Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Đại Đế Asoka

 

Soạn giả: Hộ Giác

Xuất bản: Houston 2007

Chùa Pháp Luân

13913 S. Post Oak Rd.

Houston, TX 77045

 

 

---o0o---

 

MỤC LỤC

 

Đôi ḍng cảm niệm

 

Phần I 

Nơi Hoàng cung Pataliputra

Hoàng tử Asoka được đa số đại thần ủng hộ

Quá tŕnh xây dựng kinh đô Pataliputra

Quá tŕnh xây dựng (tiếp theo)

Đề bà đạt đa gợi ư A xà thế giết cha

Trong ṿng lao

Diễn tŕnh dời kinh đô

A dục buổi ấu thời

Nơi trung tâm Giáo Đường Takkasila

Mối t́nh rừng 

 

Phần II 

Bạn chí thân của Phụ Vương A dục

Một cuộc t́nh ngang trái

Ba tháng trước khi rời Giáo Đường

Trong ṿng tay mẹ hiền

Dẹp loạn Takkasila

Asoka hạnh ngộ mỹ nữ

Tái ngộ người xưa trong bẽ bàng

Lễ nhậm chức Phó Vương

Nồi da xáo thịt

Một cuộc săn thú rừng

  

Phần III 

Tiến hành mỹ nhân kế

Biến thù thành bạn

Chính thức đăng quang

Mở rộng biên cương

Hồi tâm

Không nên phóng dật

Asoka vấn đạo

Hoàng đệ Vitasoka

Chuyển Hóa

Vitasoka Hướng Thiện 

 

Phần IV 

Phó Vương xuất gia

Danh tăng thời Đại Đế

Công tác gởi sứ giả truyền đạo

Nghệ thuật kiến trúc thời Asoka

Trụ Đá và Bia

Trụ Đá và Bia Kư (tiếp theo)

Trụ Đá và Bia Kư (Trúc Lâm Việt dịch)

Hoàng tử Kunala

Một thảm họa

Phụ tử trùng phùng

Hoàng hôn của kiếp người

Sanh ra để làm ǵ

Vật thí sau cùng

Trường ca Kalinga (Trúc Thiên dịch)

 

 

Đôi Ḍng Cảm Niệm

 

Năm 1957, chúng tôi tu học tại cao đẳng Phật học viện Srisumana Vidyalaya, đồng thời theo học trường Srisumana College, tỉnh Ratnapura, nước Srilanka. Theo Phật lịch th́ năm 1957 là đúng 2500 năm tính theo tuổi thọ 5000 năm giáo pháp của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni. Chánh phủ Ấn Độ lần đầu tiên mở cửa cho các hành Phật tử trên thế giới được đến hành hương bốn thánh địa và những địa danh Phật tích chỉ trả nửa giá tiền trong các tuyến đường xe lửa.

Nhân cơ hội ngàn năm một thưở và tháng năm là tháng nghỉ hè.  Chúng tôi gồm ba tu  sĩ một vị sư Miến Điện, một vị sư Lào và tôi. Trong ba huynh đệ, tôi tương đối nói được tiếng Anh.  C̣n hai sư không nói được.  Do đó, mọi chủ trương do tôi đảm nhiệm. 

Trong chuyến hành hương lần đầu tiên này quả thật vô cùng vất vả, v́ chưa nắm vững tuyến đường, giờ giấc, sân ga, phuơng hướng nhất là về đêm. Chưa thông thạo xe lửa Ấn Độ, chúng tôi nghĩ hạng nh́ là quá tốt.  Không ngờ phải chen lấn vô cùng cực khổ lúc lên xe cũng như chỗ ngồi.  Có đêm, xe đang chạy, thức giấc đi vệ sinh, chân tôi bỗng cảm thấy đạp trên vật ǵ mềm mềm quan sát kỹ, th́ ra trong khi ngồi ngủ, đă có người chui vào nằm dưới chân ḿnh.

 

Có một lần đang ngon giấc, bỗng tiếng loa báo cho biết phải xuống sân ga này, v́ tàu sẽ đi sang tuyến đường khác.  Ba chúng tôi lật đật rời tàu nửa khuya.  Phần buồn ngủ, phần chưa biết giờ giấc tuyến đường, phương hướng v́ sân ga Ấn Độ quá rộng, thêm nhiều chục đường rầy chằng chịt rất khó t́m số chuyến xe sắp tới.  Tôi nói với hai huynh đệ ngồi chờ tại chỗ đừng di chuyển v́ nếu lỡ lạc nhau th́ vô cùng khổ sở.  Sau khi tôi hỏi nơi pḥng thông tin và nắm được giờ giấc, tuyến đường, số chuyến tàu và sân ga sẽ đến, tôi bèn trở lui t́m hai bạn.  Gặp nhau mừng hết lớn. Mới hai giờ khuya, chúng tôi t́m chỗ ngủ.  Người ta nằm ngủ đông nghẹt, những nơi tương đối sạch không c̣n, chúng tôi đành trải ba lô chỗ vừa dơ vừa hôi nằm ngủ.  Nhờ đă quá buồn ngủ nên vừa đặt ḿnh nằm xuống là ngủ ngay, không c̣n nghe mùi thơm thúi. 

Suốt cuộc hành hương, ngoài phương tiện di chuyển bằng xe lửa, chúng tôi sử dụng mọi phương tiện như xe bus thỉnh thoảng mới có, xe ngựa, xe kéo, đi bộ. Ăn th́ vào quán b́nh dân. Một miếng lá chuối làm dĩa.  Thức ăn đổ lên trên cơm và rưới thêm một ít sữa tươi.  Lẽ dĩ nhiên ăn bốc. 

Một hôm, trên tuyến đường đến Bồ đề đạo tràng, v́ thiếu kinh nghiệm, không t́m được bất cứ phương tiện di chuyển nào, chúng tôi đành đi bộ.  Trời chiều bảng lảng bóng vàng, chúng tôi cố gắng bước đi trong lo âu và hoang mang v́ hai bên đường vắng vẻ, không nhà cửa, xóm làng.  Lại thêm nỗi khổ rất lớn v́ không biết c̣n bao lâu nữa mới tới Bồ đề đạo tràng.  Đêm xuống, chúng tôi vừa bước đi vừa niệm Phật.  Trời lạnh, ḷng chúng tôi càng lạnh hơn. Chúng tôi thầm cầu nguyện xin cho thấy được ánh đèn.  Phật lực nhiệm mầu, quả thật không lâu lắm, một ánh đèn xuất hiện xa xa phía tay mặt.  Phấn khởi, lên tinh thần, chúng tôi ráng đi nhanh tới nơi mới biết, đây là tịnh thất nhà sư Miến Điện tạm ở cùng với ba người thợ. 

Tịnh thất cao cẳng.  Chu vi khỏang bốn thước vuông vức.  Vị sư khoảng trên dưới 50 tuổi.  Ba người thợ đoán chừng từ 40 đến 55 tuổi.  Trước nhà sư, một ḷ sưởi thật ấm.  Sau khi đảnh lễ và lấy lại tinh thần, tôi may mắn c̣n nhớ tiếng Miến điện không nhiều nhưng cũng vừa đủ để xin tá túc một đêm.  Tôi cũng ráng moi chữ tŕnh ngài là tôi từng là kết-tập-viên kỳ kết tập tam tạng lần thứ sáu tại động nhơn tạo KaBa Eye, Rangoon. 

Thượng tọa rất hoan hỉ và đăi ba huynh đệ chúng tôi mỗi người một tô nước thật ấm có pha đường, v́ chư tăng Miến Điện không uống trà sau ngọ.  Tuy là nước ấm pha đường nhưng chúng tôi cảm thấy ngon lạ lùng, ngon tuyệt. Phần ngồi gần ḷ sưởi, lại thêm được uống nước nóng pha đường, chúng tôi cảm thấy vô cùng sảng khoái.  Thượng tọa nhă nhặn cho biết, ngoài dụng cụ thợ mộc và một số dụng cụ xây cất cộng thêm bốn người, quả thật không c̣n chỗ cho chúng tôi ngủ chung trong tịnh thất.  Tuy nhiên, thượng tọa cho biết, gần bên tịnh thất c̣n ngôi phước xá mới vừa lợp nóc, chung quanh chưa có vách phên cửa nẻo.. Nghe qua mừng hết lớn.  Chúng tôi chỉ cần có chỗ che mưa để ngủ. 

Thượng tọa cho dụng cụ trải lót.  Chúng tôi sử dụng ba lô để nằm cho ấm, lẽ dĩ nhiên có giăng mùng.  Hai huynh đệ ngủ rất say, không c̣n hay biết chuyện ǵ xảy ra bên ngoài.  Duy tôi th́ giấc ngủ chập chờn nên cảm thấy khí lạnh len vào trong mùng, lại thêm gió thổi đưa khí âm hàn khiến càng thêm lạnh.  Mặc dù có đắp mền nỉ, tôi không thấy ấm chút nào.  Trăn trở, nằm đủ tư thế, tôi vẫn thấy trong người càng lúc càng lạnh hơn.  Tôi ngồi xổm ôm đầu gối, kéo đứt dây mùng trùm thêm cũng không bớt lạnh.  Bụng tôi dần dần căng cứng.  Tôi bắt đầu cảm thấy khó thở, hơi thở càng lúc càng ngắn.  Dường như tử thần lộ mặt và tiến về phía tôi. 

Trước thần chết, tôi vô cùng hoảng sợ và không biết phải làm ǵ.  Thật là một phúc đức lớn, một quá tŕnh tu tập chỉ, quán qua đề mục hơi thở từ lúc bảy tuổi đă tác động tư duy: hăy nhất tâm niệm hồng danh Phật.  Nếu thực sự được chết nơi đất Phật th́ đó cũng là một diễm phúc.  Mặc dù cố gắng nhất tâm niệm Phật nhưng thiếu áp dụng phương pháp phối hợp theo dơi hơi thở nên kết quả không tích cực.  Ngay lúc ấy, tôi liền quán hơi thở vô ra dài ngắn.  Nhờ thở vô dài, lâu, sâu bền, chắc cũng như khi thở ra đều áp dụng phương thức chánh niệm, tỉnh giác liên tục trong suốt thời gian ước chừng mười phút, tôi cảm thấy trong bụng bớt căng, người bớt lạnh.  Quá vui mừng, phấn khởi, tôi kiết già tiếp tục quán niệm hơi thở và, tôi đă ngủ quên trong tư thế ngồi.  Sáng hôm sau, thượng tọa cho điểm tâm thật sớm.  Chúng tôi đảnh lễ thượng tọa rồi ra đi về Bồ đề đạo tràng. 

Bốn thánh địa đều có thạch trụ do Đại đế Asoka cho dựng lên để di lưu những sự kiện lịch sử liên quan sự thị hiện giáng trần (Lumbini), thị ngộ chánh đẳng giác (Buddhagaya), thị chuyển pháp luân (Saranath), thị nhập Niết Bàn (Kusinara). 

Tôi thầm biết ơn sâu sắc những công tŕnh di lưu chánh pháp mà những thạch trụ là điển h́nh cụ thể.  Nếu không có đại đế Asoka, vị Đại Hộ Pháp mà thành tích tŕ truyền Chánh Pháp vô tiền khoáng hậu th́ Phật tử trên khắp thế giới cũng như cá nhân nhỏ bé của tôi làm sao biết được và trực tiếp đến tận nơi thánh địa hành hương chiêm bái cúng dường mà công đức tác thành những kiếp sống vĩnh viễn không bao giờ đọa vào khổ cảnh đọa xứ. 

Chúng tôi cũng vô cùng biết ơn các vị tiền nhân hữu công đại chiêm bái như các ngài: Pháp Hiển, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh mà qua sử liệu được chính thức lưu bố của ngài Pháp Hiển là bộ Pháp Hiển truyện; của ngài Huyền Trang là bộ Đại Đường Tây Vực Kư; của ngài Nghĩa Tịnh là bộ Nam Hải Kư Qui Nội Pháp truyện đều có ghi chép thật rơ ràng từng chi tiết: thời gian, không gian, địa danh, nhân danh, xa gần, cao thấp, rộng hẹp.  Những sử liệu hầu hết tương đồng, khả tín.  Thành thật mà nói, nếu không có thạch trụ hoặc thạch pháp do Đại đế Asoka lưu bố th́ ba nhà đại chiêm bái Trung Hoa cũng không biết phải căn cứ vào đâu để hành hương và ghi chép.  Chính sự kiện thực tiễn này khiến chúng tôi càng cảm phục và tri ân Đại Đế Asoka nhiều hơn. 

C̣n nhà khảo cổ người Anh Alexander Cunningham đă gia công khai quật và khám phá được những di vật đặc thù mà giá trị lịch sử minh chứng, thời gian là dấu ấn, không gian là kho tàng mà người chủ trương thiết lập là Đại đế Asoka.  Nếu không có những di vật lịch sử do Đại đế sáng tạo th́ liệu nhà khảo cổ Alexander Cunningham có hoàn thành công tác đặc trách. 

Chúng tôi vô cùng biết ơn nhà khảo cổ hữu tài, hữu tâm này. Chính nhờ công tŕnh thù năng làm hiển lộ sử liệu bị thời gian chôn vùi khá lâu dưới ḷng đất mà giá trị tâm linh vô cùng thiêng liêng suy trọng của đại khối Phật tử năm châu về mặt tín ngưỡng và, của nhân loại trên thế giới về kiến thức khảo cổ học và khoa học.  Nói cách nào đi nữa th́ sự thành công cận đại của nhà khảo cổ Alexander Cunningham hoàn toàn liên quan công tŕnh lưu bố sử liệu cổ đại của Đại đế Asoka.  Qua cảm nghĩ thực tế này, chúng tôi càng biết ơn sâu xa, vô cùng ngưỡng phục Đại đế.  Cùng chung ḍng cảm nghĩ, chúng tôi không thể không đề cập đến hai vị tiền bối hữu công trong công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi chính phủ Ấn phải chính thức thừa nhận những thánh địa trọng yếu, gồm Lumbini nơi thị hiện đản sanh, Buddhagaya nơi thị ngộ chánh giác, Saranath nơi Đức Phật thị chuyển pháp luân, Kusinara nơi Đức Phật thị nhập niết bàn và, những thánh tích liên quan đời sống sinh hoạt Phật sự hoằng dương chánh pháp và cứu độ chúng sanh, đó là Dr. Ambedcar người Ấn Độ, đại cư sĩ hộ pháp Anagarika Dhammapala người Srilanka. 

Chính nhờ công tŕnh vận động tích cực hợp pháp của hai vị mà những thánh địa và những thánh tích được chính phủ Ấn Độ chính thức công nhận là thuộc sở hữu của Phật giáo.  Đối với hai vị đại ân nhân này, chúng tôi thiết nghĩ bút mực không đủ chép ghi, lời lẽ không đủ diễn tả đúng và hết.  Chúng tôi vô cùng biết ơn, niệm ơn và nhớ ơn.  Càng nhớ ơn nhị vị, chúng tôi lại càng vô vàn biết ơn Đại đế Asoka. 

Tổng hợp những ḍng cảm nghĩ dẫn thượng, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải ghi chép những ǵ có liên quan đến Đại đế Asoka dù ít nhiều cũng để tỏ ḷng biết ơn sâu sắc và chân thành đối với một bậc minh quân đại hộ pháp. Nhưng cũng tự biết với khả năng hạn hẹp sinh ngữ chúng tôi không đủ điều kiện soạn viết trọn vẹn, đầy đủ tiểu sử vị Đại đế này.  Và rồi cuối cùng tâm nguyện thiết tha ấp ủ trong ḷng suốt thời gian hơn 30 năm được thực hiện.  Cách này khoảng 5 năm, trong một chuyến đi Thái Lan thỉnh thêm bộ đại tạng kinh chữ Thái do chùa Mahadhat ấn hành, nghĩa là chúng tôi đă có hai bộ đại tạng kinh cũng bằng chữ Thái từ lâu: một bộ bằng nguyên văn Pali và một bộ bằng Thái ngữ của Pháp-bảo-phường đại học Mahamakut Rajavidyalay ấn hành; một bộ đại tạng chữ Thái thứ ba của nhà xuất bản Sw Dhammabhakdi ấn hành.

 Chính trong lần thỉnh Đại tạng kinh thứ tư này, chúng tôi vô cùng vui mừng v́ thỉnh được quyển Chom Chakkavatti Asoka tức “Đại đế Asoka” do tác giả Vasin Indasara chuyển dịch từ nhiều tác phẩm Anh văn của nhiều tác giả đă ấn hành từ lâu ở Trung Ấn.  Cơ may đến, không dám bỏ qua.  Tôi liền bắt tay phiên dịch.  Công tŕnh thường bị gián đoạn v́ nhiều lư do ngoài ư muốn.  Tuy nhiên, có khởi hành th́ sớm muộn rồi cũng phải đến đích. 

Soạn dịch phẩm này được hoàn tất là nhờ tín nữ Vũ Bạch Tuyết, pháp danh Panna phụ trách vi tính hai phần tư, phần c̣n lại nhờ tín nữ Nguyễn Kim Phụng, pháp danh Diệu Hỷ vừa chuyên trách vi tính vừa tŕnh bày thứ tự nội dung, cùng như h́nh b́a quyển sách.  Hoà thượng Bửu Phương cẩn duyệt phần chính tả. 

Về phương diện tài chính, ngoài ba tín nữ: Diệu Mỹ hùn phước 500 US, Diệu Huệ hùn phước 500 US, Diệu Quang (Thụy Sĩ) hùn phước 500 US. Phần c̣n lại là 2000 US gia đ́nh thiện nam Nguyễn Quốc Hưng pháp danh Minh Tâm phát tâm bảo trợ.  Chính sự trợ duyên thù thắng này tác thành công tŕnh đă tiến hành khá lâu, nay được thập phần viên măn.

Chúng tôi vô cùng cảm kích và tán thán.  Thành tâm hồi hướng công đức pháp thí qua sự hợp tác công, của nhằm hoàn thành tập sách này đến các bậc ân nhân, và thân nhân đă quá văng của quư vị được siêu sanh lạc cảnh; c̣n hiện tiền được tăng long phước thọ; bản thân và gia quyến được hưởng năm phước lành: dung sắc, thù thắng, thọ mạnh lâu dài, thân tâm an lạc, sức khoẻ đủ đầy, trí tuệ minh mẫn.

 

Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo thùy từ gia hộ thế giới ḥa b́nh, chúng sanh an lạc.

 

Mùa Thu, năm 2007

Kiến Canh Tuất, Tiết Hàn lộ

Ngày 10 tháng 9 Đinh Hợi

(Nhằm ngày 20 tháng 10)

Hộ Giác

 

 

 [xem tiếp phần 1]  [xem tiếp phần 2]  [xem tiếp phần 3]  [xem tiếp phần 4]

            Minh Quang posted September 1, 2008

[Home] [Up] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]