt và Phật đều có nghĩa giống nhau nhưng  Bụt là từ ngữ dân gian, c̣n Phật  là danh từ bác học.  Hai tác giả này c̣n căn cứ vào danh từ Bụt để chứng minh là đạo Phật truyền vào nước Nam trước khi sang nước Tàu.

Theo từ nguyên, ta biết hai danh từ Bụt và Phật, đều là những h́nh thức phiên âm  của Phạn ngữ (sanakrit) ‘Buddha’, được người Hán phiên âm ra nhiều cách và chúng ta đọc theo âm Hán Việt là Phật Đà, Phật Đồ, Phù Đồ hay Phật... Riêng chữ Bụt  cũng là Phật nhưng đọc theo âm Hán Việt xưa. Tóm lại  cả hai danh từ Bụt và Phật đều  là chữ Hán Việt, chỉ khác một đằng đọc theo âm xưa (Bụt), c̣n một cách  đọc theo nay (Phật), chứ không phải  khác biệt, v́ con đường du nhập hay tính cách b́nh dân hoặc bác học.  

Ngày xưa, trong khi phiên âm các tiếng từ Phạn ngữ sang Hán học, họ hay chọn các danh từ có lối phát âm rất gần với từ nguyên (âm gốc) như Bụt  th́ đọc gần tương ứng với Buddha. Trái lại ngày nay chữ Phật đọc lên rất khác biệt với  âm Bud, nguyên do được giải thích, v́ sự biến đổi của ngữ âm qua nhiều giai đoạn. Nói chung Bụt và Phật là hai cách đọc khác nhau của cùng một chữ Hán, phiên âm âm tiết của danh từ  Sanskrit Buddha. Do trên không thể vin vào đó mà kết luận rằng Đạo Phật đă tới VN trước khi  du nhập Trung Hoa. 

Riêng chữ Vạn trong Phật giáo, được coi như Tiêu Chí Cát Tường. Đó là 1 trong 32 tướng của Phật. Ngoài ra trong các h́nh thức kiến trúc chùa chiền hay các vật dụng thuộc về Phật giáo, chữ Vạn  luôn là biểu tương của các h́nh vẽ hay trang trí. Nói chung, đó là nét đặc trưng của nền văn hóa đạo Phật... Giống như cách giải thích về hai danh từ Bụt và Phật, cách phát âm của chữ Vạn cũng đă  từng gây tranh căi nhiều thời trong lịch sử học thuật  tại Trung Hoa. Thời Bắc Ngụy, Phổ Đề Lưu Kỳ đă dịch  biểu tượng của Phật là Vạn, trong tác phẩm  ‘Thập Địa Kinh Luận‘ nhưng sau đó  thời Đại Đường, các Thánh tăng như  Cưu Ma La Thập, Huyền Trang... trong các  tác phẩm  như  Nghiêm Hoa Kinh, Vô Lượng Nghĩa Kinh... đều dịch chữ Vạn là Đức. 

Ai vũng biết tại Ấn Độ, hầu như các kinh điển  cơ bản, khởi nguồn của Phật giáo  gần như bị tiêu hủy, không c̣n nguyên vẹn, cho nên người sau đă không thể căn cứ  để chứng nhận là Giới Phật Học lúc đó, đă đọc biểu tượng của Phật là ǵ. Chữ Vạn hiện nay, theo cách mà chúng ta đang đọc. Qua sử liệu cho thấy đă căn cứ  theo tài liệu phiên dịch  từ thời nhà Tống. Ta biết, Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa cũng như mọi nơi trên thế giới và dĩ nhiên chữ Vạn cũng là độc sáng của giới  tăng già Ấn Độ. Thế nhưng trên thực té, ai là tác giả của chữ Vạn, đă có nhiều tranh chấp phức tạp và chiến trường chữ nghĩa này, đă khởi nguồn ngay từ đời nhà Tống. Sự tranh chấp khởi đầu, khi  các tăng nhân trong lúc phiên dịch bổ túc bộ ‘Danh Nghĩa Tập‘ đă ghi chú  chữ Vạn, với nghĩa là ‘Cát Tường Vạn Đức‘ và khẳng định tác giả chữ này, là Vơ Tắc Thiên, đă sáng chế vào năm Trường Thọ thứ 2, khi cướp ngôi nhà Đường đổi thành nhà Châu. Dĩ nhiên giả thuyết này đă bị đánh đổ ngay lúc đó, v́ thực tế thiếu các minh chứng khoa học và trên hết chữ Vạn  đă có mặt hầu hết  trong các kinh điển, khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, trước khi Vơ Tắc Thiên chào đời. 

Sóng gió lại nổi lên, vào năm 1980 tại huyện Dân Ḥa, tỉnh Thanh Hải bên Tàu, các nhà khảo cổ đă khai quật được một b́nh gốm sứ cổ cao, chung quanh có vẽ bốn chữ Vạn  bằng nét nghiêng, có ṿng tṛn bên ngoài. Qua nghiên cứu cùng phỏng đoàn, chiếc b́nh này ra đời vào thời kỳ Đồ Đá Mới, cách đây chừng 6 tới 7000 năm. Sự trùng hợp trên, cũng đă được t́m thấy nhiều  văn vật, cũng thuộc thời kỳ Đồ Đá Mới, ở  Cam Túc, Thanh Hải, Mông Cổ, Quảng Đông và  đặc biệt trong một ngôi mộ cổ thời Chiến Quốc, cũng có nhiều tiêu chí, khắc h́nh các thiên thể bằng chữ Vạn, và chua đó là ngôi sao Chổi. Dù tŕnh độ về hội họa có khác biệt nhưng  nói chung mô h́nh của chữ Vạn thi giống nhau như khuôn đúc. Điều này, cho thấy những cổ dân ở Trung Hoa, đă sử dụng phù hiệu của Chữ Vạn, trước khi Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào đất nước này. 

Nhưng đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, phù hiệu Chữ Vạn cũng được các học giả t́m thấy trong nhiều di chí cổ tại Hy Lạp, Ba Tư và Ấn Độ. Do trên người ta đă lập luận rằng, chữ Vạn là một loại kư hiệu, phù chú hay là biểu tượng của một nền văn minh cổ, thờ Lửa và Mặt Trời. Điều kỳ lạ là h́nh thức chữ Vạn, từ mọi nơi trên thế giới đều giống nhau. Điều trên đă khiến cho bí ẩn của biểu tượng trên càng lúc càng trở nên bí mật và do  thế, chẳng ai nhịn ai về tác quyền của chữ này.

 

2- RƯỚC XÁ LỢI PHẬT TỪ TÂY AN TỚI ĐÀI LOAN: 

Tại chùa Pháp Môn ở cố đô Tây An (Trựng An) Trung Hoa, đă lưu giữ được ‘Xa Lợi Phật Chỉ‘, là di cốt  ngón tay của Đức  Thích Ca Mâu Ni. Đây là kỳ quan thứ chin  trên thế giới, có lịch sử hơn 2500 năm, được  Trung Hoa xem như là báu vật của nước ḿnh.  

Ngày mồng tám tháng tư năm 1987, đúng vào ngày Đản sinh Đức Phật Thích Ca, lúc đó chùa Pháp Mông cũng đang trùng tu lại Bảo Tháp, nên t́nh cờ  mới khám phá được  một Địa cung của chùa. Sau đó cũng trong năm 1987, Đội khảo cổ thuộc Cục Văn Vật, tỉnh Thiểm Tây đến khai quật Địa Cung, nhờ vậy Xá Lợi Phật mới tái hiện với nhân thế, sau hơn 1100 năm, bị nhà Đường bí mật niêm phong và cất giữ dưới ḷng đất. 

Theo sử liệu được Tuần San Châu Á trích dẫn, ta biết các vị Hoàng Đế nhà Đường rất sùng đạo Phật. Chùa Pháp Môn được xây dựng tại kinh đô Trường An, chẳng những là một  tu viện của Hoàng Gia, mà c̣n là Thánh địa của Phật giáo lúc đó. Năm 873 vua Đường Hi Tông dời Xá Lợi Phật về chùa Pháp Môn và ban lệnh niêm phong táng dưới Địa Cung của một Bảo tháp trong chùa từ đó. Trước đó, vua Đường Hiến Tông, trong khi trị v́ đă bảy lần tổ chức cung nghinh Phật Cốt từ Lạc Dương về Trường An. Việc làm trên đă bị Hàn Dũ cực lực phản đối.. V́ yêu tài một văn hào, nhà vua chỉ đầy ông ta tới Triều Châu mà thôi. 

Năm 1989, Pháp sư Tịnh Vân thuộc  Hội Phật Quang Sơn Đài Loan, nhân chuyến về Hoa Lục thăm quê, đă cùng một phái đoàn tới chùa Pháp Môn, chiêm bái di cốt thật của Đức Phật. Trở về Đài Loan, tháng 6-2000 nhà sư đă viết thư cho Lư Ngọc  Linh, Hội trưởng Hội từ thiện người Mỹ gốc Hoa, đồng thời cũng cậy nhờ Liễu Chính Hào, Bộ trưởng Pháp Vụ Đài Loan, can thiệp với Trung Cộng, rước Xá Lợi Chỉ  từ Tây An sang Đài Loan, để Phật tử được chiêm bái. Thỉnh nguyện trên đă được, Chủ tịch Trung Cộng là Giang Trạch Dân đồng ư, cho phép  rước Xá Lợi Phật từ Tây An sang Đài Loan một thời gian. 

Do trên ngày 21-2-2002, nhằm ngày mồng mười tháng giêng năm Nhâm Ngọ, một Ủy Ban Phật Pháp Đài Loan, đông tới 300 người, đă sang Hoa Lục để cung đón Xá Lợi Phật. Chiều ngày 22, chùa Pháp Môn-Tây An đă tổ chức lể Cung Tống Xa Lợi Phật. Trong buổi lễ, có tới 40 vị Pháp sư và hơn 600 vị Cao tăng, Đại Đức, Cư sĩ của hai phía tham dự, hành lễ cực kỳ trang trọng. 

Qua tường thuật của nhà báo Tăng Tịnh Y, cũng là người giới thiệu chương tŕnh của Đài Phượng Hoàng, đăng trên Tuần san Châu Á số ra ngày 10-3-2002. Theo đó, ta biết  máy bay của Hăng Càng Long-Hồng Kông phụ trách  vận tống ‘Xá Lợi Phật Chỉ’ từ Tây An tới Đài Loan vào ngày 23-2-2002. Riêng Đài truyền h́nh Phượng Hoàng-Hồng Kông, được giao nhiệm vụ, truyền h́nh trực tiếp, suốt cuộc hành tŕnh rước Xá Lợi Phật. Máy bay khởi hành  từ 9 giờ sáng ngày 23-2-2002 tại phi trường  Hàm Dương-Trung Quốc, ngừng lại sân bay Hồng Kông tượng trưng 45 phút, sau đó tiếp tục bay và đúng 1 giờ 30 phút chiều cùng ngày, đáp xuống sân bay Trung Chính-Đài Bắc-Đài Loan. 

Theo lời nhà báo họ Tăng, th́ trong mấy tháng qua tại cố đô Tây An, trời gần như bị hạn hán không có một giọt mưa. Nhưng kỳ diệu thay, sau khi lễ cung Tống Xá Lợi chấm dứt, th́ trời đất  nổi mưa như trút nước. Người trong thành Tây An, cho rằng đó là nước Cam Lồ. Theo Pháp sư Măn Liên, Phân viện trưởng Hội Phật Quang Sơn Đài Loan tại Hồng Kông cho biết, v́ hai nước Trung Cộng-Đài Loan chưa có bang giao, nên hàng không của hai phiá không thể qua lại được, v́ vậy hàng hàng không Càng Long của Hồng Kông phải đảm trách. Đào Truật Nhân, Phó Hội trưởng Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, cũng là Phó Trưởng đoàn hộ tống Xá Lợi Phật, cho biết v́ lư do bảo vệ, nên  từ khi Xá Lợi Phật  được đem từ  Điạ cung lên, được Nhà Nước Trung Cộng cất giữ Linh Cốt Phật, trong một Ngân Hàng vàng tại Tây An. Ngày 22 Xá Lợi Phật đưọc thỉnh về chùa Pháp Môn và ngay trong đêm, linh cốt Phật được đem gắn vào một chiếc hộp  thủy tinh, có thể chống được đạn. Hộp  được đặt giữa một kim tháp, cũng là một văn vật, được chọn lựa trong hàng ngàn báu vật của Kho Báu Vật tại Cố Cung Bắc Kinh. 

Có hơn 100.000 người chờ sẵn tại sân bay, để cung nghinh Linh cốt Phật. Tất cả Đài Bắc hôm đó, hầu như chỉ có một màu vàng cờ Phật. Nhiều nhà đặt bàn thờ  ở hai bên lộ, trên tuyến đường rước Phật Xá Lợi Ch́ ngang qua. Tất cả mọi người vẫy cờ Phật, chắp tay chiêm bái. Cảnh tượng đúng như  lời b́nh của Tuần San Châu Á : ’Tín ngưỡng tôn giáo, đă vượt qua những phân kỳ chính trị‘ Và đúng như nhà Phật đă nói : ’Nhân duyên câu túc‘. Đây là lần đầu tiên, trong bao nhiêu năm ngăn cách, có một sự giao lưu giữa eo biển Đài Loan. Như nước tự chảy về sông biển, Linh Cốt của Đức Phật cũng nhờ ḍng nước xuôi buồm từ chốn ngàn trùng tới Dài Bắc. Đó không phải là sự linh ứng của Phật  hay sao ?

 

3- HÀNH HƯƠNG XỨ PHẬT MIỀN THIÊN TRÚC: 

Bang Bihar nằm về phía đông bắc  Ấn Độ, có diện tích bằng nữa VN nhưng dân số lên tới  90 triệu người. Đây là bang được  xem như nghèo nhất  của nước này v́ khí hậu khô hạn và bất thường, không thích hợp với một quốc gia sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Tại biên giới  Ấn-Népal dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn, cách Bihar chừng 300 km về phía bắc, có thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nơi ra đời của Đức  Phật Thích Ca. Riêng tại bang Binar từ lâu đă nổi tiếng khắp thế giới, v́ có tới ba thánh địa của Phật Giáo như  Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là nơi mà 2500 trước đây, Đức  Phật Thích Ca đă đắc đạo dưới cội bồ đề. Thành Kushinagar (Câu Thị Na) nơi Phật nhập niết bàn và Vườn Lộc Uyển (Sarnath) là chốn mà Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, sau khi  đắc đạo. Tuy mang tiếng là quê hương của Đức Phật và là vùng đất có nhiều Thánh Địa – Thánh Tích, Thiền Viện quan trọng và nổi tiếng nhất thế giới nhưng tới nay, số tín đồ Phật Giáo tại hai  nước Népal-Ấn Độ, chỉ chiếm một tỉ lệ quá thấp, không vượt quá 2%.

 

** BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG (BODH GAYA):  

Tuy không phải là thủ phủ của bang Bihar (Patna) mà chỉ là một quận nhưng Gaya lại được cả thế giới biết tới qua du lịch, hành hương tại ba thánh địa của Phật giáo. Từ năm 2003, Gaya đă có một phi trường quốc tế nhưng do giá vé rất mắc mơ, nên hàng tuần, chỉ có một chuyến bay thẳng của Hăng Hàng Không Ấn Độ, từ Bangkok tới Gaya. 

Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay là một thánh địa lớn nhất của Phật Giáo, hằng năm thu hút  hàng triệu khách hành hương, du lịch, không riêng ǵ Á Châu mà có cả Âu-Mỹ-Phi-Úc... t́m tới đây để tận mắt chiêm ngưỡng các di tích xa xưa của một  trong những nền văn hóa lớn nhất của hoàn cầu. Thánh tích ngày nay nằm cách khu phố cổ Gaya chừng 12 km về hướng bắc và thủ phủ Patna của bang Bihar khoảng 106 cây số. Dù chỉ là một thị trấn nhỏ nhưng Bodh Gaya rất nhộn nhịp và đầy đủ tiện nghi, từ nhà bưu điện, ngân hàng, khách sạn, chợ buá, các công ty du lịch..cho tới những cơ sở dịch vụ Internet. Do thời tiết khắc nghiệt trong vùng, nóng quá độ c̣n lạng th́ chết người, nên  Hành Hương-Du Lịch chỉ nở rộ từ  tháng 10-2 mà thôi. 

Bồ Đề Đạo Tràng tới nay la một địa danh đă có bề dầy lịch sử hơn 2500 năm. Đây là khoảng không gian rộng lớn, liên quan mật thiết tới  cuộc đời tu và hành đạo của Đức Phật, từ khi Ngài  quyết định, từ bỏ lối  tu  hành xác của các giáo sĩ  Bà La Môn, tới khi giác ngộ được chân lư dưới cội bồ đề. Theo tiến sĩ  sử học người Ấn là D.C.Ahir, th́ chính Đại Đế Ashoka (A Dục) là người  đă khai sinh ra thánh địa nổi tiếng này vào năm 259  trước tây lịch, sau một lần tới hành lễ. Từ đó trong suốt  1500 năm, nơi này đă thu hút không biết bao nhiêu là khách hành hương. Năm 250  trước TL, chính Ngài đă cho xây ngôi  đền thờ Phật đầu tiên tại thánh địa. Hiện nay c̣n lưu lại nhiều di tích quan trọng  tại chỗ như  Tháp Đại Giác, Cội Bồ Đề, Kim Cương Toà, ḍng sông Ni Liên cùng với một số  di tích liên quan tới bảy ‘tuần thất’ của Đức Phật sau khi giác ngộ. Nhờ những đồng tiền vàng chôn quanh quẩn khu vực, có ghi niên lịch nên các nhà khảo cổ đă xác định được thời gian xây cất. Nói chung thánh tích  hiện c̣n tồn tại, tất cả hầu như đều đă trải qua nhiều lần bị tàn phá, rồi trùng tu dưới nhiều triều vua chúa Ấn Độ. 

Cũng theo tài liệu dẫn trên, ta biết chính vua Brahmin của xứ Bengal, v́ kỳ thị Phật giáo, nên vào năm 600 sau TL, đă ra lệnh hủy hoại tất cả đền tháp ở vùng nay, kể cả cây bồ đề nguyên thủy mà Đức Phật đă thiền định. Nhưng năm 620 sau TL, một vị vua sùng đạo Phật tên  Raja Purna Varmar đă cho trồng lại cây bồ đề từ một cây con, xây lại bửu tháp và xây tường cao 7m để bảo vệ. Về sau, thánh địa lại nhiều lần bị người Hồi và Bà La Môn đốt phá, cuối cùng suy tàn theo đạo Phật trên đất Ấn từ thế kỷ 13 sau TL. 

Năm 1811, tiến sĩ  Buchanan  Hamilton, một nhà khảo cổ người Anh, đă phát hiện ra Tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, trong t́nh trạng đổ nát.  Nhưng nhờ  một nhà khảo cổ nổi tiếng của thế giới là Cunningham, vào năm 1871 đă vận động với thế giới, trùng tu và làm  sống lại  Thánh địa của Phật Giáo. Cũng từ đó, Bồ Đề Đạo Tràng được  người Ấn Độ giáo điều hành. Chính nhà khảo cổ trên, đả chiết một cây bồ đề con từ gốc bồ đề nguyên thủy trồng tại Tích Lan, đem về trồng ở Bồ Đề Đạo Tràng và đă tồn tại tới ngày nay. Năm 1949 Ấn được độc lập nên Thánh Địa lại do bang Bihar quản trị. Năm  1952, chính phủ Liên Bang Ấn mới chính thức  thành lập một Ủy Ban  Quản Trị (gồm  4 tu sĩ Phật và 4 tu sĩ Ấn giáo), điều hành và trách nhiệm  ǵn giữ bảo vệ các di tích lịch sử trên. Tháng 6-2002 cơ quan Unesco chính thức thừa nhận  Tháp Đại Giác là một  kỳ quan của nhân loại. 

Bodh Gaya  hiện tại, không khác ǵ một Liên Hiệp Quốc  Phật  giáo, v́ đă có rất  nhiều chùa chiền đủ quốc tịch  Nhật Bản, Trung Cộng, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Népal, Tây tạng, Đài Loan, Tích Lan.. tập trung trong khu vực, quanh quẩn  Tháp Đại Giác. Năm 1987, VN Phật Quốc Tự được khởi công  và hoàn thành vào năm 2003, trên một khuôn viên rộng 3 ha, cách  tháp Đại Giác chừng 2 km.

 

* * LÂM TỲ NI, NƠI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI: 

Lâm Tỳ Ni  thuộc quận  Basti của nước Népal, nơi mà cách đây hơn 2500 năm Đức Phật Tổ đă chào đời. Dựa theo tác phẩm ‘Lịch sử văn minh ‘ của sử gia Will Durant, ghi lại truyền thuyết về sự ra đời của Đức Phật, cũng như gia thế của Ngài., trong đó có địa danh Lâm Tỳ Ni  đi vào thiên cổ.  

Năm 250 trước TL, hoàng đế A Dục (Ashoka), trong khi du hành các thánh tích của Phật Môn, đă cho dựng  một Bia đá và bức tường bao quanh, ghi lại chuyến công du của ḿnh. Tại Lâm Tỳ Ni c̣n có đền thờ của Hoàng Hầu Maya, xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Tl và một bia đá, khắc họa Phật  Đản Sinh. Thế kỷ thứ 7 sau TL, nhà sư Huyền Trang khi tới Thiên trúc thỉnh kinh, có ghé thăm Lâm Tỳ Ni, ghi lại trong bút kư rằng Tr5 đá do vua A Dục dựng vẫn c̣n nhưng đă bị hư hại  theo thời gian. Sau đó Lâm Tỳ Ni đă ch́m trong bóng tối quên lăng suốt  10 thế kỷ  biển dâu.  

Năm  1895, tiến sĩ  người Đức là Alois Fuhre, cũng là một nhà khảo cổ. Trong một cuộc  khai quật, đă t́m thấy Cột đá của vua A Dục, dù bị chôn vùi trong ḷng đất bao nhiêu thế kỷ nhưng mầu nhiệm thay, những hàng chữ Brahmi và Prakrik năm xưa vẫn  in đậm nét trên thân tru : ‘Đây là nơi sinh của Đức Phật, nên  vùng Lâm Tỳ Ni được  miễn thuế, c̣n  mức lợi  tức th́ giảm c̣n 1/8... Tuy nhiên, dù phát hiện được một nơi chốn quan trọng  hàng đầu của Phật giáo, nhưng phương tây vẫn không giúp ǵ để làm hồi sinh thánh tích Lâm Tỳ Ni. Năm 1967, U Thant người Miến Điện, đắc cử chức vụ Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, tới viếng thánh tích và sau đó kêu gọi các nước giúp đỡ, làm hồi sinh  phát triển Lâm Tỳ Ni. Kế hoạch được 13 quốc gia hưởng ứng, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ đóng góp tài chính  và giao cho một  kiến trúc sư  người Nhật, là giáo sư  Kenzo Tenge thực hiện các kế hoạch xây dựng tu viện, nhà bảo tàng, kể cả con đường dẫn tới Lâm Tỳ Ni. 

Trong  sự làm hồi sinh Lâm Tỳ Ni ngày nay, phải nhắc tới công lớn của một nhà sư VN là Thượng Tọa Huyền Diệu, người khai phá VN Phật Quốc Tự tại Bồ Đề Đạo Tràng. Chính Ông là người từ năm 1987 đă vận động với quốc vương Népal  cùng Thủ Tướng nước này, xin cấp đất dựng chùa VN, đồng thời đă đi chu du nhiều quốc gia Phật giáo Châu Á, kêu gọi xây dựng chùa tại Lâm tỳ Ni. Do trên tới nay, đă có 17 ngôi chùa của các nước  Nhật, Đại Hàn, Trung Cộng, Thái Lan... cũng như các Trung tâm văn hoá  Phật Giáo xây dựng tại đây. Riêng ngôi chùa VN dù nay chưa hoàn thành, đă nằm trong một khu đất gần nơi ra đời của Đức Phật. 

Tuy vậy Lâm Tỳ Ni vẫn chưa khởi sắc là một trung tâm du lịch như Bồ Đề Đạo Tràng, dù đă có một vài khách sạn nhỏ của người Nhật hay Tích Lan. Do trên hầu hết du khách hay khách hành hương đều cư ngụ tại  Sunauuli hay thị trấn Bhairahawa cách Lâm Tỳ Ni chừng 20 km. 

Đây là một  xứ Phật duy nhất trên thế giới, v́ tất cả đều có dính dấp tới nhà Phật, như quốc lộ Tất Đạt Đa (Siddhartha-highway), khách sạn Niết Bàn (Nirvana hotel), hăng hàng không Đức Phật (Buddha Air)... Thị trấn tuy nhỏ hẹp nhưng có đủ khách sạn, hàng ăn, cửa hàng buôn bán kể cả cơ sở lo dịch vụ Internet. Ngoài ra c̣n có một sân bay nối liền với kinh dô Népal là Kathmandu. Trong khu vực Lâm Tỳ Ni c̣n một di tích lịch sử  cũng quan trọng, đó là  Hồ Pushkarni, tương truyền là nơi Hoàng Hậu Maya đă tắm trước khi sinh Thái Tử Tất Đạt Đa. Hồ được trùng tu vào năm 1933 h́nh vuông nhưng theo truyền thuyết nguyên thủy có h́nh tṛn hoặc chữ nhật.. Trong khu vực này, khang trang hơn hết  là ngôi chùa của Trung Cộng xây theo mô h́nh  Thiếu Lâm Tự với kinh phí hơn 5 triệu đô la, trong đó tại Bồ Đề Đạo Tràng, chùa Phật của Trung Cộng rất khiêm tốn. Điều này đă nói lên Trung Cộng chỉ phô trương chính trị, v́  bang giao giữa Ấn-Trung  chỉ ngoại giao, trong lúc tại Népal, cọng sản theo Maoit.

 

4- NƯỚC PHẬT TRÊN ĐẤT ÂU CHÂU: 

Tại Âu Châu, chính những nhà truyền giáo theo chân các đoàn quân viễn chinh Anh, Pháp, Bồ, Y Pha Nho, Ḥa Lan..là các nhân vật đầu tiên tiếp xúc với Phật Giáo Á Châu., từ thế kỷ thứ XIII nhưng chính Triết Gia Pháp là Eugène Burnouf (1801-1852), được đánh giá là người Âu đầu tiên có công tŕnh nghiên cứu Phật giáo một cách nghiêm túc đứng đắn của một học giả, qua các bản kinh Phật gốc viết bằng các cổ ngữ Ấn như Pali, Sanskrit, Tây Tạng... Về sau có rất nhiều học giả lỗi lạc, tiếp tục các công tŕnh nghiên cứu quy mô hơn nhưng họ vẫn  đánh giá cao tác phẩm mở đường vào Phật giáo của Burnouf. 

Nhưng chỉ mấy chục năm sau, Âu Châu đă nở rộ phong trào nghiên cứu các tông phái Phật giáo đương thời, gồm các học giả, trí thức trong ba trường chính, thuộc các nước Anh-Đức (chuyên về kinh tạng Pali), Pháp-Bỉ ( về PG Ấn qua tiếng Sanskrit và PG Trung Hoa-Tây Tang) và Nga (PG Ấn-Trung và các quốc gia Á Châu). 

Năm 1819, triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) qua tác phẩm ‘thế giới là ư chí và biểu tượng’, đă tạo một ảnh hưởng sâu sắc  tại Âu Châu, qua phong trào cổ xuư PG Âu Châu trong suốt thời gian đầu của thế kỷ XX. Rồi th́ K.E Neumann(Bỉ), George Grimm vàPAUL Dahlke (Đức), Edwin Arnold (Anh)..đưa Phật giáo từ một học thuyết nghiên cứu, trở thành một tôn giáo đương thời. Năm 1901 Thượng Tọa Nyanatiloka đă xây dựng một tu viện  tại Tích Lan, để đào tạo các  vị tu sĩ Âu Tây. Cũng từ đó, mà bắt đầu là PG nguyên thủy và kinh tạng tiếng Pali được phổ quát rộng răi  khắp nơi nhưng phải đợi tới năm 1960, giai đoạn Phật giáo phổ cập, chính thức thu hút nhiều tín đồ trong mọi giai cấp. Từ sau năm 1975 tới nay, cho thấy rơ sự chuyển hướng của PG tại Âu Châu, phần lớn là do một số tín đồ PG là người tị nạn cọng sản tại các nước và trên hết là công lao hoằng pháp của các vị  Đại Sư Nhật, Tây Tạng, Nam Á và chính những Thượng Tọa, Tu Sĩ người Âu. Đặc điểm của PG Âu Châu là thực hành tu tŕ hơn là bàn cải lư thuyết suông. Tóm lại PG đối với họ là một phương tiện, để chuyển hóa đời sống  tinh thẩn hữu hiệu và thiết thực, đối với đa số người Âu Tây sống trong cuộc  xô bồ vật chất.

 

**  SAMYELING, TU VIỆN PHẬT GIÁO ĐẶC BIỆT TẠI SCOTLAND: 

Năm 1995, tu viện PG Đại Thừa Samyeling của người Scotland, nằm về phía tây thành phố Lockerbie, trên đảo Holy Island, kỷ niệm năm thứ 25 thành lập. Tu viện ngoài việc  tu luyện và chiêm bái Phật pháp, c̣n giúp cho nhiều thành phần trong xă hội làm lại cuộc đời như cai nghiện ma túy hoặc chuyển đổi cuộc sống sa đoạ thành người lương thiện. Đây cũng là một sự lạ lùng v́ ai cũng biết  người Anh, Ái, Scotlad rất bảo thủ, bao đời chỉ có đạo Thiên Chúa, Tin Lành hay Anh giáo..nay bỗng dưng hoan hỉ đón nhận một tôn giáo ngay trên đất nước ḿnh. 

Từ một khu trại bỏ hoang của công ty Johnstone House Trust  của người Anh bán lại năm 1963, hai Đại sư tị nạn cọng sản Tây Tạng là Trungpa Tulku và tiến sĩ  Akong Tulku Rinpoche, đă bỏ tiền bạc cũng như công sức, biến thành một  Trung tâm PG Đại Thùa theo kiểu Tây Tạng, vừa là chốn tu hành, đồng thời cũng là một tu viện  nổi tiếng hiện nay. Nhiều người Âu giàu có đă giúp đỡ nhà chùa xây dựng các cơ sở từ thiện như pḥng dạy mỹ thuật, dạy cách chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, lập vườn trồng các cây thuốc Đông phương và chửa bệnh miễn phí.. Đặc biệt ở đây không bắt buộc mọi người phải theo hay tu đao Phật, sau một năm thụ huấn tại Trung tâm. Ngày nay ai tới chốn này, trước cảnh trời mây non nước muôn trùng, cũng bổng thấy ḿnh khác nào những cánh chim  bay, những áng mây trắng và chớp mắt tất cả, ta cũng như đời cùng khuất dần  trong cơi xa mù. 

Hơn mấy ngàn năm trước, Phật Tổ Như Lai trong lúc xuôi ngược t́m chân lư trên ḍng sông thiêng của đất nước, qua lớp cát phù trầm, đă sớm nghỉ tới bể khổ của cuộc đời, thật ‘Hằng Hà Sa Số‘. Chí lư thay về một khái niệm so sánh, giữa cái khổ của đời và cái nhiều như cát sông Hằng, như vậy biết lấy ǵ để mà trang trải, họa chăng chỉ có tu niệm và thành khẩn, để cho ḷng nhẹ tếch theo gió, họa chăng mới thoát được bể khổ cuộc đời. 

Xưa nay con người lúc nào cũng mơ mộng t́m kiếm sự bất tử. Mới đây người Mỹ đă tuyên bố t́m ra rồi, khi tiến được  hai bước quan trọng trong việc thực hiện giấc mơ trên, đó là sự lấy ra và làm đông lạnh tế bào tinh hoàn, mà các  nhà kho học gọi là sự bất tử  bằng sinh học. 

Câu chuyện làm ta nhớ lời Phật dạy : ’trong lúc tịnh tâm, nghĩ về điều thiện, điều lành, th́ sẽ giúp cho con người sống khoẻ, sống vui. C̣n nếu cứ nghĩ tới cái xấu, điều ác, lập tức tim co thắt, máu lên cao và có thể quỵ‘ Đó chính là quán chiếu bát nhă sâu xa, có thể độ nhất thiết khổ ách. Phật nghĩ vậy nên  trên  2500 qua đă trường sanh bất tử mà không cần phải  t́m kiếm  sự khổ lụy -/-  

Xóm Cồn
            Mùa Phật Đản 2006 – Phật lich 2550

            MƯỜNG GIANG 

From www.viet.no

 

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]