Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

NHÀ SƯ VƯỚNG LỤY

hay là TRUYỆN CON HỒNG NHẠN LƯU LY

THE LONE SWAN 
(Đoạn Hồng Linh Nhạn Kư 
)

Tác giả: TÔ MẠN THÙ (Su Manshu)

Bản dịch: BÙI GIÁNG

 

 

---o0o---

Phần 1

VÀI LỜI GIỚI THIỆU VỀ TÁC PHẨM VÀ TÁC GIẢ

Đoạn hồng linh nhạn kư- Truyện một con hồng nhạn lênh đênh? Truyện một nhà sư vướng tục lụy? Nhà sư ấy, cha vốn là người Trung Hoa, mẹ là người Nhật Bản. Cha mất sớm, mẹ về cố quận…Đứa con bơ vơ trôi nổi, quy y cửa Phật, rồi giũ áo tu, ra đời, vướng vào Lụy T́nh Yêu. Ng̣i bút của Tô Tử Cốc, vừa trang nhă, thâm trầm, vừa linh hoạt tân kỳ như bút pháp những văn hào hiện đại Tây phương- ng̣i bút Tô Tử Cốc sẽ đưa chúng ta vào sâu trong cơi t́nh và lụy, đạo giáo và ước mơ, những mâu thuẫn muôn đời vạn kiếp của con người ở một thời đại, và riêng biệt của con người đứng chênh vênh  ở đầu thế kỷ hai mươi là thế kỷ của những dông băo dị thường. Đọc Tô Mạn Thù, chúng ta có cảm tưởng kỳ dị: chẳng những không một tâm t́nh tư tưởng nào của cơi Đạo Đông phương Chân Như lọt ra ngoài nhăn quan ông, mà ngay cả cơi Tây phương hoằng đại , từ sơ thủy Hy Lạp Sophocle Parménide tới hiện đại Âu châu văn thể siêu thực Appollinaire, Nerval, Camus, Morgan, không một “bút pháp” nào ông không thành thục quán xuyến.

Toàn thể câu chuyện, cũng như mỗi t́nh tiết nhỏ nêu ra đều được nung nấu trong mối tư lường của một thánh tính đạt tới cơi lô hỏa thuần thanh, siêu thần nhập hóa. Không thể nào nói đó là bút pháp tài t́nh, kỹ thuật điêu luyện,chỉ có thể nói rằng đó là một cuộc kết tinh huyền nhiệm của lịch sử Đông phương giữa một triều sóng rộng dâng lên cùng với bao nhiêu ngọn gió ở bốn chân trời lổ đổ thổi lại. Đọc cuốn sách của Tô Mạn Thù cũng như đọc Sophocle, Nguyễn Du, Nerval, Apolinaire, Faulkner, Morgan, luôn luôn chúng ta bàng hoàng trước huyền nhiệm anh hoa phát tiết.

Đại sư Mạn Thù, tên thật là Tô Huyền Anh biệt hiệu là Tô Tử Cốc, sinh năm 1883, mất năm 1918 (xấp xỉ đồng thời với Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Apollinaire, lênh đênh giữa hai thế kỷ 19 và 20).

Thân phụ ông vốn là người Trung Hoa, tỉnh Quảng Đông, v́ cuộc sinh nhai mà lưu lạc sang Nhật Bản, cưới một thiếu nữ Nhật, sinh hạ Tô Huyền Anh.

Tô Huyền Anh chưa được mấy tuổi, th́ thân phụ chàng đưa gia quyến về lại Trung Hoa.

Chẳng bao lâu thân phụ chàng ĺa đời. Thân mẫu đành quy về Nhật Bản, gửi đứa con ở lại Trung Hoa, nhờ thân thích bên nội nuôi dưỡng.

Đứa bé bị họ hàng quê cha ghét bỏ, v́ nó mang một nửa phần máu mẹ Nhật Bản ở trong thân thể nó.

Đứa bé cô đơn quá, bèn cạo đầu quy y cửa Phật, vào chùa Lôi Phong tại Quảng Châu.

Phương trượng Tuệ Long, nhận thấy thằng bé thông minh xuất sắc, mới dốc ḷng dạy dỗ. Sau mấy năm dùi mài cần mẫn, chú bé đă thông thạo văn học tư tưởng Ấn Độ, Trung Hoa, và dăm bảy ngôn ngữ Tây phương…

Sau  khi Phương trượng viên tịch, Tô Mạn Thù cảm thấy bơ vơ, bèn trút giũ áo tu, ra sống ngoài cơi tục. Tâm trạng t́nh cảm từ đó quả thật là éo le: tu th́ tu không trot, mà chen lấn ch́m nổi với đời, th́ cũng thiếu hẳn khả năng chen lấn nổi ch́m.

Chàng thanh niên ấy dấn gót du hành ở nhiều tỉnh Trung Hoa, cư lưu nhiều ngày nhất là ở Thượng Hải. Và cũng từng du lịch qua Ấn Độ, Âu Châu, Mỹ châu. Cũng nhiều phen qua Nhật Bản viếng thăm thân mẫu.

Chính tại Nhật Bản, Tô Mạn Thù gặp Tôn Dật Tiên (Tôn Trung Sơn) và nhiều đồng chí của Tôn Dật Tiên sang Nhật lánh nạn. Những anh hùng cách mạng kia chơi thân thiết với Tô Mạn Thù. Nhưng họ Tô vốn là nhà sư thi sĩ, chẳng thể nào nhập cuộc thật sự với các lănh tụ chánh trị chịu chơi gay cấn kia.

Cái anh chàng thanh niên “ḷng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh” kia từ đó càng lang thang trầm luân khắp châu quận, trường giang đại hải. Tiếng gọi sơ đầu của Như Lai không đủ cứu vớt chàng, d́u dắt chàng trở lại với cơi tịch mịch thanh tu. Càng ngày chàng càng đâm ra trầm túy, nửa trong hồ rượu nửa trong biển t́nh. Chàng đúng là một loại Nerval Baudelaire Dylan Thomas Verlaine Apolinaire. Nếu chàng mù được hai mắt như Homère, ắt chàng đă khám phá ra một cơi sống dị thường trong u tối. Nhưng cái rủi ro lại là ở chỗ: chàng không mù. Cũng không cận thị. Đó là điều tai hại. Hiểm họa hoành sinh.

Kể từ mười mấy tuổi đầu, chàng đă sống trọn cái thảm kịch trần gian, sinh mệnh chàng ngược xuôi lảo đảo, mười sáu tuổi đầu, chàng đă thể hội hết nỗi đoạn trường thế sự mà Nguyễn Du đă viết lúc đầu bạc b́nh sinh, chàng đă nh́n quá sáng suốt mọi thảm kịch biển dâu, mà chẳng đủ khả năng thoát tục, cũng không đủ sức sống xô bồ bạt mạng trắng trợn tới cùng. Th́ đó là hiểm họa. Thi văn chàng từ đó mang một tố chất đ́u hiu bất khả tư nghị ở tại cái “ngă ba” siêu lệch chênh vênh gây cấn: “dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng. Chiêm bao kỳ mộng dường gần. Sịch mành sực tỉnh lại dần dần xa. Há rằng ngẫu nhĩ mà ra. Đoạn hồng linh nhạn mù sa thế nào…”

Đọc đoạn hồng linh nhạn của Đại sư Tô Mạn Thù, từ đó, chúng ta chứng kiến mọi tan vỡ trong xă hội Đông phương giữa những xung đột kỳ thị, những mộng và t́nh và tiền oan túc trái…

(Tiện đây, người dịch xin đưa ư kiến riêng là: những sách tiểu thuyết tôi được đọc trên vài mươi năm nay, không có cuốn nào gây chấn động cho tôi nhiều như cuốn sách này của Tô Mạn Thù- trừ cuốn truyện của Nguyễn Du (cố nhiên) và cuốn Sylvie của Nerval và có lẽ Fountian Sparkenbroke của Morgan- kể về mọi phương diện- nội dung văn thể, bố cục…)

Tô Mạn Thù vốn mê thơ Lord Byron (thi hào lăng mạn Anh Quốc). Nhưng Tô Mạn Thù không thể sống trọn cái nghiệp Byron, ấy có v́ từ thuở sơ sinh, chàng đă quá lạc loài rũ rượi, rồi chàng lại bị cái tiếng gọi âm thầm của Như Lai chi phối, khiến chàng suốt kiếp luẩn quẩn, t́m không ra lối bước, đường tiến, nẻo lui. Hai ḍng máu ở trong ḿnh, hai thời đại của lịch sử, xô con người vào một cơi cô độc dị thường- đớ là chỗ cốt yếu trong cuốn truyện của Tô Tử Cốc. Cuống truyện hẳn nhiên không tất nhiên phải là tiểu sử, nhưng nó phản ánh cuộc sống nội tâm của tác giả và của một lớp người trong buổi giao thời riêng biệt.

Bùi Giáng

NHÀ SƯ VƯỚNG LỤY

Hay là chuyện Con Hồng Nhạn Lưu Ly

Người đâu tá? Quê nhà chưa tỏ
Tuổi bao nhiêu?Tên họ là ǵ?
Đă sinh cùng nước cùng th́
Cùng ta không biệt mà ly bao giờ…
TẢN ĐÀ

Gia suona mattutino, lento, lento,
Ritorno a casa e non veggo la via
Gli occhi lasciai teco e il sentimento!
E ne portai conme la gelosia.

(Đă nghe vang động chuông mai
Lễ là kỳ đảo, hội là cưỡng câu
Tôi về nhà cửa sương thâu
Bước đi mà chẳng thấy đâu con đường
Bên chàng, thiếp đặt t́nh thương
Mắt mi môi miệng máu hường b́nh sinh
C̣n riêng mang măi bên ḿnh
Niềm ghen tuông với bất b́nh xa xuôi…)
FRANCESCO PETRARCA- Canzoniere

 

 

CHƯƠNG MỘT

Tại Bách Việt, về phía Nam bờ biển, có dăy Kim Nhân Sơn nguy nga dựng sững. Những lúc trời quang mây tạnh, ta có thể nhận thấy phía bên dưới sườn núi xanh um (tại chân núi) ẩn ẩn hiện hiện một mái ngói hồng lóng lánh, lập ḷe như lớp vảy con ḱnh ngư. Đó là ngôi chùa Hải Vân, vẫn c̣n nguyên như thuở xưa, cái ngày nhà Tống sụp đổ, Lục Tú Phù cơng vị ấu chúa chạy tỵ nạn, tới bước đường cùng, tiên sinh đă cùng ấu chúa tự sát tuẫn quốc tại Nhai Sơn, để trọn đạo hiếu trung, hơn là lọt vào tay cường địch hung bạo. Một số di thần triều Tống cũng đă tới đó ẩn thân độn tích, cạo đầu đi tu. Ngày đêm hướng lên trời xanh cầu nguyện, mong mỏi Thương hiệu pḥ tŕ vong linh của Đại Hành Hoàng đế.

Cho tới ngày nay, nh́n sơn lĩnh ở xa xa cuối chân trời, vân khí sầm uất , bàng bạc chiều chiều như c̣n gợi măi vang bóng triều đại xưa. Và thỉnh thoảng tiếng sóng vỗ bi thống c̣n khiến lữ khách ngậm ngùi, cúi đầu lặng lẽ, không giám gợi lại những bóng ma năo nùng của quá khứ.

Ngày nay, tôi ghi chép lại những “bảo vơng kim tàng” của ngôi chùa cổ. Thảy thảy c̣n là những cựu vật chứng giám một thời. Đây một mặt hồ tĩnh lặng, kia một ḍng suối quanh co…dưới bóng tùng bách xanh um. Mấy chục nhà sư trụ tŕ tại đó, c̣n giữ ǵn những phong thái nghi lễ ngày xưa. Năm về, năm lại, qua mỗi một mùa đông truyền giới, y bát vô thanh, khách viễn phương về thụ giới mỗi mùa trong cảnh tịch mịch. Khách về thưa thớt lắm, ấy bởi v́ đường núi hiểm trở, đèo dốc khi khu.

Một buổi mai, tiếng chuông chùa từ từ ngân, tôi tựa lưng bên góc chùa tĩnh mịch, nh́n những đàn hải âu bay lượn thấp thoáng ở chân trời. Thời tiết lạnh lẽo giữa mùa đông. Ngọn gió biển như bức bách con người ta, tự bên ngoài ngàn dặm (hải phong bức nhân ư thiên lư chi ngoại). Độc giả hiểu cho: đó là ngày tam giới hoàn tất của tôi. Tính ra, cuộc cư lưu của tôi tại chùa, hốt nhiên đă ba tuần viên măn, hôm nay ngày tôi có thể xuống núi tŕnh diện với phương trượng. Sau đó, ngày ngày quét lá, đêm đêm đốt hương, độ quá lưu niên, có ǵ đâu mà ân hận!

Đang giữa cơn tư lự như thế, bỗng nhiên nước mắt trào ra. Tôi tự nhủ “Ai cũng bảo ta là đứa bé không cha không mẹ? Có quả thật như vậy chăng? Ta là đứa bé không mẹ?”

- Không. Không thể như vậy được.

Kể từ ngày dưỡng phụ từ trần, tôi một thân một ḿnh không c̣n họ hàng nh́n mặt. Nhưng mỗi lần gió lay đầu cây ngọn cỏ, hoặc mỗi phen mưa trút liên miên, hoặc trong cảnh cuồng phong bạo vũ, hoặc trong cảnh vạn vật im ĺm, tôi vẫn dường như nghe thoang thoảng bên tai tiếng kêu gọi của từ mẫu. Nhưng âm thanh đó khởi từ đâu lại? Ấy là điều tôi không rơ. Nhưng ḷng tôi vẫn hằng hằng ôm ấp cái ư tưởng ấy.

Tôi lại thở dài tự nhủ “Mẹ sinh con ra đời, sao chẳng cho con được gặp mặt một lần? Mẹ có biết đứa con tôi thân thế phiêu linh cùng cực thế này chăng?”

Lúc bấy giờ sóng biển ŕ rào từng đợt lấp lánh ngoài khơi, quang cảnh đẹp dị thường. Tôi khoác áo cà sa lên thân thể, cùng ba mươi sáu vị đồng giới, tay cầm nén hương, lũ lượt nối gót nhau bước đi. Lúc lên tới đại điện, bọn chúng tôi phân tán ra hai bên tả hữu, đứng im phăng phắc như những con nhạn ngày xưa trong cổ lục phương môn. Các vị trưởng lăo ở bốn phía núi non lân cận, cũng đă tề tựu đông đủ. Đốt hương tụng niệm xong, tứ bề im phăng phắc.

Một lát sau, vị sư cao đạo cất giọng bi khẩn tụng rằng:

Cầu giới hành nhân
Hướng thiên tam bái
Dĩ báo phụ mẫu dưỡng dục chi ân.

Lúc bấy giờ, hai mắt tôi trào lệ như mưa, không làm sao ngưỡng lên được. Các vị đồng giới cũng tấm tức ngậm ngùi.

Buổi lễ hoàn tất, các vị trưởng lăo lần lượt tới bên chúng tôi, mở lời khuyên miễn an ủi mà rằng:

Thiện tai đại đức!
Tuệ căn thâm hậu,
Nguyện lực trang nghiêm
Thử khứ cẩn thị thân sư,
Dị nhựt Linh Sơn hội thượng.
Niêm hoa tương tiếu”

(Đức lớn tốt thay!
Lành thay đức lớn!
Tuệ căn sâu dày,
Nguyện lực trang nghiêm
Lần này đi phụng bồi sư trưởng
Tới ngày sau tụ hội linh Sơn
Sẽ cầm nhánh hoa
Nh́n nhau mỉm cười một nụ)

Tôi lặng nghe âm thanh tụng niệm ấy chan chứa ḷng từ bi ai mẫn, tôi đảnh lễ thụ điệp (đón nhận Phật kinh) gạt lệ mà bái từ các vị trưởng lăo, rồi chậm răi xuống núi.

Hai bên đường cây cối trơ trụi xác xơ, lá cành rụng hết. Cảnh tượng thật là tiêu điều. Chỉ thấy vài ông tiều phu hiện ra rồi mất dạng. Ai có rơ rằng kẻ xa lánh bụi đời, quy y cửa Phật, vẫn c̣n mang những đau xót không lời!

 

CHƯƠNG HAI

Tôi đă từ giă Hải Vân tự, và bây giờ cư lưu tại một căn nhà ở chốn hoang  thôn tịnh mịch. Ngoài việc chăm lo phụng thừa nhu cầu sư trưởng, hằng ngày tôi lăng phí thời gian trong những trận nhớ nhung xa vắng, nửa tỉnh nửa mê, thần hồn theo nước mắt mà tràn ra không ngớt. Sư trưởng của tôi, nhận thấy tôi tuổi nhỏ, rủ ḷng thương xót; lựa lời phương tiện, từ ái khuyên lơn. Nhưng tôi không làm sao nguôi được. Tôi quả thật là đứa khổ sở nhất trần gian.

Một ngày nọ, tôi tuân mệnh sư trưởng, xuống thôn làng khất mễ (xin gạo), được hơn mười cân, lẽo đẽo mang đi dọc đường. Đang suy nghĩ t́m chốn trọ lại ban đêm, chợt có kẻ trộm cướp từ xa tới, chộp cái túi vải đựng gạo và chạy mất, Tôi chỉ đành than dài một tiếng.

Lúc bấy giờ trời nhá nhem tối. Tôi một ḿnh bước đi vất vơ vất vưởng. Lại lạc lối thế nào ra tận băi biển, và không t́m được đường về. Tôi bồi hồi quanh quẩn khá lâu, tới một cồn cát nọ, ngồi nghỉ chân giây lát. Sóng biển bỗng nổi dậy thật hăi hùng, nh́n bốn bề chỉ thấy âm u dằng dặc.

Đương giữa lúc hoang mang như thế, chợt thấy một đốm lửa li ti ở ngoài khơi lập ḷe như một hạt đậu. Biết rằng đó là ngọn đèn của một chiếc thuyền đánh cá, bèn cất tiếng gọi:

- Xin ông chài ghé vào đây, cho tôi sang bờ bên kia với.

Sau tiếng gọi , thấy đốm lửa lớn ra dần dần,tôi biết rằng ông chái cá đă đáp ứng, và đang tiến lại gần.Ḷng tôi cũng cảm thấy an ủi đặc biệt. Chẳng bao lâu, chiếc ghe đă cập bến. Ông chài cất tiếng hỏi:

- Muốn đi tới đâu?

Tôi đáp:

- Tôi chỉ là một nhà sư tại Ba La thôn đi khất thực suốt ngày, lạc lối ra đây. Mong nhờ ông giúp tôi một phen vậy.

Ông chài đưa tay khoác lia lịa mà rằng:

- Úi chà! Ăn nói ǵ như thế! Thật là bất thông! Ghe của người ta là cốt đi đánh cá kiếm lời, có đâu lại phí công phí của mà chở giùm những nhà sư nghèo đói!

Nói xong quay quả chèo ghe đi tuốt. Tôi chẳng c̣n biết nghĩ ǵ ra ǵ được nữa, phiền muộn ngồi khóc một ḿnh.Chợt vẳng nghe một tiếng chó sủa ở xa xa. Tôi biết thế là quanh quất vùng này c̣n có thôn làng thang lan đâu đó. Bèn đứng dậy, men lối theo đường cỏ mọc mà đi. Dần dà thấy hiện ra ở tiền diện một ngôi cổ miếu. Tôi vội vă tiến lên. Giữa ngôi cổ miếu, có treo một chiếc đèn leo lét. Tôi bước vào. Luẩn quẩn một lúc, nằm xuống bên bậc đá, khoanh thân lại nghỉ. Chợt nghe tiếng chân đi bên ngoài cửa miếu. Tôi sửa lại áo quần ngay ngắn, đứng lên, th́ thấy một đứa bé lăng xăng vội vă bước vào.

Tôi hỏi:

- Em bé đi đâu đó?

Chú bé hai tay cầm mấy cái giỏ tre đưa ra mà rằng:

- Công việc của cháu nhọc nhằn lắm. Đêm đă khuya thế này, cháu vẫn phải len lỏi bên những tường xiêu vách nát, hoặc lọ mọ giữa những hang đá âm u, hoa cỏ um tùm, trông cháu giống một tên ăn trộm vậy, cốt để bắt lấy những con dế kêu ri rỉ này đây. Thật là khổ nhọc lắm.

- Trông em bé mặt mày tuấn tú sao phải đi làm cái việc hèn mọn thế?

Đứa bé than một tiếng đáp rằng:

- Gia đ́nh cháu vốn có một vườn hoa. Ban ngày cháu gánh hoa đem bán cho nhà giàu có. Người giàu keo kiệt quá, nên chẳng kiếm được bao lăm tiền; chẳng đủ để nuôi dưỡng mẹ. Mẹ cháu già nua lắm rồi. Cháu là đứa con trai, có lẽ nào không tận tâm kiệt sức làm việc mà giúp đỡ mẹ trong tuổi già. Công việc bắt dế này thật là cực nhọc, nhưng phải gắng làm phụ thêm, kiếm thêm được đồng nào, hay đồng ấy. Nhưng mẹ cháu quả thật chẳng có ngờ rằng cháu làm việc này. Nếu biết, ắt bà không cho làm. Bà sẽ ngăn trở. Hôm trước, cháu có thấy bên góc miếu này một con dế bự, cỡi trên lưng một con rết ngất ngưởng ḅ đi. Cháu tới đây ŕnh ṃ đă hai đêm, mà chưa chộp được nó. Nếu ông trời xanh run rủi cho nó lọt vào được trong tay cháu, th́ thật là vạn hạnh! Vạn phúc! Chờ tới ngày chợ phiên, cháu đem ra bán, ắt được giá cao lắm. Th́ cháu sẽ mua cho mẹ một tấm áo da cừu, mùa đông mặc vào th́ ấm áp cũng như ở giữa mùa xuân vậy. C̣n ǵ thích cho bằng. Cháu đâu phải như những kẻ ham kiếm tiền, bất kể tính mệnh xông pha đêm hôm thế này đâu!

Nghe đứa bé nói thế, tôi lại bồi hồi xúc động, nước mắt lại tuôn ra.

Đứa bé nh́n tôi, thấy đầu tôi cạo trọc, th́ nó chậm răi hỏi tiếp:

- Dạ dám xin hỏi đại sư v́ lẽ chi mà ngủ đêm tại chốn hoang liêu trống trải này?

Nh́n thấy đứa bé mặt mày chân thành trang trọng, tôi bèn đem hết đầu đuôi cơ sự kể cho nó nghe.

Đứa bé cảm động nói:

- Thầy chịu khổ nhiều thật! Nhà cháu ở gần đây c̣n pḥng bỏ không. Cháu xin mời thầy theo cháu về nhà. Nếu thầy cứ ở đây, th́ biết đâu bọn người hung ác trong thôn vắng lại chẳng vu cáo cho thầy cái tội trộm cắp, th́ thầy chịu đựng sao nổi!

Thấy đứa bé thành khẩn như vậy, tôi gật đầu, đồng ư theo chân nó. Vào làng, đi tới một căn nhà lá. Đứa bé đẩy cửa bước vào, rồi khép ngay lại, để tôi đứng chờ ở dưới hiên. Vườn hoa bốn bề đưa hương thơm. Chợt nghe tiếng bà lăo thốt:

- Triều Nhi! Hôm nay sao con về khuya thế?

Tôi lắng nghe chăm chú. Kỳ lạ thay! Kỳ lạ thay! Giọng nói của bà lăo ấy.

Lúc tôi bước vào nhà trong, th́ bỗng dưng thấy trước mặt ḿnh đích thị là người vú nuôi tôi ngày trước.

 

 

CHƯƠNG BA

Tôi chào hỏi người vú nuôi, ḷng đầy bi thương và hoan hỉ. Bao nhiêu ân t́nh mừng mừng tủi tủi. Bà vú bảo tôi ngồi xuống, bắt tôi đem hết sự t́nh kể lại đầu đuôi. Tôi đă làm ǵ, tôi đă trải qua những ǵ, nhất nhất đem gót đầu ra thuật lại tỉ mỉ. Bà đăm đăm nh́n tôi. Bà chống tay vào g̣ má nhăn nheo, suy nghĩ lâu lắm, rồi ảo năo thở dài nói:

- Tội quá! Tam Lang! Nếu ngày nay tôi c̣n ở với gia đ́nh cậu, th́ đâu đến nỗi cậu phải cạo đầu đi tu như thế! Tôi đă hầu hạ phu nhân không quá ba năm trời. Thời gian ấy kể cũng không dài chi lắm, nhưng phu nhân đă đối đăi với tôi hết ḷng hiền từ thân ái. Một phen từ biệt phu nhân, đến nay đă ṛng ră mười năm trời, nhưng cứ mỗi lần cầm đũa, bưng cơm, tôi chẳng thể nào quên được tấm ḷng phu nhân đối với tôi. Lúc phu nhân rời gót ra đi, tôi liền bị người trong gia đ́nh cậu ghét bỏ, đối xử tàn ác, nhưng tôi vẫn ẩn nhẫn chịu đựng. Ấy bởi v́ tôi cảm ân đức của phu nhân, nên tôi chẳng thể nào bỏ cậu mà ra đi. Cho tới lúc nghĩa phụ của cậu ĺa đời, ḷng tôi bời bời bối rối, đau buồn khôn tả. Tôi thầm nghĩ: “Tam Lang thế là từ nay cô hàn, không nơi nương tựa”. Tôi muốn viết thư cho phu nhân, báo bạch hết mọi sự cho phu nhân rơ, để phu nhân sớm liệu xếp đặt cho cậu về gấp bên quê mẹ (bên Nhật Bản) rời hẳn cái con mẹ ghẻ chèng đét hung dữ kia! Dè đâu con mẹ đàn bà đa đoan ác độc nọ lại ḍ la manh mối, đánh hơi thế nào mà đoán đước cái nguyện vọng của tôi, mụ ta nộ khí xung thiên, lôi cổ tôi ra, lấy roi tre đánh tôi một trận bầm ḿnh dập mẩy. Lúc bấy giờ tôi cũng chẳng thiết chi cái chuyện phân giải thị phi, lời hơn lẽ thiệt ǵ về nhân đạo với mụ ấy! Mụ tha hồ đánh tôi sướng tay thỏa dạ xong, th́ đuổi tôi đi về quê, không cho tôi nấn ná một ngày nào nữa.

Bà vú kể tới đó, th́ nước mắt giàn giụa, không tiếp được lời nào nữa. Ḷng tôi đau đớn cùng cực, chẳng c̣n biết lựa lời ǵ để an ủi bà. Chỉ biết để nước mắt trào ra như suối, nh́n bà không nói được một lời nào cả. Rồi tôi chợt nghĩ rằng cái ngày phải chịu đựng trận bạc đăi bạo ngược kia, bà vú nuôi tôi đă quá bốn mươi tuổi, th́ làm sao kham! Tôi cố gắng hết sức làm ra vẻ trấn định, an ủi bà ta: “Vú đừng đau xót nữa! Vú đă nuôi nấng tôi, ngày nay tôi đă thành lập, ân ấy đức ấy, làm sao t́m ra lời mà bày giăi. Ngày nay mặc dù tôi đă quy y cửa Phật, ḷng tôi đă nguội lạnh với sự đời, nhưng may được gặp vú nuôi tại đây, vú hăy chậm răi cho tôi biết tin tức mẫu thân. Nếu không ắt là đi khắp bích lạc hoàng tuyền cũng không mong được một ngày gặp gỡ. Gẫm ra trời xanh dường cũng linh thiêng lắm. Từ ngày c̣n nhỏ dại, tôi vẫn luôn luôn nghĩ rằng mẹ tôi c̣n sống. Nhưng suy gẫm trăm lần, vẫn không biết hiện giờ thân mẫu sống tại đâu, mà cũng chẳng biết tên họ của mẹ là ǵ! Bữa nay, nghe vú nuôi nói về “phu nhân”, th́ đó có thật là bà mẹ đă sinh tôi ra đời hay không? Th́ v́ lẽ ǵ thân mẫu lại bỏ tôi bơ vơ khốn khổ, chẳng t́m kiếm hỏi han ǵ hết? Xin vú nuôi hăy đem thân thế tôi nói cho tôi rơ một lần.

Bà vú nuôi gạt lệ, nh́n tôi mà rằng:

- Tam Lang hăy yên dạ! Tôi đem mọi sự kể hết cho Tam Lang nghe. Tôi vốn ngày xưa là con gái người nông dân cư lưu tại vùng này, năm năm tháng tháng chỉ biết chăn nuôi súc vật. Sau  khi lấy chồng, tôi theo chồng làm ăn, ban ngày ra làm ngoài đồng, tối đến th́ về nhà nghỉ ngơi. Vợ chồng sống hạnh phúc hết sức. Tôi đâu biết rằng trong nhân gian có đủ thứ đen trắng thị phi, rủi may may rủi. Vợ chồng nông dân, sống hồn nhiên như nước chảy, năm qua. Tới lúc tôi ba mươi tuổi, chồng tôi chẳng may đoản mệnh chết mất. Chẳng để lại chút gia sản nào, ngoài đứa bé con là Triều Nhi. Từ đó về sau, càng ngày sinh hoạt càng quẫn bách. Những bạn bè thân thích xa gần coi mẹ con tôi như kẻ qua đường, không c̣n t́nh nghĩa ǵ hết. Lúc đó tôi mới bắt đầu hiểu nỗi đời éo le, trong ḷng buồn rầu khôn tả. Nh́n bốn bề chẳng c̣n ai thân thích, t́nh cảnh khốn cùng chẳng biết nói với ai.

Một ngày kia, tôi mang giỏ đi mót những bông lúa rơi ngoài ruộng, bỗng thấy một phu nhân y phục theo lối cổ kính, thong dong bước tới bên tôi cất tiếng hỏi:

- Trông thím có vẻ ưu khổ lắm phải không?

Rồi bà ấy hỏi thăm cảnh huống tôi. Tôi đem hết gót đầu ra kể cho bà ấy nghe, th́ phu nhân lân cảm t́nh cảnh tôi. Tôi đội ơn phu nhân. Phu nhân cho tôi về làm vú nuôi săn sóc Tam Lang đó. Phu nhân y phục cắt theo lối cổ đại Trung Hoa chúng ta. Những sự này, tôi được nghe ra là từ lúc về ở với phu nhân. “Tam Lang” tức là tên gọi cậu do phu nhân đặt cho đấy.

Được nghe phu nhân nói rằng lúc sinh cậu ra chưa được mấy tháng th́ thân phụ cậu qua đời. Thân phụ cậu là Tông Lang, vốn thuộc danh tộc ở Giang Hộ. B́nh sinh thân phụ cậu can đảm cương trực lắm, nên mọi người mến chuộng. Thân phụ cậu qua đời, mẹ cậu càng ngày càng nhận thấy phong hóa Nhật Bản suy đồi, dần dà phong tục càng trở nên kiêu ly bạc bẽo, trong ḷng bà suy gẫm muốn đưa cậu về cội gốc thượng quốc Trung Hoa, bèn dắt cậu về quê nội, đem ủy thác cậu cho một người bạn thân thiết nhất của cha cậu. Người ấy nhận cậu làm nghĩa tử. Cậu thành con muôi của người ấy. Ư của phu nhân là làm sao cho cậu dứt tuyệt hết mọi liên hệ với căn tính cư dân hải đảo (người Nhật) hy vọng rằng sự giáo hóa ở quê cha sẽ rèn luyện cậu mai sau trở thành một con rồng ở trong nhân gian. Phu nhân vốn biết rằng hành động đó là  đắc tội với quốc luật Nhật Bản, quê cha đất tổ của bà, nhưng t́nh mẹ thương con, có sự ǵ mà chẳng dám làm được!

Phu nhân thân hành ẵm cậu đi, lén trốn sang Trung Hoa chúng ta, cư ngụ ba năm trời. Chợt một hôm phu nhân gọi tôi tới bên bà và bảo tôi như thế này:

- Ngày nay tôi sắp quay trỏ về Nhật Bản! Thím ở lại mạnh giỏi nhé!

Rồi phu nhân đưa tay chỉ Tam Lang, nuốt lệ nghẹn ngào bảo tôi: “Đứa con tôi sinh ra đời không may mắn! Thím hăy chịu khó săn sóc nuôi dưỡng nó, tôi sẽ chẳng quên công lao khó nhọc của thím đâu!”

Nói xong, phu nhân viết địa chỉ ḿnh ra giấy giao cho tôi, căn dặn tôi đừng có để thất lạc. Tới ngày nay, tôi vẫn cẩn thận giữ ǵn kỹ càng trong cái hộp tre kia.

Lúc bây giờ, tôi khóc tầm tă như mưa. Phu nhân giao cho tôi một trăm đồng vàng. Ngày nay số bạc ấy tuy nhiên không c̣n đồng nào, nhưng ḷng tôi cảm kích phu nhân thật không hề giảm một chút. Nhất là tôi nhớ lại cái đêm trước ngày phu nhân ra đi. Phu nhân gài một tấm ảnh nho nhỏ của ḿnh vào cái lon dẹp đặt vào trong cái rương áo quần của cậu, bà mong rằng ngày sau cậu lớn lên, cậu sẽ không quên được dung nghi từ mẫu. Dụng ư đó của phu nhân thật là cảm động. Đâu có ai ngờ rằng phu nhân ra đi chưa bao lâu, th́ người trong gia đ́nh đă t́m kiếm mọi vật đó và hủy khử đi mất hết.

Sau đó phu nhân từ bên Nhật Bản c̣n viết thư cho tôi ba lần, lần nào cũng gửi tiền bạc cho tôi, nhưng lần nào cũng bị con mẹ tàn nhẫn kia thu đoạt mất cả. Rồi nhân v́ tôi hiểu rơ thân thế phu nhân, lại yêu quư Tam Lang, th́ con mẹ kia càng căm hận tôi hơn nữa, v́ mụ nghĩ rằng tôi cố ư làm ra vẻ như thế, tôi cố tỏ thái độ ra như thế là cốt để càng thể hiện rơ cái phẩm cách tàn ngược của mụ ta! Do đó, cái niềm oán độc của mụ ta càng sâu cay hơn nữa. Quả thật con người ta và con mănh thú, chỉ cách nhau có một đường chỉ mỏng mà thôi! Lúc tôi đă bị đuổi đi rồi, th́ con mẹ kia lại phao tin lên rằng phu nhân đă gặp băo tố ngoài khơi, đă chết trong bụng cá mập cá voi rồi. Do đó, bà con thân thích láng giềng, ai ai cũng coi cậu như là một đứa con không mẹ, chẳng ai thèm để ư chi tới cậu nữa. Xét ra như thế, th́ trong gan phổi con mẹ kia, mụ ta quả có ư muốn pḥng ngừa ngày sau cậu lớn lên khỏi có ư nghĩ t́m về thăm viếng phu nhân! Hỡi ôi! Mụ ta là cái giống người ǵ như thế! Đă giữ lấy con của kẻ khác lại c̣n đối xử tàn bạo như vậy! Tôi suy gẫm hoài mà chẳng thể nào hiểu được mụ ta, chẳng rơ kiếp trước mụ ta là cái giống độc vật ǵ ǵ! Trời Phật ôi! Tôi há đâu chỉ v́ oán độc kẻ khác mà thốt cái lời ra như thế. Bữa nay tôi nói ra như thế, chẳng qua là để cho cậu rơ cái người đàn bà kia ác nghiệt như thế nào đó thôi.

Nghĩa phụ của cậu vốn là người thành thực, thường vẫn thể niệm cái ân nghĩa của thân phụ cậu đối với ông ta, nên nghĩa phụ của cậu thuở sinh thời vốn đối xử với cậu như con ruột. Ai có ngờ đâu được rằng ông ta vừa qua đời th́ con mẹ kia đă lập tức trở mặt đối với cậu như thế. Một đứa bé chưa ráo máu đầu, c̣n thuần nhiên thơ dại, đă chịu dày ṿ khắc nghiệt như vậy, quả thật không có ǵ so sánh được. Nhưng ngày nay cậu đă lớn ra như thế, phong tư độc lập như thế, cũng coi như là bấy nay không gặp rủi ro chi nhiều; tôi th́ già nua rồi, đáng lẽ chẳng nên đem những chuyện oái ăm quá khứ ra làm phiền muộn cậu, chẳng nên thốt những lời cay đắng, mà nên  giữ chút ḷng trung hậu th́ phải hơn. Tuy nhiên trong thời buổi đa đoan kỳ quặc này, dẫu tôi có nhất mực giữ ḷng trung hậu của ḿnh, mà người ta th́ cứ nhất mực muốn hăm hại tôi. Theo cái lẽ bi đát như thế, thế t́nh thế thái đă ra như thế nghĩ thật cũng đáng ngậm ngùi.

Bà vú nói xong, th́ cúi đầu thở dài. Một lát sau, bà định nói tiếp nữa. Lúc bấy giờ ḷng tôi tràn đầy sầu khổ, lớp lớp liên miên (như vân quỷ ba quyệt). Nhưng nhân v́ tôi đă ḍ ra tin tức mẫu thân, chẳng c̣n mong muốn hỏi thêm chi nhiều nữa về những sự việc đă qua, và cũng chẳng c̣n th́ giờ đâu để tự cảm thương thân thế, tôi bèn chậm răi nói với bà vú nuôi:

- Đêm đă khuya rồi, vú hăy đi nghỉ ngơi. Tôi sẽ đơn thân ra đi t́m mẹ, mong rằng vú đừng bi thương quá độ. Sự đời ai biết đâu mà liệu định, vú hăy thử nh́n tôi và Triều Nhi xem, chúng tôi biết đâu lại chẳng làm nên danh phận? Chẳng lẽ ṃn đời mỏi kiếp vẫn chẳng ra cái dạng ǵ ǵ cả hay sao?

Bà vú bỗng ngẩng đầu lên, đưa tay vỗ vào vai tôi nói:

- Tội thay! Vú thật chẳng thể ngờ rằng Tam Lang lớn lên lại mảnh khảnh đến thế! Hăy gắng ngủ cho ngon giấc đêm nay, lưu trú tại đây mà liệu tính công việc đi sang Nhật Bản thăm viếng phu nhân. Tôi thường mộng thấy phu nhân vận y phục cổ kính ngày xưa đứng bàng hoàng trên bờ Đông Hải, đưa mắt mong ngóng Tam Lang về. Tam Lang ạ, cậu c̣n có một người chị và một người em gái nuôi (nghĩa muội), hai chị em vẫn ở bên phu nhân săn sóc mẹ. Cậu rồi cũng sẽ được nghe âm thanh phu nhân gọi cậu. C̣n tôi thân thể đă già nua, chỉ c̣n chờ ngày vào quan tài, chẳng c̣n mong chi tái hội phu nhân. Chỉ cầu nguyện trời xanh phù hộ cho phu nhân mà thôi!

Sáng hôm sau, ánh trời rực rỡ. Tôi nghĩ tới những sự việc đă qua, c̣n in rành rành trong tâm khảm. Độc giả thử nghĩ xem, làm sao tôi có thể ngủ được trong đêm vừa rồi? Lúc bấy giờ nỗi niềm bời bời cùng độ, tôi đứng dậy khoác áo vào ḿnh, bước ra ngoài nh́n bốn phía. Dương liễu gầy khô, núi non tiêu điều.

Từ đó về sau, tôi lưu trú tại nhà vú nuôi, mỗi ngày cùng Triều Nhi chèo ghe hoặc thả cần câu cá tại một vùng khói mưa mờ tỏa bên sông  tịch mịch hoang liêu. Cũng có lúc cưỡi trâu ra bên ngoài thôn ở. Những u hận vạn ngàn, chẳng rơ ra sao, đă dần dà tiêu tán giữa những trận gió mưa vi vu thổi vào chiều hôm.

 

 

CHƯƠNG BỐN

Một ngày kia, vào lúc hoàng hôn, giữa cảnh hoang liêu gió tuyết thổi lạnh thấu xương, tôi cùng Triều Nhi đang lẽo đẽo từ phía sau núi gang củi quay về nhà. Vừa bước vào cửa, nh́n thấy vú nuôi đang tựa lưng bên ḷ bếp, ngồi im ĺm. Bà đang chăm chỉ khâu vá lại một chiếc áo cũ. Nghe tiếng chân tôi bước vào, bà ngẩng đầu nh́n tôi nói:

- Khổ nhọc cho cậu quá! Thấy cậu yên vui sống ở đây, ḷng tôi cũng thư thái an ủi được nhiều. Cậu và Triều Nhi hăy ngồi nghỉ ngơi một chặp, để tôi thắp đèn và đem cơm cá ra dùng. Nhà chúng ta ở đây cách hồ nước không bao xa, cá tôm chẳng những tươi ngon lắm, mà giá mua cũng chẳng cao ǵ đó. Sống ở làng thôn, thật nhiều điều tiện lợi hơn thành thị.

Tôi và Triều Nhi liền cởi tơi nón ra, cùng vú nuôi ngồi vào dùng bữa tối. Thật là hoan lạc vô cùng. Dùng cơm xong, vú nuôi quay nh́n tôi bảo:

- Hôm nay nh́n Tam Lang gánh củi, ḷng tôi thấy bất nhẫn quá. Thân thể cậu ốm yếu như thế! Bữa sau chớ nên  gánh củi nữa. Công việc vất vả nặng nhọc kia, Triều Nhi đủ sức giúp được rồi. Bữa nay, tôi đă nghĩ ra một cách cho cậu. Cậu hăy nghe tôi khuyên bảo đây: Vườn hoa chúng ta, trong ba tháng xuân ấm áp, bao nhiêu hoa nở tươi tốt lắm.. Ngày nay chúng ta đang ở giữa mùa đông, chẳng c̣n bao ngày tháng nữa, th́ năm mới về, cậu mang hoa ra chợ bán mỗi buổi sáng sớm. Ban ngày cậu cũng có thể coi sóc nhà cửa vườn tược cho tôi. Lợi lăi do hoa cỏ đem lại, tuy chẳng là bao, nhưng tôi vẫn gom góp dành dụm đủ tiền cho cậu. Sau hai năm hoặc ba năm, ắt là có đủ tiền lộ phí cho cậu đi qua Nhật Bản một chuyến thăm phu nhân. Ngoài cách ấy ra chẳng c̣n cách ǵ khác. Tam Lang, ư cậu nghĩ như thế nào?

Tôi đáp:

- Mọi sự xin y theo lời vú nuôi hết thảy.

Vú nuôi bảo:

- Tam Lang! Cha ông của Tam Lang tại Giang Hộ vốn xưa kia là những vị công tử (con cái của những bậc công hầu). Ra ngoài th́ ngựa béo hào hoa, áo khinh cầu phong nhă. Mà ngày nay cậu phải làm một kẻ bán hoa cỏ, thật là sự việc quái gở. Tuy nhiên, ngày sau cậu về Nhật Bản, cậu vẫn là một vị công tử ngàn vàng, th́ ai c̣n dám kêu cậu là kẻ bán cỏ lá hoa?

Tôi chăm chỉ lắng nghe, đưa mắt nh́n vú nuôi. Thấy bà nói tới đó th́ tươi cười ấm áp như xuân.

Ngày tháng thoi đưa. Bỗng chốc đă thấy xuân về. Từ đó tôi tuân theo lời vú nuôi, ngày ngày mỗi sáng sớm tôi vận y phục lai rai vào, nham nhở như đứa chăn ḅ, mang hoa đi bán. Mỗi buổi sáng, tôi dạo qua ba bốn hàng thôn, tay trái xách giỏ hoa, tay phải cầm cây gậy trúc, đầu đội nón chài cá - cốt để không ai nhận ra cái đầu trọc của tôi và biết tôi là một tỳ kheo vậy. Tôi lẽo đẽo bước đi, trong ḷng lấy làm xấu hổ cho thân phận. Thấy phần đông những kẻ mua hoa là những thiếu nữ. Rồi đến những đàn bà trong làng xóm. Mỗi ngày tính ra tôi thâu được vài ba trăm xu. Suốt một tháng trời đều đặn như thế.

Một ngày kia, tôi đang một ḿnh bước đi sang thôn làng nọ, th́ trời bỗng nhiên u ám, mưa phùn lất phất rớt hột miên man, thấm ướt hết áo quần. Đó là ngày trước tiết thanh minh hai hôm, và nhà nào nhà nấy đang sửa soạn lễ Tảo mộ, nên đường đi vắng ngtắ chẳng thấy bóng người nào. Chỉ nghe liên miên âm thanh dằng dặc của mưa phùn rớt hột li ti tí tách sầu năo sát nhân mà thôi. Tôi len lỏi lần ṃ bước đi trên con đường ṃn mỏi, tới một góc nhà nọ, dừng chân tạm nghỉ ngơi giây lát dưới một cây liễu nhỏ.

Chợt thoáng thấy trên bờ tường trước mặt phía sau tấm màn lụa bích một song cửa sổ, có một nữ lang ăn vận mới mẻ đang đứng đăm chiêu nh́n ra đường. Thật là một nữ lang dung hoa tuyệt diễm.Nhưng mặt ngọc của giai nhân mang vẻ trang nghiêm biểu hiện một mối sầu khôn tả. Lúc tôi đưa mắt nh́n kỹ, th́ bóng hồng chợt lẩn mất.

Cơn mưa chợt tạnh hẳn, trời bỗng sáng sủa xanh lơ. Màu cỏ cây  biêng biếc trước nhăn quan. Tôi đang định cất bước, chợt thấy cánh cửa bên vách nhà kia bỗng mở ra. Lại thấy một cô gái vội vă bước ra ngoài, nghiêng thân chào tôi một cái. Thẹn thuồng mà rằng:

- Xin tha thứ tội thất lễ của nô tỳ! Dám xin hỏi công tử từ đâu tới đây? Con cái ḍng dơi nào? Tuổi niên hoa như thế, v́ lẽ chi phải chịu làm cái nghề hèn mọn đó? Công tử há chẳng biết rằng thiều quang trôi qua, hối hận không kịp nữa? Xin hăy đáp cặn kẽ cho nô tỳ rơ.

Nghe cô gái nói mấy lời kia, tôi biết rằng cô ấy thật là người thông minh rất mực, chẳng có chi giống người quê mùa cục mịch. Nhưng v́ lẽ ǵ mà đường đột bàn vấn như thế, nghe ra y hệt như lời một  tướng sĩ đoán vận mệnh nhà ma! Cô chỉ có ư thăm ḍ hành vi của tôi, hay là c̣n có duyên do ǵ khác nữa? Tôi chỉ c̣n biết đứng lỳ ra đó, đăm  đăm nh́n cô gái, ḷng rất bối rối, chẳng rơ phải đối đáp thế nào ra câu.

Sau một lúc khá lâu, cô gái nói tiếp:

- Em sở dĩ đường đột hỏi như thế, ấy chẳng qua là tuân lệnh cô chủ ở trong nhà. Cô chủ bảo em ra hỏi công tử mấy lời đó. Cô chủ của em vốn bản chất tính t́nh u nhă tĩnh mịch vô cùng, chẳng hề có bao giờ mở miệng ăn nói ǵ với người ngoài. Nhưng hôm nay, lại sai em bàn vấn đề này, ấy bởi v́ cô chủ em nghe thấy cái tiếng rao bán hoa cỏ của công tử chứa chất dư âm cay đắng xót xa thế nào đó. Hôm nay cô chủ em đứng ở phía sau màn the song cửa nh́n thấy công tử, th́ suy ra thân thế công tử quyết nhiên chẳng phải là kẻ bán hàng rong tầm thường. Mong rằng công tử đừng lấy làm quái lạ về ngôn ngữ đường đột của em, công tử có phải thuộc  ḍng dơi “ Hà Hợp” và tên là “ Tam Lang” đó chăng?

Bất th́nh ĺnh nghe cô gái nói câu đó, tôi kinh hoàng tưởng như muốn co gị chạy trốn. Nhưng chợt nghĩ rằng cô gái kia chẳng hề có ư làm tổn hại tổn thương tôi ǵ cả, tôi bèn chậm  răi b́nh tĩnh đáp rằng:

- Thật đúng là tên của tôi đó. Tôi cần kiếm  tiền đi gấp sang Nhật Bản t́m thăm viếng mẹ, nên bất đắc dĩ phải làm bừa công việc  này. Dám mong cô nương đừng tiết lộ sự đó với ai, th́ tôi đội ơn cô không phải là ít!

Cô gái nghiêng thân xá tôi một cái, nói tiếp:

- Xin tuân lời dạy bảo! Công tử hăy trân trọng giữ ḿnh! Và xin công tử sáng mai trở lại chỗ này. Bây giờ em xin quay vào báo với cô chủ của em.

Lúc quay về nhà, ḷng tôi ngổn ngang trăm mối tâm sự, rầu rĩ cắm cúi bước đi.

 

 

CHƯƠNG NĂM

Ngày hôm sau, khi trời âm u nặng nề hơn cả ngày trước. Lúc tôi trở giấc dậy, cảm thấy tâm hồn bàng hoàng khôn tả. V́ sắp tới lúc phải tới hội ước với cô gái kia. Người đọc sách tới đây, ắt nghĩ rằng tôi đang bị vướng thân vào trong tấm lưới t́nh bối rối, và như vậy là đang lâm vào hiểm họa trở ngại cuộc thanh tĩnh pháp lưu. Làm tỳ kheo mà vướng víu tâm hồn như thế th́ ắt phải tiêu ma đạo hạnh thanh tu vậy. Kỳ thực, hằng ngày tôi vẫn tâm tư niệm tưởng: Ḿnh là thuộc sa môn đạo pháp, th́ sống vào  cơi tục, dù sao cũng giữ ǵn hạnh kiểm nết na, há đâu có hại ǵ mà lo sợ. Nào tôi đâu có ngờ tới những việc về sau! Tự thân tôi sẽ chịu những giày ṿ bứt rứt nào, tôi đâu ngờ ra được. Dần dà sẽ kể lại độc giả rơ đầu đuôi.

Tôi bước ra khỏi nhà, chính lúc đó, ḷng tôi trào dậy muôn loại hoang mang sầu muộn hồi hộp phập phồng. Thôn làng ven sông đang tế lễ Hàn thực, mưa gió phiêu hốt chan ḥa khắp mọi ngả. Tôi đưa mắt nh́n bốn bề, ḷng tôi xao xuyến một trận dị thường. Thầm nghĩ rằng cảnh vật u buồn ra như thế, quả thật chẳng là điềm lành. Rồi suy gẫm rằng cô tiểu thư kia ước định tương phùng như thế, ắt là có duyên do xa vời nào. Nếu không ǵ hết cả, th́ sao có tiều thư lại từng rơ biết tính danh tên tuổi của tôi.

Huống nữa là hôm qua chợt nh́n thấy mặt ngọc đầy vẻ đơn sơ thanh đạm trang nhă, phương dung tuyệt nhiên không có ǵ giống như những vẻ đẹp thông thường hấp dẫn! Há đâu có thể là một phường một loại với những dung hạ lưu nham nhở!

Tôi vừa bước đi vừa suy gẫm, chẳng bao lâu đă tới chỗ đầt đai hôm trước, ở bên dưới khung cửa sổ màn lụa xanh lơ. Tôi đứng bần thần khá lâu. Trước sau chẳng thấy động tĩnh ǵ hết.

Tôi c̣n đang trầm ngâm trong cuộc, tự nhủ “chẳng lẽ nào cô gái nọ lại có ư giỡn cợt chế giễu ta chăng”. Rồi nghĩ lại những lời cô đă thốt, th́ thấy mỗi lời mỗi tiếng đều là lời chí t́nh, sao c̣n có thể hồ nghi ǵ cho được?

Lúc mưa gió bắt đầu tạnh chút ít, cô gái hôm nọ chợt mở cửa ra, chẳng nói chẳng rằng, chẳng mỉm cười cười mỉm ǵ hết cả, lặng lẽ tới trước mặt tôi, và đưa hai tay ra với một phong thư nặng trĩu cả bàn tay. Tôi vừa định mở miệng hỏi, th́ cô gái đă quay gót. Tôi vừa định mở miệng hỏi, th́ cô gái đă quay gót. Tôi vội vă bóc phong thư ra xem, th́ thấy bao đầy vàng bạc. Ḷng tôi hoang mang nghi hoặc, ḍm kỹ thấy c̣n một tờ thư viết cho tôi. Hỡi ôi! Xem thư xong, tâm hồn tôi dao động ao xuyến dị thường, cơi ḷng như tan nát. Thư viết thế này:

“Thiếp là Tuyết Mai, đem nước mắt ḥa mực mà viết lá thư này trân trọng gởi Tam Lang.

Trước đây, em nghe người ta nói anh Tam Lang đă cạo đầu tóc mà đi tu, làm một ông  tỳ kheo trong cửa Phật. Em vốn nghĩ rằng tính t́nh anh vốn kiên tŕ với cái cơi cô đơn (cô đơn là tính chất, chất hằng đơn cô) nên em tin ngay lời thiên hạ đồn đại. Em đau đớn mấy phen toan kết liễu tính mệnh ḿnh. Đêm đêm tịch mịch nhớ anh, mà trong cơn mộng t́m không ra lối về tương kiến. Sống đă ra như thế, c̣n nói chi được nữa cái kiếp sống thừa! Gần đây, suốt mấy buổi mai, chợt nghe ra trong giọng rao bán cỏ hoa một âm thanh kỳ lạ em kinh hoàng nhận rơ đó là âm thanh dội từ đáy ḷng tâm sự của anh Tam Lang. Ngày xưa thuở em c̣n bé, đă từng được hai bên gia đ́nh hứa gả con cho nhau, em đă gặp anh một lần, th́ cảnh trạng cho tới ngày nay em vẫn c̣n chôn chặt trong tâm khảm. Cho tới buổi sáng vừa rồi, đứng sau song cửa nh́n thấy anh, em biết rơ đó chính là Tam Lang của em. Lúc bấy giờ, em cảm thấy hồn bay bổng mất đi đâu. Em không c̣n hiểu ǵ ra ǵ được nữa. Ḷng rộn ràng xao xuyến quá, liên tồn bất khả tự tŕ. Em muốn chạy thẳng ra trước mặt anh mà trần t́nh tâm sự nhưng danh nghĩa không cho phép. Nên đă sai tỳ nữ mạo muội bước ra bước ra hỏi han, khiến cho anh hoang mag như thế, em xin anh tam Lang hăy thương em mà thứ lỗi cho.

Kể từ ngày mẹ em qua đời cho đến ngày nay, em sống linh đinh sầu khổ, chẳng thiết cho tới sinh thú ở đời. Người mẹ ghẻ chẳng chút ân đức nào cả, chỉ thấy lợi mà quên t́nh nghĩa, xúi giục người cha già nua của em hủy bỏ cuộc ước định đính hôn ngày trước đi, và hăy nghĩ tới chuyện đem gả em cho một kẻ khác. Hỡi ôi, Tam Lang! Ḷng em chung thủy thế nào, vẫn tồn liên không dời đổi một chút cỏn con nào cả. Nếu một ngày em bị cha mẹ áp bức phải lấy một kẻ nào không phải Tam Lang, th́ em chỉ c̣n một bước đi đứng mà thôi. Ấy là vào cơi quyên sinh vậy. Th́ em dẫu có thịt nát xương ṃn đến ngàn vạn kiếp, trái tim của em vẫn chỉ biết có anh Tam Lang của em mà thôi. Trời xanh ở trên cao kia có đoái tưởng mà che chở cho em chăng trong những ngày điêu đứng này em cũng chẳng cần chi biết tới nữa.

Dè đâu hôm nay ngẫu nhiên run rủi em thấy mặt anh trở lại, mới hay rằng Tam Lang của em chưa đến nỗi nào. Cảm thấy ḷng trời bao dong, Thượng đế hiền từ rất mực, th́ ḷng em vui mừng biết lấy ǵ cân hoặc đo ra cho đầy đủ. Than ôi! Vũ trụ mang mang càn khôn rộng răi, doanh hoàn thế giới bao la, khắp mười phương quốc độ, nếu em bỏ anh, th́ em c̣n biết bám vào ai được nữa! Dẫn rằng biển cạn đá ṃn. Dẫu rằng sông dứt c̣n đàng tới lui… H́nh hài xương xẩu của em có thể chỉ như là một sợi tơ mỏng manh, nhưng  t́nh yêu trong máu của em th́ thật là liên tồn bát ngát. Nay em xin biếu anh trăm đồng vàng gọi là chút quà mọn phụng tŕnh, mong manh sớm mua vé đáp tàu về Nhật Bản viếng phu nhân và bàn bạc với phu nhân về cuộc t́nh duyên của chúng ta. Em đă trăm phen ngàn bận suy nghĩ về việc này, chỉ xin anh rủ ḷng thương liên tồn chiếu cố. Em đang ở trong cảnh cư tang phụ thân, không thể giăi bày tỉ mỉ, chỉ xin anh bảo trọng thân thể trên dặm đường dài”.

Nay kính thư

Tuyết Mai.

Té ra hỡi ôi! Tuyết Mai là vị hôn thê của tôi vậy. Nhiên như thế th́ tôi há đâu có thể bỏ rụng rơi nường được. Mà bỏ rụng nường để ôm gói cô độc đi đâu? Đi vào chùa mà bộc bạch với cửa “Không” về cái sự ngổ ngang của ḿnh ra như thế! Như Lai ôi! Bồ Tát ôi! Con xin giũ áo tỳ kheo của con vậy. Như Lai Bồ Tát hăy thể niệm cái cơi ḷng đó của con mà đừng có lối cuốn con vào trong cửa “Không” để hành hạ giày ṿ con suốt tam sinh làm chi như thế ra chăng nhẽ!!! Rừng Tía mà chi!! Tử Trúc Lâm mà chi! Ăn nhằm vào đâu mà chi cho đáng chứ! Cả rừng cả rú, cả sơn thụ cả lâm tuyền. Con xin trút giũ thảy thảy hết trở lại cho Như Lai, để suốt một b́nh sinh đi theo dấu chân liên tồn của Tuyết Mai tiên nữ. Nếu con không làm như thế, th́ oan nghiệt ngập trời c̣n ai có thể đảm đương giúp được cho con đó chăng ru? Suốt mười phương quốc độ, c̣n đâu không dội tiếng than van của một kẻ đă lầm đường c̣n liên tồn tiếp từng phen lạc lối? Độc giả ắt từng có phen nghĩ rằng tôi là đứa hồ đồ, mang áo cà sa vào ḿnh giữa một bể hận mông mênh, trời t́nh bát ngát như thế th́ đích thị tôi là đứa bất cận nhân t́nh nhân sự nhân vụ ở giữa cái khoảng nhân gian. Nhưng mà thật ra vốn từ xưa, tôi đă đành cạo trọc cái đầu khoác áo cà sa vào thân thể để đi tu, th́ đó chẳng qua chỉ là một cái phương sách t́nh nghi đắc dĩ, miễn là khả dĩ bảo tồn được cho cái sinh mệnh Tuyết Mai đó mà thôi.

V́ nên thử nghĩ rằng Tuyết Mai vốn ṇi kỳ nữ miêu cương, ôn tồn bát nhă “cổ đức u quang, nghiêm dong cựu hạnh”. Tôi xin bây giờ nói cho độc giả rơ rằng là người cha Tuyết Mai vốn là bạn thân của nghĩa phụ tôi. Lúc nghĩa phụ tôi chưa ĺa trần. Cha Tuyết Mai đă cùng nghĩa phụ tôi hứa gả Tuyết Mai cho tôi, từ cái thuở nàng c̣n liên tồn bé bỏng (sau này mới chậm răi lớn rộng dần ra).

Nhưng rồi về sau cha của nàng nhận thấy rằng gia đ́nh nghĩa phụ tôi vận mệnh càng ngày sa sút, c̣n người mẹ tôi thị bặt vô âm tín; ông ấy mới nảy sanh ra niềm hối hận ăn năn, muốn hủy bỏ lời hứa hôn ngày trước. Nhưng nàng Tuyết Mai cao nhă huy hoàng ra như thế, há nhiên đâu có thể can tâm điềm nhiên phụ ước. Thế rồi cha nàng và mẹ ghẻ của nàng đều chẳng đoái hoài lân mẫn chi tới đứa con gái, cứ bừa băi coi con gái chỉ như nhiên là một cái món đồ hàng hóa trao đổi bán buôn mà thôi. Liên tồn t́nh yêu? Cái đó đâu có nghĩa lư tí ti nào đối với những bậc phụ mẫu mẹ cha của con cái? Chỉ cần là làm sao bán món hàng cho được cao cái giá mà thôi. Trước cái sự thể nó ra như thế về cái uy quyền hà khắc kia của phụ mẫu, th́ một cô con gái yếu đuối c̣n đâu chốn đâu nơi, đâu chỗ, mà đặt cái miệng vào thốt cái lời cho ra cái tiếng? Dẫu rằng một tiếng thỏ thẻ nho nhỏ hoặc cỏn con mà thôi?

Từ đó Tuyết Mai chỉ c̣n biết ngậm đắng nuốt cay (và tiêu hóa giấm ớt) trong bụng dạ nàng mà  thôi .Không thể bày ṭ được nỗi ḷng với ai cả. Đó quả thật là điều người ta vốn bảo rằng: nỗi ai oán của những đứa con gái mồ côi kia, xét ra chỉ c̣n một cách là mang chở cái khối nặng xuống địa phủ để tŕnh bày với phụ mẫu và Diêm Vương. Th́ như thế c̣n yên vui sung sướng hơn là sống vật vờ ở dương gian kéo dây dưa cái cuộc đời nham nhở vậy. Điều đó, nếu không tự thân ḿnh mẩy h́nh hài thể nghiệm, th́ ắt chẳng thể nào hiểu được.

Trong lúc đó, tôi lớn lên dần dần. Lâu ngày chẳng đặng cùng Tuyết Mai tương kiến. Chẳng có duyên cơ nào hội nào để chứng minh t́nh yêu trong linh hồn của nhau một phen nào cả. Nhiên như thế, một lần nh́n ra cái t́nh huống kia, th́ ḷng tôi phiền muộn không thể nguôi được. Âm thầm suy gẫm, xét ra chỉ c̣n có một lối xuất gia quy y cửa Phật là khả dĩ dập tắt ngọn lửa thiêng liêng trong máu me yêu đương của trái tim và hai lá phổi của hồng nhan mỹ lệ kêu gào. Và khiến cho giai nhân từ đó có thể yên tâm mà t́m ra hạnh phúc gia đ́nh chắp nối với kẻ khác cái dây dưa dằng dặc. Nếu không làm thế, ắt cô gái tuyệt diễm danh muội kia phải ôm cái mối buồn bă rũ rượi chầy chầy mà khô héo mất cái tấm thân ngà ngọc chết đi, há có thể nào như thế được? Há chẳng nhận thấy sờ sờ rằng phụ mẫu của nàng tham lợi mà đâm ra ám trí óc, cam chịu để cho cốt nhục máu mủ ḿnh tan ră theo bụi cỏ lá cây, hơn là đem mà gả cho một thằng người ngợm đói rét đười ươi là cái đứa tôi đây?

Lúc bấy giờ tôi c̣n là đứa nhỏ tuổi khí thịnh máu hăng, xương xẩu dữ tợn, tôi đă quay đầu ngoảnh mặt mà đi, phiêu nhiên mà bước, t́m tới gơ cửa chùa Thường Tú tại Quang Châu, khẩn cầu Tán Sơ trưởng lăo cho phép tôi nhập môn, và trưởng lăo đă chấp thuận cho tôi vào làm “Biển Ô Sa Di”. C̣n cô Tuyết Mai, th́ tôi đă âm thầm phó thân phận bạc mệnh của nàng cho hồng ân. Như Lai Phạm Thiên Đế Thích, tha hồ Thích Ca xử trí nào ra sao th́ mặc Thích ca ra nấy (ra thế).

Những chương sách trên đây thuật lại nỗi niềm tưởng niệm thân mẫu lúc tôi ở tại chùa tức là sự t́nh nông nổi mấy tháng sau ngày tôi vào  chùa vậy.

  

 

[Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5]  [Nhà Sư Vướng Lụy 6 - 10] [Nhà Sư Vướng Lụy 11 - 15] [Nhà Sư Vướng Lụy 16 - 20] [Nhà Sư Vướng Lụy 21 - 26]