Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Nhật kư Dharamsala

Không Quán

 


Phần 1: Về tu viện Sera Mey


Lời tác giả:


Đây là một cuốn nhật kư, ghi chép cuộc hành tŕnh đi về Ấn độ để học đạo. Tác giả nhân khi chùa Văn Thù Sư Lợi tổ chức chuyến đi hành hương các Phật tích tại Ấn, đă tháp tùng theo, nhưng không phải để theo phái đoàn đi hành hương mà là để đi về Dharamsala, nơi trú ngụ của đức Đạt Lai Lạt Ma hiện giờ để tu học.

Nhật kư không những ghi chép lại cuộc hành tŕnh mà c̣n ghi lại những cảm tưởng của tác giả, những điều mắt thấy tai nghe trên đường đi…
“Đi một ngày đàng học một sàng khôn…”

V́ là một Nhật kư, mà muốn viết một Nhật kư cho hay th́ khá khó, bởi v́ đă là Nhật kư th́ phải là: "Có sao nói vậy....và thấy sao chép lại y như vậy...". Kể chuyện thực... cho nên khó có t́nh tiết ly kỳ, đọc dễ thấy.... nhàm chán.

Nhưng mà ghi lại để "ôn cố tri tân", cuộc đời, đôi khi có những ngă rẽ bất ngờ, hai mươi năm sau, nh́n lại, thấy tất cả như một giấc mơ.... chỉ c̣n cái t́nh…, thí dụ như t́nh thày tṛ.

Và nhất là phải ghi ngay lại khi trí óc c̣n mới, c̣n sống động trong sự việc... để lâu ngày th́ e rằng sẽ như bài hát ”Phôi pha” của Trịnh Công Sơn.

Âu cũng là nhân duyên và nghiệp quả...của tác giả.

Bài viết Nhật kư, khó mà tránh khỏi sự tŕnh bày những cảm nghĩ riêng tư của tác giả, vậy cho nên xin các độc giả châm chước cho những điều sai lệch trong bài.

 

Trân trọng,
Không Quán.

 

1. Cảm nghĩ trước khi đi


Thực t́nh mà nói, tôi đă cố t́nh đi t́m về chuyến đi học đạo này. Bởi v́ tôi đă cảm thấy một sự chín mùi trong tâm thức nhàm chán đời sống thế gian, nhàm chán những chuyện thế sự thăng trầm.
Tôi vẫn thường đọc thầm trong đầu bài thơ Ngán đời của Cao Bá Quát, và trong ḷng chỉ muốn rút lui ra khỏi chuyện thế sự ta bà.

Ngán đời

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (1)
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu
Đem mộng sự đọ với chân thân th́ cũng hệt
Duy giang thượng chi thanh phong,
dữ sơn gian chi minh nguyệt (2)
Kho trời chung, mà vô tận của ḿnh riêng
Cuộc vuông tṛn phó mặc khuôn thiêng
Kẻ thành thị kẻ vui miền lâm tẩu (3)
Gơ nhịp lấy, đọc câu "Tương Tiến Tửu" (4)
"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
bôn lưu đáo hải bất phục hồi" (5)
Làm chi cho mệt một đời!
Cao Bá Quát

Chú thích
(1) Hai câu thơ chữ Hán này nghĩa là: Việc đời thăng trầm, bạn đừng hỏi làm ǵ. Hăy nh́n ra ngoài khơi khói sóng xa thẳm kia, chỉ thấy chiếc thuyền ngư phủ.
(2) Hai câu này trích từ bài phú Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha, nghĩa là: chỉ c̣n có gió mát ở trên sông, cùng trăng sáng trong động núi.
(3) Lâm tẩu: rừng và nội cỏ.
(4) Nhan đề của một bài ca của Lư Bạch, nghĩa là Mời Uống Rượu.
(5) Bạn có thấy nước sông Hoàng Hà, từ trên trời chảy tuôn xuống biển không hề quay trở lại. Ư nói đời người, thời gian qua đi th́ không trở lại. Đó là câu đầu của bài Tương tiến tửu.

Đă từ mấy năm nay, tôi chủ trương sống cuộc đời ẩn dật, rút lui khỏi chuyện thế sự. Đối với bao nhiêu bạn bè, tôi đều từ chối tham gia những buổi họp mặt vui chơi. Chỉ trừ khi bạn bè yêu cầu tham dự các buổi tŕnh diễn giúp vui cho cộng đồng, hoặc những hoạt động từ thiện tôi mới tham dự.

Một lần, một ông bạn già trong nhóm tam ca mà tôi là thành viên tha thiết mời tôi tham dự đám cưới của con trai ông ta, tôi từ chối và không đi. Ông bạn nói: để mai mốt con gái anh làm đám cưới chúng tôi c̣n đi chung vui với anh. Tôi cười nói: nếu cháu có làm đám cưới th́ tôi cũng chẳng biết là sẽ có được phép mời các bạn bè không. Hay là chúng nó chỉ ra Ṭa thị sảnh kư tên và đi hưởng tuần trăng mật riêng của hai đứa là xong, chẳng chắc là chính tôi có sẽ được mời đi ăn cưới hay không nữa. Cho nên xin anh đừng buồn và chấp làm ǵ. Ông bạn tôi không c̣n ư kiến ǵ nổi.

Một lần, một người bạn khác bảo tôi: Tôi thành thật khuyên anh đừng sống quá lập dị và không giống ai. Tôi chỉ cười.

Trong thâm tâm, tôi chán ngán những buổi xă giao và tiệc tùng, nhất là đám cưới, đôi khi ngồi tại một bàn ăn chẳng quen thân ǵ những người cùng bàn, phải cười nói vỗ tay, tôi cảm thấy quá mất th́ giờ và ngán ngẩm. Tôi thích trầm lặng ngồi viết vài ba câu thơ hay là một đoản văn, hoặc vào pḥng thờ tụng kinh, tọa thiền hơn rất nhiều những xă giao bon chen trong sự giao tiếp của đời sống. Phải ngồi chịu trận nghe những lời khoe khoang kín đáo về gia đ́nh con cái hay thương mại thành đạt.... Ngày xưa, khi tôi c̣n tham dự những buổi tiệc ấy, thường là chấm dứt rất khuya, mỗi lần đi là mỗi lần tôi về nhà dằn vặt ḿnh với câu hỏi: ta đă làm ǵ cho đời ta, đánh mất chính ḿnh trong những ta bà thị phi của thế sự? Cho đến khi tôi phải nói một lời xin lỗi với các bạn bè, xin đừng mời tôi tham dự v́ không thấy thích hợp.

Lâu dần bạn bè không c̣n thấy lạ và để tôi yên trong những trầm tư riêng của ḿnh về cuộc đời. Từ đó, tôi xa lánh dần chuyện thế sự.

Dĩ nhiên là tôi cảm thấy sung sướng trong cuộc sống rút lui ấy. Th́ giờ, tôi để hết vào việc hành tŕ và viết sách Phật hoặc dịch kinh Phật, cũng như làm thơ đạo. Tôi chủ trương thuần túy là văn dĩ tải đạo. Và nếu tôi không được học đạo th́ có lẽ tôi chẳng sáng tác được ǵ. V́ tất cả các nguồn cảm hứng của tôi đều đến từ những suy tư và thiền quán về đạo.

Nhưng vào cuối năm 2007, chùa nơi tôi đến hành tŕ tổ chức một chuyến đi hành hương các thánh tích của Phật giáo. Tôi chưa được đi đến những nơi đó bao giờ và đương nhiên là tôi rất thích đi. Nhưng khi chương tŕnh đi hành hương được in ra th́ tôi hỡi ôi cảm thấy thất vọng: v́ lư do là giá của chuyến đi hành hương quá cao với tôi. Ước lượng sơ khởi của chuyến đi là 5000$ chưa kể vé máy bay từ Bắc Mỹ về Ấn độ. Ngày đó, khi đọc tờ chương tŕnh và ước định giá, tôi thầm nghĩ, giá như số tiền này dành để cúng dường Đức Đạt Lai Lạt Ma, để ngài dùng trong việc đào tạo chư tăng, hoặc là cúng dường chư tăng để dùng trong việc kiết hạ (1) mỗi năm tại Bồ Đề Đạo Tràng. Rồi sau mấy ngày suy tư mà không quyết định được ǵ cả, tôi bèn liên lạc với vị bổn sư và thưa với ngài về nỗi băn khoăn của tôi. Ngài cười ha hả trong điện thọai vào bảo tôi rằng: "được, con hăy theo ta về cúng dường chư tăng tại Dharamsala trong kỳ thuyết pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhân tiện ở lại Dharamsala học đạo luôn trong một tháng". Và nhất là khi ngài nói thêm: "kỳ này ta sẽ dẫn con về Dharamsala như là một tăng sĩ". Bởi v́ tôi mang trong người một chứng bệnh trầm kha là bệnh vảy nến (2), bệnh di truyền từ cha tôi, người cũng đă từng mắc bệnh này khi c̣n trẻ. Bệnh của tôi nặng lắm và không có thuốc ǵ chữa được. Nhà thương phải gửi tôi vào một trung tâm Nghiên cứu chữa bệnh bằng tia cực tím (3), cho nên tôi đă phải cạo đầu từ 4 tháng nay để chiếu tia cực tím trên toàn châu thân chữa bệnh, và v́ vậy, thày bổn sư đă thấy tôi giống như là một tăng sĩ.

Trời đất, tôi thầm nghĩ, được theo vị bổn sư đi về nơi đất thánh Dharamsala, nơi thiết lập của chính phủ ly hương Tây tạng, nơi trú ngụ của Đức Đạt Lai Lạt Ma và được học đạo, và nhất là sẽ theo thày về như là một tăng sĩ, c̣n ước nguyện nào bằng. Tôi hoan hỷ đi mua vé máy bay sửa soạn theo ngài về vùng đất thánh Dharamsala.

Ngày lên máy bay, tôi cảm thấy nao nao trong dạ. Tôi ôm ấp trong tâm một cái cảm giác của một thiếu nữ từ giă gia đ́nh, xuất giá ṭng phu lên xe hoa về nhà chồng, hay đúng hơn tôi mang cái cảm giác của một người sắp sửa xuất gia, xuống tóc để vào trong chùa làm tỳ kheo. Cái cảm giác nao nao trong dạ, mà cho đến bây giờ tôi vẫn c̣n nhớ rất rơ.

Để tránh phiền nhiễu ở nơi đất lạ, chương tŕnh của tôi là đi theo phái đoàn hành hương về tu viện Sera Mey, nơi vị bổn sư của tôi làm viện trưởng và từ đó sẽ theo ngài để đi về Dharamsala học đạo, chứ không đi theo phái đoàn đi hành hương. Tiền tiết kiệm được nhờ không đi hành hương, tôi sẽ nhờ vị bổn sư mang về cúng dường Đức Đạt Lai Lạt Ma, hoặc là cúng dường chư tăng an cư kiết hạ tại Dharamsala.

Máy bay hạ cánh tại phi trường Bangalore lúc 1.50 rạng ngày 12 tháng 2, 2008. Khi lấy được hành lư và chờ tất cả mọi người đến đầy đủ th́ đă gần 3 giờ sáng và phái đoàn đi về khách sạn nghỉ ngơi tại Bangalore để đến chiều hôm đó, thuê xe buưt đi về tu viện Sera Mey.

Tại Bangalore, hai thày geshe Chopel và Phuntsok dẫn chúng tôi đi đổi tiền. Khi đi ngang các đường phố chính của Bangalore, cũng như đi ngang khách sạn và quán ăn quen thuộc trong lần ghé về tu viện Sera Mey năm 2002 để dự lễ khánh thành Đại Hùng Bảo Điện mới, và được thày đương kim viện trưởng (4) Lobsang Jamyang dẫn đi chơi tại Bangalore, tim tôi cảm thấy thật là bồi hồi và nghe tim thắt lại. Mới đây mà đă 6 năm qua đi. Tôi bây giờ đă thay đổi h́nh dạng rất nhiều so với 6 năm trước v́ mắc bệnh “Tự thể miễn dịch tính” (auto-immune disease). Nhưng đường xá và khách sạn tôi đến ở lần trước chung với thày viện trưởng c̣n y nguyên, ḷng cảm khái dâng trào trong tâm v́ cảm nhận sự chóng vánh vô thường của đời người. Điều thật lạ lùng là lần năm 2002 đó, tôi đă mắc bệnh nan y này rất nặng mà không biết, nhưng trong suốt thời gian đi thăm tu viện Sera Mey, tu viện Ganden va Dreypung, bệnh hoàn toàn không hề phát tác. Cho đến ngày tôi bước chân xuống may bay về đến nhà, và hôm sau th́ bệnh phát tác ngay lập tức, làm tôi ngă quỵ trên chuyến xe buưt trên đường đi làm và phải đưa cấp tốc vào nhà thương chữa trị. Thế mới biết là thần lực hộ tŕ của Tam Bảo không phải là chuyện nhỏ.

Chuyến xe buưt khởi hành sau bữa ăn trưa và măi đến 7 giờ tối mới đến thành phố gần tu viện Sera gọi là Kushinagar. V́ luật của tu viện không cho phép phụ nữ trú ngụ lại ban đêm cho nên phái đoàn thuê khách sạn cho các vị phụ nữ tại Kushinagar, và sau đó cùng nhau vào tu viện thăm thày viện trưởng. Ba người đàn ông trong phái đoàn trong đó có tôi sẽ được phép ngủ lại tu viện trong các pḥng của khu nhà Chungpa.

Thày viện trưởng tiếp đăi chúng tôi thật là nồng hậu. Sau phần trao khăn trắng (khata) ban phép lành, chúng tôi được dùng bữa cơm tối thật ngon miệng với ngài. Thày dặn ḍ chúng tôi đủ mọi điều, và sau đó phái nam được cho pḥng nghỉ ngơi, c̣n các phụ nữ th́ phải quay trở lại khách sạn tại Kushinagar để ngủ qua đêm.

2. Ngày 13 tháng 2, 2008

Sau một đêm ngủ và nghỉ ngơi thật thoải mái, hôm sau, tôi thiền tọa vào sáng sớm và cảm nhận thật rơ ràng sự gia hộ của gịng chư tổ truyền thống Giới đức (5). Ngồi thiền tại Sera Mey thật là an lạc trong sự hộ tŕ, được cảm nhận từ tầng lớp sâu thẳm của tâm thức: niềm hỷ lạc thật là sâu đậm và nhẹ nhàng, tâm thức an b́nh trong thiền duyệt (6), ĺa xa thế sự, thị phi của cuộc đời. Thời tiết thật dễ chịu, tuy hơi lành lạnh vào sáng sớm, nhưng vẫn c̣n khá ấm áp.



H́nh 1: Đại Hùng Bảo Điện Sera Mey (New Prayer Hall) mới được khánh thành năm 2002.

Tu viện Sera được chia làm hai phần: Sera Mey khoảng 2000 tăng và Sera Je khoảng 2500 tăng. Điều huyền diệu nhất là chu vi tu viện Sera (Mey và Je) bao gồm khoảng vài ba cây số vuông. Trong đó có tổng cộng 4500 nam tăng sĩ ở rải rác trong các căn nhà (7) lớn nhỏ. Khi ra đường những ngày lễ lớn, chúng ta sẽ thấy 4500 vị tăng sĩ tụ hợp về chánh điện để làm lễ. Toàn một màu áo tu đỏ tràn ngập đường xá mà không hề có một bóng dáng một ông cảnh sát đeo dùi cui, súng ống nào cả. Cảnh tượng những con đường tràn ngập áo tu màu đỏ đă để lại một ấn tượng sâu sắc trong ḷng tôi. Không hề có chuyện tranh chấp đánh nhau hay căi nhau. Chư tăng sống rất an ḥa và dễ thương, hiếu khách. Nhưng chưa kịp xả cữ thiền tọa buổi sáng th́ chư vị phái nữ trong phái đoàn đă quay trở lại tu viện và cười nói vui vẻ ồn ào. Chúng tôi dùng bữa ăn sáng xong là đi đến Đại Hùng Bảo Điện ngay vào lúc 8 giờ sáng để dâng lễ trường thọ cho thày cựu viện trưởng Ngawang Thetchok. Ngài là thày của thày đương kim viện trưởng. Trong buồi lễ, chư tăng và chúng tôi cầu nguyện Lễ cúng dường đức Bổn Sư (8). Buổi lễ thật là cảm động và sau đó chúng tôi lên dâng khăn và cúng dường thày cựu viện trưởng. Ngài nhận ra phái đoàn chúng tôi và rất là hoan hỷ.

Thày cựu viện trưởng Ngawang Thetchok là một cao tăng hiếm có. Ngài là một tăng sĩ nghiêm túc, và với tôi, ngài là một thần tăng. Người Đài Loan biết rất nhiều câu chuyện kể lại về những thần thông của ngài. Ngài có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đối với người Đài Loan, trong khi thày đương kim viện trưởng lại có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đối với cộng đồng người Việt tại Bắc Mỹ, kể cả Canada, và nhất là vùng Orange County và San Jose tại California.



H́nh 2: Chư tăng ra về sau buổi lễ cúng dường (tay c̣n cầm lộc Phật).


Tôi ngồi nhớ lại câu chuyện kỳ lạ sau: năm 2003, tôi có qua Wesminter, vùng Orange County sửa chữa và xây cất cho thày đương kim viện trưởng ngôi chùa tên là Geden Shoeling (9). Chùa hoàn tất theo ư thày hai tháng sau đó. Nhờ thế, tôi quen nhiều bạn đạo ở tại đó và thường liên lạc với nhau khi có tin tức ǵ, hay là giúp họ dịch kinh sách v.v…Một hôm, tôi nhận được điện thư của một vị bạn đạo kể chuyện lạ. Chuyện này cũng xảy ra mới đây vào tháng 11 năm 2007 thôi.thư như sau:

Sáng nay em đi nghe Khen Rinpoche (10) thuyết pháp về Bát Nhă Tâm Kinh. Thày giảng rất hay và rất kỹ. Vẫn theo thường lệ, sau buổi giảng th́ mọi người lên dâng khăn, cúng dường và thọ phép lành của thày. Em cũng nối đuôi để lên dâng khăn. Đến lượt một chị Phật tử kia, (chị này, thỉnh thoảng em cũng thấy chị tham dự buổi thính pháp một vài lần, trông cũng khá lớn tuổi, mắt, mũi sửa chữa tùm lum nên trông không được tự nhiên cho lắm). Khi chị lên dâng khăn và thày ôm lấy đầu chị để ban phép lành hộ tŕ th́ chị bật khóc. Người run lên bần bật, chị loạng choạng bước né qua một bên để nhường cho người khác lên dâng khăn. Nhưng chị vẫn khóc, gần như là đi không muốn nổi nữa. Mọi người phải d́u chị đi xuống cuối pḥng. Mọi người cứ nghe chị nói lảm nhảm cái ǵ khong rơ và cứ khóc măi. Sau khi người cuối cùng lên dâng khăn, cúng dường, th́ thày ra lệnh (trông lúc đó mặt thày nghiêm làm em sợ lắm). Thày bảo đem cái chị kia lên đây. Chị đó run tới qụy cả chân, phải 2 người d́u hai bên chị mới đi nổi, vừa đi, vừa khóc, vừa lảm nhảm eo éo nói ǵ đó mà không ai nghe rơ. Lên chỗ thày, chị không c̣n quỳ được nữa mà ngồi phệt xuống đất, người cứ run lên bần bật, ré lên khóc rơ to. Thày Khen Rinpoche và thày Norbu bắt dầu tụng kinh ǵ đó mà em không biết. Tụng rất to, em có cảm tưởng từng câu tụng là từng cơn băo có lực rất mạnh hất vào người chị...Tụng khoảng 5 phút th́ cả hai thày đều vỗ hai bàn tay vào nhau mấy cái. Chị kia hét lên một tiếng rồi ngă ngửa lên sàn. Hai tay chị dơ lên khỏi đầu. Chị hổn hển nói "Nam mô A Di Đà Phật" rồi khóc rức lên. Lần này em nghe tiếng nói của chị khác với cái tiếng nói trước khi chị bị ngă. Xong thày Khen Rinpoche tụng thêm một ít nữa rồi đứng lên lấy tấm áo choàng mầu vàng của ḿnh quất lên người chị kia mấy cái và nói lớn "NO TALK!!" "STOP!".

Tất cả mọi người trong chánh điện đều vẫn tiếp tục niệm câu bát nhă tâm kinh: "Tayatha, Gate, Gate..." trong khi Khen Rinpoche bước ra khỏi chánh điện.

Đây là lần đầu tiên em thấy thày trừ ma. Trông thày nghiêm lắm. Sau đó, em có vào pḥng chào thày, Lisa (là người thông dịch ra tiếng Việt) vào sau, hỏi thày, chị kia bị sao thế thày? Chị ấy có ok không? Thày b́nh tĩnh như không có ǵ, và bảo, bà ta không sao cả, mọi sự xong rồi. Don't worry. Lisa ṭ ṃ hỏi tiếp, có phải bà ta bị ma nhập không? Thày trả lời: Th́ đại khái là như vậy, nhưng bây giờ th́ không sao cả
Em nghe xong cũng hú hồn!

(Trước khi viết về câu chuyện này, tôi cũng khá đắn đo suy nghĩ nên hay không nên viết ra... V́ bản thân của tôi vốn không thích mê tín. Nhưng v́ dù tôi có thích hay không, th́ đó cũng là một sự thật đến từ chư vị cao tăng, và viết ra trong ư hướng tỏ ḷng kính trọng đến chư vị, một đời hoằng hóa cứu độ chúng sinh, và ḿnh không thể không cảm nhận thấy chư vị làm mọi thứ giúp đời hoẳng hóa độ sinh mà không hề có mảy may suy nghĩ, hay cho là ḿnh có ǵ đặc biệt hơn người, chư vị làm những kỳ tích xong là xả bỏ ra khỏi tâm, không hề dính mắc).

Đời sống chư tăng trong tu viện khá nghiêm ngặt và chặt chẽ. Trừ những ngày lễ chư tăng được nghỉ ngơi như là Tết Tây tạng (Losar), chư tăng được theo học một chương tŕnh huấn luyện kỹ lưỡng. Sáng thường thức dậy vào lúc 5 giờ và làm vệ sinh cá nhân xong là nghe tiếng kèn lớn, tiếng rất trầm, (Tạng ngữ gọi là Radong) báo hiệu là lúc phải vân tập tại Chánh điện để hành lễ và cầu nguyện (kinh nào th́ tùy theo hôm). Sau đó 7 giờ sáng th́ dùng điểm tâm cho đến 9 giờ th́ chư tăng sẽ tụ hợp để luận đạo (debate), đây là lúc mỗi vị sẽ phải mang hết sở trường học đạo của ḿnh để tranh luận và đào sâu đề tài đă học. Cách luận đạo như vậy giúp cho chư tăng nhuần nhuyễn sở học của ḿnh. Sau đó là ăn trưa và nghỉ ngơi đến 2 giờ chiều. Sau đó, chư tăng theo học các lớp học chung hoặc là theo học lớp riêng với vị bổn sư của ḿnh. Sau đó là bữa cơm tối, và từ 9 giờ tối trở đi, chư tăng sẽ tiếp tục họp nhau luận đạo đến 11 giời tối mới đi ngủ, để sáng hôm sau thức dậy từ 5 giờ sáng tiếp tục một ngày mới trong tu viện. Ngày tôi đến tu viện th́ chư tăng vẫn c̣n trong dịp nghỉ Tết Tây tạng. Nhưng tôi vẫn cố gắng theo thời khóa biểu mà chư tăng thường theo, mong là ḿnh gieo duyên để đời sau được tu học trong ḍng truyền thừa. Các bộ môn nằm trong chương tŕnh tu học là luận đạo bao gồm Ngũ Đại Luận (11):

1. Lượng học: môn học về Biện chứng pháp của Phật giáo và Nhận thức luận, bao gồm cả các luận thuyết ngoại đạo.
2. Bát nhă ba la mật: bao gồm các bộ Đại Bát Nhă Luận và các hành tŕ của Bồ tát đạo (như Lục độ ba la mật).
3. Trung quán luận và Tánh không.
4. A tỳ đàm Câu xá luận: là bộ luận lớn bao gồm vũ trụ quan, siêu h́nh học và hiện tượng luận.
5. Luật: là những giới luật và kỷ luật trong tu viện.

Lần này, phái đoàn người Đài Loan về tham dự khá đông. Trong buổi ăn trưa chung, tôi nhận thấy mỗi người nâng niu cầm trên tay một cuốn sách, họ có vẻ rất là quư cuốn sách. Tôi bập bẹ vài câu tiếng phổ thông và hỏi họ về cuốn sách mới bi ết ra là họ vừa mới xuất bản cuốn này, viết tiểu sử và cuộc đời của thầy cựu viện trưởng Ngawang Thetchok. Tôi cũng xin họ một cuốn, mặc dù sách viết bằng Tạng ngữ và tôi không hiểu, nhưng v́ ḷng kính trọng thầy cựu viện trưởng, tôi vẫn xin một cuốn mang về để trên bàn thờ.

Buổi tối sau thời cơm chung, chúng tôi lại chia tay giă từ các vị phụ nữ đi về khách sạn. C̣n tôi quay về pḥng hành tŕ thời công phu Tối thượng Du già thiền quán và sau đó đi vào trong giấc ngủ an b́nh trong sự gia hộ của chư thiên nữ.

3. Ngày 14 tháng 2, 2008

Sáng sớm hôm sau, tôi vẫn theo thường lệ thức dậy từ 6 giờ sáng hành tŕ. Trong kỳ thiền tọa này, tôi cảm nhận rơ ràng hơn sự gia hộ của gịng Giới đức, đặc biệt là cảm nhận sự gia hộ của chư bổn sư trong tu viện Sera. Tôi thiền quán trong niềm an lạc và ấm áp gần gũi với chư vị bổn sư của tu viện, cảm nhận sự che chở độ tŕ đến từ chư vị thẳng vào tim ḿnh, làm cho tôi sung sướng trong sự hành tŕ, yên ḷng tinh tấn thiền định và biết chắc chắn là tôi sẽ đi về đâu trong sự hành tŕ ấy. Xả thiền xong, tôi đi kiếm ly cà phê ngồi nhâm nhi trong buổi sáng tinh sương, chờ các vị trong phái đoàn trở lại ăn sáng. Nhưng ngay lúc trong buổi sáng sớm ấy, tôi nh́n thấy thày phụ tá viện trưởng Geshe Rabga đi ra ngoài pḥng, ngang chỗ tôi ngồi, tôi vội vàng qùy xuống đảnh lễ ngài. Ở tu viện Sera, ngài nổi tiếng là vị tăng sĩ hiền từ nhân hậu, quỳ bên ngài, tôi cảm nhận sự từ bi toát ra từ ngài. Ngài không biết tiếng anh, nên không nói ǵ, chỉ vỗ vỗ vào đầu và vuốt má tôi. Và sau đó khi ngài quay trở về pḥng, tôi vội vă chạy về pḥng ḿnh lấy tiền bỏ vào phong b́ để cúng dường ngài.

Khi bước ra ngoài th́ các vị trong phái đoàn đă đến, chúng tôi sửa soạn ăn sáng. Thày geshe trưởng phái đoàn thông báo là hôm nay phái đoàn sẽ đi tham quan hai tu viện Sera Mey và Je. V́ tôi đă đi thăm cả hai tu viện rất kỹ năm 2002, nên tôi thưa với thày xin được nghỉ ngơi một hôm, nhưng cốt là để có th́ giờ đến pḥng thày phụ tá viện trưởng cúng dường và sau đó đến vấn an thày viện trưởng.

Trong chuyến đi này, tôi có mang theo một bức họa thangka vẽ h́nh Phật Dược Sư mà một anh trong phái đoàn khi c̣n ở Montreal đă tặng cho tôi năm ngoái. Anh kể lại là trong chuyến đi chơi Thượng Hải, anh đă gặp một người Trung hoa ở tại đó bám lấy anh và dụ anh mua bức họa này. Anh không cầm ḷng được và đă mua mang về tặng cho tôi bởi v́ anh nói là tôi xứng đáng giữ bức đó. Lư do, anh nói, là v́ tôi đă bỏ một năm trời ra dịch cuốn kinh Lễ cúng dường Phật Dược Sư trong Mật tông. Hồi đó, khi tôi cầm bức họa ấy mang về nhà xem th́ tôi bỗng giật ḿnh: bức họa trông rất cổ kính và c̣n mang các vết khâu kim v́ người bán đă cắt ra khỏi bức thangka bằng gấm chung quanh. Có vẻ như là người Trung hoa đă ăn cắp bức họa cổ này từ một tu viện Tây tạng, đằng sau bức họa bằng vải ấy c̣n mang dấu son đỏ chói của một bàn tay, có lẽ là bàn tay của vị nghệ sĩ đă họa bức ấy và đóng dấu của ḿnh lên trên. Tôi hơi ngại, bèn mang về tu viện Sera nhờ thày viện trưởng thẩm định giá trị của bức họa. Nếu là bức họa cổ thực sự, có lẽ sẽ phải nhờ thầy dâng cho đức Dalai Lama để trao trả lại cho dân tộc Tây tạng. C̣n không th́ cũng nhờ thày cho khâu lại các bờ chung quanh bằng gấm, làm thành một bức thangka nguyên thủy để treo trên chùa.

Sáng hôm đó tôi tŕnh bức họa lên ngài viện trưởng và thày bảo với tôi đó chỉ là một bức vẽ nhái lại, tuy cổ, nhưng không phải là bức nguyên thủy cho nên ngài sẽ nhờ chư tăng khâu lại bằng gấm chung quanh để mang về Montreal. Tôi cũng mừng là không phải đồ ăn cắp của Tam Bảo.



(c̣n t́ếp Phần 2: Cuộc hành tŕnh về Dharamsala)

Chú thích:
1. Tạng ngữ gọi là Monlam Chen Mo.
2. Psoriasis
3.
UVB treatment.
4. Chữ đương kim viện trưởng Tạng ngữ là Khen Rinpoche.
5. Gelugpa – Hoàng mạo phái, do Đức Đạt Lai Lạt Ma lănh đạo.
6. Là niềm vui sướng của thiền định.
7. Nhà lớn tiếng Tạng ngữ gọi là Khangtsen, nhà nhỏ gọi là Labrang.
8. Guru Puja (bản dịch của người viết Nhật kư dưới pháp danh là Chân Giác và dịch chung với Diệu Hạnh Giao Trinh).
9. Chùa này dịch tên nghĩa là Vùng Đất Tịnh Lạc – tên do Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt cho.
10. Là thày đương kim viện trưởng.

11. Ngũ đại luận bao gồm:

1. Lượng học: Pramana, the Buddhist logic and epistemology (valid cognition) including the studies of many non-Buddhist thoughts.
2. Bát nhă ba la mật: Prajnaparmitas which include voluminous texts of Bodhisattva practices such as the study of six perfections.
3. Trung quán luận và Tánh không: Madhyamika, the study of Buddhist middle views, Sunyatavada..
4. A tỳ đàm Câu xá luận: Abhidharmakosa, the Buddhist metaphysics. Từ ngữ metaphysics (tiếng Hy lạp, meta=siêu, physics=h́nh học) bao gồm các phần: 1. vũ trụ luận (cosmology) và 2. Hiện tượng luận (ontology).
5. Luật: Vinaya, monastic rules and disciplines.

 

Không Quán
14 march 2008

 


Phần 2: Cuộc hành tŕnh về Dharamsala

 

4. Ngày 15 tháng 2, 2008

Hai ngày đă qua đi tại tu viện Sera Mey. Sáng nay tôi tọa thiền và hành tŕ trong sự an b́nh nhẹ nhàng. Niềm an vui trong đời sống tu viện và nếp sống xa mọi thị phi trong hai ngày vừa qua đă mang lại cho tôi một sự an ổn rất tĩnh lặng của tâm. Thực là một điều kỳ diệu khi tâm cảm thấy an ổn và được che chở, khi trong ḷng thấy rơ những pháp môn và sự hộ tŕ không đứt đoạn mà chư tổ và chư bổn sư trong truyền thừa ban cho ḿnh, liên tục từ thời Phật Thích ca đản sanh cho đến bây giờ. V́ ḿnh nằm trong ḍng liên tục đó, nên tâm rất an b́nh và sung sướng trong sự hành tŕ mỗi ngày. Sự quán tưởng sùng kính không thể thiếu sót vào bốn lễ quán đảnh của đức Bổn Sư Kim Cang Tŕ, đức Phật bổn sơ của ḍng Kim Cang thừa làm cho buổi thiền quán trở thành niềm thích thú say mê v́ thấy rơ ràng là ngài ban cho ḿnh một sự hộ tŕ không gián đoạn…

Hôm nay, tôi tham dự với phái đoàn đi thăm tu viện Zongkar Choede, là một tu viện nhỏ gần Sera Mey, và cũng nhân cơ hội đi thăm Hạ Mật Viện (Gyumed). Năm 2002, tôi đă có dịp đi thăm Zongkar Choede và tham quan những pháp khí cổ của chùa như là tượng Phật Thiên thủ thiên nhăn, tượng Phật Tara nói, tượng Phật Tara đứng, các dấu chân của đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm... Những pháp khí này đều được giữ ǵn kỹ lưỡng và chỉ mở ra cho các phái đoàn hành hương đến tham bái.


H́nh 3: Tượng thiên thủ thiên nhăn tại tu viện Dzongkar Choede (h́nh 2002).


H́nh 4: Triển lăm các pháp khí cổ xưa, rất quư của tu viện Dzongkar Choede (h́nh 2002).

Chuyến đi cũng khá dài. Trên đường đi, tôi nhắm mắt thiền quán. Các vị phụ nữ trong phái đoàn trêu ghẹo tôi, hỏi là sao anh ngủ hoài thế. Tôi cười nói rằng tôi không ngủ, và có nghe biết quư vị, nhưng tôi thường đi vào trong một t́nh trạng định trong sự chú tâm, lúc đó tâm rất là an b́nh sung sướng, trong ḷng thấy rất là an lạc.

Những lúc nhắm mắt như thế, tôi như đi vào một vùng sâu thẳm của của tiềm thức và rất an b́nh sung sướng. Tôi có thể ở trong trạng thái an lạc của thiền định đó rất lâu. Tuy không chú tâm vào chuyện quư vị nói hay vào những chuyện xung quanh ḿnh nhưng tôi vẫn nghe và biết mọi sự.

Các vị đó lại càng trêu tôi, nói là thiền ngủ hả anh. Tôi cười nói: ấy, quư vị cũng biết là một trong Sáu pháp tu của tổ Naropa là pháp môn Thùy Miên Du Già, bất cứ ai đă từng thọ lễ quán đảnh Tối thượng Du Già đều phải hành tŕ. Và để tôi kể lại hầu chuyện quư vị về chuyện của Tổ Tịch Thiên (Shantideva) như sau.

Lúc c̣n ở trong tu viện Nalanda, Tổ thường bị tăng chúng chê cười là suốt ngày chỉ ngủ, ăn và đi nhà cầu. Một hôm tăng chúng muốn mang Tổ ra làm tṛ cười và mong là sau đó, Tổ v́ bị chê cười mà phải tự bỏ ra đi khỏi tu viện. Tăng chúng viện cớ mời Tổ lên ṭa thuyết pháp. Tổ nhận lời, và không hề biết là họ đă xây một pháp ṭa cao khổng lồ, nhưng không có bực thang nào để cho Tổ bước lên. Hôm đó, họ mời một tăng đoàn đông đảo đến dự và định bụng sẽ làm một trận cười lớn. Khi Tổ đến nơi hội trường và thấy t́nh cảnh như vậy, Tổ đột nhiên vươn cánh tay, biến thành dài cho đến khi chạm vào ṭa ngồi và biến ṭa trở thành kích thước nhỏ lại b́nh thường. Tổ lên ngồi trên đó thuyết giảng và hỏi: quư vị muốn nghe một bài giảng b́nh thường, trước đó đă có từng nghe qua, hay là muốn nghe một bài giảng phi thường, trước đó chưa từng nghe bao giờ? Tăng chúng trả lời là muốn bài giảng phi thường, mong rằng Tổ sẽ bị thất bại và phải xấu nhổ mà bỏ tu viện ra đi.

Tổ bèn bắt đầu giảng về "Nhập Bồ Tát Hạnh" và khi tăng chúng nghe, họ đều ngạc nhiên cảm thấy bài giảng thật là kỳ diệu. Khi Tổ giảng đến chương Trí tuệ và đọc đến câu: "…những ǵ hiện hữu và không hiện hữu…" th́ thân của Tổ bay lên lơ lửng trong không gian, trụ giữa đám mây, không c̣n thấy được. Tổ tiếp tục giảng chương 10 và chương cuối của "Nhập Bồ Tát Hạnh". Trong trạng thái vô h́nh mà người thường không thể thấy được đó, chỉ có những vị có tŕnh độ chứng ngộ cao mới có thể nghe được hai chương cuối và thấy được Tổ trong đám mây…

Tôi nói tiếp, quư vị cẩn thận nhé, nhiều khi thấy vậy mà không phải vậy, cho nên "thấy vậy mà không thấy vậy mới là thấy vậy" đó…Và mọi người đều cười vang.

Sau khi thăm tu viện Dzongkar Choede, được thày viện trưởng của tu viện cho xem những pháp khí cổ xưa quư báu của chùa, mọi người ai cũng hoan hỷ và cúng dường thật nhiều. Chưa kể là c̣n được tu viện hậu đăi một bữa ăn trưa rất ngon.

Trên đường đi trở về tu viện Sera Mey, trong khi tôi đang nhắm mắt tŕ chú th́ các chị đằng sau lại kêu réo và nói anh kể chuyện nghe nữa đi. Tôi nói kể chuyện ǵ bây giờ, th́ một chị hỏi là tại sao anh không chịu đi hành hương với phái đoàn, anh có tướng khuôn mặt rất lạ, hai lông mày phượng thật dài và cong vút, ai nh́n anh cũng phải sợ tướng mặt Quan Công của anh, nếu chịu đi với phái đoàn th́ đỡ lắm v́ kẻ gian trông thấy là sợ mà không dám đụng vào.

Tôi cười nói là, tôi cũng đă từng nghiên cứu về tướng học trước khi bỏ theo đạo Phật, bây giờ quư vị muốn nói về tướng mạo, th́ cho phép tôi hỏi là quư vị có bao giờ nghe tướng "thập trọc nhất thanh" và "thập thanh nhất trọc" chưa? Một chị trả lời, h́nh như là cái tướng trước tốt hơn cái tướng sau.

Tôi cười nói, đúng rồi "thập trọc nhất thanh" là quư tướng, c̣n "thập thanh nhất trọc" là phá tướng. Mọi người hỏi tại sao vậy và tôi giải thích là v́ "thập trọc nhất thanh" nghĩa là mười phần tướng xấu mà ở trong lại ẩn một quư tướng th́ như đá ẩn ngọc quư, c̣n "thập thanh nhất trọc" là mười phần tướng tốt đẹp, lại phô bên trong một cái tướng rất xấu, cho nên gọi là phá tướng v́ chỉ một tướng xấu mà phá đi mất tất cả cái tướng đẹp.

Và tôi kể chuyện là ngày xưa vua Càn Long thường hay trốn ra khỏi cung đ́nh, cải trang để đi xem dân t́nh. Một hôm nhà vua cải trang thành dân thường đi ra ngoài thành, thấy một ông thày bói ngồi xem tướng, mọi người bu lại đông đảo xin xem và khen hay. Vua cũng chen vào và chờ khi thày bói rảnh một chút để hỏi là ông xem tướng tôi ra sao? Thày tướng nh́n kỹ nhà vua xong nói rằng, tướng ông là tướng ăn mày. Nhà vua nghe xong phá lên cười ha hả và quay đi. Ông thày tướng gọi giật lại và bảo, thưa ngài, tôi đă lầm, v́ ban đầu xem tướng ngài thấy không có ǵ xuất sắc, nhưng khi ngài cười ha hả và quay đi th́ tôi mới nhận ra, ngài có bộ hàm răng của rồng, long nha, cho nên đó là tướng "thập trọc nhất thanh" và tướng của ngài là tướng làm vua.

Mọi người nghe xong thích thú lắm, nói anh kể nữa nghe đi và hăy coi tướng cho chị em chúng tôi. Tôi cười, nói là đó là ngày xưa, tôi nghiên cứu tướng số, c̣n bây giờ, theo đạo Phật, đâu c̣n coi tướng làm ǵ? Đức Phật đă dạy: muốn biết đời trước ra sao th́ hăy nh́n đời nay ḿnh chịu quả ǵ, c̣n muốn biết đời sau ra sao, hăy nh́n ḿnh đang tạo nhân ǵ đời nay. Vậy quư vị c̣n đ̣i coi làm chi? Thấy mọi người ỉu x́u, tôi tội nghiệp bèn nói thêm, thôi vậy tôi đố quư vị: tướng đàn bà kỵ nhất cái ǵ? Mọi người nh́n nhau, không ai trả lời được. Tôi mới thủng thẳng nói, nữ nhân kỵ nhất là tướng "tỵ tước, quyền cao, thanh thích nhĩ...". Thấy mọi người ngơ ngáo, tôi cười nói, tỵ tước nghĩa là mũi mỏng như sống dao, quyền cao nghĩa là lưỡng quyền nhô cao quá khổ, và thanh thích nhĩ nghĩa là tiếng nói cao the thé đâm vào lỗ tai. Đó là tướng đàn bà khắc chồng khắc con…Đàn ông nào đụng vào th́ tiêu cuộc đời. Mọi người nhao nhao hỏi, vậy chứ đi sửa mũi cho cao lên th́ sao? Tôi trả lời là, mắt mũi g̣ má miệng và các đường rănh trên mặt như là sông núi, nguồn mạch, tất cả phải hoà hợp và thông suốt, nếu sửa và cắt đi th́ chưa kể h́nh dạng bị thay đổi, phá các ḥa hợp tự nhiên mà c̣n làm cho các nguồn mạch đó bị tắc nghẽn, và theo tướng số th́ như vậy là phá tướng, ngay cả các sẹo khi bị thương tích cũng phá tướng của ḿnh. Nói đến đây, tôi cũng phải nhắc nhở là thôi, các thày thắc mắc ḿnh làm ǵ mà ồn ào quá ḱa.

(Trên xe buưt, vị trí của tôi là ngồi ở hàng ghế thứ hai, bên trong, cạnh cửa sổ. C̣n Geshe Norbu th́ ngồi ghế ngoài để dễ điều khiển phái đoàn. Do đó, mà khi các vị phụ nữ ngồi sau hỏi ǵ, tôi phải hơi nhổm lên để trả lời. Các thày thấy chúng tôi ồn ào, nên cũng nh́n chúng tôi như là hỏi, chuyện ǵ mà vui vẻ thế kia).

Lúc đó, xe buưt đă gần về đến chùa và sau đó th́ chúng tôi thủng thẳng chia tay nhau, đi về pḥng. Hai vị geshe dặn ḍ mọi người là người trong phái đoàn là phải tập họp lúc 9 giờ đêm để lên đường đi hành hương theo chương tŕnh. Ngay đêm đó, phái đoàn sẽ đi về Bangalore để hôm sau đi Kalkutta. C̣n tôi th́ không c̣n đi chung với phái đoàn nữa, và sáng sớm hôm sau, ngày 16 tháng 2 cũng sẽ rời Sera Mey để theo thày viện trưởng đi Bangalore, và từ đó lấy xe lửa để đi về New Delhi và sau đó đi về Dharamsala.

Tôi về pḥng nghỉ ngơi sau một ngày thăm viếng, đi bộ mệt mỏi và sau đó thiền quán như thường lệ trước khi vào giấc ngủ êm đềm trong bầu không khí an lành của tự viện.

5. Ngày 16 tháng 2, 2008

Sáng sớm, 5 giờ, tôi đă thức dậy tắm rửa sạch sẽ và ngồi túc trực chờ thày viện trưởng để khởi hành đi Bangalore. Sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, trời vẫn c̣n tờ mờ sáng. Tôi đóng hết cả hành lư lại gọn gàng và ra ngồi trước bàn ăn lớn bên ngoài. Trong khi chờ đợi, tôi định pha ly cà phê uống, nhưng xem lại th́ trong b́nh thủy chẳng c̣n tí nước nóng nào. Tôi đành lấy chút nước trái cây hộp ngồi nhâm nhi. Khoảng mười phút sau, một số các vị sư nhỏ tuổi, đệ tử của thày viện trưởng đă tề tựu đến để tiễn đưa thày đi. Tôi cũng nhân tiện hỏi chương tŕnh đi về Dharamsala và những ai sẽ đi. Một vị thày trẻ nói được chút đỉnh anh ngữ bảo tôi là chuyến xe lửa sẽ vào lúc 8 giờ tối mai 17 tháng 2, và sẽ đến New Delhi vào lúc 9 giờ sáng ngày 19 tháng 2. Như thế có nghĩa là cuộc hành tŕnh trên xe lửa sẽ kéo dài 2 đêm, một ngày, tổng cộng khoảng 32 giờ ngồi trên xe lửa.

Tôi cần phải sửa soạn tinh thần, bởi v́ chuyến đi về Dharamsala này có vẻ không dễ dàng lắm. Dù sao, tôi cũng đă quen với các điều kiện sinh sống và tiêu chuẩn của vùng Bắc Mỹ. C̣n xe lửa ở Ấn độ này th́ khác hẳn, bao gồm nhiều toa xe kéo với nhau. Mỗi toa chia làm nhiều pḥng, thông với nhau qua một hành lang hẹp dùng để di chuyển. Tuy có máy lạnh, nhưng mỗi pḥng có tổng cộng tới 8 giường ngủ, chia làm 6 giường xếp chồng thành 3 tầng và 2 giường ngủ c̣n lại xếp chồng thành hai tầng dọc theo hành lang. Dù là trên xe lửa tôi sẽ có giường ngủ, nhưng tôi sẽ phải chia chung một pḥng với 7 người xa lạ khác, không biết họ là ai. Tôi chặc lưỡi tự bảo, cũng chẳng có ǵ đáng giá trong các hành lư của ḿnh, bao gồm một cái va-li một cái va-li xách tay (carry-on). Chỉ có thuốc cá nhân và tiền th́ cần phải cẩn trọng, và tôi đă chuyển các thức tối cần thiết đó sang một cái túi ruột tượng đeo quanh lưng, vậy là yên chí để đi du hành.

Sáu giờ sáng, thày viện trưởng đi ra ngoài và sửa soạn lên xe khởi hành. Vị phó viện trưởng từ ḥa đă đến để chúc lên đường vui vẻ và tặng khăn trắng cho thày cũng như cho tôi. Cũng như mọi lần, thày phó viện trưởng ôm đầu tôi, vuốt má và đọc kinh ban sự an lành. Bao giờ bên thày phó viện, tôi cũng cảm động rưng rưng trong ḷng… Nhất là trong không khí của buổi từ giă này, mặc dù thày phó viện cũng sẽ đi đến Dharamsala sau đó.

Chiếc xe đă chuyển bánh, buổi sáng gió thổi lạnh lạnh vào xe, tôi kéo cổ áo lên và thầm nguyện, xin giă từ Sera Mey lần thứ hai, xin nguyện cầu cho tương lai, con sẽ có dịp quay về và nhất là có đủ duyên để thành tăng sĩ, mau đạt giác ngộ để cứu độ mọi chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

Thày viện trưởng bắt đầu tŕ tụng, ngài vẫn có thói quen tŕ tụng khoảng nửa tiếng sau khi xe bắt đầu lăn bánh. Có lẽ là ngài gia hộ cho chuyến đi được an b́nh. C̣n tôi, tôi cũng yên lặng hành tŕ, sáng nay dậy quá sớm, tôi không có đủ giờ để hành tŕ phần công phu sáng.

Khoảng một tiếng sau, thày viện trưởng gọi tôi, con có thấy Ấn độ không? Tôi thưa vâng, nghèo quá thưa thày. Xe chạy qua thị trấn lớn Mysore, mà nguyên cả khu phố chính trông thật tồi tàn khổ sở. Hai bên đường dân chúng đang xăn quần lên để đào mương. Cuộc sống nghèo khổ làm tôi mủi ḷng và cầu nguyện cho họ. (Tôi nhớ đến hồi cách đây 10 năm, hăng của tôi gửi tôi về Việt nam công tác, khảo sát đường dây điện cao thế, tôi cố t́nh lấy chuyến xe lửa tốc hành từ Hà nội vào Sài g̣n, cũng tương tự như chuyến xe lửa tôi sẽ phải lấy hôm nay, để t́m hiểu đời sống của dân chúng. Ngồi trên xe lửa rời Hà nội, tôi không ngăn được nước mắt v́ nhớ lại cảnh khổ của người dân, nhất là khi nhớ lại t́nh cảnh của một em gái đi làm trong quán cà phê ca hát karaoke. Trông em cỡ khoảng 17, 18 tuổi, vừa bưng cà phê, vừa ôm con búp bê trong tay, mặt c̣n rất ngây thơ. Tôi hỏi, em thích búp bê lắm sao, quê ở đâu, sao không ở nhà đi học. Em nói thích búp bê lắm, quê ở Hà đông (cùng quê với mẹ tôi) và phải đi bưng cà phê v́ cha mẹ buôn bán thua lỗ phá sản, không có tiền sinh sống ở quê, nên phải lên Hà nội bưng cà phê. Tôi hỏi thế em muốn đi học không. Em nói chỉ mơ ước có đủ tiền đi học ra nghề thợ may. Và c̣n bao nhiêu người và bao nhiêu chuyện như thế. Trên chuyến xe lửa về Sài g̣n, tôi cứ ứa nước mắt thương cho những cảnh đời thật buồn bă vô vọng, và tôi ngồi tŕ chú sám hối 100 chủng tự Phật Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva), hồi hướng cho em cũng như tất cả những cảnh đời khốn khó ấy để họ được tiêu trừ nghiệp dĩ, mà có thể thoát ra để vươn lên…)

C̣n ở đây, những cảnh làm tôi mủi ḷng nhất không phải là những người ăn mày. Dĩ nhiên là cũng có những người ăn mày trông rất tội. Nhưng cảnh mủi ḷng nhất là khi tôi nh́n thấy những phụ nữ Ấn độ, gầy như que củi, có lẽ là họ rất thiếu ăn và suy dinh dưỡng. Vậy mà họ phải làm quần quật trong các công trường xây cất, đầu đội những thúng đá hay những thúng cát thật to, mang đổ vào những chỗ trộn hồ hay vào các móng làm nền nhà. Với tôi, những người đó đáng thương và đáng quư, Họ không hề đi ăn xin, làm việc cực nhọc và nhẫn nhịn các khó khăn trong đời sống, không than van. Mà đặc biệt là họ vẫn mặc bộ quần áo quốc phục tha thướt Saree của Ấn độ, màu sắc sặc sỡ, trong khi làm việc ở một môi trường xây cất nặng nhọc và bụi bậm bẩn thỉu như thế. "Có cái ǵ tương phản mà thương xót". Đôi khi tôi lặng nh́n họ làm việc cực khổ như vậy rất lâu. Mà lạ một điều, phụ nữ làm khuân vác như vậy rất nhiều trong các công trường, thế mà công việc loại đó lại thấy hiếm đàn ông đụng vào. Nhiều khi tôi không hiểu cái văn hóa của họ như thế nào và họ nghĩ ǵ. Một lần, tôi đánh bạo đến gần một người phụ nữ khuân vác đó, và cho họ ít tiền rupee, nhưng họ chỉ nh́n tôi trân trối và không chịu lấy…

Phải nói thực t́nh là đi nhiều cũng học được rất nhiều điều, nhất là mở mắt to ra để thấy những mảnh đời xót xa…Tôi quư h́nh ảnh những người đó, làm việc rất cực nhọc, nhưng không đi ăn xin, viết đến đây nước mắt tôi vẫn c̣n chực muốn trào ra… Tôi làm ǵ được cho họ? Có chăng chỉ c̣n những lời cầu nguyện chân thành hồi hướng đến họ.

Mà nói đến ăn xin, tôi nhận xét thấy một điều thật tương phản giữa người Ấn độ và người Tây tạng. Đó là, người Ấn độ đi ăn xin rất nhiều. Nhan nhản trên đường phố Ấn độ. Người Ấn độ ăn mày c̣n vào cả trong các tu viện đi ăn xin các du khách và chư tăng, nhất là trong những dịp lễ lạc lớn khi có nhiều người ngoại quốc về tham dự. Và họ níu kéo cả tay áo của du khách, làm phiền cho đến khi xin được tiền mới thôi. Ngược lại, trong suốt những lần đi về các tu viện và các trại tỵ nạn của người Tây tạng, cũng như trong suốt thời gian ở tại Dharamsala, tôi chưa hề thấy một người Tây tạng nào đi ăn xin. Có những người Tây tạng rất nghèo khó, làm việc cực nhọc kinh khủng để kiếm sống, nhưng họ không đi ăn xin, không ăn cắp, và họ rất vui vẻ, hiếu khách và dễ dàng chia sớt vật dụng thức ăn cho người khác. Điều này cũng làm cho tôi phải sinh ḷng kính trọng nền văn hóa đặc biệt ấy. Đến đây, tôi lại bồi hồi nhớ đến lần công tác ở Việt nam, khi đó tôi vào thăm Huế, chợ Đông Ba, dân chúng cũng có cái giống như người Tây tạng, rất giữ nề nếp, đi bán chè cũng mặc áo dài, nhưng chân đi đất v́ nghèo, và cũng giữ cái liêm chính không ăn cắp vặt. Tôi nghĩ, người Huế giữ được cái truyền thống của ḿnh, làm cho du khách đến thăm phải sinh ḷng kính trọng…

Sau năm tiếng đi xe, chúng tôi tới Bangalore, thày viện trưởng đưa tôi vào khách sạn quen, trong đó đă có thấy nhiều vị tăng quen biết đang ở. Tôi c̣n được hơn một ngày để đi dạo chơi thành phố Bangalore. Khác với lần thày viện trưởng dẫn tôi đi Bangalore năm 2002, hồi đó, ngài dẫn tôi đi thăm thú nhiều nơi. Bây giờ, ngài đă già hơn, và chỉ dặn tôi là thích đi chơi đâu th́ cứ đi, c̣n thày chỉ ở trong pḥng của khách sạn thôi.

Tôi cũng đâu có thích thú đi chơi ǵ lắm. Đầu tiên là về pḥng tắm rửa sau chuyến đi dài 5 tiếng mệt mỏi. Sau đó, tôi cần một thời thiền định để an tâm, rồi mới đi đâu th́ hăy tính sau. Tôi kính chào thày và đi về pḥng ḿnh.

Trong thời thiền quán, không biết tại sao ḷng tôi cứ xúc động liên miên và trào nước mắt. Phải chăng là v́ những ưu tư lo lắng của thày viện trưởng khi ngài kể lại cho tôi nghe những khó khăn hiện giờ tu viện phải đương đầu, mà chính yếu là vấn đề chủ nghĩa đồng hóa và đàn áp cũng như xâm phạm chủ quyền của Trung quốc đối với người Tây tạng... Những lo lắng đương đầu với các vấn đề chính trị và ảnh hưởng của Trung quốc đối với chính phủ Ấn độ, làm cho chính phủ lưu vong của Tây tạng càng ngày càng gặp khó khăn trong chính sách đối ngoại cũng như đối với đồng bào tỵ nạn. Hay là v́ tôi thấy thày đă già đi, không c̣n như năm 2002, khỏe mạnh và dẫn tôi đi thăm mọi nơi… Những kỷ niệm quá khứ trở về, mà ngày hôm nay, tất cả như là giấc mộng.

Sau thời thiền quán, tôi ngủ một giấc chưa kịp thức dậy, th́ có tiếng gơ cửa. Hai vị tăng thị giả của thày viện trưởng rủ tôi đi ăn cơm trưa trễ và nhân tiện mua chút ǵ về cho thày. Chúng tôi ăn nhanh nhanh để mang thức ăn về pḥng cho thày, và tôi ngồi bên thày suốt buổi ăn trưa thật trễ đó. Nghe thày kể chuyện điều hành của tu viện, những khó khăn hiện tại của thày cũng như của đức Đạt Lai Lạt Ma đối với t́nh h́nh Tây tạng và với nhóm tu tập pháp môn Shugden Dorje…Khi thày ăn xong và nằm nghỉ, tôi xin phép thày ra ngoài đi dạo một ṿng, nhân tiện gửi vài lá điện thư thăm hỏi và kể chuyện cho bạn bè về chuyến đi của ḿnh.

Trên đường về pḥng, tôi ghé qua một tiệm trái cây bên lề đường, mua một kư quưt lớn, tôi biết thứ quưt lớn, tươi và ngọt này, thày viện trưởng rất thích, định bụng để cúng dường ngài sau thời nghỉ ngơi. Lần trước năm 2002, tôi cũng rất thường mua quưt này cúng dường thày dùng sau thời gian nghỉ trưa.

6. Ngày 17 tháng 2, 2008

Sáng sớm thiền tọa hành tŕ khá yên ổn và an b́nh. Thành phố Bangalore bắt đầu hoạt động náo nhiệt kể từ 7 giờ sáng. Một ngày trong thành phố lớn bắt đầu bằng lễ cúng dường của đền thờ Ấn độ giáo không xa nơi khách sạn của chúng tôi lắm. Người Ấn độ hành lễ cúng dường vào mỗi sáng rất sớm, và họ cũng gọi những buổi lễ ấy là lễ cúng dường, Ấn ngữ gọi là "puja", sau đó th́ họ đi làm, và thành phố bắt đầu tấp nập, ồn ào. (Nếu vào giờ sáng sớm đi làm ấy, bạn ra đường th́ thấy nơi hai chân mày giao nhau, giữa trán mỗi người đều có một chấm bằng phấn màu đỏ. Đó là vệt phấn ban phép lành hộ tŕ (blessings). Chấm ban phép lành này khác với chấm son màu đỏ của các bà Ấn độ, tượng trưng cho một đóa hoa đă có chủ, nghĩa là phụ nữ đă có chồng).

Đền thờ Ấn độ giáo cầu nguyện rất ầm ỹ, v́ họ bắc loa phát những lời cầu nguyện đó ra các góc đường sáng sớm, làm buổi thiền tọa của tôi phải chấm dứt để chuyển sang tụng chú.

Buổi sáng hôm nay, thày viện trưởng dẫn chúng tôi đi ăn sáng rất trễ. Thày có ư muốn dẫn tôi vào một tiệm ăn Ấn khá ngon, chuyên làm ăn sáng với các món thuần tuư của Ấn độ như là món bánh kẹp "dosa", giống như món bánh kếp "pancake" thật mỏng, bên trong bỏ nhân bằng khoai tây nghiền và chứa rất nhiều gia vị Ấn độ. Tuy bánh khá ngon mà tôi không dám ăn nhiều v́ bánh quá nhiều dầu và bụng không quen với các món gia vị Ấn độ. Thày dùng món điểm tâm "itry", giống như món bánh ḅ, chấm vào các dĩa sốt cà chua, hoặc dừa giă nhuyễn, tất cả các sốt ấy lại cũng đầy gia vị. Lần đầu tiên, nghe thày dạy là món "idly", mà với giọng đọc Ấn độ quá nhanh, tôi cứ ngỡ món ấy tên là "italy", và cứ gọi tên như thế làm thày cười quá.

V́ ăn sáng quá trễ, nên sau khi về pḥng, chúng tôi đi ăn trưa cũng rất trễ và mua thức ăn mang về pḥng cho thày. Thày bảo là tối nay chúng ta sẽ đi ra trạm xe lửa lúc 7 giờ để lấy chuyến tàu đi New Delhi lúc 8 giờ 15.

Tối hôm đó, khi lên được xe lửa tôi mới biết là v́ mua vé khó khăn nên giường của của tôi và của thày viện trưởng ở hai toa xe khác nhau, như vậy là tôi sẽ phải ngồi riêng một ḿnh trên một toa xe khác, cạnh toa xe của thày. Khi vác được va-li để dưới gầm giường ngồi trên giường, tôi nh́n lại toa xe để định vị trí của xe lửa Ấn độ, mà đây là lần đầu tiên tôi bước lên. Cũng chẳng khác ǵ xe lửa Việt nam lắm. Giường của tôi ở tầng giữa cho nên muốn ngồi th́ phải khom lưng. Nhưng thường th́ giường từng giữa chỉ được hạ xuống khi đi ngủ, c̣n những lúc ban ngày th́ treo lên để tất cả các hành khách có thể ngồi thẳng lưng cho thoái mái. V́ chuyến xe này là chuyến tốc hành cho nên thời gian đi từ Bangalore đến New Delhi chỉ mất 32 tiếng, các chuyến xe b́nh thường phải mất 40 tiếng mới đến nơi.

Lên xe lửa ngồi một lúc th́ các hành khách chia chung pḥng với tôi bắt đầu lên xe. Hai tầng giường trên cùng là hai cô thiếu nữ Ấn nằm. Hai tầng dưới cùng là hai vợ chồng Ấn trung niên. Đối diện với tầng của tôi là một thanh niên Ấn cỏ vẻ là sinh viên, mang bài sách vở ra học trên xe lửa. C̣n hai giường kia dọc hành lang th́ có một thanh niên Ấn nằm, giường trên cùng th́ bỏ trống. Tôi bỡ ngỡ khi nh́n thấy hai vợ chồng trung niên Ấn lấy ổ khóa ra và khoá các hành lư của họ vào giây xích của xe lửa đă có sẵn để dùng vào việc bảo vệ an toàn chống mất cắp. Tất cả đều thật lạ lùng mới mẻ với tôi, và tôi mở to mắt ra quan sát mọi sự chung quanh ḿnh.

Xe lửa chuyển bánh không được bao lâu th́ nhân viên cho ăn tối. Chuyến tốc hành này cũng khá tốt v́ bao gồm cả các bữa ăn. Tuy các phần ăn mỗi bữa không nhiều, nhưng đủ để cho no ḷng cho người ăn quen đồ ăn Ấn. Các món ăn hoàn toàn thuần túy Ấn độ, nghĩa là ăn chay, và thật nhiều gia vị. Do đó, tôi chỉ dám ăn khoảng một phần ba của phần ăn, c̣n lại th́ đành phải bỏ thôi, v́ không muốn đau bụng và rắc rối nếu lỡ mang bệnh.

Sau bữa ăn tối, mọi người chia chung pḥng chuyện tṛ trao đổi thoải mái, không khí vui như trong một gia đ́nh. C̣n tôi th́ không nói ǵ cả, v́ không biết tiếng Ấn, và ngồi nhắm mắt dưỡng thần. Đang nhắm mắt thiền định th́ thày viện trưởng ghé qua xem t́nh h́nh của tôi ra sao, ngài hơi quan tâm đến tôi v́ biết đây là lần đầu tiên tôi đi xe lửa Ấn độ. Tôi chắp tay kính lễ thày và thưa là mọi chuyện tốt đẹp, và đưa thày về chỗ của ngài để nghỉ ngơi.

Sau đó, hai vợ chồng Ấn đi ngủ, và tôi cũng đi làm vệ sinh, rồi hành tŕ trong tư thế nằm trước khi vào giấc ngủ qua hôm sau.

7. Ngày 18 tháng 2, 2008

Sáng sớm tinh mơ tôi đă thức giậy đánh răng rửa mặt sạch sẽ và hành tŕ. Dù sao, tôi cũng không thể ngủ được v́ đêm qua, anh chàng thanh niên đối diện tầng giường của tôi ngáy to quá, cộng thêm hai vợ chồng Ấn ở từng dưới và anh chàng ở giường bên hành lang cũng ngáy làm thành bản ḥa tấu suốt đêm dài. Tôi cố gắng cả đêm tŕ chú nên khi mệt quá cũng thiếp đi vài tiếng. H́nh như là tôi có nghiệp thu hút tiếng ngáy. (Lần tôi về chùa Trúc Lâm của thày Thanh Từ tu tập năm 1998 (khi đi công tác tại Việt nam), tôi cũng bị t́nh trạng như thế, bên cạnh giường của tôi là phái đoàn nha sĩ từ Sài g̣n về chữa răng cho chư tăng, có một vị nam nha sĩ mập mạp to lớn và ngáy rất là to, làm tôi phải xin đổi pḥng xuống nhà bếp ngủ mới được yên).

Nguyên ngày hôm nay trên xe lửa có biết làm ǵ đâu! Trừ những lúc nhân viên phát phần ăn cho các bữa ăn, tôi thường hay ngồi khoanh chân thiền định, cho nên trong ngày mấy lần thày viện trưởng ghé qua chỉ thấy tôi nhắm mắt xếp bằng. C̣n các vị hành khách Ấn độ kia th́ chuyện tṛ vui vẻ (sau này thày kể lại với tôi là ghé qua thăm, th́ chỉ thấy như thế). Người Ấn độ di chuyển rất nhiều bằng xe lửa, và họ có một thói quen khá hay, là khi chia chung pḥng, họ làm thân với nhau và coi nhau như người trong một gia đ́nh, truyện tṛ đùa giỡn cho qua hai ngày dài trên xe lửa.

Sau này, khi không khí quen thuộc với nhau, vào những bữa cơm, các vị Ấn độ chung pḥng đó hỏi tôi đi về Ấn làm ǵ, tại sao không chịu ăn ǵ cả, và họ cũng bắt đầu dạy tôi vài ba chữ tiếng Ấn, vâng dạ, không, có v.v… Họ c̣n hỏi tôi theo đạo ǵ mà cả ngày ngồi nhắm mắt hoặc tụng lẩm bẩm trong miệng. Tối hôm sau đó, tôi ngủ được yên ổn v́ anh chàng thanh niên ở giường đối diện ôm cả chồng sách qua học với bạn và ngủ luôn ở bên kia. Tôi ngủ được và thấy khoẻ khoắn hơn nhiều.

 

 

Phần 3: Tu học tại Dharamsala

 

8. Ngày 19 tháng 2, 2008

Sáng hôm đó chuyến xe lửa đến New Delhi lúc 9 giờ. Thày viện trưởng và hai vị sư phụ tá cùng tôi đi đến nhà riêng của một trong hai vị sư này để nghỉ ngơi, và dùng bữa trưa.

Khi bước chân ra khỏi nhà ga xe lửa, đến ngoài đường, điều đầu tiên đập vào thị giác, cũng như tràn đầy khứu giác của tôi là thành phố New Delhi thật là … đông dân và bẩn thỉu. Cảnh đập vào mắt là xe chen chúc chật cả mọi nơi, xe taxi chui ra được khỏi cái sân của nhà ga là một kỳ công. Vị tài xế phải vận dụng toàn thân người, vừa lái, vừa la hét om ṣm cho những xe hơi và xe lam ba bánh khác nhích ra, bấm c̣i inh ỏi, và có lúc phải nhoài người ra khỏi xe để xem có đi lọt ra khỏi những khoảng cách bé xíu và sát rạt với các xe khác. Thật quả là nếu chưa đi đến New Delhi, chắc chắn không thể tưởng tượng ra nổi một thành phố kỳ cục như vậy. Mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy lái, không cần ngưng khi đèn đỏ, hễ không có xe là cứ chạy luôn. Đúng là một màn biểu diễn lái xe kinh hồn.

Tràn đầy khứu giác là mùi xăng nhớt và ô nhiễm. Bụi dơ bay loạn trong không khí và ô nhiễm đến độ nh́n vào khoảng không chỉ thấy một màu mờ mờ…Không khí khó thở đến mức độ tôi cảm thấy muốn ho. Rất tiếc là tôi không mang theo khẩu trang để đeo. Tự nhiên tôi đưa tay bịt mũi…và e ngại sẽ bị viêm cuống họng.

Rồi cũng về đến nhà vị sư phụ tá trong một ngơ hẻm, người tài xế taxi nhất định không dám lái xe vào. Thày và chúng tôi phải xuống đi bộ một quăng mang theo tất cả hành lư nặng nhọc v́ đường gập ghềnh quá độ, không thể kéo hành lư trên bánh xe lăn, mặc dù hành lư nào cũng có bánh xe.

Vào được nhà th́ thày đi nghỉ. Tôi cũng thấy mệt và buồn ngủ, nên sau khi rửa mặt và làm vệ sinh, xin với vị sư phụ tá vào pḥng trong để ngủ trên một cái ghế trường kỷ. Tơi thầm nghĩ là chuyến hành tŕnh khó nhọc đi về Dharamsala sẽ thật sự bắt đầu từ New Delhi này đây.

Khi ngủ dậy, tôi cảm thấy sự lo ngại của tôi đă thành sự thật: tôi bắt đầu ho và cảm thấy có đờm trong cổ họng và trong xoang mũi. Có lẽ tôi đă bị nhiễm trùng cổ họng và viêm xoang mũi (16) rồi. Thây kệ, tôi ngồi xếp bằng, hành tŕ cho đến khi người trong nhà gọi tôi ra dùng cơm trưa.

Đến chiều hôm đó thày viện trưởng gọi tôi vào pḥng dặn ḍ. Ngài nói vé xe lửa không mua được v́ số lượng người đổ về Dharamsala quá đông. V́ thế nên tôi phải lấy xe buưt để đi về Dharamsala, (thày viện trưởng sẽ đi xe lửa đến đó). Trên xe buưt sẽ rất chật chội và khó khăn, nên ngài dặn tôi để hết hành lư lại tại nhà vị sư phụ tá, chỉ mang tối thiểu đồ đạc và bỏ vào trong hành lư xách tay để tránh nặng nhọc và cực khổ khi di chuyển. Khi xong thời gian tu học tại Dharamsala th́ tôi chỉ phải ghé qua New Delhi lấy hành lư gửi tại đây và ra phi trường New Delhi để đi thẳng về Montreal. Tôi nhân tiện thưa với thày về số tiền mang theo để cúng dường đức Đạt Lai Lạt Ma và chư tăng. V́ phải đi một ḿnh trên chuyến xe buưt, nên tôi cảm thấy ngại ngùng nếu phải mang nhiều tiền trong người, và xin cúng dường lên thày ngay để thày lo liệu mọi chuyện hộ cho tôi. Thày hoan hỷ nhận lời.

C̣n tôi, sau khi cúng dường tịnh tài xong, tôi cũng thấy trong ḷng hoan hỷ và nhẹ nhơm. Đồng thời, tôi đă bắt đầu thực sự hiểu ra sự khó nhọc của đời sống ở đây, khi đi lang thang trên các nẻo đường gập ghềnh, và nhất là lúc phải leo cầu thang cao vời vợi để đi vào nhà ga xe lửa. Ở đây, chẳng làm ǵ có thang cuốn bằng máy, cho nên tôi đi thu xếp lại hành lư, và chỉ chọn những vật dụng tối cần thiết để mang đi về Dharamsala trong cái va-li xách tay. C̣n lại bao nhiêu đồ đạc, tôi nhét chật cứng vào trong va-li to gửi lại đây cùng với cái thangka đức Phật Dược sư mà thày viện trưởng đă cho người may lại (rất đẹp và khá lớn). Xong xuôi, tôi thở phào và cầu nguyện cho chuyến đi xe buưt tối nay được mọi sự an lành.

Đúng 4 giờ chiều, vị sư phụ tá đón tôi đi ra trại tỵ nạn của người Tây tạng để chờ sẵn, v́ trại tỵ nạn Tây tạng rất gần trạm xe, có thể đi bộ ra được. Chuyến xe sẽ khởi hành lúc 6 giờ chiều, nhưng cần phải đi sớm để c̣n xếp hành lư lên trên xe. Vị sư phụ tá dẫn tôi vào trong một căn nhà nhỏ nghèo nàn để đợi chuyến xe buưt. Tôi nhân tiện đi ṿng ṿng khu phố của trại tỵ nạn. Dọc khu phố có đầy các gian hàng bán trên vỉa hè. Đường xá và không khí cũng vẫn ô nhiễm và bẩn thỉu. Tôi quay trở về căn nhà ngồi nhắm mắt tụng chú, và ch́m vào trong một giấc ngủ ngắn. Khi căn nhà ồn ào tiếng nói th́ tôi tỉnh giấc và thấy rất nhiều vị tăng sĩ của Sera cũng tụ họp tại đây để lấy xe buưt như tôi đi về Dharamsala. Như vậy có nghĩa là trên xe buưt sẽ không đáng ngại lắm, v́ hành khách gần như chỉ toàn các tăng sĩ Sera. Một vị tăng đến gần tôi và tự giới thiệu bằng anh ngữ, tên là Achoo. Vị này được chỉ định đi theo tôi để giúp đỡ khi cần và chúng tôi có 3 người, sẽ ngồi gần nhau: hai tăng sĩ là Achoo, cháu của thày viện trưởng tên là Tenzin Kelsang và tôi. Tôi nh́n kỹ Achoo. Đó là một tăng sĩ trung niên, nhưng vẫn nhỏ tuổi hơn tôi khá nhiều, khuôn mặt thật hiền lành chất phác. Tôi thấy rất là cảm mến. Vị tăng sĩ cháu của thày viện trưởng th́ tôi đă quen biết từ năm 2002 và tôi thường hay giúp đỡ tịnh tài để tu học. Tôi cảm thấy yên tâm và nghĩ thầm: cho dù chuyến hành tŕnh sẽ thật là cực nhọc, nhưng bên những người bạn tăng sĩ này, tôi sẽ cảm thấy trong ḷng ấm áp và vui vẻ.

Lúc 6 giờ chiều, chúng tôi đi bộ ra bến xe, mỗi người tự xách hành lư của ḿnh. Bến đă đông người và hai ba chiếc xe buưt đang nhận người lên xe và chất hành lư. Bến xe th́ thực là bẩn thỉu v́ ḅ lớn ḅ bé đi thanh thản và lâu lâu làm một băi phân to tướng. Tôi cứ phải nhắc chừng hai vị tăng đi theo để tránh phân ḅ, họ cười nói là không có sao. Thật đúng là Ấn độ. Tôi nghĩ bụng nếu hai vị này đạp phân mà leo lên xe buưt ngồi cạnh ḿnh th́ quả là khó khăn, chưa kể là nếu hành lư phải xếp dưới chân chỗ ngồi.

Cuối cùng chuyến xe của chúng tôi cũng đến, hai vị tăng đẩy tôi lên xe buưt cho lẹ, mang theo cả cái hành lư xách tay duy nhất của tôi và của họ lên xe. Ba chỗ ngồi của chúng tôi thuộc hai hàng ghế cuối cùng. Tôi vào ghế ngồi và để va-li xách tay của tôi dưới gầm ghế là hết chỗ. Hai vị tăng đành phải ra khỏi xe, ném hành lư của ḿnh lên để cho lơ xe chụp lấy và xếp lên mui. Đi như vậy, nếu bị mưa th́ lănh đủ, v́ bên trong hành lư sẽ ướt hết. Mà cái lối ném hành lư lên mui xe cũng thật là thủ công nghệ: các sư tung hành lư lên cao cho lơ xe chụp lấy và sắp trên mui. Nếu có lỡ tay chụp hụt mà rớt xuống th́ ở dưới ráng mà chụp lại. May mà chư tăng chỉ thường dùng loại hành lư bằng bao vải bố và trong hành lư chỉ phần lớn là quần áo, nếu có chụp hụt cũng chẳng vỡ đồ đạc ǵ. Thế mới biết là hai ngày qua đi xe lửa sướng hơn rất nhiều, vừa có giường, vừa có chỗ để hành lư rộng hơn xe buưt nhiều lắm. Tôi lại nghĩ thầm, chuyến hành tŕnh này xuống thêm một cấp nữa nhé…

Nh́n lại xe buưt, tôi mới học thêm một điều mới lạ: xe buưt ở đây có hai tầng. Tầng trên toàn là giường nằm, rộng răi đỡ khổ hơn là ngồi ghế. Dĩ nhiên là giường trên xe buưt nhỏ hơn giường trên xe lửa nhiều. Ngay cả tầng dưới cũng chia hai bên. Bên của tôi chỉ toàn là chỗ ngồi, c̣n bên kia có tới ba cái giường. Mỗi giường đều có hai cánh cửa có thể khép kín lại để bớt bị ồn ào và dễ nghỉ ngơi. Vậy mà vị tăng sĩ phụ trách mua vé hộ tôi không mua được, chắc v́ mua trễ nên đă hết chỗ giường nằm trên xe buưt.

Giá vé đi xe buưt từ New Delhi về Dharamsala khá rẻ. Đoạn đường dài khoảng 511km, mà giá vé khoảng 600 rupees (gần 15$ đô la). C̣n giá vé của giường nằm chỉ đắt hơn có 200 rupees (thêm 5$ đô la). V́ đường đi leo núi đèo, ngoằn ngoèo khúc khuỷu, rất là xấu, cho nên xe buưt sẽ chạy rất chậm. Nhanh lắm th́ cũng phải 12 tiếng là tối thiểu.

Ngồi vào chỗ trên xe buưt mới thấy vấn đề. Xe làm tại Trung quốc cho nên chỗ ngồi rất nhỏ và hẹp. H́nh như xe làm để chở những người Trung hoa lục địa gầy g̣ và nhỏ con. Không thoải mái chút nào như xe buưt vùng Bắc Mỹ. Đành vậy, tôi cố ngồi thu nhỏ lại.

Xe khởi hành sau 15 phút. Vị tăng sĩ Achoo tuy gầy, nhưng cao, nên ngồi ghế sau tôi cũng không thoải mái chút nào. May quá, một vị tăng sĩ khác ngồi chỗ ghế bên cạnh Achoo là bạn thân của vị tăng trẻ mua vé giường bên cạnh, và sau khi tṛ chuyện thân t́nh đă chui vào nằm chung giường của vị tăng sĩ trẻ đó. Achoo thích quá, ngả lưng nằm trên hai ghế. C̣n tôi vội vàng lấy hành lư xách tay ra khỏi dưới ghế, đặt vào dưới chân chỗ của vị tăng đă bỏ vào giường nằm để chúng tôi có thể dễ dàng duỗi chân. Vui vẻ và thoải mái cho cả Achoo lẫn tôi và Tenzin Kelsang ngồi cạnh tôi. Chúng tôi duỗi chân được nên thoải mái hơn trước, lúc hành lư c̣n ở dưới gầm ghế. C̣n Achoo th́ nằm ở đàng sau và ca hát luôn miệng những bài hát Tây tạng hay Ấn độ đang nổi tiếng thời thượng. Tôi ngủ được một chút th́ xe buưt ngừng bánh tại một tiệm ăn. Chúng tôi xuống xe kiếm ǵ ăn v́ đi từ 4 giờ chiều, chưa ăn ǵ cả nên bụng đă bắt đầu sôi sục. Mà cũng chẳng ăn được nhiều v́ tiệm ăn Ấn độ làm thức ăn rất cay và thêm quá nhiều gia vị. Tôi ăn chút chút, c̣n Achoo, Tenzin Kelsang và hai vị tăng sĩ ngủ giường bên cạnh th́ ăn rất nhiều. Nh́n họ ăn uống ngon lành, tôi thấy thèm. Khi bồi bàn mang giấy tính tiền ra để chúng tôi trả th́ tôi thấy giá quá mắc, chắc là tại ăn khuya giữa đường nên bị bắt chẹt. Nh́n các sư ngần ngại trước giá tiền, tôi lẳng lặng cầm lấy biên lai và ra trả tiền cho tất cả năm người. Dù sao, tôi vẫn là người đến từ Bắc Mỹ và có thể trả thoải mái cho họ.

Khi lên trở lại xe th́ các lơ xe đi soát vé. Chúng tôi gặp rắc rối v́ anh chàng Ấn độ lơ xe chẳng hiểu ất giáp ǵ, thấy Achoo ngồi một ḿnh hai ghế th́ kêu ầm ỹ lên, la hét và xô Achoo sang một bên, bảo rằng c̣n chỗ cho một người hành khách khác. Achoo phân trần, nhưng phần th́ tiếng Ấn độ không rành, phần th́ Achoo hiền quá, nên anh lơ xe làm dữ, đổ cho Achoo là ăn gian một ghế. Tôi phải can thiệp và mở cửa của giường nằm đối diện, kêu vị tăng sĩ kia chui ra và tŕnh vé. Anh lơ xe giận dữ càu nhàu cấm không cho vị tăng sĩ đó chia giường chung với bạn. Thật là vô lư. Cuối cùng, anh lơ xe đuối lư và bỏ đi để cho chúng tôi yên ổn muốn làm ǵ th́ làm. Thế là tạm yên ổn.

Chưa được bao lâu th́ lại có rắc rối. Vị hành khách ngồi trước tôi hạ thấp lưng ghế xuống để nằm ra và ngủ. V́ thế chỗ của tôi ngồi trở thành chật hẹp vô cùng và tôi không thể xoay sở. Một mặt, tôi không muốn bắt vị đó dựng lưng ghế lên, mặt kia, tôi cũng không muốn hạ lưng ghế ḿnh làm khổ Achoo nằm ngay đàng sau tôi. Thật là khổ, v́ chỗ hẹp quá đến nỗi bắp vế và bàn tọa của tôi ê ẩm và muốn bị vọp bẻ! May quá, hơn một tiếng đồng hồ sau th́ th́ xe ngừng cho hành khách đi nhà vệ sinh. Và khi trở lại xe, Tenzin Kelsang nhỏ con hơn tôi nhiều, chịu đổi chỗ cho tôi ngồi mé ngoài để tôi được tự do hơn một chút.

Lúc đó trời đă bắt đầu khuya và lạnh. Sau khi lên lại xe, tôi phải lôi hết tất cả hai cái áo ấm ra, một cái là áo bông vải, cái kia là áo bành tô mùa đông của Canada mặc vào mới tạm thoải mái.

Tôi cố gắng ngủ gà ngủ gật. Được một lúc th́ tạm ngủ yên. Nhưng đang ngủ th́ bỗng giật nẩy ḿnh. Xe cán cái ổ gà to đến độ, tôi nảy ḿnh tung lên trên ghế, đầu đập vào trần xe đau điếng người. Tỉnh giậy nh́n lại, đường xe chạy bắt đầu leo núi, xe chạy cán ổ gà quá nhiều, mà ghế chúng tôi là hai hàng cuối cùng sau xe, nên bị nhồi khủng khiếp. Thế mà xe cũng chẳng phải là chạy nhanh lắm.

9. Ngày 20 tháng 2, 2008

Càng về khuya xe càng leo núi lên cao và trong xe càng lạnh. Tôi co ro trong hai lần áo. Càng ngày càng ho khúc khắc và bị đờm. Tôi không hiểu v́ sao mà trong xe lạnh quá mức như thế. Vừa lạnh vừa ẩm. Tôi quen khí hậu lạnh, nhưng khô của Canada, nên không chịu được cái loại rét ẩm ướt thấu vào trong lục phủ ngũ tạng. Phải gọi là rét mướt. Rét và ẩm nên gọi là mướt. Đôi khi tôi phải chui đầu vào trong cái áo bành tô để giữ hơi thở ấm áp của ḿnh trong lần áo, sưởi ấm cho thân một chút hơi nóng.

Mà tôi vẫn thắc mắc tại sao mà trong xe lại lạnh kinh khiếp như vậy. Măi cho đến khi tới Dharamsala và nói chuyện với một chú bé Tây tạng mà chúng tôi nuôi cho ăn học, ra đón tôi tại trạm xe buưt th́ mới hiểu. Chú bé này có đi học trường trung học ngoài đời tại Ấn nên khả năng anh ngữ khá khá một chút. Lư do, chú giải thích là v́ các tăng sĩ không quen đi xe hơi, nhất là xe đ̣, bị xóc nhiều, cho nên các vị đều bị say sóng nôn mửa. Và để tiện việc nôn mửa, gần như cả xe đều mở toang cửa sổ để sẵn sàng tḥ đầu, nôn qua cửa kính, ra ngoài xe. Thảo nào mà tôi thấy trong quá lạnh như vậy, lạnh và gió mà tôi cứ tưởng là đến từ sàn xe.

Do đó tôi càng ho, nhiễm trùng cổ họng và xoang mũi nhiều hơn. Khi xe đến bến xe tại Dharamsala, quận McCleod Ganj, nơi trú ngụ của đức Đạt Lai Lạt Ma th́ đă hơn 9 giờ sáng. Chuyến xe rút cục lấy gần 16 tiếng đồng hồ. Mười sáu tiếng tôi chịu trận, vừa đói vừa lạnh run.

Khi xuống được xe và gặp chú bé, tôi vẫn run lập cập, v́ hôm đó thời tiết rất lạnh tại McCleod Ganj. Chú bé th́ mặc phong phanh có cái áo bông vải. C̣n tôi th́ mặc cả áo bông lẫn bành tô mà lại run v́ lạnh. Chú bé cười ngất và hỏi, sao người Canada mà chịu lạnh kém thế. Tôi cũng không giải thích nhiều, lo lấy hành lư ra và đi về khách sạn. Nh́n cảnh chư tăng chụp hành lư do lơ xe đứng từ trên mui thảy xuống mà tôi ngao ngán lắc đầu. Quả là xứ Ấn độ. Nói vậy chứ có vài va-li nặng quá th́ lơ xe cũng phải tḥng giây mà thả xuống. Tôi mau mau ra phụ các tăng sĩ chụp hộ hành lư để sang một bên cho mọi người rồi bảo chú bé dẫn về khách sạn. Từ trạm xe buưt đến khách sạn chỉ khoảng 15 phút đi bộ. Nhưng đường xá ở đây th́ quá lầy lội, hỏi chú bé th́ hóa ra trời đêm hôm qua vừa trải một cơn mưa lớn. Đi về đến khách sạn th́ đôi giày ba-ta của tôi đă lấm đầy bùn đỏ quạch.

Ngồi trong pḥng rửa ráy mặt mũi tay chân và rửa giày ba-ta, tôi mừng thầm là chuyến đi cực kỳ khó khăn đă trải qua rồi. Bây giờ, được nghỉ ngơi, nhưng tôi sẽ phải đối phó với vần đề nhiễm trùng cổ, ho và viêm xoang mũi. Chú bé rủ tôi đi ăn sáng. Tôi nhận lời và chúng tôi ra quán ăn nhỏ góc đường. Tôi kêu một món trứng chiên và cà phê, c̣n chú bé và Tenzin Kelsang th́ ăn điểm tâm món ăn Ấn độ và uống trà sữa.

Hôm nay theo chương tŕnh th́ chúng tôi được nghỉ một ngày. Nhưng chú bé và Tenzin Kelsang th́ nói rằng chờ khi thày viện trưởng đến sẽ rủ tôi đi đến thăm ngài. Tôi gật đầu và nói là bây giờ tôi sẽ về pḥng nằm nghỉ. Khi nào thày viện trưởng đến th́ cứ ghé pḥng tôi mà gọi.

Về đến pḥng, tôi xem xét. Căn pḥng nhỏ thôi, c̣ hai giường đơn kê sát nhau, nhưng cũng được lắm. Nước nóng có, nhưng thời tiết rất lạnh khoảng 4 hay 5 độ C ǵ đó. Chẳng thể nào tắm nổi cho dù có nước nóng. Tôi chỉ đi rửa mặt mũi tay chân, rồi lên giuờng nằm ngủ một giấc v́ cả đêm qua tôi đă quá cực nhọc với chuyến xe. Phải thu hết can đảm mà chui vào trong chăn, dùng hơi nóng thân ḿnh để sưởi ấm chăn đệm. Nhưng một khi đă cảm thấy ấm áp rồi th́ lại không c̣n có can đảm chui ra khỏi giường.

Khi ngủ giậy và thấy khỏe khoắn hơn, tôi tọa thiền và hành tŕ các phần tu tập hứa nguyện, sau đó tôi ra ngoài phố đi tản bộ và xem xét đường xá.

Thành phố Dharamsala nằm giữa thung lũng Kangra và bao gồm một diện tích khoảng 29 cây số vuông. Tuy nằm giữa thung lũng, nhưng Dharamsala khá cao, ở độ cao trung b́nh 1457 mét (4780 bộ anh). V́ nằm giữa thung lũng và có núi lớn bao quanh, nên khí núi và hơi nước đọng lại khó thoát ra được. Mùa đông, lạnh và ẩm, khoảng thời gian tôi đến là lúc lạnh nhất, nhiệt độ xuống gần 0°C, và có những hôm tuyết rơi rất nhẹ. Khó khăn nhất là những hôm mưa, v́ vừa lạnh lại vừa ướt át khó chịu. Người dân ở đây nói với tôi là mùa hè cũng khó khăn lắm v́ tuy khí hậu nóng, nhưng vô cùng ẩm thấp đến độ quần áo giặt xong mang phơi không khô nổi mà chỉ lên mốc kim. Cách đi đến Dharamsala thường là bằng xe lửa, xuống trạm Pathangkot (tuy viết vậy, nhưng tiếng Ấn đọc là Pa-tăng-cốt-ti, cách 120km đường xe hơi) hay trạm Chakki Bank (150 km đường xe).

Dharamsala bao gồm Dharamsala thượng (upper Dharamsala, gọi đúng tên là quận McLeod Ganj, độ cao là 1,700 mét hay 5,580 bộ anh) và Dharamsala hạ (lower Dharamsala, thấp hơn 460 mét). Hai miền thượng và hạ cách nhau 9 km đường xe, và miền hạ có thành phố đông đảo sầm uất hơn.

Tư dinh của đức Đạt Lai Lạt Ma và chính phủ lưu vong Ấn độ nằm tại Dharamsala thượng, nối liền với ngôi chùa chính (main temple), là nơi ngài thuyết pháp cho chư tăng và Phật tử. Chỉ riêng chư tăng về dự cũng đă khoảng 6000 vị, và tổng số các Phật tử Tây tạng cũng như ngoại quốc mọi nơi về tham dự ước lượng sơ khởi cũng phải đến 5000 hay 6000 người.

Tôi không có đủ th́ giờ xuống thăm Dharamsala hạ, chỉ có một vài lần đi ngang qua thành phố chính th́ thấy ở đấy rất sầm uất. Phần lớn th́ giờ tôi tu học tại McLeod Ganj (Dharamsala thượng) tại ngôi chùa chính. Quận McLeod Ganj rất là nhỏ, chỉ gồm vài cây số đường, và có hai đường song song dẫn đến ngôi chùa chính nơi Phật tử đến ngồi nghe pháp.


H́nh 5: Một con đường chính của McLeod Ganj
(nơi tôi đi qua hằng ngày đến chùa nghe pháp).



H́nh 6: Sân các Phật tử ngồi nghe pháp (chụp
từ nơi dựng bảo ṭa đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi).




H́nh 7a, b: Tượng Phật Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn rất linh thiêng trong ngôi chùa chính, nơi các Phật tử Tây tạng (và cả cá nhân tôi) thường đến cúng dường đèn , cầu nguyện và hồi hướng.
Vị sư geshe-la trong h́nh bên dưới là vị sư hương đăng, theo lời thỉnh cầu của Phật tử đến chiêm bái, thày làm đèn bơ và cúng dường hộ cho ḿnh lên đức Phật Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn.



H́nh 8: H́nh chụp thung lũng ở Dharamsala,
nh́n từ con đường dẫn về ngôi chùa chính.



H́nh 9: Cảnh thung lũng nh́n từ khách
sạn Shiwala (nơi tôi trú ngụ).


Tôi cũng chưa biết là nơi ngồi nghe pháp được sắp đặt ra sao, nên đi bộ và hỏi thăm đường đến ngôi chùa chính để xem trước. Khi vào đến ngơ đưa vào chùa th́ thấy có dán giấy trên tường, thông báo chương tŕnh thuyết pháp sẽ bắt đầu vào ngày 22 tháng 2 và chấm dứt ngày 2 tháng 3 (tổng cộng là 10 ngày). Tôi đi vào trong chùa, xem xét chỗ ngồi của thính chúng. Đó là một cái sân rất lớn (h́nh 6), chia làm nhiều khu vực. Khu bên trái dành cho người Tây phương, có được chút mái hiên che mưa nắng. Khu chính giữa dành cho người Tây tạng và chừa một khoảng đường cho đức Đạt Lai Lạt Ma đi lên ṭa giảng. Khu bên phải, một phần dành cho người Đài Loan, một phần dành cho người Nhật và Đại Hàn. Hai khu c̣n lại này không có một chút mái hiên nào. Lúc tôi đến sân để xem xét th́ đă có khá đông người. Họ vạch một khoảnh ô vuông trên sân, và ghi tên lên trên để dành chỗ ngồi cho những ngày đến nghe pháp.

Nh́n lại khoảng sân th́ hơn hai phần ba diện tích đă có ghi tên, và nhiều chỗ họ c̣n dán cả nệm mỏng lên trên để ngồi nghe cho ấm bàn tọa. Điều này rất cần thiết v́ sân bằng xi măng lạnh lắm, ngồi thẳng lên trên sẽ bị khí lạnh thấm vào cột xương sống lưng, thành bệnh. Tôi thấy họ làm như vậy th́ cũng đi t́m bút và vạch một ô cho ḿnh.

Đang loay hoay làm th́ nghe bên cạnh có ai nói mấy câu tiếng Pháp. Tôi quay ngang xem th́ có hai vợ chồng người da trắng đang bàn nhau vạch ô ngồi. Tôi quay lại nh́n họ cười, hỏi họ từ đâu đến. Hóa ra họ đến cùng tỉnh của tôi ở Canada. Bắt tay chào đồng hương xong, tôi hỏi thăm họ t́nh h́nh và tin tức. Họ nói có một số người Canada đến dự và cho tôi biết một thông tin khá quan trọng là đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ bắt đầu thuyết pháp buổi sáng hôm sau (21 tháng 2), chứ không phải là ngày 22 tháng 2 như đă thông báo. Tôi hỏi họ làm sao biết được như thế, họ giải thích là đă lên phía bên trên sân và nói chuyện với nhóm chuyên môn quay phim cho đức Đạt Lai Lạt Ma cho nên biết được tin này. Tôi mừng quá, v́ đă đến đây th́ phải nghe học đầy đủ, thiếu một ngày (nhất lại là ngày đầu) th́ uổng quá.

Sau khi vạch chỗ ghi tên cho có thôi (chứ tôi không hy vọng ǵ v́ khi đông quá th́ khó mà c̣n giữ được chỗ như vậy), tôi thấy đói bụng nên đi ăn trưa. Sau đó, tôi đi t́m tiệm thuốc mua nước xúc miệng cực mạnh để triệt trùng miệng mỗi sáng và tối trước khi đi ngủ, hy vọng sẽ giảm ho và đờm trong cổ họng và xoang mũi.

Sau buổi trưa, tôi về pḥng để ngủ v́ tôi vẫn chưa lại sức sau chuyến đi mệt mỏi. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi nghe tiếng gơ cửa. Chú bé Tây tạng ghé qua kêu tôi đi chung qua thăm thày viện trưởng. Ngài ở khách sạn Shiwali, cách khách sạn Shambala nơi tôi đang tạm trú một đoạn đường ngắn và một con dốc. Khi đến nơi th́ thày đang ngồi ngoài sân thượng trước của pḥng trên lầu ba. Thày vui mừng hỏi thăm chuyến đi xe buưt về Dharamsala của tôi và cảm thông với tôi nỗi niềm khổ nhọc trên chuyến đi. Sau đó thày thăm hỏi chú bé Tây tạng, cũng là một cháu họ xa của ngài và cho chú bé ít tiền sinh sống. Ngồi với thày chưa được bao lâu th́ có phái đoàn tăng sĩ đến thăm hỏi thày. V́ thày là viện trưởng nên rất nhiều tăng sĩ cũng như Phật tử ghé đến thăm hỏi hoặc xin ngài làm lễ. Chúng tôi cũng gặp thày phụ tá geshe Norbu Chopel, trụ tŕ tại ngôi chùa ở Wesminster, California, nơi mà tôi đă giúp thày viện trưởng xây cất năm 2003. Thày phụ tá dẫn cô con dâu của anh chị bạn đạo chúng tôi (hiện trú ngụ tại Toronto) đi hành hương các Phật tích trong suốt hai tuần nên có vẻ khá mệt mỏi. Thăm hỏi thày phụ tá xong, chúng tôi chào thày viện trưởng và ra về.

Buổi chiều hôm đó, tôi ghé lại ngôi chùa chính một lần nữa để tham bái, và sau đó đi ăn tối rất nhẹ tại một tiệm ăn Tây tạng nhỏ xíu có tên là Drasang House (nhà ăn Drasang). Tôi th́ch ăn ḿ tại tiệm này v́ là món ăn tương đối nhẹ và dễ nuốt trước đi ngủ. Ḿ, tạng ngữ gọi là “thukpa”. Tiệm này nhỏ nhưng nấu cũng tạm ăn được, nên chư tăng ghé vào đây ăn đông, có khi vào mà không c̣n chỗ. Khi đến ăn nhiều lần rồi th́ khi hết chỗ, các thực khách quen sẽ tự động nhích sát vào nhau cho ḿnh ngồi, rất là thân thiện và hiếu khách. Tiệm ăn chỉ làm vài món: cơm chiên, ḿ chay rau cải, gọi là “veg-thuk”, hoặc ḿ ḅ yak gọi là “ya-thuk” và mô-mô chay hay mặn (là món hoành thánh “wonton” của Tây tạng). Nói là ḿ ḅ (yak), nhưng chỉ là ḿ chay rắc thêm vài mảnh thịt băm rất là dai. Cho nên cứ ăn ḿ chay là hay nhất. C̣n cơm chiên chay hay mặn cũng y vậy, chỉ toàn là cơm chiên dầu, trộn thêm ít trứng gà, chút rau cải xắt nhỏ hoặc vài ba mảnh thịt băm. Tôi chỉ ăn thử một lần, không thấy ngon lắm.

Ăn xong cơm tối, tôi đi gửi điện thư báo tin cho vài người bạn, xong là trở về pḥng ngay, tọa thiền và đi ngủ rất sớm lúc 8 giờ tối. Đang ngủ th́ cửa pḥng lại gơ ầm ầm. Hóa ra là vị thày trẻ Tenzin Kelsang cùng đi xe buưt với tôi, xin về pḥng ngủ chung v́ căn nhà lớn dành cho chư tăng Sera Mey không c̣n chỗ. Lúc đó là khoảng 9h30 tối. Thày Tenzin nhất định bắt tôi phải lấy thêm chăn của thày mà đắp thêm v́ trong pḥng khá lạnh, c̣n thày đă có tấm áo choàng nỉ của chư tăng rất ấm. Tôi không chịu và nói là chăn dày lắm, đă đủ ấm rồi. Nhân tiện, tôi báo cho thày biết là đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ thuyết pháp sáng mai. Thày nhất định nói là không có, không tin vào tin tức của tôi có và nói là hăy để mai tính xem sao.

Đêm hôm đó, tôi ngủ giấc thật là ngon lành, phần v́ v́ mệt, phần v́ thày Tenzin Kelsang rất an tĩnh, ngủ khá yên lặng, không hề ngáy chút nào. Tôi rất thích chia pḥng với thày.

10. Ngày 21 tháng 2, 2008

Sáng sớm tôi đă thức giậy, bên kia giường, vị thày trẻ vẫn c̣n ngủ. Giấc ngủ rất an lành. Tôi nhẹ nhàng vào pḥng tắm làm vệ sinh sáng trong yên lặng, xong th́ lên lại giường ngồi hành tŕ thiền quán.

V́ nguyên một đêm dài được nghỉ ngơi đầy đủ nên sáng nay, tôi thấy trong người tỉnh táo và khoẻ hơn nhiều. Trong khi hành tŕ thiền quán sám hối và quán tưởng hóa thành Hộ Phật, tự nhiên tôi rất xúc động khi trực ngộ về nỗi khổ của con người, nhất là của chư tăng sĩ trong các điều kiện sinh sống khó khăn và thiếu thốn. Đă là con người, ai lại không khổ khi phải sống trong cảnh thiếu thốn. Đồng thời, tôi cũng trực ngộ đến sự may mắn của bản thân, sinh sống tại một nước giàu có như Mỹ hay Canada. Dù ở Canada có lạnh đến đâu chăng nữa, khi tôi về nhà là được sưởi ấm áp, chỉ cần mặc áo thun quần đùi trong nhà y như là được ở một nơi của vùng nhiệt đới. Ở trong nhà, tôi chưa bao giờ phải chịu nỗi khổ của cái rét mướt, lạnh lẽo như ở trong pḥng khách sạn này. Đêm qua chắc nhiệt độ phải xuống thấp hơn không độ. Đó là tôi đă được ở trong pḥng khách sạn, là phải sướng hơn biết bao người dân đang ở trong vùng này rồi. Tôi nhớ lại lời thày tôi nói, người Tây tạng cả năm cũng không tắm, mà đâu có sao. Phải rồi, trong điều kiện sinh sống như thế này, chính bản thân của tôi cũng không thể tắm và không dám tắm. Và như thế, tôi nhận thấy rơ rệt sự may mắn của ḿnh. Có nhân duyên sinh sống tại một nơi với những điều kiện quá tốt. Vậy mà vẫn không tu tập được như chư tăng, các vị thiếu thốn hơn ḿnh ngàn lần.

Khi quán đến đây th́ tôi xúc động vô biên trong tâm, và tôi xin nguyện sẽ làm hết sức ḿnh để giúp chư tăng tu học. Khi đó, tôi cảm thấy hai gịng nước mắt của tôi chảy dài trên má. Và cả bản thân ḿnh nữa, tôi sẽ hết sức cố gắng tu tập, ḿnh thật là quá sướng hơn chư vị tăng sĩ mà c̣n không chịu tu học. Thày bổn sư đă dạy dỗ cho biết bao pháp môn hành tŕ rất thâm sâu, sống trong những điều kiện đầy đủ, ăn uống dư thừa, quần áo nhà cửa ấm áp bảo bọc tấm thân ḿnh chẳng hề thiếu thốn. Đi một bước ra ngoài nhà th́ lên xe hơi. Vậy đó, mà chuyện hành tŕ th́ thấy thật là xa vời.

Tôi nhớ đến ngày xưa, các báo chí chỉ trích các nhà chính trị “ăn trên ngồi chốc”, gọi họ là các nhà chính trị sa-lông (nghĩa là họ làm chính trị trong pḥng khách sang trọng của họ và chỉ ba hoa mà thôi). Để nhận ra là, có lẽ tôi cũng chỉ tu tập sa-lông mà thôi.

Bây giờ, ở đây, tôi nhận ra sự khác biệt giữa hai sự tu tập - trong những điều kiện sung sướng của một nước giàu có, và trong những điều kiện thiếu thốn nghèo nàn - khác nhau lớn lao như thế nào.

Thôi, từ nay, tôi xin tự hứa như lời đức Đạt Lai Lạt Ma đă dạy: khi cơi này c̣n tồn tại, tôi nguyện sống cuộc đời ḿnh để phục vụ mọi chúng sinh hữu t́nh…Nhất là phục vụ cho chư tăng ở các tu viện nghèo khó, những vị đă nguyện dành cả cuộc đời để cứu độ tất cả chúng sinh hữu t́nh vượt thoát khổ đau. Quán tưởng đến đây, tôi rất hoan hỷ v́ đă hy sinh chuyến đi hành hương và để hết số tiền đó cúng dường lên chư tăng…

Buổi thiền quán thật là cảm động. Thực tâm, tôi nh́n thấy những điều mà có lẽ suốt đời tôi cũng sẽ không nh́n thấy khi c̣n ở tại Canada và tu tập trong hoàn cảnh của đời sống đó.

Xả thiền xong th́ vị thày trẻ cũng vừa thức giấc. Chúng tôi chào nhau buổi sáng và thày vào pḥng tắm. Xong xuôi, thày rủ tôi đi ăn sáng. Tôi nói là trễ rồi, bây giờ tôi phải đi sắp hàng để vào nghe pháp. Thày nói được, vậy chúng ta cùng đi, nếu không có thuyết pháp th́ ḿnh đi ăn sáng. Tôi đồng ư.

Chưa vào được chùa chính th́ chúng tôi đă phải chia tay. V́ thày phải sắp hàng theo cái đuôi dành cho tăng sĩ dài lắm, ra cả đến ngoài đường mấy trăm thước. C̣n tôi th́ sắp hàng theo đuôi của Phật tử cũng dài dằng dặc. Điều lạ lùng tôi nhận xét được ngay từ ngày đầu tiên phải sắp hàng này, là số phụ nữ về nghe pháp đông hơn gấp bội số lần nam Phật tử về tham dự. Theo tôi ước lượng th́ tỷ lệ là khoảng 10:1. Thật là lạ lùng, tại v́ về Dharamsala tu học thật là cực khổ, thường th́ phụ nữ cần các tiện nghi nhiều hơn và ngại khổ nhọc hơn nam phái. Thế mà khi đi học đạo th́ số phụ nữ lại đông đảo hơn. Thực ra, khi nghĩ lại, th́ cũng không có ǵ lạ lắm vi tôi nhớ trong các chùa cũng y vậy. Số nữ Phật tử trong chùa bao giờ cũng đông hơn số nam Phật tử. Nhất là trong các buổi nhập thất hay thọ bát quan trai. Đôi khi trong các buổi đó, tôi thấy chỉ có thày trụ tŕ và tôi là nam phái, c̣n lại mười mấy người khác tham dự chỉ toàn là phái nữ. Đàn ông mải mê tham đắm trong công danh sự nghiệp nên không chịu theo đạo, phần lớn chỉ biết lo kiếm tiền và hưởng thụ lạc thú của đời người, mải lo chuyện tậu nhà cao cửa rộng, o bế xe mới mua, hoặc mê mải buôn bán thủ tiền vào túi mà không quay về đạo.

Khi qua được hàng rào an ninh khám xét xong, vào đến bên trong sân chùa chính th́ số người đến đă đông lắm. Đặc biệt là số lượng người Tây tạng quá nhiều đến mức độ họ tràn cả qua bên chỗ dành cho người tây phương ngồi. Dĩ nhiên là chỗ của tôi đă dành, vạch và ghi tên sẵn đă bị số đông ngồi lên cả rồi. Chẳng làm ǵ hơn được, tôi ngồi đại vào một chỗ đàng sau những người đến từ Canada, và họ vui vẻ nhích vào để tôi ngồi chung nghe pháp.

Sáng hôm đó, nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp, tôi bàng hoàng cả người. Đề tài ngài thuyết chính là Bồ đề tâm, những điều ngài dạy và khuyến tu trùng hợp với những trực ngộ hồi sáng, tâm tôi đă khởi sinh. Tôi không thể nào không thầm nghĩ, hay là sáng nay, chính ngài đă gửi cho tôi thông điệp đó. Trong thời thuyết pháp, ngài dặn ḍ tất cả hăy cố thuần hóa tâm ḿnh để hướng về thương yêu và phục vụ, mang lại hạnh phúc cho các chúng sinh hữu t́nh khác. Đừng nghĩ đến bản thân ḿnh, từ bỏ ḷng vị kỷ để hành động lợi tha. Nghe ngài thuyết giảng, niềm cảm xúc sáng nay khi thiền tọa lại khởi lên trong tâm tôi.

Trong thời pháp, khi ngồi nghe tiếng của vị thông dịch sang Anh ngữ tôi giật ḿnh cứ tưởng geshe Thupten Jinpa đă về đây dịch thuật (và cũng là thày của tôi). Tôi ṭ ṃ quá, phải lên hỏi các vị an ninh canh gác xem ai là vị thông dịch. Hóa ra không phải là geshe Thupten Jinpa mà là geshe Dorje Tamdul. Vị thày này có một giọng nói tiếng anh thật là giỏi và điêu luyện. Giọng của thày nghe rất giống giọng của Geshe Thupten Jinpa, là vị thông dịch viên chính thức của đức Đạt Lai Lạt Ma tại Mỹ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng về Tam thượng học, Giới, Định, Tuệ và giảng sang Kinh Hiền Ngu của Tây tạng, với câu chuyện “Bồ tát cá làm phép lạ”. Sau đó, ngài nói là v́ có một số đồng bào Tây tạng đi về Dharamsala thăm thân nhân, nhưng không thể ở lại lâu hơn để nghe pháp, cho nên ngài sẽ làm lễ cầu nguyện cho các đồng bào đó. Rồi ngài giảng về cách hành tŕ Thất Chi Nguyện và làm lễ cúng dường.

Buổi chiều hôm đó không có chương tŕnh ǵ cả, tôi lại ghé thăm thày viện trưởng và thày bảo tôi hăy dọn về khách sạn Shiwala ở cạnh pḥng của ngài, bởi v́ cô con dâu của người bạn tôi tại Toronto đă đi về Canada, và ngài có pḥng trống bên cạnh. Tôi xin phép được ở lại khách sạn Shambala với thày Tenzin Kelsang, nhưng thày bảo tôi hăy nghe lời. Tôi vâng dạ, và trở về pḥng thu xếp hành lư để dọn qua khách sạn mới.

Tối hôm đó, tôi cũng hành tŕ rất sớm và đi ngủ lúc 8 giờ tối. Nhưng ban đêm tôi vẫn bị ho và bị đờm xanh rất khó thở.

11. Ngày 22 tháng 2, 2008

V́ hôm qua, khi tôi đến ngôi chùa chính để nghe pháp th́ đă có đông người làm đuôi thật dài, cho nên sáng nay tôi phải thức giậy sớm hơn từ lúc 5.30 sáng để có đủ th́ giờ hành tŕ và đi sắp hàng để khỏi vào trễ. Như thói quen, tôi bắt đầu bằng thời thiền tọa an tâm. V́ c̣n sớm quá, nên thành phồ đang ngủ yên. Tất cả thật là an tĩnh chung quanh tôi và chỉ ít phút sau tâm thức đi vào một sự b́nh an và hỷ lạc không thể nào diễn tả nổi. Tự nhiên tâm tôi sung sướng như mới nở ra một đóa hoa và hiểu được niềm hạnh phúc nhất trong một ngày chính là thời thiền tọa sáng sớm tinh mơ khi tất cả c̣n đang yên ngủ. Đó là lư do tại sao chư vị tôn đức tổ sư đă đặt ra thời tọa thiền công phu khuya trong các thiền viện. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đi ngủ rất sớm và giậy từ 4 giờ sáng hành tŕ phu tọa. Lúc sáng tinh mơ này là thời điểm dễ dàng nhất để nhập định và an trú trong niềm hạnh lạc của thiền duyệt. Một phần v́ thân tâm đă trải qua một đêm an nghỉ và sẵn sàng để hành tŕ công phu tinh tấn. Phần khác, khi không khí và môi trường chung quanh c̣n đang yên ngủ rất tĩnh lặng, không làm chia chẻ tâm thức an tĩnh sau một đêm an nghỉ của chúng ta. Tất cả đều dễ dàng đưa thân tâm chín mùi của ḿnh vào trong niềm an định nhẹ nhàng sung sướng. Rồi niềm hỷ lạc phát khởi lại càng đưa tâm thức vào trong cảnh giới an b́nh nội tại. Chính từ tâm an b́nh đó - như một mặt hồ tĩnh lặng và nước hồ lóng xuống đáy trong suốt - mà thiền giả trực ngộ ra nhiều điều hữu ích lớn. Khi tâm đạt đến cao điểm của sự an tĩnh sẽ nở ra thành tiểu ngộ. Sau nhiều lần tiểu ngộ và tiếp tục hành tŕ thành thục chín mùi sẽ đưa đến đại giác.

Chính vậy, hạnh phúc là niềm an lạc của buổi thiền định sáng sớm tinh mơ khi một ngày bắt đầu. Tất cả trí tuệ sẽ tự khởi sinh từ tâm an tĩnh, niềm khinh an nhẹ nhàng của thần trí cực kỳ tỉnh táo và cảnh giác. Có lẽ v́ vậy mà phần lớn các sự giác ngộ (17) đều xảy ra khi trời vừa hừng sáng. Tôi nhớ đến các kinh sách kể lại cuộc đời của đức Thích Ca Mâu Ni tọa thiền 49 ngày dưới gốc cây bồ đề và đại giác ngộ trước khi trời sáng. Hăy nh́n vào tượng Phật an tọa kiết già, khuôn mặt thanh tịnh trong niềm an tĩnh, hai bàn tay xếp trên nhau, rất an lạc. Đó chính là cơi cực lạc ngay tại thế gian này.

Nếu có ai hỏi tôi: lúc nào là lúc hạnh phúc nhất đời bạn? Tôi sẽ trả lời: là lúc sáng sớm tinh mơ, hành thiền quán, là những giây phút trụ trong thiền định bất khả thuyết, bất khả tư ngh́.

Đó là lư do tại sao các hành giả du già thường không ăn bữa tối (hoặc ăn tối thiểu), để dạ dầy trống rỗng, nghỉ ngơi trong giấc ngủ sớm, an lành và sáng thức giấc rất sớm trong niềm an tĩnh, khinh an và hành thiền giác ngộ.

Cho nên sáng nay, v́ không muốn đi nghe pháp quá trễ phải làm đuôi rất lâu, tôi cố thức giậy thật sớm, làm vệ sinh cá nhân sạch sẽ, bụng thật nhẹ nhàng trống rỗng. Thế mà nhờ vậy, lại vô t́nh đi vào cơi thiền định tràn đầy niềm an lạc vô biên. Sau đó tôi hành tŕ các pháp môn hứa nguyện trong niềm an vui vô tận.

Rồi tôi ra khỏi khách sạn đi lên chùa chính nghe pháp. Hôm nay tôi đi sớm nên bớt đông hơn, thế mà qua khỏi được hàng kiểm soát anh ninh và vào trong sân nghe pháp th́ cũng đă đầy nửa. Dĩ nhiên là chỗ của tôi đă có người ngồi. Tôi lui xuống ngồi sau hàng của các bạn người Canada. Một lúc sau th́ họ đến đầy đủ. Tôi lại nhích ra cho họ vào chỗ ngồi của họ và vô t́nh ngồi trên một ô vuông có viết chữ Marie, USA. Chả sao, tôi thầm nghĩ, chỗ của ḿnh, người ta cũng đă ngồi lên. Được một lúc sau, gần đến giờ thuyết pháp th́ có một cô vội vă bước về phía chỗ tôi ngồi và loay hoay t́m kiếm. Tôi nh́n kỹ cô xem có phải là hôm qua cô đă ngồi chỗ này không, nhưng không nghĩ là cô đă đến nghe pháp hôm qua. Cô đ̣i lại chỗ ngồi của cô bằng tiếng Mỹ “this is my place, Marie is my name”. Tôi nói vâng (“yes”) và ngồi lui lại đằng sau cô trả lại chỗ của cô. Chưa đầy năm phút sau có hai vị Phật tử nam nữ người Mỹ đến hỏi tôi xin ngồi chỗ bên cạnh (“is there anybody here, can we seat here”), tôi vui vẻ trả lời là: tôi không biết, nhưng hai bạn cứ ngồi đi, cùng lắm chúng ta ngồi chật lại và chia sẻ chỗ, chúng ta đến đây để cùng chung nghe pháp, và đức Đạt Lai Lạt Ma đă dạy chúng ta phải chia sẻ và giúp đỡ mọi người và tôi rất hoan hỷ chia sẻ (“I don’t know, but please sit down, anyway if others come, we will sit even more closer to share the place, after all we are here to learn Buddhism and one thing that His Holiness always teaches us is to share and help, so it is my pleasure to share”). Sau khi tôi nói vậy, hai bạn kia vui mừng ngồi xuống, c̣n cô Phật tử lúc năy đ̣i chỗ của ḿnh không biết nghĩ ǵ, nhưng một lúc sau cũng nhích chỗ cho hai người Tây tạng ngồi chung và nói tôi cũng chia sẻ đây (“I also can share”).

Tôi mỉm cười và bắt đầu lấy máy radio ra bắt đài FM 92.30 MHz để nghe vị thông dịch sang tiếng anh là geshe Dorje Tamdul.

Tôi thầm nghĩ, đức Đạt Lai Lạt Ma đă dạy không biết bao nhiêu rồi, mà trong đời sống hằng ngày, chỉ hơi vô ư là chúng ta sẽ mắc phải cái ngă, của tôi, của anh, và tất cả mọi tranh chấp trên thế giới này, dù lớn hay nhỏ cũng không qua khỏi cái bản ngă thâm căn cố đế đó. Sáng hôm qua và sáng hôm nay, tôi cũng có thể đi t́m đến ô vuông tôi đă ghi tên và đ̣i chỗ của tôi, dù chưa chắc là người ngồi trên đó đă chịu trả. Nhưng tôi biết là tôi đă không thể làm vậy. Cái ǵ gọi là của tôi? Chỉ là một vạch ngang dọc trên mặt đất và ghi tên lên trên. Thế là đă nảy sinh một sự gán ghép (18) chỗ ngồi ở trong tâm thức, và bắt đầu bằng cái bản ngă để mặc nhiên công nhận, nó là của tôi. Tất cả phiền năo khởi sinh ra từ đó mà thôi.

Nếu tôi không học được điều này, th́ cho dù tôi có đi nghe hết cả mười mấy ngày thuyết pháp, thuộc ḷng mọi lư thuyết cũng chẳng lợi lạc ǵ cho tôi và cho các chúng sinh hũu t́nh khác, đă từng là mẹ tôi qua vô lượng kiếp tái sinh luân hồi và nhất họ là cũng chẳng khác ǵ bản thân tôi, cùng đi t́m về đạo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma mở đầu nói rằng khóa thuyết giảng này sẽ chính thức bắt đầu hôm nay và kéo dài trong 10 ngày và sau đó giảng về gịng truyền thừa ngài đă thọ lănh và giới thiệu đề tài thuyết giảng là Kinh Hiền Ngu và Kinh Pháp Cú theo bản cổ văn của Phật giáo Tây tạng. Sau đó ngài tŕ tụng các bài cầu nguyện khai kinh và hỏi có bao nhiều người Tây tạng cũng như Trung hoa và Tây phương về tham dự.

Rồi ngài giảng về sự khác biệt của con người với loài thú. Tuy cùng giống nhau ở chỗ là có nhu cầu sinh tồn, muốn được an lành no đủ, nhưng con người khác ở chỗ có trí tuệ và luôn luôn có nhu cầu t́m về đạo, hướng thượng, khác với loài thú chỉ lo t́m thỏa măn miếng ăn và sự sống. Chính v́ sự thông minh hơn loài vật này mà con người lâm vào thế kẹt khi tâm thức quá lo lắng bất an cho tương lai. Do đó cần phải tu luyện chuyển hóa tâm thức.

Rồi ngài giảng rất sâu sắc và thâm thúy về cái bản ngă, cái “tôi” khởi đầu chỉ sự gán ghép của tâm thức và sau đó lại mắc kẹt vào chính sự gán ghép này để thấy là cái “tôi” đó có thật, hiện hữu riêng biệt, tách rời và độc lập với mọi chúng sinh khác, và từ đó mà mọi tà kiến khởi sinh.

Đến 11.30 th́ đức Đạt Lai Lạt Ma ngưng và nghỉ trưa, thời giảng buổi chiều sẽ bắt đầu lại lúc 1 giờ. Tôi không có ǵ ăn trưa nên định ra ngoài chùa để mua thức ăn. Khi ra đến cuối sân chùa mới thấy là hàng ngàn chư tăng và Phật tử đang chen chúc trong ngơ hẹp để đi ra khỏi chùa. Như thế này th́ dành chịu trận ở đây thôi, không có đủ th́ giờ để đi ăn trưa. Cho dù có ra nổi cũng phải sắp hàng qua khám xét an ninh để vào trở lại. Tôi quay trở lại trong sân chùa lục túi đeo vai kiếm miếng bánh quy ăn tạm cho đỡ đói và sau đó t́m chỗ nằm ngả lưng một chút trước thời pháp.

Sau khi nghỉ được 15 phút, tôi t́m nhà tắm để đi tiểu. Đây cũng là một vấn đề v́ cả buổi sáng ngồi nghe pháp không đi được. Bây giờ mới thấy là nhà tắm ở ngoài ṿng kiểm soát an ninh. Cho nên tôi đành chịu mất th́ giờ để sắp hàng đi tiểu và trở lại hàng khám an ninh sau đó.

Buổi chiều, đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng tổng hợp về Phật giáo. Ngài nhắc lại ba kỳ chuyển pháp luân. Lần đầu, tại vườn Lộc uyển, Sarnath gần Varanasi, giảng về Tứ diệu đế và Tam tạng kinh điển. Lần hai, tại núi Linh thứu, Rajagriha, Bihar, giảng về Bát nhă, Tánh không và Bồ đề tâm. C̣n lần thứ ba, tại Shravasti và các vùng lân cận của Kusinagara, giảng về Đại Bát Niết Bàn kinh, Hoa Nghiêm kinh, nhấn mạnh đến Phật tánh, Như Lai Thai Tạng.

Ngài nhân đó mà giảng thêm về Tứ diệu đế và duyên khởi rồi sau đó nhắc lại gịng truyền thừa không đứt đoạn của Tạng mật. Rồi ngài giảng kinh Pháp cú, qua hết chương 1, Vô thường và chương 2, Ái dục.

Chiều hôm đó, bắt đầu các buổi ôn giảng từ 4 đến 6 giờ chiều do chính geshe Dorje Tamdul đảm trách. Tôi không có giờ để đi ăn, phải chịu bụng đói để đi học lớp ôn giảng. Nhưng quả thật là không uổng công v́ geshe Dorje Tamdul ôn giảng thật là hay và dễ hiểu. Phật tử tham dự lớp ôn giảng rất đông và mọi người đều thich thú được ôn lại các điều đức Đạt Lai Lạt Ma đă giảng trong ngày.

Geshe Tamdul nhắc lại là, trong khi tất cả các giáo phái hữu thần (ngọai đạo Phật) khẳng định thuyết Hữu ngă với 3 đặc tính:

1. ngă thường c̣n, tồn tại vĩnh viễn (permanent quality).
2. ngă là một nhất thể, không thể nhầm lẫn với cái ngă khác (unitary, monolithic quality)
3. độc lập với mọi sự vật chung quanh (inherently independent quality)

th́ Phật giáo hùng hồn đả phá tận cùng cái ngă và tuyên bố: ngă chỉ là sự gán ghép quy ước trong tâm, và phủ nhận cái ngă thường c̣n qua giáo lư:

1. thuyết nhân quả (có nhân th́ sẽ có quả, gieo nhân nào th́ gặt quả ấy) và vô thường (sinh lăo bệnh tử, có sinh th́ phải có diệt) (causality and impermanence).
2. thuyết duyên khởi và tánh không (mọi pháp đều do duyên sinh, cho nên chư pháp không có tự tánh và mọi pháp đều cùng có một tánh, đó là tánh không) (dependant origination and emptiness)
3. ngă (mọi pháp đều do duyên sinh, không có cái ǵ tồn tại độc lập cho nên vô ngă) (selflessness)

Sau lớp học ôn giảng, mọi người thật là hoan hỷ, trân trọng kính chào thày geshe Tamdul và ra về nghỉ ngơi, trong ḷng phơi phới an vui.

Tôi vội đi về và mau mau vào quán Drasang House kêu tô ḿ chay, đói quá rồi. Tôi ăn thật ngon lành xong, đi về pḥng rửa mặt mũi tay chân để c̣n hành tŕ và ngủ thật sớm, dưỡng sức cho những ngày tu học đạo.

(c̣n tiếp phần 4: Tu học tại Dharamsala)

Chú thích:
16. Sinusitis.
17. Nhật ngữ gọi là satori.
18. The notion “my and mine” is a mere imputation in our mind, having no intrinsic value.

 

Không Quán
03 april 2008

 

 

Phần 4: Tu học tại Dharamsala (tiếp theo)

 

12. Ngày 23 tháng 2, 2008

Qua kinh nghiệm thiền định hôm qua, sáng nay tôi tiếp tục giậy sớm để hành thiền. Niềm an lạc tiếp tục tăng trưởng trong những giây phút thiền định vào khi tất cả chung quanh thật là yên tĩnh. Nhưng hôm nay, trong niềm an b́nh của tâm lại khởi lên một niềm cô đơn, nhưng lại ḥa chung với cảm giác vô cùng hạnh phúc. Một điều trực ngộ sáng nay vừa nở ra trong tâm: tôi chợt hiểu tại sao một hành giả cần phải sống đời sống phạm hạnh. Dĩ nhiên là sống phạm hạnh th́ giới sắc. Nhưng giới sắc chẳng phải phải là điều chính yếu, mà ở đây, chuyện chính yếu là phải sống trong niềm cô đơn an tĩnh. Chính là nhờ sống trong niềm cô đơn an tĩnh, hành giả mới trực ngộ được những điều quan trọng qua sự hành tŕ tĩnh tâm: chỉ khi nào ḿnh đi một ḿnh trên con đường hành tŕ, thiếu thốn tất cả, từ các tiện nghi, ăn uống, cho đến thiếu thốn cả những
t́nh cảm, những sự chia sẻ tâm hồn, và thực sự đơn độc, th́ niềm cô đơn và an tĩnh ấy mới un đúc, mới kết tinh lại và nở ra thành đóa hoa của sự trực ngộ thẳng vào bản tánh sự vật, bản tánh của chân tâm. Điều này chúng ta khó có thể làm được khi chúng ta sồng đầy đủ dư thừa quá, dư thừa từ thức ăn cho đến dư thừa t́nh cảm. Chỉ khi nào chúng ta cảm thấy ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm, nghĩa là cảm nhận một chút về đói lạnh, bụng trống rỗng nhẹ hẫng và hoàn toàn cô đơn an tĩnh th́ chúng ta mới có thể thực sự định tâm trong an tĩnh. Khó nhất là khi chúng ta sống đời sống lứa đôi với người bạn đời, hay sống trong gia đ́nh, tâm ta luôn luôn bị khuấy động trong ái dục và khó có thể trực diện với niềm cô đơn an tĩnh đủ lâu, đủ chín mùi để đưa chúng ta vào sự trực ngộ bản tánh của sự vật. Tất nhiên là tôi chỉ nói khó, chứ không phải là không thể làm được. Do đó, mà ta cần xuất gia, cắt ái từ sở thân và sống đời sống đạm bạc:

Vật năng tri túc, tâm thường định
Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao. (19)

Như vậy, niềm cô đơn trong sự an tĩnh là điều kiện phải có, tối thiết (20) cho sự trực ngộ. Có thể nói là từ sự cô đơn mà trực ngộ ra niềm hạnh phúc của đạo và sự an lạc của tâm tĩnh lặng. An tĩnh, đây là điểm chính yếu của tu đạo.

(Quả t́nh, đất Dhramsala là một thánh địa. Hai hôm liền, tôi thiền tọa đều liên tiếp trực ngộ những điều mà trước kia, tôi chưa rơ lắm hay là chưa quyết tâm. Không những Dharamsala là thánh địa, mà tôi lại c̣n được bảo bọc chung quanh bởi chư thầy tổ, chư tôn đức. Và sức gia tŕ của đức Đạt Lai Lạt Ma, cũng như của chư vị, ḥa trong tâm thức chín mùi sẵn có trong tâm từ những thời gian hành tŕ trước khi đi về đây tu học đă làm cho tâm thức nở bung ra trong những điều kiện thật là khó khăn của sự đói lạnh. Từ khi về Sera Mey, tôi vẫn cảm thấy sự gia tŕ liên tục của gịng truyền thừa của chư tôn đức trên tâm thức. Cho đến hôm nay, hai hôm rồi, tâm thức đă kinh nghiệm được những điều thật là kỳ diệu).

Sau thời hành tŕ các pháp môn hứa nguyện, tôi càng ngộ ra thêm là niềm vui sắc dục rất nhỏ bé so với niềm an lạc của sự thiền định an tĩnh. Niềm hỷ lạc thiền định thật là thanh tịnh và an ḥa, trong khi khoái lạc của sắc dục nặng nề ô trược hơn nhiều. Và càng ngộ ra thêm hơn là nếu đă có bạn t́nh hay bạn đời, th́ con đường hay nhất là hăy t́m cách chuyển hóa t́nh yêu với người bạn t́nh đó thành t́nh thương vô bờ bến, và đi xa hơn nữa, thành tâm Bồ đề, để sau đó cùng nhau thành tựu đạo pháp, tay trong tay mà hóa lạc về Đâu Suất Thiên Nội Viện (21).

Xả thiền xong và thấy trong ḷng thật nhẹ nhàng an vui, tôi sửa soạn rời pḥng và đi về ngôi chùa chính để nghe pháp. Khi ra đường, tôi mới nhận thấy là trời đă mưa suốt đêm qua cho nên sáng nay đường xá lầy lội, đọng đầy nước trên mặt đường. Mặt trời vắng bóng, mây đen bao phủ làm cho bầu trời trông thật ảm đạm. Thời tiết rất ẩm và lạnh, cái lạnh buốt cắt da thịt và thẩm thấu vào trong xương. Cơn đói sáng sớm chợt ùa đến. Nh́n vào quán ăn nhỏ như là một quán cóc bên vệ đường, tôi thấy những người Ấn độ đang ăn sáng với món “roti” (22) chung với một chén khoai nghiền đầy gia vị. Dĩ nhiên là tôi không dám đụng vào dù bụng đói. Tôi lấy bánh ḿ không trong túi đeo vai ra, vừa đi vừa ăn. Đói và lạnh làm cơn ho chợt nổi lên rượi.

Khi vào trong được sân chùa chính, ngồi chờ nghe pháp mới thấm cơn lạnh sáng nay. Không những mưa, lạnh mà c̣n gió. Phải ở đây mới thấy là mỗi vị tăng đều có một cái khăn choàng vuông vắn lớn, màu đỏ bằng nỉ rất là tiện lợi, thường th́ chư tăng quấn khăn choàng vuông đó chung quanh thân, để hở hai cánh tay ra ngoài. Thế nhưng khi trời lạnh kinh khủng và nhất là khi trái gió trở trời như thế này, ngồi nghe pháp th́ chư tăng cởi khăn choàng vuông đó mà trùm hẳn lên trên đầu và bao bọc kín mít quanh thân người. Rất là ấm áp và ngăn che gió máy. Khi nào cần tọa cụ để thiền tọa th́ chư tăng lại xếp cái áo vuông đó lại thành một cái gối nhỏ để làm tọa cụ, ngồi lên trên rất là dễ chịu khi hành thiền. C̣n tôi th́ mặc áo bông, và áo bành tô mùa đông, đầu đội mũ len che kín hai tai, nhưng vẫn thấy gió rét luồn qua cổ áo rất khó chịu, nên ngồi co ro và ho rũ. Bà Phật tử người Tây ban nha ngồi bên cạnh tội nghiệp nên phải cho tôi kẹo ho suốt mấy ngày. Ho và đờm trong cổ họng lẫn trong xoang mũi thật là khó chịu.

Hôm nay đức Đạt Lai Lạt Ma mở đầu giảng rất kỹ về tín tâm trong Phật giáo. Ngài dạy là tín tâm cần phải đi theo với trí tuệ chứ không nên tin một cách mù quáng. Ngài kể câu chuyện xưa có một lần, hồi c̣n ở Lhasa, ngài gặp một người Tây tạng đến đảnh lễ và bảo người đó hăy t́m học Phật pháp chứ đừng để ḿnh mù chữ, thất học giáo lư. Người đó thưa với ngài là: chỉ có chư tăng mới phải học, c̣n các cư sĩ th́ chỉ cần tín tâm. Ngài cười và kể tiếp, lại c̣n có các tăng sĩ hành lễ và nghi thức thật giỏi và đẹp, nhưng khi hỏi là các nghi thức ấy tụng để làm ǵ th́ các tăng sĩ đó trả lời là công việc của họ chỉ là hành lễ và tụng kinh, c̣n hiểu nghĩa th́ không phải phần việc của họ. Đức Đạt Lai Lạt Ma lại cười và nói quư vị đừng như thế nhé.

Sau đó ngài giảng có hai loại giáo lư Phật giáo: quyền giáo và thật giáo (23). Ngài dặn kỹ là khi chúng ta học Phật giáo th́ phải hiểu cái nào là quyền giáo (dùng tạm thời, trong một trường hợp, để giáo hóa chúng sinh) và cái nào là thật giáo (thắng nghĩa giáo, luôn luôn đúng trong mọi thời). Do đó, phải học với trí tuệ và t́m hiểu cặn kẽ thấu suốt, chứ không nên mù quáng chấp theo văn tự.

Rồi ngài giảng qua kinh Pháp cú, từ chương 3 – Ái, đến hết chương 7 – Thiện hạnh

Buổi chiều, ngài giảng tiếp từ chương 8 - Ngữ hạnh, cho đến hết chương 23 – Tự Ngă.

Nguyên cả ngày mưa lạnh và gió rất là khó khăn. Thế mà đại chúng vẫn ở lại nghe pháp, thật là tội nghiệp. Biết bao nhiêu người cũng kẹt ở lại buổi trưa, chịu đói và lạnh, không thể rời sân chùa chính để đi ăn.

Đến 4 giờ chiều th́ lại đi học lớp ôn giảng ngay. Geshe Dorje Tamdul ôn bài lại rất hay. Là một chúng sinh, ai cũng muốn có sự an vui hạnh phúc và xa ĺa khổ đau, nhưng khi đi t́m về hạnh phúc, có người ham thích các hạnh phúc tạm bợ trong cơi thế gian hoặc các vui sướng cao hơn, nhưng vẫn là tạm bợ của các cơi trời. Thày tóm gọn là trong thế gian có thể xếp loại hai hạng người tu đạo:

1. Người tu đạo t́m hạnh phúc (tạm bợ) của thế gian. Hạng người này t́m những nẻo tái sinh tốt ở trong luân hồi như là cơi người, trời hay A tu la. Họ tu hành theo Thập thiện, để đạt được các cơi tái sinh cao.
2. Người tu đạo t́m hạnh phúc thường hằng của Niết bàn. Người tu Niết bàn lại chia làm hai: 1. muốn chứng quả A la hán, đạt Niết bàn cho ḿnh; 2. muốn chứng quả Phật tối thượng, đạt Niết bàn vô trụ (24).

Muốn chứng quả A la hán, cần tu tập thiền định để phá bỏ màn vô minh, đạt lên các từng lớp thiền theo thứ tự, thực chứng thẳng vào Tánh không, tất cả mọi tà kiến điên đảo, sai lầm thô tế đều bị bứng trừ ra khỏi tâm thức, và đạt đến tŕnh độ diệt tận định. Khi đó hành giả đắc quả A la hán, và chứng Hữu dư Niết bàn. Rồi khi ĺa bỏ thân phàm, bát Niết bàn, th́ lúc đó hành giả đi vào Vô dư Niết bàn. Đạt quả A la hán, hành giả trụ trong Niết bàn tịch tĩnh và trong niềm đại hỷ lạc khi tất cả tham ái đă hoàn toàn tắt ngấm, và mọi khổ đau đă hoàn toàn tiêu trừ.

C̣n khi hành giả trên con đường chứng quả, hoặc khi đă chứng quả A la hán mà lại phát Bồ đồ tâm, xa ĺa mọi trụ xứ, “chẳng trụ ta bà, chẳng trụ Niết bàn, tâm vô sở trụ”, và phát nguyện dẫn dắt mọi chúng sinh đạt đến Phật quả, th́ sau khi tuần tự thành tựu Thập địa bồ tát, chứng ngộ Phật quả tối thượng, đạt vào Vô trụ Niết bàn. Khi đạt vào Vô trụ Niết bàn th́ tâm chấm dứt tất cả khái niệm nhị nguyên (25), tâm đối đăi: cơi ta bà, đối với Niết bàn, sinh đối với diệt…Khi đạt đến Vô trụ cũng là đạt đến trạng thái bất nhị (26).

Khi nghe giảng đến đây, tôi nhớ thầm trong đầu trong bài tụng của Lễ Cúng dường Đức Bổn Sư có câu kệ:

Xin giải thoát chúng con ra khỏi nỗi sợ của luân hồi sinh tử và của Niết Bàn, xin cho chúng con đạt Toàn giác…

Câu tụng này ư nghĩa cực kỳ thâm thúy, chính là xin cầu nguyện Đức Bổn Sư ban cho chúng con đạt được Vô trụ Niết bàn, bởi v́ chẳng vướng nỗi sợ bị kẹt trong ta bà cũng chẳng vướng nỗi sợ bị kẹt trong niềm vui tịch tĩnh của Niết bàn, nghĩa là xa ĺa mọi mắc kẹt vào trong các trụ xứ. Tức là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (27). Chữ “kỳ” ở đây, tiếng hán viết là , nghĩa là cái ấy, vậy kỳ tâm nghĩa là cái tâm ấy. V́ trong toàn bộ kinh Kim Cang, đức Phật giảng về cách thành tựu “A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm”, nghĩa là Phật quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Do đó, câu trên nghĩa là “chẳng trụ vào chỗ nào mà sinh cái tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác ấy”.

Nhân ở đây, geshe Tamdul cũng ôn giảng lại phần đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết về đề mục “t́m mà không thấy được tự ngă, cho dù ở trong cũng như ở ngoài thân (28)”, và do đó mà phải kết luận là tự ngă vốn là sản phẩm của vọng tưởng (29) mà ta gán ghép trong tâm thức.

Ngày nào được nghe ôn giảng tôi cũng cảm thấy cực kỳ hoan hỷ và phấn khởi. Mặc dù tôi rất đói và khi vừa mới xong lớp ôn giảng là tôi mau mau đi t́m tiệm ăn. Khi ra ngoài đường, vẫn c̣n mưa âm u và lạnh buốt, tôi đi ăn tối xong, liền nhanh nhanh để quay về pḥng hành tŕ và đi ngủ ngay.

13. Ngày 24 tháng 2, 2008

Sáng sớm thức giậy, cảm thấy thật là lạnh. Cả đêm qua tôi vẫn bị ho thật nhiều và đờm, dù sáng sơm cũng như đêm tối trước khi ngủ, tôi đă xúc miệng cẩn thận bằng thuốc rửa miệng triệt trùng cực mạnh “Listerine”. Thời tiết buốt giá v́ mấy hôm liền mưa liên miên và gió rét thổi rất mạnh. Trong pḥng trên lầu 3, suốt đêm gió thổi đùng đùng tứ phía. Pḥng không có sưởi nên chỉ nhờ ánh mặt trời để sưởi ấm được chút nào hay chút ấy mà mấy hôm nay v́ không có mặt trời nên nhiệt độ trong pḥng hạ xuống rất thấp. Lạnh đến mức mà tôi không dám thả mép mền ngoài thành giường v́ hơi lạnh từ sàn bốc lên trong đêm làm tôi không ngủ được. Kinh nghiệm cho biết là muốn giữ hơi ấm trong giường ở đây, tôi phải quấn mép chăn chung quanh người để thân nhiệt được giữ lại trong chăn, như thế ban đêm, tôi mới ngủ được mặc dù cả đêm không dám thay bộ quần dài và áo bông cho thoải mái.

Tuy vậy, sáng nay tôi vẫn thức sớm để thiền tọa. Thân và tâm cũng đă huân tập phần nào với cái lạnh buốt xương, thịt da đă cảm thấy quen thuộc dần với cái lạnh cắt buốt, các cảm giác của thân thể đă bớt than văn kêu la. Tất cả chỉ là huân tập, chỉ là tập khí, và tạng thức chứa các tập khí ấy. Rửa sạch tập khí đi để mà an tĩnh...

Sau khi rửa ráy sạch sẽ, tôi an ổn thiền tọa. Ḷng hướng về đức Đạt Lai Lạt Ma, với tâm niệm an b́nh, với một ngày mới, như sự sống khởi sinh – sinh và diệt - chuyển hóa. Vô thường chẳng phải là vô thường, vô thường chỉ là chuyển hóa giữa các sinh khởi và diệt. Gịng chuyển hóa không ngừng, đặc tính nhất thiết của luân hồi.

Tôi tự nhiên khởi lên, làm trong tâm bài thơ:

Chuyển hóa


Giữa gịng chuyển hóa,
Sinh và diệt không ngừng.
Tịch mặc an nhiên.
Gịng sống b́nh thản,
Thường chuyển buông trôi.
Mỉm cười,
Giăng tâm ôm ṿng vũ trụ,
vuốt ve gịng chuyển hóa.
Sự sống,
Ôi, niềm nhiệm mầu sáng ngời...

Sau đó tôi đi vào hành tŕ thiền quán các pháp môn hứa nguyện. Niềm mầu nhiệm vẫn ngời sáng trong tâm như ánh sáng mặt trời. Gịng sống đang khởi sắc trong bài cầu nguyện nghi thức hành lễ cho đến khi có tiếng gơ cửa. Theo lệnh của thày viện trưởng, vị thày phụ tá mang cho tôi ít nước sôi để uống cà phê bột sáng sớm cho tỉnh, miếng bánh ḿ phô mai và ít mứt gừng giúp chống ho. Hôm qua, khi tôi ghé pḥng thày để vấn an, ngài đă dặn tôi đừng làm việc quá sức v́ lớp học ôn giảng kéo dài đến hơn 6 giờ tối. Ngài muốn tôi nghỉ ngơi v́ các điều kiện ẩm thực ở Dharamsala không cho phép phung phí sức khoẻ. Nhưng tôi vẫn cảm thấy rất thích đi học lớp ôn giảng v́ geshe Tamdul rất uyên bác.

Rời pḥng lúc 7.45 sáng, tôi ghé sang pḥng thày cảm ơn và lên đường đi đến chùa chính sau đó.

Buổi sáng, đức Đạt lai Lạt Ma mở đầu bằng bài học, đừng làm bạn với người ác, mà hăy gần gũi với thiện tri thức. Mặc dầu vậy, ngài dặn thêm là đừng phân biệt, hăy mở rộng ṿng tay ôm lấy tất cả mọi người, đối xử với mọi chúng sinh như nhau. Nhưng khi học hỏi th́ hăy chọn gần gũi các thiện tri thức, chọn các bậc thày chứ đừng theo bạn xấu.

Sau đó ngài giảng sang kinh Pháp cú, phẩm 24 – Bỉ dụ (30) cho đến phẩm cuối cùng là phẩm 33 – Bà la môn. Như vậy đức Đạt Lai Lạt Ma đă giảng hết kinh Pháp cú.

Buổi chiều, đức Đạt Lai Lạt Ma giảng kinh Hiền ngu, phẩm 1 – Hổ mẫu (31), cho đến phẩm 7 – Ajastya, vị tu sĩ khổ hạnh.

Sau đó tôi đi học lớp ôn giảng. Buổi chiều hôm nay, geshe Tamdul tiếp tục ôn lại phần đức Đạt Lai Lạt Ma giảng về đề tài chấp ngă. Chúng sinh khổ v́ phiền năo khởi sinh. Chấm dứt mọi phiền năo là Niết bàn tịch tĩnh. Phiền năo đến từ 4 tà kiến (những cái nh́n điên đảo, sai lầm), có thể tóm gọn như sau:

1. Thấy cái bất tịnh, mà cho là tịnh.
(thân xác của ḿnh vốn bất tịnh, mà mê đắm vào thân xác, cho là thơm tho sạch sẽ)
2. Thấy cái khổ, mà cho là sướng.
(cảm thọ luôn luôn đưa đến khổ đau, trừ cảm thọ vô kư)
3. Thấy cái vô thường, mà cho là thường c̣n măi măi.
(tâm thức thay đổi, mới sướng đây đă thành khổ, nhưng lúc sướng th́ cứ nghĩ là sướng măi, c̣n lúc khổ th́ thấy quá khổ, không thoát ra được, phát điên luôn)
4. Thấy cái vô ngă mà cho là có tự ngă.
(thấy thân ḿnh có thật, có cái tôi, thấy mọi sự vật có thật, chẳng biết là người và vật đều tùy duyên mà sinh, cho nên chấp vào ngă, chấp vào pháp, chẳng biết là nhân vô ngă, pháp vô ngă).

Nhưng tựu chung lại th́ tà kiến nặng nhất vẫn là chấp ngă, cho rằng cái tự ngă của ḿnh là có thật, rồi từ đó mà suy nghĩ hành động ích kỷ để thỏa măn những đ̣i hỏi của tự ngă. Chính nơi đó mà tạo tâm phiền năo biến kế (32). Bản chất tâm biến kế có 3 đặc điểm:

1. Là tâm khái niệm: tà kiến cho là mọi sự vật đều có thật, từ ngă đến chư pháp đều thấy có. Không hiểu mọi sự vật đều là do duyên hợp, cho nên giả huyễn. C̣n cái thấy có thật đó chỉ là sự gán ghép sai lầm của tâm thức. Như khi nh́n đóa hoa trên mặt bàn, thấy hoa có thật, khởi tâm tham ái chiếm đoạt.
2. Là tâm phóng đại (hoặc hạ thấp): khi ưa thích th́ phóng đại, khi ghét th́ hạ thấp, thí dụ là nh́n đoá hoa trên bàn thấy là đẹp vô cùng mà thực ra hoa chỉ tương đối.
3. Là tâm cố chấp: tâm này đưa đến hành động và tạo nghiệp. Khi ưa thích th́ t́m cách thủ hữu, khi ghét th́ t́m cách tống khứ đi hoặc hăm hại.

Như vậy, tiến tŕnh của phiền năo khởi lên trong tâm và gây nghiệp là:

1. Nhận thức và quy kết (gán ghép), (perceive and impute),
2. Ngộ nhận và biến kế, (misconceive and mental fabrication),
3. Phóng đại, (exaggerate),
4.
Tạo tác, (create action),
5. Tích nghiệp, (accumulate karma).

Gốc rễ của tất cả các phiền năo trên là vô minh.

Geshe Tamdul nhắc lại hôm qua, đức Đạt Lai Lạt Ma giảng về chấp ngă có nói là “quư vị thấy tôi có thực quá”. Thày giải thích thêm là khi thấy đức Đạt Lai Lạt Ma là có thật, quư vị khởi tâm tham ái được gần bên ngài và quư vị bon chen, giành giựt để được diện kiến, để được ngài ban phép lành hay là nắm tay ngài. Tất cả đều đến từ cái nh́n sai lầm điên đảo, thấy có, và chấp là có thực. Không hiểu là tất cả như trong mộng huyễn: như khi ngủ mơ, quư vị thấy bị hại, khởi tâm vô cùng sợ hăi, giật ḿnh tỉnh giấc, thấy là không thật.

Khi nghe đến đây, tôi lại không khỏi nghĩ là thực tâm, tôi không ưa thích bon chen, và nhớ đến lần tôi được mời về Washington DC để diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma. Lúc đầu th́ tôi nhận lời, nhưng sau đó tôi đă từ chối không đi. Lư do là v́ tôi không có nhiệm vụ ǵ thiết thực trong buổi họp, mà thấy số người xin được về diện kiến quá đông, ban tổ chức phải lo liệu chỗ ăn ở. Sau này, có vài người bạn hỏi tại sao tôi "gàn" thế, có dịp được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma mà bỏ qua. Tôi chỉ cười và nghĩ là, nếu cứ lấy tâm đời mà xét th́ quả là tôi kỳ cục thật.

Tôi nhớ đến chuyện của ngài Tu Bồ Đề: “…tương truyền một hôm Tu Bồ Đề đang ngồi vá áo trong động Kỳ Xà trên núi Linh Thứu th́ bỗng nhiên ngài quán thấy Phật du hóa phương xa đang trên con đường trở về. Ngài định rời động xuống núi đón Phật, nhưng lại nghĩ rằng Phật dạy không có cái ta, cũng không có cái của ta. Đă không có cái ta và cái của ta th́ tướng các pháp vốn không tịch vắng lặng. Phật đă chứng được thật tánh không tịch vắng lặng tuyệt đối ấy mà thực hiện tự ngă vô ngă siêu tuyệt không hai trong nhân loại, th́ không có cái ǵ mà không phải là Phật, không ở đâu mà không có Phật. Vậy hà tất phải xuống núi mới gọi là đi đón Phật. Nghĩ như thế xong, ngài b́nh thản ngồi tiếp tục vá áo.
Bấy giờ Tỳ kheo ni Liên Hoa Sắc nhờ đă chứng được thần thông như Mục Kiền Liên, biết được Phật sắp về, liền xuống núi nghênh đón. Bà lấy làm tự hào nghĩ rằng trong Thánh chúng chỉ có ḿnh bà hay tin Phật về và đi đón Phật trước hơn ai hết. Phật nh́n Liên Hoa Sắc mỉm cười bảo rằng:- Trước nhà ngươi đă có Tu Bồ Đề đón ta rồi (33).“…


Tôi nhớ thêm đến kinh Kim Cang, đức Phật đă dạy:

"Nhược dĩ sắc kiến ngă,
Dĩ âm thanh cầu ngă;
Thị nhân hành tà đạo,
Bất năng kiến Như-Lai"

Dịch nghĩa là:
(Nếu nh́n ta qua sắc tướng,
Nếu cầu ta qua âm thanh,
Những kẻ đó hành tà đạo,
Không thể thấy được Như-Lai)

Ngày hôm nay, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng nhắn nhủ: quư vị thấy tôi có thực quá..., chấp vào thân tôi qua h́nh danh sắc tướng. Mà đó chỉ là thân giả duyên, sinh diệt ngũ uẩn.

Ngay ở Dharamsala đây, tôi cũng đă thấy một lần, cô Phật tử đ̣i chỗ ngồi hôm trước, đột nhiên đứng dậy và đẩy mọi người ra, đạp lên cả giày dép của mọi người mà chạy lại phía hàng rào nơi mọi người đang sắp hàng chờ đức Đạt Lai Lạt Ma đi ngang…Hoặc trong chùa, tôi cũng thấy những mẫu người bon chen tu học, trong các buổi tụng kinh, họ thường đóng các kinh sách lại để trước mặt để kín đáo khoe rằng, tôi thuộc kinh gốc bằng tiếng Tây tạng, tôi hành tŕ giỏi nhất, trong khi thày geshe Tây tạng chính gốc, thuộc ḷng kinh như cháo, th́ vẫn mở cuốn kinh để trước mặt và lật từng trang để đọc tụng. Nh́n những cảnh tượng như vậy, tôi thường rút lấy bài học cho bản thân, sờ lên gáy ḿnh và tự nhắc nhủ: cẩn thận nhé, hăy cẩn thận... hăy nh́n cho kỹ cái bản ngă của ḿnh xem nó đang làm ǵ...

Và chính như là bài giảng hăy thấy mọi chuyện như mộng huyễn của đức Đạt Lai Lạt Ma dạy, trong kinh Kim Cang, đức Phật cũng nói:

Nhất thiết hữu-vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.
Dịch nghĩa là:
(Tất cả các pháp hữu vi, sanh diệt)
Đều như mộng huyễn, bọt, ảnh
Như sương mai, và cũng như ánh chớp
Hăy nên luôn quán chiếu như thế...)

Thật t́nh, đức Phật đă dạy:”Ta là Phật đă thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Tất cả rồi sẽ tuần tự thành tựu Phật quả mà thôi, vậy th́ có ǵ mà phải bon chen? Chẳng qua là mạt-na thức của ḿnh thúc đẩy, muốn làm thỏa măn tâm tự ngă. Cho nên ḿnh cần nh́n kỹ lại ḿnh trong hành động của đời sống hàng ngày. Cần giữ chánh niệm (awareness), và cảnh giác (alertness), đâu phải chỉ cứ trong lúc thiền tọa mới chánh niệm.

Trước khi dứt buổi học ôn, thày Tamdul nhắc lại lời của tổ Long Thọ, nói là "vị hành giả nào, khi nhập vào được tánh không mà vẫn tôn trọng, tuân thủ luật nhân quả, th́ mới thực sự chứng ngộ Tánh Không" và kể câu chuyện lư thú như sau:

Một vị học tṛ theo lời dạy của thày ḿnh, ngồi thiền định vào Tánh Không. Khi hết sức chú tâm vào Tánh Không, vị học tṛ thấy ḿnh bị mất tiêu luôn, sợ quá, ngồi khóc hu hu v́ đă đánh mất ḿnh. Vị thày đi ngang qua, hỏi chuyện ǵ? Học tṛ vừa khóc vừa nói "con bị mất tiêu rồi (không c̣n tồn tại)”. Thày liền hỏi:"ai đang khóc thế?” Học tṛ nói "con đang khóc". Thày trả lời ngay "ồ, vậy th́ con làm ǵ có mất tiêu hồi nào đâu!”.

Mọi người đều cười ồ lên vui vẻ, và sau đó ra về.

14. Ngày 25 tháng 2, 2008

Sáng sớm thức giậy vào pḥng tắm rửa ráy, liếc nh́n ra bầu trời âm u bao phủ. Lúc 6 giờ sáng, tôi bắt đầu tọa thiền, vào trong nhất điểm thiền định. Tâm tôi đi vào niềm tĩnh lặng, hoàn toàn trụ trong buông thư và hơi thở an b́nh. Thật là thoải mái và sung sướng. Rồi, từ tâm, khởi lên những lời giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma. Tất cả đều là huyễn hóa. Như mộng huyễn bào ảnh.

Tâm tôi tự nhiên khởi lên câu tụng từ Lễ Cúng dường đức Bổn sư :

"Chúng con được hộ tŕ của Ngài để thành tựu hạnh thiền định quán huyễn hóa,
Nhận chân mọi pháp trong, ngoài, đều không có tự tánh mà vẫn hiển bày,
Như ảo ảnh trong gương, như mộng ảo, như bóng trăng trên mặt hồ nước lặng…"

Và từ đó tôi lại đi vào trong niềm an b́nh của mặt hồ nước lặng… Tôi không c̣n để ư đến thời gian hay ǵ khác nữa…

Khi xuất ra khỏi thiền định, tôi mới thấy là thời giờ đi qua thật nhanh. Tôi hành tŕ nốt các pháp môn, và sửa soạn đi nghe pháp.

Từ sâu thẳm của tâm thức, tôi chợt nhớ lại mấy câu trong Cung Oán Ngâm Khúc :

Tuồng ảo hóa đă bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm c̣n có ǵ đâu
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh ŕ! (34)

Tuồng ảo hóa: tṛ chơi của kiếp người, khi tôi c̣n trẻ có đọc say mê cuốn Sói đồng hoang (Steppenwolf) của Hermann Hesse, và cuốn sách này để lại cho tôi một ấn tượng mạnh. Sói đồng hoang kể lại câu chuyện của anh chàng Harry Haller, một chàng trai rất thông minh, và những khó khăn của anh ta, khi gia nhập cuộc chơi dạ vũ đeo mặt nạ thâu đêm, nhưng lại giấu ở phía sau một thế giới thứ hai, cao cả hơn, không thể hủy diệt được, vượt quá Sói Đồng Hoang và cái cuộc sống mơ hồ lăn lộn trong những buổi dạ vũ thâu đêm…Hồi trẻ, tôi đă đồng hóa ḿnh với anh ta và đă mộng những giấc mộng của chàng Harry Haller đó…

Vào được chùa chính, ngồi xuống chỗ, tôi mới nhận ra là mấy hôm nay ngồi trên sàn xi măng lạnh buốt bàn tọa, các đầu gối và mông cũng ê ẩm mỏi mệt đến độ, khi về pḥng sau khi ăn buổi tối xong, rất khó ngồi thiền tọa lâu, mà cần nghỉ ngơi đến sáng hôm sau mới ngồi thiền thoải mái được. Tối nay chắc tôi sẽ phải đi kiếm mua một miếng đệm mỏng bằng bọt xốp để mai lót thêm lên chỗ ngồi cho bớt lạnh.

Sáng hôm nay, trước khi đi vào giảng về kinh Hiền Ngu, đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc lại đề tài thuyết giảng hôm trước. Ngài nhấn mạnh là tất cả phiền năo đều từ tâm chấp ngă. Chính tâm chấp ngă này làm cho chúng ta khi nhận thức một sự vật nào cũng đều thêm vào cái ngă của ḿnh để nh́n sự vật ấy một cách méo mó qua hai khía cạnh: hoặc thích và dính mắc tham ái, hoặc ghét và muốn hủy hoại tống khứ. Nếu một vật thực sự đẹp, th́ tất cả mọi người đều phải cùng nh́n thấy nó đẹp. Nhưng thực tế th́ không phải vậy, người khác không thấy nó đẹp như ta thấy.

Do đó, nên hiểu là chính tâm chấp ngă của ta đă bóp méo sự vật theo lăng kính của tự ngă. Do đó, ta nh́n sự vật với tà kiến, quy kết gán ghép cho sự vật những đặc tính mà nó không có, thí dụ như nh́n sự vật quá có thực, quá thường hằng. Thực ra, nếu thấy một điều ǵ tốt, chỉ nên đánh giá đúng điều đó, và dừng lại ở chỗ "đó là một chuyện tốt". Nhưng tâm ta lại không thế, v́ tâm chấp ngă làm ta luôn luôn phóng đại mọi chuyện, hoặc là tốt quá, hơn sự thật, hoặc là xấu quá, kém sự thật.

Từ vô thỉ vô chung, chúng ta đă bị kiềm chế bởi tâm chấp ngă này, và không thể diệt trừ được nó.

Thế nhưng nếu đặt câu hỏi: tất cả mọi người đều có nên học phá bỏ và diệt trừ ngă không? Câu trả lời là không nhất thiết. V́ sao? V́ thuốc phải tùy bệnh mà cho. Tôn giáo cũng như là thuốc trị bệnh. Do đó mà đức Phật đă tùy người mà ban pháp, có khi đức Phật giảng về hữu ngă cho những người c̣n quá chấp vào ngă (giảng vô ngă cho họ, có thể làm hại họ). C̣n đối với bậc căn cơ cao, đức Phật giảng vô ngă, v́ họ có thể thọ lănh pháp vô ngă và được nhiều lợi lạc.

Sau đó, đức Đạt Lai Lạt Ma giảng kinh Hiền Ngu, phẩm 8 - Từ bi lực, cho đến phẩm 16 - Ấu thuần điểu (35). Mọi người ai cũng ngạc nhiên tại sao đức Đạt Lai Lạt Ma lại giảng kinh nhanh như thế. Với vận tốc này th́ sẽ khóa thuyết giảng sẽ xong sớm hơn dự định nhiếu.

Nhưng chưa kịp nghĩ xa hơn th́ đă nghe đức Đạt lai Lạt Ma thông báo sẽ giảng xong kinh Hiền Ngu ngày mai 26 tháng hai, và kể từ ngày 27 trở đi, ngài sẽ ban Lễ Quán Đảnh "Kadampa Thập Lục Tổ (36)". Tôi nghe ngài nói mà tim muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, v́ tôi đă mong đợi thọ Lễ Quán Đảnh này từ lâu, ít khi ngài ban lễ này lắm, mà nay ngài như là có thần thông hiểu được sự mong đợi của tôi và ban cho Lễ Quán Đảnh. Tôi chợt nhớ lại là suốt từ khi đi qua Ấn ở Sera cho đến bây giờ, tôi luôn luôn cảm nhận sự hộ tŕ của gịng chư tổ phái Giới đức (Gelug), mà phái Giới đức chính là truyền thừa của gịng Kadampa.

Mừng quá, tôi sung sướng đi học lớp ôn giảng buổi chiều. Geshe Tamdul ôn lại kinh Pháp cú, phẩm 12 - Đạo lộ. Thày giảng tóm lược lại ư chính của phẩm 12 nói về nền tảng của đạo Phật chính là diệt trừ mọi tầng lớp của vô minh để có thể chứng quả giác ngộ Bồ đề. Hơn nữa, tổ Long Thọ đă giảng: "trí tuệ Tánh Không chính là nền tảng của giải thoát giác ngộ". Đức Phật Thích Ca cũng đă vạch rơ vô minh qua giáo lư "Phật giáo Tứ ấn" (kinh Đại Bát Niết Bàn (37)) như sau:

1. Vô thường: nhất thiết pháp (hữu vi) vô thường (38),
2. Khổ: nhất thiết pháp (hữu lậu (39)) khổ năo,
3. Không: nhất thiết pháp không (tức vô ngă),
4. Niết Bàn tịch tĩnh: đoạn diệt phiền năo tức thị Niết Bàn tịch tĩnh.

Sau đó thày trả lời câu hỏi về vấn đề "hiện hữu (existence)" và "phi hữu (non-existence)" v́ có người đặt câu hỏi làm sao mà tin được là cơi thiên có thật. Tất cả các pháp (sự vật) hiện hữu trong 6 cơi được phân làm 3 loại như sau:

1. hiển hiện pháp (evident phenomena): là những sự vật hiển nhiên tồn tại, mắt thấy, tai nghe và c̣ thể tiếp cận sờ mó được,
2. phần tàng pháp (slightly hidden phenomena): là những sự vật bị che dấu một phần trong vũ trụ, không nh́n thấy được mà phải dùng lư luận hoặc khoa học để chứng minh sự tồn tại của nó, thí dụ như ḍng điện, từ trường,
3. tuyệt đối tàng pháp (absolutely hidden phenomena): là những sự vật hoàn toàn bị che dấu trong vũ trụ, không những không thể nh́n thấy mà c̣n không thể chứng minh sự hiện hữu của nó qua khoa học...

Do đó, cơi thiên tuy có thật, nhưng không thể dùng khoa học mà chứng minh sự tồn tại. Tuy nhiên, thày nhấn mạnh là đừng mất th́ giờ t́m cách chứng minh các pháp loại 3 có hiện hữu, bởi v́ điều đó không giúp ích thiết thực ǵ trong việc tu hành đạt đến giác ngộ của ḿnh. Nên tránh mất th́ giờ trong các chứng minh hư luận và hăy đặt trọng tâm lên những pháp môn hành tŕ thiết thực đưa ḿnh thăng tiến trên con đường đạo th́ hay hơn.

Sau buổi học tối hôm đó, tôi đi ăn ḿ tại tiệm Drasang, khi đến nơi th́ đă trễ, nhưng có hai vị sư vui ḷng ngồi nhích vào cho tôi chỗ. Ngồi xuống cạnh hai vị, tôi cám ơn và hỏi thăm đến từ tu viện nào th́ họ nói đến từ Gaden Shartse, cũng là nơi vị thày bổn sư của cả gia đ́nh tôi, Lati Rinpoche, trụ tŕ. Mừng quá tôi hỏi thăm hai vị, thày Lati Rinpoche có về Dharamsala không? Họ nói có và chỉ chỗ để tôi đến thăm th́ mới biết là thày tạm trú ngay tại nơi chùa chính, chỗ nghe pháp. Sau khi ăn xong, tôi đi về pḥng, nhưng cảm thấy như bị trúng lạnh. Cả ngày mưa dầm dề buốt giá khó chịu và tôi bị ho càng ngày càng nặng. Đang nghĩ cách mua đi thuốc ho để uống th́ may quá, tôi gặp thày Tenzin trước cửa pḥng và hỏi thày chỉ chỗ bán thuốc, rồi sau đó hành tŕ trước khi đi ngủ.

15. Ngày 26 tháng 2, 2008

Sáng sớm thức giậy, nh́n ra ngoài th́ thấy bầu trời vẫn âm u. Lại thêm một đêm mưa dầm dề. Rửa ráy xong, tôi ngồi vào thiền định như mọi sáng. Nhưng sáng nay th́ tôi cảm thấy lạnh quá. Hậu quả của những ngày ăn thiếu và nhiễm trùng cổ, ho và viêm xoang mũi. Trong người cảm thấy như không đủ năng lực. Lạnh và ẩm quá chừng cho nên tôi cứ bị sổ mũi liên miên trong t́nh trạng thiếu thốn năng lượng để chống đỡ. Tôi thầm nghĩ, thân ḿnh mà c̣n lo chưa xong, không chịu nổi khổ cực và khó khăn th́ c̣n mong ǵ cứu độ ai. Lo thân không xong, đói rét không kham nhẫn nổi! Con đường Bồ tát đạo quá rộng lớn, mà thân ḿnh th́ quá mong manh, quá quen thuộc với tiện nghi tập khí, đắm trong đời sống lợi dưỡng thân ḿnh...

Nh́n lại chư tăng, để vai trần, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng để vai trần mà đi, nguyên một bên tay không áo che. Nhưng chư vị vẫn thản nhiên vui vẻ và tu hành tinh tấn như không.

Vậy mới ngộ ra là tất cả đều do tâm, tâm nhiễm tập khí là chủ nhân ông, khó có thể điều phục, khó kham nhẫn. Lấy ǵ mà tinh tấn tu trên đường đạo?

Quả t́nh, lúc nào ḿnh cũng chỉ chăm chăm bo bo lo bồi dưỡng thân ngũ uẩn. Khổ th́ sinh bệnh, đói cũng sinh bệnh. Thân ḿnh là chủ, hành hạ ḿnh lên xuống chạy theo lo cung ứng cho các đ̣i hỏi của ngũ uẩn. Tứ đại th́ bất an v́ bàn tọa ê ẩm sau mấy ngày ngồi trên sàn xi măng lạnh lẽo nghe pháp trong mưa gió...

Không chịu thua, tôi quyết tâm tọa thiền, ngồi chú tâm chánh niệm, xả bỏ tất cả những đau đớn của thân thể và của bệnh tật. Thế là tôi lại hưởng được những giây phút an lành của thiền định, và cảm nhận ḷng tri ân sâu xa đối với chư tổ sư gịng truyền thừa đă ban cho những pháp môn hành tŕ thật là mầu nhiệm và an lạc.

Khi hành tŕ xong đi ra ngoài để đi nghe pháp, tôi ngạc nhiên vui thích khi thấy thời tiết đă thay đổi thật bất ngờ. Mặt trời ló dạng và chiếu muôn ngàn tia sáng thật đẹp. Mây âm u đă bay đi nhiều và chỉ c̣n lại một vài đám lưa thưa. Niềm vui tọa thiền được tăng trưởng thêm với ánh rực rỡ của buổi sáng đẹp trời.

Sáng nay, tôi lại nhận thấy có một sự trùng hợp khi Đức Đạt Lai Lạt Ma không giảng thẳng vào kinh Hiền Ngu, mà lại bắt đầu bằng chính bài giảng về chánh niệm. Ngài nhắc lại phần giảng kinh Pháp cú mấy ngày trước rằng chính nhờ chánh niệm (mind consciousness) và cảnh giác (alertness) mà hành giả đạt đến giác ngộ, ngài sách tấn chúng ta hăy hoan hỷ tinh tấn hành tŕ ǵn giữ hai phương pháp thiền định quư giá đó và nhận chân tất cả các khoái cảm cũng như đau đớn đều xuất phát từ duyên khởi. Do nhân duyên này mà ta thọ nhận thứ này, do nhân duyên kia mà ta thọ báo thứ kia. V́ thế mà hăy luôn luôn cảnh giác và chánh niệm ǵn giữ để tâm thức ḿnh không khởi lên phiền năo trong mọi hoàn cảnh. Khi phiền năo đoạn diệt th́ chứng giác ngộ. Hăy tiêu trừ tâm tập khí bất trị và đoạn diệt phiền năo.

Tôi nghe những lời pháp này mà thấy như luồng nước cam lồ tuôn chảy trong thân. Chẳng phải là sáng nay tôi vừa mới trải qua một trường tranh đấu với thân tâm bất trị sao? Quả là mầu nhiệm khi mỗi bài pháp ngài ban cho chính là những hành tŕ từng ngày. Nhật tân nhật nhật tân, hựu nhật tân, mỗi ngày ngài lại ban cho một bài pháp khuyến tu, khế hợp với sự hành tŕ…

Ngài giảng, như khi giặt sạch quần áo, có những vết bẩn thô, dễ gột sạch, cũng có những vết bẩn vi tế khó tẩy trừ. Các lậu hoặc trong tâm cũng phân làm hai loại, thô và vi tế:

1. nghiệp bất thiện: là những lậu hoặc thô
2. đắm nhiễm luân hồi: vi tế hơn, v́ phải xả bỏ tất cả các dục lạc trong sáu cơi, ngay cả hỷ lạc của các từng trời cao nhất cũng phải xả bỏ.

Chính là nhờ thiền định mà có thể chuyển hóa tâm thức, qua phương pháp chánh niệm và cảnh giác, mà thuần hóa các tập khí bất trị trong tâm.

Ngài nhấn mạnh thêm: ngoài ra, tinh tấn huân tập và thiền quán khởi sinh tâm thiện không phải chỉ là ngồi yên thiền định, mà chính là sự ǵn giữ chánh niệm và cảnh giác tâm thức trong suốt mọi thời. Như thế mới chứng đắc giác ngộ. Trăm năm qua đi như bóng câu qua cửa sổ, thế mà tất cả mọi tranh chấp trên thế giới đều gây ra từ những con người với mạng sống trăm năm đó, thật là phi lư.

Sau đó, ngài giảng tiếp qua phần hôm trước phẩm 16 - Ấu thuần điểu, cho đến phẩm 21 – Truyện Bồ tát Kuddhabodhi. Đặc biệt, phẩm 19 – Liên hoa căn (Lotus roots) kể một câu chuyện cực kỳ cảm động và đă làm tôi rơi nước mắt. Khi ngài giảng đến đoạn vị tu sĩ khổ hạnh trải qua ngày thứ năm không có thức ăn và chỉ c̣n da bọc xương mà vẫn an vui và từ bi với mọi người th́ tôi cảm động quá và chảy nước mắt nghẹn ngào…

Sau đó là giờ nghỉ trưa, đặc biệt, hôm nay, chư tăng mang những thùng canh lớn và bánh ḿ phát cho mọi người ở lại không ra ngoài được. Có lẽ đức Đạt Lai Lạt Ma thấy t́nh cảnh khó khăn của Phật tử nghe pháp mà không ra ngoài ăn trưa được nên phân phát chút thức ăn. Tôi cũng xin được chén canh cải bắp chay và miếng bánh ḿ ăn đỡ đói.

Buổi chiều, đức Đạt Lai Lạt Ma giảng sang phẩm 22 – Nga điểu vương, cho đến hết phẩm 23 - Đại Bồ Đề Hiền giả. Phẩm 23 này là một câu chuyện thật hay và có ư nghĩa cực kỳ thâm sâu. Vị hiền giả Đại Bồ Đề đă sử dụng biện chứng pháp để thuyết giảng những tư tưởng về nhân quả và phá tà hiển chánh của Phật giáo một cách thật là cao diệu.

Sau đó đức Đạt Lai Lạt Ma dặn ḍ đôi điều về Lễ Quán Đảnh Thập Lục Tổ Kadampa trong ba ngày 27, 28 và 29 vào buổi chiều. Ba ngày đó sẽ không có thuyết giảng trong buổi sáng v́ đức Đạt Lai Lạt Ma cần phải cầu nguyện và sửa soạn cho Lễ Quán Đảnh.

Hôm nay, trong buổi học ôn giảng, v́ có nhiều câu hỏi liên hệ đến Lễ Quán Đảnh Thập Lục Tổ Kadampa (40) cho nên thày Tamdul bắt đầu buổi học bằng lời giải thích những tiêu chuẩn cho phép một Phật tử thọ lễ này. Tóm lại, thày khuyên nên xét kỹ trước khi quyết định xin thọ lễ hay không, như sau :

1. Vị nào mới đi vào theo mật tông hay tương đối mới làm quen với tông phái không nên thọ lễ bởi v́ thọ lễ này là một hành động khá quan trọng, cần phải suy xét kỹ lưỡng và không nên thọ lễ bừa băi. Nếu chỉ v́ thấy đức Đạt Lai Lạt Ma quá siêu phàm, và chỉ v́ ưa thích nhân cách của ngài mà thọ lễ ngày mai, rồi sau đó về nhà và quên khuấy đi, hoặc không c̣n ưa thích nữa th́ không nên chút nào. Điều nên nhớ, khi quư vị đi nghe pháp th́ đức Đạt Lai Lạt Ma chưa phải là đức bổn sư, nhưng khi đă thọ lễ quán đảnh th́ vị thày ban lễ sẽ trở thành đức bổn sư chính thức của quư vị. Mối liên hệ "bổn sư-đệ tử" cần phải ǵn giữ cho tuyệt đối thanh tịnh và tôn kính, nếu không th́ sẽ tạo nghiệp xấu.
2. Quư vị nào hành tŕ Shudgen Dorje không nên dự lễ này.
3. Quư vị nào muốn thọ lễ phải t́m học kỹ càng hai đề mục "Ba nguyên tắc của đạo lộ" và "Tứ diệu đế".
4. Sau khi thọ lễ th́ phải hành tŕ mỗi ngày:

• Lục thời du già quán tụng (tối thiểu là bản rút ngắn)
• Bồ tát giới
• Mật tông giới.

Rồi thày Tamdul ôn lại "Phật giáo Tứ ấn" (trang 50), và giải thích rơ thêm hai ấn đầu như sau:

Ấn thứ nhất, pháp hữu vi là vô thường, bởi v́ hữu vi nghĩa là giả hợp từ nhân duyên. Do đó sinh diệt, và sinh diệt th́ vô thường. Sinh diệt th́ chuyển biến từng sát na, thân hiện tại này chính là thân của sát na ngay trước đó, mỗi mỗi sát na đều già cỗi đi, để cuối cùng đi vào nghĩa địa (hủy diệt theo nghĩa thế gian). Pháp hữu vi không những bao gồm các sự vật, mà c̣n bao gồm cả tâm thức. Cũng y như vậy, tâm thức sinh diệt vô thường. Tâm ngày hôm nay là tâm của 24 giờ trong ngày, là tổng hợp của tâm mỗi giây phút. Rồi đi sâu hơn nữa th́ tâm hiện tại này chính là tâm của sát na ngay trước đó. Tâm sau chẳng thể có nếu tâm trườc chưa sinh, niệm niệm sinh khởi, sát na sinh diệt. Do đó, thân và tâm đều sinh diệt vô thường.

Ấn thứ hai, pháp hữu lậu là khổ, v́ hữu lậu nghĩa là ḍ rỉ, chỉ cho tâm phiền năo khởi sinh, mà có phiền năo tức là có khổ. Phiền năo phá hoại đê điều chánh niệm bảo vệ thân tâm và tổn hại thiện căn. Tỷ dụ như khi phiền năo khởi sinh th́ đang ăn miếng ngon cũng không c̣n thấy ngon v́ phiền năo che lấp tất cả. Cả tâm chấp trước cũng là hữu lậu, chấp vào vật th́ sinh tham ái và phóng đại sự vật qua ḷng tham ái.

Sự liên hệ của hai ấn đầu tiên là: 1. ta luôn luôn chuyển biến về một chỗ nào đó (41) mà v́ vô minh, ta mù mờ không nhận thức rơ, 2. ta bị kiềm chế bởi phiền năo, và luôn luôn chạy đuổi theo tâm vô minh này. Do đó mà ta luôn luôn chuyển biến (theo ấn thứ nhất).

Để thí dụ cho dễ hiểu sự vô minh mù mờ về sinh diệt chuyển biến của ta, thày Tamdul kể câu chuyện. Như khi đi xa nhà 10 năm, quay trở về, nh́n trước sân thấy cây táo cao lớn mọc xum xuê xinh đẹp, ta kinh ngạc và vô t́nh cảm thấy cây đột nhiên hiện hữu! Nhưng đó là sai lầm của tâm thức trong ta, cây không phải đột nhiên mà có, chỉ v́ 10 năm đă qua, mà ta không chánh niệm đó thôi. Nh́n lại, ta thấy đời người đi rất nhanh như bóng câu, càng ngày ta càng đi đến gần về sự chết, điều đó làm tâm ta sợ hăi. Trong đời sống bận rộn miệt mài bận bịu, làm cho chúng ta thường quên lăng đi, không có chút chánh niệm nào, ngay cả với hơi thở của ḿnh.

Nghe thày giảng về sự vô minh mù mờ đến đây, tôi chợt nhớ lại câu chuyện thiền tông sau:

Một hôm, Bá Trượng Hoài Hải đi hầu sau Mă Tổ Đạo Nhất. Thấy một bầy vịt trời bay ngang qua đầu, Mă Tổ hỏi Bá Trượng:

-Đó là cái ǵ?
Bá Trượng thưa:
-Đàn vịt trời.
-Bay đi đâu?
-Bay ngang qua.
Mă Tổ bèn nắm lỗ mũi Bá Trượng kéo mạnh, khiến Bá Trượng kêu thất thanh.
Mă Tổ bảo:
-Lại nói bay qua đi.
Ngay câu đó, Bá Trượng tỉnh ngộ.

Sau khi học lớp ôn giảng xong, tôi đi ra ngoài ăn một chút rồi quay lại chùa chính đi hỏi thăm t́m pḥng của thày Lati Rinpoche để đến thăm. Chư tăng cũng không rành lắm cho nên cứ chỉ lung tung, và tôi gơ tới pḥng thứ năm mới đúng là pḥng của thày Lati Rinpoche. Hai vị đệ tử ra mở cửa và nói tôi vào ngồi chờ một lúc ngắn th́ thày Ngawang xuất hiện. Thày nh́n tôi một vài giây và nhớ ra, v́ tướng mạo tôi bây giờ đă thay đổi nhiều, nhưng tôi vẫn quỳ xuống đảnh lễ và thưa con là Sonam Nyima đây.

Thày Ngawang kéo tôi đứng lên. Mấy năm rồi mà thày vẫn y như xưa, chỉ có tôi là già đi nhiều. Thày mừng rỡ ôm lấy tôi dẫn vào bên pḥng trong, bảo tôi ngồi trên giường chờ thày lo vài chuyện đang dở dang với vị Phật tử đến trước. Chỉ một chút sau, thày Ngawang trở lại và dẫn tôi vào vấn an ngài Lati Rinpoche. Tôi vào pḥng thày Lati Rinpoche và đảnh lễ dâng khăn. Thày Lati Rinpoche đưa hai tay ôm lầy đầu tôi và ban phép lành hộ tŕ rất lâu và sau đó ban cho sợi giây hộ tŕ màu đỏ để đeo vào cổ. Xong ngài hỏi thăm tôi và gia đ́nh qua sự thông dịch của thày Ngawang. Trước khi ra ngoài để nghe pháp buổi chiều, tôi thưa thày Ngawang xin cúng dường, nhưng thày Ngawang ngăn lại, nói là con cần tiền tiêu trong những ngày ở đây học đạo. Tôi năn nỉ thày, thưa là gặp được Lati Rinpoche rất khó khăn, mà con ở đây chẳng tiêu được ǵ, mỗi ngày ăn một bữa thôi mà tiệm ăn th́ rất rẻ, cho nên con chẳng tiêu dùng ǵ được và cho con cúng dường. Sau cùng Lati Rinpoche hoan hỷ nhận lời và tôi đi về chỗ ngồi để nghỉ ngơi một chút trước khi buổi thuyết pháp bắt đầu. Thày Ngawang dặn ḍ tôi là từ hôm nay, mỗi tối hăy ghé qua dùng cơm tôi vời thày. Tôi thưa vâng.

Trên đường đi về pḥng, tôi thấy trong ḷng vô cùng mừng rỡ v́ được gặp thày Lati Rinpoche và lúc nào cũng được thọ nhận từ chư vị một t́nh thày tṛ tràn ngập thương yêu và từ bi.

16. Ngày 27, 28 và 29 tháng 2, 2008

Ba ngày này, đức Đạt Lai Lạt Ma ban lễ quán đảnh Thập Lục Tổ Kadampa. V́ là pháp môn mật tông cho nên tôi không được phép phổ biến ra ngoài. Mặc dù sáng sáng, tôi vẫn thiền tọa và hành tŕ, cũng như quán tưởng theo những buổi thọ lễ quán đảnh và lời dạy của ngài.

Duy trong những buổi thiền toạ sáng sớm, tôi vẫn tiếp tục nhận thức và quán chiếu rơ ràng về đề tài thân như bọt huyễn.

Khi ở trong hoàn cảnh khó khăn, nơi xa lạ, tôi mới thấy ra sự bất lực và vô dụng của ḿnh, không làm được ǵ giúp cho thày của ḿnh mà ngược lại, chư tăng c̣n phải lo cho ḿnh, như mỗi sáng thày ban cho nước sôi để pha trà hay cà phê, ban cho ít bánh và mứt gừng để trị ho. Thân ḿnh, cứ ngỡ là cúng rắn lắm, thế mà chỉ v́ không quen thủy thổ, không đủ tiện nghi mà sinh bệnh nhiễm trùng. Ho liên miên không dứt. Lại thêm đói lạnh. Thân mong manh như bọt bèo, khó kiếm mà dễ mất. Thày Ngawang có dạy tôi là: "Con về đây tu học sẽ tốt cho con rất nhiều để thấy ra là con ở Canada rất là sướng". Quả là như thế, tôi tỉnh ngộ ra rất nhiều. Ở Canada sung sướng hơn là thế mà tâm phiền năo vẫn không dứt được.

Sáng hôm đó, tôi ra ngoài và t́m ra được nhà thuốc tây, mua được thuốc trụ sinh Cipro trị mọi loại vi trùng và uống. Mấy ngày nay, trời rất đẹp và ấm áp trở lại, làm tôi như được hồi sinh, bớt lạnh hơn nên tôi có thể tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày. Xong, tôi đi mua quưt tươi và to mang đến cúng dường thày Khen Rinpoche, v́ sáng nay được nghỉ không có thuyết pháp. Đến nơi, thày vui mừng kéo tôi vào nghe nói chuyện v́ mấy hôm nay tôi mải lo đi nghe pháp và học ôn giảng nên không gặp ngài nhiều. Ngài khuyên tôi nên nghỉ ngơi. Sau đó, bóc quưt ăn, ngài tư lự kể lại chuyện đời của ngài, tại sao lại thích ăn quưt:

Vào những năm đầu tiên khi đức Đạt Lai Lạt Ma và chư tăng bỏ trốn qua Ấn tỵ nạn Trung cộng, chính phủ Ấn đưa toàn thể cộng đồng Tây tạng về Bengali tạm trú. Thời trước đó, Bengali là một xứ do thực dân Anh cai trị. Để chấn chỉnh và giữ an ninh, thực dân Anh quốc đă cho xây một trại tù rộng lớn đến hàng cây số. Sau khi thực dân trả tự do cho Ấn độ th́ trại tù đó đă được giải tỏa. Chính phủ Ấn thoạt đầu không biết làm sao giải quyết vấn đề tỵ nạn Tây tạng, bèn tách rời chính phủ lưu vong và đức Đạt Lai Lạt Ma ra riêng, c̣n cộng đồng dân Tây tạng, phần lớn là chư tăng th́ đưa về trại tù Bengali, sửa chữa tạm bợ thành trại tỵ nạn để cho họ ở.

Thày im lặng một lúc như để tưởng nhớ, và tiếp tục.

Con biết không, lúc đó rất là khổ cực v́ bị nhốt trong một trại lớn, bao quanh bởi tường cao bằng hàng rào kẽm gai và không được phép đi đâu ra ngoài ṿng trại tỵ nạn đó. Bốn góc thành và rải rác là các trạm canh cao, trên đó có lính đeo súng gác. Chính phủ Ấn mang đến đồ ăn cho chư tăng mỗi ngày. Trong vùng Bengali đó, đặc biệt là, cây quưt mọc lên tự nhiên rất nhiều ở mọi nơi và có những trái rất lớn, tươi ngon. Sống trong trại tỵ nạn như thế, chư tăng không thể làm ǵ được ngoài cầu nguyện hành tŕ, và khi rảnh rỗi thường hái trái quưt về ăn. Cho nên khi con mang quưt đến cúng dường, thày lại nhớ lại thời xa xưa khổ cực đó… Tôi mủi ḷng, ngồi im lặng một lúc.

Thày lại nói tiếp. Con biết không, ngay góc của trại tỵ nạn là một cái tháp, trong đó dựng máy chém đầu tù nhân. Thực dân Anh đă mang không biết bao nhiêu người Ấn, tốt cũng có, xấu cũng có, cả những nhà đấu tranh chống thực dân Anh ra đó xử trảm. Oan hồn ban đêm thường hiện ra than khóc và làm mọi người sợ hăi. Chư tăng ở trong trại cũng rảnh rỗi bèn họp nhau lại, lập đàn tràng làm lễ cầu siêu cho các oan hồn uổng tử nên sau đó không c̣n bị cảnh oan hồn hiện ra trong đêm…

Tôi xúc động khi nghe thày kể chuyện đời xưa, cũng nhờ tôi hay để ư thương thày, mang cúng dường những món thày thích nên hôm nay được nghe tự ngài kể chuyện đời xưa một cách sống động.

Chiều hôm 28 tháng 2, khi tôi đi dự lễ quán đảnh về, khi đến lầu 3, sắp vào pḥng th́ thấy một số người Việt nam đứng tụ họp gần trước của pḥng, dường như chờ đợi để vào thăm Khen Rinpoche. Trong đó có một vị sư cô mặc áo vạt ḥ ngắn, có vẻ lớn tuổi, vẻ mặt rất hiền từ. Tôi cũng không quen biết ai trong nhóm đó, trừ cô Phật tử ngồi trước chỗ ngồi nghe pháp của tôi, th́ cũng chỉ biết qua những buổi nghe pháp. Cô thấy tôi đi vào pḥng, cạnh pḥng thày Khen Rinpoche bèn hỏi xin mượn pḥng tôi nghỉ ngơi tránh nắng và sử dụng nhà tắm. Tôi hoan hỷ chắp tay và xin họ chờ giây phút để vào dọn dẹp pḥng một chút, trước khi thỉnh họ vào v́ trong nhóm có một sư cô.

Khi ra ngoài thỉnh họ vào th́ sư cô cảm ơn và nói là không dám làm phiền. Tôi bèn quay vào pḥng mang quưt và nước uống mời họ giải khát. Sau này, tôi mới được người bạn đạo ở Paris, cùng là tác giả chuyển dịch nhiều cuốn kinh sách chung với nhau cho biết, vị sư cô nghiêm trang và hiền từ đó chính là má nuôi của vị bạn đạo đó, gọi tên thân mật là má Đều. Má Đều (vị sư cô đó) là một vị khá đặc biệt, v́ ngoài tính t́nh nghiêm trang hiền từ, c̣n rất là mộ đạo, năm nào cũng đi Ấn hành hương, dù nghèo và có khi phải mượn tiền để đi hành hương cúng dường chư tăng. Trong 10 ngày qua, má Đều đi nghe pháp đầy đủ, từ sáng đến chiều và cũng phải nhịn ăn như tôi, mà má vẫn an nhiên vui vẻ dù toàn bộ 10 ngày không hề có thông dịch Việt ngữ hay Pháp ngữ để má có thể nghe hiểu (v́ má ở bên Pháp). Khi tôi nghe chuyện đó, tôi cảm thấy thật là cảm phục má, 10 ngày ngồi chen chúc, từ sáng đến chiều mà không có thông dịch! Tôi cảm phục ḷng nhẫn nại vô biên của má quá. Đặc biệt má c̣n nói, 10 ngày má sung sướng được an trú trong Pháp nhũ. Quả là một vị sư cô khác thường. Tôi rất lấy làm tiếc là đă không biết má trong khi ở đó và hy vọng là nhật kư này sẽ đến tay má để ít nhiều có thể tóm lại những ư chính của 10 ngày thuyết pháp làm quà cho má. Đường nhập vào cửa đạo có hai: hạnh nhập hoặc lư nhập. Tôi th́ có thói quen đi nghe pháp, học đạo, do đó theo lư nhập trước, rồi phát triển hạnh nhập sau, c̣n má Đều th́ chọn con đường hạnh nhập là chính yếu. Tôi thầm nghĩ là con đường hạnh nhập thực là hay và cao cả.

(c̣n tiếp phần 5: Tu học tại Dharamsala (tiếp theo và hết))

 

Không Quán
23 april 2008.


Chú thích:

17. Sống đời phạm hạnh nghĩa là sống không có liên hệ ái dục, không có gia đ́nh vợ con. Cắt ái từ sở thân nghỉa là ĺa bỏ ái dục, v́ ái dục khuấy động tâm.
18. Direct insight of the true nature.
19. Sống đời biết đủ, tâm thường định. Người đạt vô cầu, phẩm cách cao.
20. "Conditio sine qua non": (a condition) without which it could not be.
21. T́m xem bài viết Khổ đau và hạnh phúc - phần 3, của cùng tác giả Không Quán.
22. Roti: tiếng Hindi, một loại bánh ḿ rất thông dụng của Ấn độ.
23. Quyền giáo: expedient (temporary) teachings, thật giáo: true (ultimate) teachings. (expedient: suitable for achieving a particular end in a given circumstance).
24. Non-abiding Nirvana. 25. Duality. 26. Non-dual.
27. Câu này trích ra từ kinh Kim Cang: đức Phật thuyết giảng cách hàng phục tâm và an trụ tâm, đạt đến trạng thái xả ly, không c̣n vướng mắc, chấp trước vào bất kỳ cái ǵ, xả ly ngay cả các thành tựu, ngay cả Phật quả. Trong kinh này, đức Phật đă sử dụng biện chứng pháp “phủ định trên phủ định” để phá bỏ toàn bộ mọi tâm chấp trước khái niệm, ngay cả chấp trước vào trong cái mà ḿnh vừa mới phủ định. Trong kinh, có những đoạn như thế "Trang nghiêm cơi Phật tức không phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm". Cách "phủ định trên phủ định" nhằm để phá bỏ toàn bộ tâm chấp ngă qua khái niệm: “cái tôi, của tôi và cái thấy về cái tôi” của các hành giả. Nhờ phá bỏ toàn diện các tâm khái niệm chấp trước về bản ngă mà các hàng Bồ-tát mới hàng phục được tâm và an trụ tâm trong “vô sở trụ”. Toàn bộ kinh được tiêu biểu bằng câu: “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, hán ngữ
應無所住而生其心”, đó là điểm then chốt của kinh này.
28. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 1- phần Bảy chỗ gạn hỏi t́m tâm
29. Mental fabication, imputation of the mind. 30. Bỉ dụ nghĩa là so sánh. 31. Hổ mẫu - tigress.
32. Biến kế, (mental fabrication) như khi đi ban đêm, nh́n cuộn giây mà tưởng là con rắn.
33. Trích từ cuốn sách: “Phật và Thánh chúng”, tác giả là Cao Hữu Đính.
34. Câu 101-104, Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều.
35. Ấu thuần điểu: chim cút con.
36. The 16 drops of Kadampa.
37. Mahaparinirvana sutra.
38. Pháp hữu vi, anh ngữ là compound phenomena, cũng là composite things.
39. Pháp hữu lậu, anh ngữ là contaminated phenomena, cũng là contaminated things.
40. Đây là đại lễ quán đảnh, (tạng ngữ gọi là wang), chứ không phải tiểu lễ quán đảnh (tạng ngữ là tchenang). Nhưng đại lễ quán đảnh này không có ban mật pháp hành tŕ (saddhana Trung Hoa dịch là nghi quỹ), chỉ có ban hứa nguyện hành tŕ, (tạng ngữ là damtsig, phạn ngữ là samaya), xem lời khuyên, phần 4 ở bên trên.
41. Thí dụ như nghĩa địa.

 

 

Phần 5: Tu học tại Dharamsala (tiếp theo và hết)

 

Tối hôm đó, khi đến dùng cơm chung với thày Ngawang, bệnh ho của tôi có vẻ bớt đi. Thày Ngawang vui vẻ hỏi thăm tại sao tôi lại cạo đầu. Tôi kể lại căn bệnh của tôi, phải đi chữa bệnh bằng tia cực tím. Thày căn dặn tôi kỹ càng về nghiệp, khi các chướng ngại đă trổ ra th́ sẽ khó khăn như thế nào. Và dẫn tôi qua thăm ngài Lati Rinpoche, hỏi ngài về bệnh của tôi cũng như về gia đ́nh tôi. Lati Rinpoche dặn tôi là kể từ hôm nay cho đến khi về, phải đi cúng dường đèn mỗi ngày. Thày Ngawang theo lời ngài, dẫn tôi đến tận tôn tượng linh thiêng thờ đức Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhăn và chỉ cách cho tôi cúng dường đèn bơ, dâng khăn trắng với vị thày hương đăng, và hồi hướng. Tự nhiên, ḷng tôi khởi lên tín tâm sâu xa mạnh mẽ vào sự hành tŕ hồi hướng. Kể từ đó, mỗi ngày c̣n ở lại Dharamsala, tôi đều đi đến cúng dường đèn bơ và hồi hướng cho tất cả, thân nhân, bạn bè quyến thuộc được mọi sự an lành, tai qua nạn khỏi và nhất là tiêu trừ bệnh tật, khoẻ mạnh an vui trong đời sống và an hưởng đạo pháp. Ngày hôm đó, tôi cũng được thày Ngawang giới thiệu với một vị tăng trẻ rất giỏi, geshe Jangchup Choden, rất thông thạo Anh ngữ và cũng là người thường hay viết thư tiếng Anh cho thày Ngawang để gửi đi Montreal cho tôi.

Ngày 29 tháng 2, thày geshe Norbu dẫn phái đoàn đi hành hương khắp nơi đă trở về Dharamsala, nhiều vị trong phái đoàn có vẻ gầy đi và tiều tụy, có lẽ v́ bệnh hoạn và những khó nhọc trong chuyến đi, nhưng ai cũng vui vẻ và chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi nhau tíu tít.

17. Ngày 1 và 2 tháng 3, 2008

Hôm qua, 29 tháng 2, Đức Đạt Lai Lạt Ma đă hoàn thành lễ quán đảnh Thập Lục Tổ Kadampa. Từ 8.30 sáng ngày mùng 1 tháng 3, ngài tiếp tục giảng thêm về kinh Hiền Ngu, phẩm 24 – Đại Hầu Bồ tát, cho đến phẩm 31 – Trác mộc điểu (42) truyện.

Đến trưa, ngài tuyên bố khóa thuyết giảng 10 ngày Đại Lễ Cầu Nguyện (Monlam Chenmo (43)) đă hoàn tất.

Chiều hôm đó, phái đoàn chúng tôi được phép vào tư dinh của đức Đạt Lai Lạt Ma để diện kiến ngài và chụp h́nh. Tuy buổi diện kiến rất ngắn v́ ngài phải gặp nhiều phái đoàn khác, nhưng tôi vô cùng xúc động khi đứng bên ngài chụp h́nh chung với phái đoàn, và ngài nh́n tôi, nói: "Ta c̣n nhớ con … (I remember you)", khi tôi thưa với ngài về lần gặp ngài vừa qua ở Ottawa.

Ngày mùng 1 tháng ba, geshe Norbu mướn xe buưt lớn đưa phái đoàn đi thăm Norbulingka rất vui vẻ, và tôi cũng xin đi theo. Norbulingka là nhà nghỉ mát của đức Đạt Lai Lạt Ma, nơi ngài thường về trong những kỳ nghỉ hè. Tại đó chúng tôi được vào xem một Bảo tàng viện rất đẹp, có những cảnh làm bằng những tượng nặn nhỏ xíu, tái tạo các hoạt động tại Dharamsala thời xưa, cũng như là các sự tích lớn như là sự tích của tổ Milarepa. Trên đường về, chúng tôi ghé thăm Thượng Mật Viện (44), nơi ngài Karmapa đời thứ 17 đang trú tŕ.


H́nh 10: Norbulingka, nhà nghỉ mát của Đức Đạt Lai Lạt Ma.


H́nh 11: Bảo tàng viện Norbulingka - Tượng Tổ Milarepa trong hang đá.


H́nh 12: Thượng Mật Viện (Gyuto Tantric College), nơi đức Karmapa đời thứ 17 đang trú tŕ.

Trên đường về, một chị đạo hữu tự nhiên đến trước mặt tôi, lấy tay để trên trán tôi và sau đó đặt lên trán chị. Tôi ngạc nhiên hỏi chị làm ǵ thế, th́ chị cười và nói, làm thế để xin anh chuyển bớt một ít trí tuệ sang đầu tôi đấy mà. Tôi bật cười nói, từ khai thiên lập địa đến giờ làm ǵ có ai học được cho ai. Trí tuệ là tự ḿnh đi học thôi, ngay cả đức Thích Ca ngày xưa cũng đă nói: hăy tự đốt đuốc lên mà đi! Chị đạo hữu vẫn cười vui vẻ nói là chẳng sao, xin của anh một ít trí thông minh. Tôi cũng cười quá, và rất vui, mọi người thật là hồn nhiên.

Tối hôm đó, tôi ghé đến pḥng thày Lati Rinpoche để ăn tối cùng thày Ngawang, sau đó giă từ ngài, thày Ngawang và hai vị đệ tử. Thày Lati Rinpoche lại ôm đầu tôi ban phép lành hộ tŕ rất lâu, tặng cho tôi vài món quà mang về Montreal và dặn ḍ đôi điều. Sau đó tôi bịn rịn giă từ thày Ngawang để đi vế pḥng hành tŕ và đi ngủ v́ ngày hôm sau, chúng tôi sẽ rời Dharamsala để lấy xe lửa đi về New Delhi, rồi bay về Montreal.

Sáng ngày 2 tháng 3, khi tôi ngồi tọa thiền và nh́n lại, thấy trong ḷng cảm nhận sâu xa lư vô thường. Chuyến tu học hành hương này đă gần như hoàn tất trong ṿng một tháng. Toàn bộ chuyến đi, rút cục tôi cảm nhận rơ ràng, chính yếu là cúng dường. Cúng dường liên miên. Tu tập đạt giác ngộ cần ba đại a tăng kỳ kiếp. Đại a tăng kỳ kiếp đầu tiên là đạo lộ Tích tụ, cho nên cúng dường…để tích tụ công đức.

Tôi lại khởi lên trong tâm lời kinh của Lễ Cúng dường đức Bổn sư, phần Bố thí ba la mật:

Chúng con xin được hộ tŕ của đức Bổn Sư để thành tựu hạnh bố thí ba la mật
Nhờ ngài chỉ dạy cách tăng trưởng tâm bố thí mà không dính mắc
Chính là chuyển hóa thân, tài vật và công đức của chúng con qua ba đời
Thành những thức ước muốn của mỗi chúng sinh hữu t́nh.

Chiều ngày 3 tháng 3, lúc 2 giờ chiều, chúng tôi lấy xe buưt lớn để đi đến trạm xe lửa Chakki Bank. Chuyến đi mất hơn 3 giờ. Tối hôm đó, chúng tôi ngủ trên xe lửa, và sáng hôm sau, trở lại New Delhi vào lúc 9.30 sáng ngày 4 tháng 3. Ngày hôm sau, mùng 5 tháng 3, chúng tôi lấy taxi ra phi trường New Delhi lúc 11 giờ đêm để lấy máy bay về Canada.

18. Lời kết

Khi về Montreal, một người bạn da trắng hỏi tôi, bạn đi cực khổ như vậy, rồi bạn rút ra được bài học ǵ? Tôi trả lời, bài học lớn rút ra được là, chẳng có cái ǵ mà có thể gọi là của tôi. Anh bạn ngẩn ra, có vẻ không hiểu. Tôi cười và nh́n anh bạn, nơi cổ tay anh đang đeo cái đồng hồ Omega rất đắt tiền và đẹp. Tôi nhẩn nha nói:

Này nhé, anh nh́n xem, tay anh đang đeo cái đồng hồ thật đẹp, anh mua bao nhiêu? Anh nói là khoảng 800 đô la. Tôi tiếp, thế anh mua bằng tiền ở đâu. Trả lời, tôi đi làm kỹ sư và tiền lương của tôi có đủ để mua. Tôi lại cười, đây nhé anh suy nghĩ lại đi, số tiền đó một người kỹ sư như anh, làm việc cực khổ bên Ấn, không thể để dành dễ dàng mà mua, mặc dù anh ta làm việc cực hơn anh gấp mấy lần. Vậy có phải là, nhờ anh may mắn có đủ nhân duyên sinh ra bên này, cho nên dư tiền, ăn mặc sung sướng, dùng đồ đạc sang trọng thượng hạng. Đâu phải là thực sự do ḿnh làm ra, đó chỉ là nghiệp đưa anh sinh ra trong một nước giàu và được hưởng an lành sung sướng chứ đâu phải nhờ anh có tài năng ǵ hơn những người bên xứ nghèo. Chưa kể nhà nông bên đó, làm việc lao động cực khổ suốt đời mà không đủ ăn, đừng nói mua cái đồng hồ Omega, mà cơm gạo th́ bán qua đây cho ḿnh ăn xài dư dả, ḿnh mua bằng đô la sức lao động mồ hôi nước mắt của họ với giá rẻ mạt. Vậy nên dư tiền mua được đồng hồ xa hoa này để đeo, rồi ḿnh tự cho là của ḿnh, do ḿnh làm ra mua được, không biết là thực ra, chẳng phải tự do bản thân ḿnh mà có được. Vậy th́, cái ǵ là của ḿnh? hay là phải chăng, ḿnh có được những thứ xa hoa đó từ những người nghèo khổ.

Anh bạn tôi lại ngẩn người ra một lúc, xong rồi bảo tôi, cuộc bàn luận này có nhiều ư nghĩa thâm sâu trong đó quá…Tôi cười và bắt tay thật chặt với anh chàng.

Về Montreal cho đến cả tuần sau, tôi thầm nghĩ là tuy đă ngộ nhiều điều trong chuyến đi kỳ diệu này, nhưng ngộ mới chỉ là vào cửa đạo. Tỷ như, ngộ về phạm hạnh, đâu phải đă sống ngay được đời phạm hạnh. Chư tổ đă từng nói, đốn ngộ, tiệm tu. Ngộ th́ chớp nhoáng, nhưng từ đó mới sắp xếp để tu, tu cũng như là bóc hành, bóc từng lớp nội kết ra mà vứt bỏ, cho nên phải tiệm tu. Tôi nhớ đến bài viết về giới thể của thày Nhất Chân rất hay mà tôi đă từng đọc, thày giảng là đă có giới thể rồi th́ sớm muộn ǵ cũng đạt đến giải thoát. Tôi mang điều này áp dụng vào ngộ, thấy cũng tương tợ như thế, ngộ sẽ trở thành khuôn khổ dẫn dắt đi đến hành tŕ đạt đến điều ngộ ra. Như người đi trong đêm thấy ra ánh sáng, như người đi rừng thấy ra con đường, không c̣n lơ mơ bất định. Chỉ c̣n đi theo con đường, theo ánh sáng mà ra khỏi tăm tối.

Mà muốn thế th́ phải tích tụ cho đủ các hành tŕ trí tuệ và công đức, là nhị tư lương.

Trong Bảo hành vương chính luận (45), tổ Long Thọ đă viết trong câu kệ số 213:

Hai tư lương là nhân
Đạt Phật quả Bồ Đề
Vậy, tóm lại, hăy luôn,
Hành tŕ tích tư lương,
Công đức và trí tuệ.

 

Đầu xuân, tháng tư Phật đản 2008

 

Không Quán
28 april 2008.


Chú thích:


42. Chim gơ kiến.
43. Monlam Chenmo, anh ngữ là The Great Prayer Festival.
44. Gyuto Tantric College.
45. Bảo hành vương chính luận, bản dịch chuẩn bị cho pháp hội thuyết giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Nantes tháng 8, 2008. Việt ngữ do Sonam Nyima Chân Giác và Diệu Hạnh Giao Trinh biên soạn, phối hợp với các từ ngữ dùng trong bản dịch Hán văn của Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Daisho Tripitaka).

 

            Minh-Quang posted May 23, 2009

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]