Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Đại Đế Asoka

 

Soạn giả: Hộ Giác

 

Phần III 

Tiến hành mỹ nhân kế

Biến thù thành bạn

Chính thức đăng quang

Mở rộng biên cương

Hồi tâm

Không nên phóng dật

Asoka vấn đạo

Hoàng đệ Vitasoka

Chuyển Hóa

Vitasoka Hướng Thiện 

 

 

Tiến Hành Mỹ Nhân Kế

 

Mặc dù Kannika chưa có chức vụ ǵ chính thức nhưng Asoka đối xử với nàng có phần biệt lệ.  Một hôm, Srikhirin tâu:

- Muôn tâu, lệnh Hoàng thượng định xử trí thế nào với Kannika.

- Th́ cứ để cô ta sống tự do.  Hoàn cảnh cô ta thật đáng thương.  Trẫm cảm thấy đồng bệnh tương lân, ngoài ra không có ư nghĩ ǵ khác.

- Muôn tâu, thần không dám, thần chỉ băn khoăn, lo lắng.  Không biết cô ta đến với thiện ư hay có mưu đồ ǵ khác.  Thần dám mong Hoàng thượng cho phép thần được tiếp xúc cô ta.

- Tốt lắm, tốt lắm!  khanh cứ tự nhiên.

Trong cuộc gặp gỡ sơ giao., Srikhirin có cảm giác từng gặp cô ta ít nhất một lần ở đâu đó mà trí nhớ hữu hạn không cho phép chàng khẳng định thời gian hoặc không gian.  Tuy nhiên, trong chiều sâu kư ức, Srikhirin tự biết ḿnh không lầm.

Một hôm, Srikhirin tâm sự với Venupala về sự xuất hiện của Kannika khiến chàng lo ngại, không an tâm.  Srikhirin cũng cho Venupala biết về kư ức liên quan Kannika mà cảm giác đă từng gặp mặt tuy không khẳng định cụ thể môi trường, địa điểm.  Srikhirin lo lắng an nguy của Đức vua, nên hạ quyết tâm nhờ Venupala cải trang đến tận địa phương sinh quán Kannika điều tra cho biết thực hư và cho biết kết quả trong thời gian kỷ lục.  Venupala quả thật xứng đáng vừa là cấp thừa hành bản lănh vừa là bạn chí thân của Srikhirin nên đă tích cực làm việc trong hai yếu tố lư, t́nh.  Xong công tác tuyệt mật, Venupala báo cáo chính xác, không có người con gái nào tên Kannika và cũng không có gia đ́nh nào mang lư lịch như Kannika đă man khai.  Ngay cả những vị bô lăo kỳ cựu cũng xác nhận hoàn toàn không có.  Nắm được sự thật t́nh tiết, Srikhirin càng thêm bồn chồn lo sợ.  Venupala đề nghị nên tấu tŕnh Đức vua.  Srikhirin đắn đo:

- Với bấy nhiêu sự kiện thực sự chưa đủ yếu tố cụ thể.  Không khéo lại chạm ḷng tự ái Đức vua.  Hơn nữa, Ngài sáng suốt hơn chúng ta nhiều.  Biết đâu Ngài đă chẳng dự sẵn đối sách.  Vả lại, đối với Kannika Đức vua chỉ thương hại, tội nghiệp v́ đồng bệnh tương lân.  Trên thực tế cho đến hôm nay Ngài vẫn không có quan hệ thể xác.  Chỉ sợ có mà chúng ḿnh không biết th́ quả thật dưỡng hổ di họa, nuôi rắn chuồng gà.  Cầu mong sự có mặt của Kannika là sự dun rủi của thành tâm thiện ư mà không phải do động cơ bất chính bí mật điều khiển, Srikhirin vừa nói vừa chắp tay cầu nguyện.

Phải chi có Savavat ở đây th́ đỡ khổ cho chúng ta biết mấy, anh chàng bản tính b́nh tĩnh, sáng suốt, không ham sắc tài, không màng quyền lực.  Cái đức tính nổi bật nhất là không bao giờ quay lưng bỏ bạn trong cơn nguy biến, Venupala nói giọng buồn buồn v́ nhớ bạn: không biết anh chàng triết gia nhà ta hiện đang chu du phương trời nào và có c̣n nhớ chúng ta không.  Thôi th́ cứ để anh ta vui thú hải hồ, khi nào chồn chân mỏi gối, anh ta sẽ trở về với chúng ta.

- C̣n chuyện Kannika bạn tính sao?  Venupala gạn hỏi:

- Th́ luôn luôn cảnh giác cao độ để kịp thời đối phó, hộ giá Srikhirin xác quyết và nói tiếp: Các bậc hiền triết dạy: trên thế gian có bốn hạng người không nên tuyệt đối tin tưởng.

1.   Không nên tin kẻ trộm dù người ấy từng là cố hữu.

2.   Không nên tin ḿnh sẽ được nhà vua măi măi biệt đăi tin dùng.

3.   Không nên tin người nữ thực sự yêu ḿnh vô điều kiện.

4.   Không nên tin người có khí giới trong tay.

Khoảng một tháng sau, đương đêm Srikhirin được lệnh triệu vào cung khẩn cấp.  Thay v́ vào cửa chính, Srikhirin lại đi cửa phụ.  Quân canh quá quen vị tự lệnh phó được Đức vua tín cẩn và là cấp chỉ huy trực tiếp của ḿnh nên Srikhirin ra vào tự do, xuất nhập bất cấm.  Nhưng khi qua khỏi cổng gác không xa, chàng bỗng thấy bóng một thị nữ cũng từ ngoài cổng đi vào.  Quân canh cũng quá quen h́nh ảnh các thị nữ thường xuyên ra vào nên không xét hỏi gắt gaoQua khỏi cổng, cô ta đi rất nhanh có vẻ lén lút.  Sinh nghi, Srikhirin bí mật theo dơi.  Cô ta đến một gốc cây tương đối kín đáo và đứng nép ḿnh ngó quanh như nóng ḷng chờ đợi.

Là một viên vơ tướng thượng hạng kiêm chức phó tổng tư lệnh quân đội, Srikhirin quá quen với bóng tối, chàng ẩn ḿnh một nơi kín đáo, không quá xa, không quá gần mà theo kinh nghiệm với đôi tai thật thính chàng có thể nghe được đối thoại của đối phương.  Không phải ẩn ḿnh chờ lâu, chàng thấy một thiếu nữ từ phía hậu cung đi tới, hai người ôm chầm lấy nhau âu yếm quấn quit không rời.  Srikhirin đang ngần ngơ v́ cảnh tượng hai thiếu nữ tỏ t́nh luyến ái nhau như vậy, th́ đột nhiên chàng nghe một thiếu nữ cất tiếng gọi:

- Somavika em yêu, anh nhớ em quá! cầm ḷng không được nên mới cải trang vào thăm em, bất chấp nguy hiểm.  Em có nhớ anh không?  Anh nóng ḷng quá, không biết chừng nào chúng ta mới có thể sống chung chính thức và tự do yêu thương ân ái mà không c̣n lo sợ.  À! Mà chừng nào em mới hạ sát được Asoka?

- Tâu Hoàng tử, Hoàng tử nóng ḷng bao nhiêu th́ em cũng nóng ḷng bấy nhiêu, có thể nói – em c̣n nóng ḷng hơn Hoàng tử nhiều.  V́ em chỉ có một ḿnh Hoàng tử.  Trong khi Hoàng tử th́ có bao nhiêu là mỹ nữ, văn quan, vơ tướng và thần dân bá tánh… nhưng thưa Hoàng tử, đây là một công tác vô cùng nguy hiểm và muôn vàn khó khăn.  Cái nguy hiểm th́ em không ngại v́ em sẵn sàng chết v́ Hoàng tử, v́ t́nh yêu.  Duy cái khó khăn trong hành động mới khiến em băn khoăn lo nghĩ t́m cơ hội ra tay đến đỗi thân xác phải héo hon gầy guộc.  Mặc dù thuốc độc Hoàng tử đă giao cho em, nhưng t́m cơ hội hạ độc th́ quả thật khó như lên trời.

Để khích lệ và an ủi tinh thần Somavika, Hoàng  tử Virabala sử dụng toàn bộ bí quyết yêu đương khiến Somavika cảm thấy sung sướng ngập ḷng không c̣n cảm thấy hoang mang lo sợ mà chỉ cảm nhận sự hy sinh của ḿnh là khế hợp lư t́nh, vô cùng xứng đáng.

Biết rơ đầu đuôi âm mưu Hoàng tử Virabala dùng Somavika làm mỹ nhân kế sát hại Đức vua Asoka bằng độc dược, Srikhirin lập tức rời chỗ ẩn núp, truyền lệnh quân lính gác cổng bằng mọi giá phải bắt giữ người thị nữ đi ra giao nộp trực tiếp cho ḿnh.  Sau khi truyền lệnh cho quân gác cổng, Srikhirin quay trở vô và theo dơi Somavika.  Thấy nàng đi nhanh về hướng tư pḥng, chàng đi theo sau cố t́nh gây tiếng động.  Nghe động, Somavika quay lại, thấy chàng, nàng chào:

- Thưa tướng quân, đêm khuya, chẳng hay có chuyện ǵ mà tướng quân lại đi qua đây?

Để đánh lạc hướng tư tưởng nghi ngờ sự hiện diện khuya khoắt của ḿnh, Srikhirin giả bộ xin lỗi và tán tỉnh khéo:

- Cô Kannika, tha lỗi cho tôi nhé! Tôi thường nghe những người trong nội cung tán dương sắc đẹp của cô.  Họ nói cô mới thực sự là một mỹ nữ.  Tôi gặp cô chỉ một lần nhưng lúc bấy giờ v́ mang nhiều tâm sự buồn phiền nên cô không muốn nh́n ai.  Tuy vậy, toàn thân cô vẫn tỏa ra hấp lực của sang trọng và đài các.  Nhưng hôm nay th́ trông cô đẹp một cách diễm lệ trên sự tưởng tượng của tôi.  Thành thật cám ơn cô.

Somavika cúi đầu e thẹn:

- Em xin cám ơn tướng quân đă có lời khen ngợi.  Có lẽ tướng quân khẩn báo quân t́nh với lệnh Hoàng thượng nên mới nhập cung đêm tối như vầy.

- Phải, phải, cám ơn cô đă nhắc nhở.  Chúc cô ngủ ngon.

Sau khi bệ kiến Đức vua, Srikhirin khẩn trương tường tŕnh tất cả diễn tiến cuộc âm mưu vô cùng độc hiểm mà ḿnh trực tiếp phát hiện bằng mắt thấy, tai nghe chính xác, không lầm lẫn và cũng đă xử trí như thế nào đối với Hoàng tử VirabalaKannika.  Long nhan xạm xuống, cặp mắt như đổ hung quang, Asoka đứng phắt lên và đi về hướng cổng sau, Srikhirin hộ giá không rời một bước.  Nh́n Hoàng tử Virabala giả gái, Asoka hỏi gọn:

- Có phải ngươi là Virabala?

- Muôn tâu, chính hạ thần.

- Ngươi không c̣n phương cách nào khác nên mới dùng hạ sách mỹ nhân kế để giết trẫm.

- Muôn tâu, hạ thần đáng tội chết.

- Nếu ngươi thành công th́ người chết là trẫm.  Bằng ngược lại th́ ngươi cũng đừng trách trẫm.

Asoka truyền lệnh mở trói Hoàng tử Virabala và chỉ một đường gươm nhanh như chớp thủ cấp Viraba lăn long lốc trên nền gạch.

Ngày hôm sau, cái tin Hoàng tử Virabala cải trang thị nữ vào cung mưu sát Đức vua nhưng bị quân gác cổng phát hiện kịp thời và cuộc đụng độ đẫm máu diễn ra giữa Hoàng tử và quân canh.  Cuối cùng Hoàng tử bị quân canh hạ sát trong khi quân canh cả hai đều bị thương rất nặng.  Đồng thời họ cũng đồn đăi cuộc tiếp xúc bí mật giữa SrikhirinKannika - chuyện này do một thị nữ muốn ra ngoài hành lang, nhưng vừa mở cửa pḥng th́ thấy Srikhirin Kannika đang tṛ chuyện với nhau có vẻ thân mật.

Tương kế tựu kế, buổi chiều cùng ngày, Đức vua lệnh đ̣i SrikhirinKannika vào hầu.  Đức vua phán hỏi Kannika về cuộc tiếp xúc giữa khuya đêm trước của hai người như thế nào hăy thật thà khai báo.  Kannika tầu tŕnh rất khéo:

- Muôn tâu đêm qua, tiện nữ cảm thấy nóng nực trong nguời nên thả bộ ngoài trời trong vườn hoa gần chỗ ở.  Vừa cảm thấy mát mẻ dễ chịu, và đang trên pḥng, tiện nữ bỗng nghe có tiếng động, quay lại nh́n, tiện nữ thấy ngài phó tư lệnh, đứng lại nói chuyện một vài câu nhưng không ngờ ngài phó tư lệnh muốn vào pḥng tiện nữ.  Thấy thái độ cự tuyệt của tiện nữ, ngài phó tư lệnh có vẻ không vui và bỏ đi.

Đức vua tỏ ra giận dữ:

- Srikhirin, thật uổng cho trẫm xem ngươi như bào đệ, thương quư như tay chân.  Ngưoi khiến trẫm vô cùng thất vọng, đau ḷng.  Trẫm tin tưởng ngươi, giao trọng trách phó tổng tử lệnh toàn quyền chỉ huy, điều khiển bốn bộ binh chủng.  Tưởng rằng ngưoi sẽ trung thaàh tuyệt đối với trẫm, là mắt tai của trẫm, giúp trẫm an tâm giữ vững ngai vàng và hoành thành sứ mạng trị nước chăn dân.. Thật không ngờ!  Hoàn toàn không ngờ, ngươi đă phản bội trẫm.  Bôi tro trát trấu lên mặt trẫm, th́ trẫm làm sao có thể tin dùng ngươi được nữa.  Trẫm cho ngươi cơ hội thanh minh, ngươi tự biện hộ đi.

Vẫn trong tư thế quỳ cúi đầu, Srikhirin sợ sệt, nghẹn ngào tâu:

- Muôn tâu, thần đáng tội chết.  Thần đă không xứng đáng trong vai tṛ, chức vụ cao quư mà lệnh Hoàng thượng đại ban.  Thần cảm thấy vô cùng nhục nhă đối với ân đức biển trời mà lệnh Hoàng thượng đă ân sủng, xem thần như bào đệ, thế mà thần đă không biết trân quư bảo tŕ.  Cũng như chức vị mà lệnh Hoàng thượng tin dùng giao phó, hạ thần đă hành động, xử lư không quang minh chính đại khiến Hoàng thượng phải thất vọng.  Nhớ ngày lệnh Hoàng thượng chính thức hạ lệnh cho thần được phục vụ dưới trướng, hạ thần đă tuyên thệ tuyệt đối trung thành và xin được hy hiến mạng sống đặt dưới bàn chân lệnh hoàng thượng.  Giờ th́ xin lệnh Hoàng thượng tùy nghi xử phạt.  Dù chết, hạ thần không dám một lời oán trách.

Thấy lời nói man khai của ḿnh có kết quả trên mức tưởng tượng, Kannika cười nhẹ nhàng, kín đáo.  Cử chỉ này không lọt khỏi ánh mắt sáng như sao của AsokaĐức vua hạ lệnh nhốt Srikhirin vào ngục thất chờ ngày lănh án.  Quay sang Kannika, Đức vua vui mừng ra mặt và hết lời ca ngợi:

- Kannika, trẫm lấy làm sung sướng và tán thưởng thái độ cự tuyệt không cho Srikhirin vào tư pḥng dù cho ngươi chỉ là con gái gia đ́nh Bà la môn ở tận lâm thôn mà có được một tâm hồn vô cùng cao khiết.  Nếu là nữ nhân khác, chắc chắn sẵn sàng chấp nhận t́nh cảm phó tổng tư lệnh v́ sẽ có tương lai sự nghiệp cũng như t́nh yêu hạnh phúc.  Đa số nữ giới có sắc đẹp bên ngoài nhưng đời sống nội tâm dục niệm nặng nề, không đẹp như ngươi.  Trái lạ, ngươi chẳng những dung sắc đă đẹp mà tâm hồn th́ càng đẹp hơn.  Kannika đúng là tiên nữ giáng trần để rải ban phúc lạ cho ai được diễm phúc sống gần gũi và tiếp cận.  Từ nay, Kannika hăy sống kề cận trẫm nhất là phụ trách vai tṛ gia chánh chuyên lo ẩm thực cho trẫm.

Kannika khấu đầu nhận lệnh và xin phép cáo lui.

Về đến tư pḥng, nàng muốn thét lên v́ sung sướng, nàng tự nghĩ: cơ hội trả thù cho Hoàng tử Virabala người mà nàng đă hy hiến tất cả, đă yêu quư trên cả mạng sống của ḿnh, thế mà Asoka đă nhẫn tâm sát hại chẳng chút lưu t́nh khiến nàng sống không bằng chết.  Asoka mà cuộc đời nàng mất tất cả chỉ c̣n lại cái xác nhưng vô hồn.  Nàng quyết định, sau khi hạ độc giết được Asoka, nàng cũng sẽ tự sát.  Nếu không, th́ nàng cũng sẽ tránh không khỏi bị hành h́nh sau khi hành động mưu sát Đức vua bị phát giác.  Nàng hướng về cảnh cửa thành công mà nàng đă mất thời gian khá lâu cậy mở nay đă tự động mở toang.  Thật là cơ hội ngàn năm một thưở.

Tối hôm ấy, Đức vua cải trang vào thăm Srikhirin.  Một người bạn tri kỷ, một cộng sự viên thân tín, một cánh tay mặt đắc lực, nhất là thừa thông minh để biết rơ tại sao Đức vua phải xử trí với ḿnh như vậy.  Nên quỳ cúi đầu chào vô cùng cung kính và cũng không kém phần sung sướng.  Đức vua vừa vui cười vừa nói:

- Srikhirin, trẫm xin khanh vui ḷng cho trẫm tạm tuyển dụng Jalini hiền nội khanh vào chức vụ đồng gia chánh với Kannika chuyên lo ẩm thực cho trẫm trong một thời gian vài hôm, có thể là một tuần, chắc chắn âm mưu Kannika sẽ bại lộ.  Trẫm tin tưởng Jalini thừa thông tuệ, nhạy bén và tế nhị sẽ không để cho trẫm bị chết v́ độc dược.  Và, lẽ dĩ nhiên, khanh chịu khó tiếp tục ở trong này thêm vài hôm nữa.  Vả lại, cuộc sống tuy mất tự do nhưng không đến nỗi thiếu thốn mọi thứ tiện nghi, có phải không?

Srikhirin cười hồn nhiên, vô cùng vui vẻ.  Được Đức vua phán hỏi nguyên nhân nụ cười vui vẻ, Srikhirin tâu:

- Thần cười v́ lời khai của Kannika nói thần muốn vào tư pḥng của nàng nhưng nàng cự tuyệt. 

Đức vua cũng cười.  Hai bạn Vua Tôi cùng cười bằng thích.  Sau trận cười vui vẻ cởi mở cảm thông, Đức vua thổ lộ tâm t́nh:

- Srikhirin thân quư, khanh quả thật là tri kỷ của trẫm.  Khanh hội đủ ba đức tính của một thiện hữu, tức cho những vật khó cho; làm những việc khó làm; nhịn những điều khó nhịn.  Trẫm vô cùng cảm kích tấm ḷng của khanh.  Có được một thiện hữu, một tri kỷ như khanh, trẫm cảm thấy hạnh phúc, an tâm, hănh diện và cuộc sống thực sự có ư nghĩa.  Có khanh hộ giá, trẫm không cô đơn, không lo sợ, và rất tự tin.  Hăy tâm tâm niệm niệm rằng sự sống của khanh không thể tách rời khỏi sự sống của trẫm và ngược lại.  Đời đời kiếp kiếp, chúng ta măi măi sống có nhau.

Quá cảm động, quá sung sướng, Srikhirin không cầm được nước mắt, thốt chẳng nên lời, chỉ biết chắp tay cúi đầu mọp sát ôm chân Đức vua.  Trong tuyệt đối im lặng ấy, Đức vua cảm nhận có những giọt nước thật ấm chảy thấm ươn ướt chân ḿnh.  Nâng đầu Srikhirin, nh́n thật dịu dàng và nói:

- Trẫm về nhé.

Hồi cung, Đức vua khẩn triệu Jalini và giao trọng trách theo dơi mọi cử chỉ, hành động của Kannika không được sơ suất, thiếu cảnh giác. Jalini  vốn bản chất thông tuệ, học vị cao, kiến thức rộng nhất là khả năng ứng phó với mọi t́nh huống khó khăn, phức tạp, chỉ nghe Đức vua tŕnh bày đại lược kế hoạch tiến hành, nàng thấu suốt vấn đề, hứa sẽ không cô phụ hồng ân tin cậy.

Quang cảnh nhà trù rất vui vẻ khởi sắc v́ sự khéo phối hợp công tác điều hành của JaliniKannika (Somavika) mà cả hai đều có tài gia chánh.  Đức vua tỏ ra rất hài ḷng và không ngớt lời khen ngợi.  Hai ngày trôi qua b́nh nhiên, an ổn.  Đến ngày thứ ba, Jalini để ư thấy Kannika có những cử chỉ không b́nh thường, nhất là ánh mắt hay liếc nh́n xuôi ngược và gương mặt có vẻ đăm chiêu lo nghĩ.  Jalini dự đoán được sự kiện bất thường sẽ xảy ra.  Nàng nói với Kannika là ḿnh có việc rất cần phải vắng mặt một lúc.  Nói xong, nàng đi ra ngoài và quay trở về ẩn núp trong một chỗ đă chuẩn bị từ trước.  Từ chỗ ấy, nàng có thể nh́n rơ tất cả sự việc lớn nhỏ trong nhà trù.  Đang chú tâm theo dơi, nàng bỗng thấy Kannika lấy một gói bột nhỏ rắc vào thức ăn đựng trong chén đĩa bằng vàng và làm ra vẻ tự nhiên.  Ngay lúc ấy, Jalini xuất hiện cùng nhau tiếp bưng thực phẩm dâng lên Đức vua v́ đă đến giờ ngự phạn.  Trong khi sắp xếp thực phẩm theo thông lệ triều nghi, Jalini đă làm tín hiệu bằng mắt cho Đức vua và Đức vua cũng dùng tín hiệu mắt hồi đáp.  Chờ hai người sắp sửa cáo lui, Đức vua giữ Kannika ở lại và phán:

Kannika, hôm nay ăn chung với trẫm.  Hăy đi, mang đến một phần ăn nữa rồi chúng ta cùng ăn.  C̣n Jalini phải lo cơm cho Srikhirin nên trẫm không tiện giữ lại.

Lệnh Vua đâu ai dám căi.  Kannika đem thêm một phần ăn cho ḿnh đựng trong bộ chén dĩa thường.  Nhưng Đức vua phán tiếp: Kannika, lần đầu tiên ăn chung với trẫm, trẫm muốn Kannika tắm rửa sạch sẽ, y phục sang trọng, đẹp đẽ thơm tho để bữa ăn thực sự khởi sắc, vui vẻ, ngon miệng và có ư nghĩa.

Kannika trở lại lần này trông nàng vô cùng diễm lệ, sang trọng, đài các, nhất là mùi hương toát ra từ cơ thể nàng thật hấp dẫn, khiến Đức vua không ngớt lời ca ngợi.  Buổi tiệc sắp bắt đầu, Đức vua bỗng thấy con mèo mun nằm bên chân, cặp mắt ngước nh́n ngài như chờ đợi.  Đức vua vừa múc thức ăn trong chén thực phẩm Kannika vừa nói:

Tội nghiệp, nó cũng đói như chúng ta, thí cho nó một chút cũng tốt thôi.  Nhưng không ngờ, thực sự không ngờ, con mèo vừa nuốt vào, bỗng la lên thảm thiết, giẫy giụa giây lát và nằm chết tại chỗ.  Kannika mặt mày tái mét mặc dù có trang điểm.  Đôi môi và toàn thân run lên, chỉ thốt được hai chữ: muôn tâu… rồi ngă lăn nằm bất tỉnh dưới nền thảm.  Ngay lúc ấy, Chính cung Hoàng hậu Vedisa, Srikhirin, Jalini và vị thái y cùng xuất hiện.  Sau đó không lâu, hoàng đệ Vitasoka cũng có mặt.  Không khí im lặng bao trùm pḥng ngự thiện.  H́nh ảnh một con mèo mun nằm chết bất động và một thiếu nữ nằm bất tỉnh v́ quá sợ khiến pḥng ngự thiện vô cùng ảm đạm.  Trong không khí vô cùng ngột ngạt ấy, Đức vua truyền lệnh thái y cứu tỉnh Kannika.

Vừa hồi tỉnh, từ từ mở mắt ngó quanh, biết ḿnh đang nằm và mọi người đứng quanh nh́n ḿnh, Kannika một lần nữa vô cùng hoảng sợ gần như bất tỉnh.  Đức vua nhỏ nhẹ, an ủi:

- Kannika hăy b́nh tĩnh, đừng quá lo sợ.  Trẫm không giết ngươi đâu.  Con mèo mun đă chết thay cho ngươi rồi.

Đức vua truyền mọi người ra ngoài và lệnh một ḿnh Srikhirin ở lại.  Kannika lồm cồm ngồi dậy, trườn ḿnh tới, quỳ mọp sát chân Đức vua khóc lóc tức tưởi, toàn thân run lên v́ quá ăn năn, quá lo sợ, quá hối hận, lương tâm giày ṿ, nghẹn ngào nói đứt khoảng:

- Tiện nữ đáng chết.  Tội tiện nữ không thể tha thứ.  Vi t́nh yêu, tiện nữ đă nghe lời Hoàng tử Virabala mưu hại lệnh Hoàng thượng – ân nhân cứu mạng và cưu mang tiện nữ.  Thế mà tiện nữ chỉ v́ ngu si, mù quáng lấy oán trả ân.  Tiện nữ đáng nhận tội chết, tuyệt đối không dám van xin bất cứ ân huệ nào.

Bản tính vô cùng cứng rắn, dứt khoát cố hữu của Đức vua bỗng nghe d́u dịu.  Nam nhân đại trượng phu lúc nào cũng sẵn sang tha thứ cho nữ nhân.  Vả lại, nữ nhân đó không có thù oán cá nhân với ngài.  C̣n hành động mưu hại ngài là do động cơ t́nh yêu thúc đẩy.  Đức vua bỗng nhớ chuyện ngài hạ sát Kanatidat chỉ v́ quá yêu Jalodhara.  Đức vua tự biện hộ cho Kannika tức Somavika là hành động  của nàng đáng được tha thứ.  Hơn nữa, bản thân ngài không có bất cứ hề hấn nào dù chút ít.  Trong khi Đức vua triền miên theo ḍng suy nghĩ, Kannika vẫn tiếp tục khóc đến chảy máu mắt và người nàng nhũn ra.  Đức vua gọi tên nàng thật rơ:

- Somavika!

Đang nhũn người, nàng giật nẩy ḿnh hoảng hồn khiếp vía.  Đức vua trấn an:

- Somavika, hăy b́nh tĩnh, an tâm, đừng sợ.  Trẫm sẽ không gây đau khổ và hăm hại ǵ cho ngươi đâu.  V́ kế hoạch mưu sát trẫm do Hoàng tử Virabala lợi dụng t́nh yêu mù quáng đơn phương của ngươi làm con vật tế thần trong mục đích tranh đoạt ngai vàng với trẫm và khi thành công, ngươi là người đầu tiên bị loại.  Sở dĩ trẫm tha chết cho ngươi v́ hai yếu tố: thứ nhất, ngươi là một thiếu nữ chung t́nh dám hy sinh mạng sống cho người ḿnh yêu.  T́nh yêu của ngươi tuy mù quáng nhưng thực sự đă hành động đúng theo tiếng gọi con tim.  Một hành động tuy nghịch lư nhưng đáng thương mà không đáng ghét.  Thứ hai, trẫm muốn ngươi tiếp tục sống để nghiền ngẫm bài học: t́nh cảm thiếu lư trí là thứ t́nh cảm hướng hạ, có tín mà không có trí.  Thứ t́nh cảm như vậy chỉ đưa đến hậu quả đắng cay, thất t́nh và cuối cùng là tuyệt mạng.

Đức vua lệnh Srikhirin trao lá thư Hoàng tử Virabala gởi cho tướng quân Manaka – nét chữ viết tay một trăm phần trăm cho Somavika.  Nh́n nét chữ vô cùng quen thuộc, Somavika đọc nhanh, nét mặt nàng thay đổi theo từng ḍng chữ.  Lá thư viết:

Manaka bạn quư, ta đă cài Somavika vào làm nội ứng thi hành kế hoạch mưu sát Asoka mà chúng ta đă bàn thảo từng chi tiết rất tinh tế, hoàn hảo.  Sau khi Somavika hoàn thành công tác ta lập tức loại bỏ cô ấy v́ để lâu mang họa.  Cô ta sẽ lên mặt người có công lớn, rêu rao làm ta xấu hổ.  Giàn tṛ chỉ hữu dụng trong việc xây lầu.  Xâu xong th́ giàn tṛ phải bị tháo bỏ.  Somavika cũng chỉ là cái giàn tṛ không hơn không kém.  Vả lại, cái thơm tho, ngọt nào, thú vị và trinh trắng của cô ấy ta đă hưởng thụ trọn vẹn.  Cô ta không c̣n ǵ để lợi dụng.  Chào bạn – Virabala.

Sự nhục nhă, căm hờn chất ngất trong ḷng khiến nàng run lên, nghẹn tức, không nói nên lời.

Đức vua phán như truyền lệnh:

- Somavika, trên thế gian này t́m một người chung t́nh như ngươi rất khó.  Tuy nhiên làm người biết ơn và đền ơn cũng không phải là dễ.  Trẫm muốn ngươi có thêm đức tính thứ hai này. Đối với trẫm th́ không cần thiết.  Nhưng đối với con mèo, nó đă chết thay ngươi th́ ngươi phải luôn luôn nhớ ơn nó.  Trẫm sẽ cho thợ làm một c̣n mèo búp bê nằm chết trao cho ngươi.  Ngươi để nó trên đầu nằm, tâm niệm ơn cứu mạng của nó trước khi ngủ và sau khi thức dậy.

- Muôn tâu, mạng sống tiện nữ do lệnh Hoàng thượng đặc ban, th́ Hoàng thượng dạy sao tiện nữ tuyệt đối tuân hành.  Ngay như lệnh Hoàng thượng thí chết cho tiện nữ, tiện nữ không dám một lời van xin.

- Tốt, tốt lắm!  Somavika – Đức vua tán thưởng và cho nàng lui ra.

 

Biến Thù Thành Bạn

 

C̣n lại một ḿnh Srikhirin, Đức vua tâm sự: trẫm nhận thấy con người của Somavika có thể tin dùng được.  Nếu là bạn th́ cô ta là người bạn tri kỷ.  Nếu là người yêu th́ là người yêu lư tưởng.  Nàng thực sự không xấu ác, cô ta dám hy sinh mạng sống cho người yêu.  Mẫu người như vậy, nếu người nào chinh phục được t́nh yêu cô ta, người ấy chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc.

Srikhirin chưa kịp bày tỏ ư kiến ḿnh th́ quân thị vệ vào tŕnh tấu:Có VenupalaSasavat xin vào bệ kiến, đang chờ bên ngoài.

Đức vua vô cùng mừng rỡ, truyền hai bạn lập tức vào hầu.  Bốn bạn gặp nhau, họ nhắc chuyện xưa, kỷ niệm cũ nhất là thời gian sống chung nhau dưới mái giáo đường, cuộc hội thoại diễn ra rất tự nhiên, gần như không c̣n phân biệt chúa tôi.  Nhất là Sasavat y phục lượm thượm vào chầu vua.  Anh chàng triết gia này vốn tính không chú trọng h́nh thức, trước sao nay vậy.  Do đó đặc tính biệt dị này đă được mọi ngựi kể cả Đức vua cũng mặc nhiên chấp nhận.  Bản thân Sasavat th́ hoàn toàn không để tâm vui buồn đối với lời khen tiếng chê hoặc phẩm b́nh của bàn dân thiên hạ.  Một triết gia trí thức không lấy sự việc ngoại tại làm điều mà tuyệt đối lấy đạo đức nội tại làm đối tượng sống.  Chính sắc thái biệt lệ này giúp Sasavat sống b́nh nhiên, giản dị.  Nơi nào có giản dị, b́nh nhiên, nơi đó có hạnh phúc.  Sasavat đă t́m được cái hạnh phúc thực sự này.  Đa số người đời mưu cầu hạnh phúc nơi đối tượng danh lợi và trở thành nô lệ.  Cuộc sống nô lệ vật dục, phiền năo dục cứ măi kéo dài tương tục đến ngày nhắm mắt xuôi tayĐối với nữ nhân, tư cách nô lệ này càng trầm trọng hơn.  Nó trầm trọng đến mức độ không lối thoát.  Thương th́ lối thoát cuối cùng là nước mắt, thất t́nh và tuyệt vọng.  Chỉ nh́n Somavika - một cô gái đẹp đẽ, chân chất, chỉ v́ ngộ nhận hạnh phúc cụ túc bản thân là t́nh yêu Hoàng tử Virabala, cam tâm làm nô lệ cho Hoàng tử sử dụng mỹ nhân kế mưu sát Đức vua, tin rằng sau khi công tác hoàn tất, hai người sẽ nắm toàn quyền triều chính và trọn hưởng vinh hoa phú quư.

V́ t́nh yêu mù quáng không dùng lư trí thẩm quán nên Somavika không ư thức được rằng hạnh phúc thực sự trọn vẹn không thể đến từ hành động hăm hại, cướp đoạt hạnh phúc người khác.  Gieo giống đắng không thể có trái ngọt.  Định luật là như vậy.  Nếu loài người quan niệm hạnh phúc là đầy đủ bốn tưởng: Thực tưởng tức tư tưởng hưởng thụ ẩm thực, Thuỳ tưởng tức tư tưởng hưởng thụ ngủ nghỉ, Úy tưởng tức tư tưởng hưởng thụ an b́nh không lo sợ, Dục tưởng tức tư tưởng hưởng thụ dục lạc th́ liệu loài người khác loài thú chỗ nào.  Sở dĩ loài người khác loài thú v́ loài người có tưởng thứ năm là Đạo đức tưởng tức tư tưởng tu dưỡng để hưởng thụ hạnh phúc.  Chính nhờ có đạo đức tưởng nên Sasavat bạn chí thân của vua Asoka đă khước từ tất cả chức hàm, danh lợi, sắc tài, quyền lực sống cuộc đời tự do, tiêu sái, chu du đó đây làm việc nghĩa như giúp kẻ thế cô, cứu người nguy khốn… chàng tự nguyện tu tại gia tức Mâu Ni cư sĩ nghiêm tŕ phạm hạnh suốt đời không lập gia đ́nh.

Đức vua chọc bạn:

- Ngay cả ngôi vua bạn cũng không cần hả?  Tưởng bạn cần th́ ta sẵn sang nhường ngai vàng cho bạn làm vua bảy ngày.

Mọi người đều vui vẻ cười reo tự nhiên không cấm kỵ.  Thật là một cuộc họp bạn vô cùng tự nhiên, ḥa đồng, không c̣n ranh giới chúa tôi, không c̣n câu nệ phải quấy, chỉ có t́nh bạn là trên tất cả và phải được trân quư như trân châu ngọc báu; c̣n quyền uy, giai cấp, danh vị, sang hèn chỉ là rơm rác.  Đúng hơn, sự gặp được bạn hiền là một kỳ tích hạnh phúc vô tiền khoáng hậu.  Sau trận cười sảng khoái trong niềm tương kính, tương thuận, Đức vua bỗng hỏi Sasavat:

- Theo bạn, mẫu người Somavika có xứng với Venupala không?

Sasavat chưa kịp trả lời trong khi Venupala vừa nh́n Đức vua vừa nói:

- Nhưng mà Somavika đă từng là vợ Hoàng tử Virabala

Srikhirin xen lời:

- Th́ có sao đâu!  Hoàng tử chết rồi.

Venupala phản bác:

- Trên đời này, đâu có người con trai nào thích lấy người con gái đă từng có chồng, ngoại trừ trường hợp cần thiết.

Sasavat lên tiếng:

- Nghĩ nhiều làm chi cho mệt, có chồng hay chưa có chồng chỉ là h́nh thức lễ nghi, tập tục truyền lưu giữa hai họ trong một xă hội của một sắc dân.  Trên thực tế, người ta không thể đánh giá người nữ cục bộ ở sự kiện có chồng hay chưa có chồng.  Vả lại, người nữ như mặt trăng có khi khuyết nhưng cũng có lúc tṛn.

Mọi người lại một phen cười khoái chí, cười hả hê.  Venupala bỗng phản pháo:

- Vậy th́ Sasavat phối hợp với Somavika là xong chuyện.

Đức vua góp ư:

- Không nên, đừng nên phá hoại tư cách Mâu Ni cư sĩ của Sasavat và tâm nguyện trọn đời sống độc thân phạm hạnh.  Đời sống cư sĩ phạm hạnh vô cùng cao khiết.  Duy tŕ th́ khó nhưng hủy hoại th́ rất dễ.

- Vậy th́ chúng ta nên xử trí với Somavika như thế nào – Srikhirin đặt thẳng vấn đề theo chiều hướng pháp lư rằng: bất cứ ai mưu sát đương kim Hoàng thượng là phạm tội khi quân, phải bị tử h́nh.

- Để yên chuyện đó.  Chớ quá khẩn trương.  Thù nhân cũng có thể trở thành hiền hữu.  Thà làm bạn với người thù hơn làm bạn với tiểu nhân.  Ta nhận thấy Somavika bản chất ngoan hiền, không xấu ác như mọi người nghĩ.

- Nhưng lệnh Hoàng thượng cũng phải đề cao cảnh giác – Srikhirin nhắc khéo Đức vua.

- Cám ơn Srikhirin lúc nào cũng lo nghĩ đến sự an nguy của trẫm.  Nhưng bản tính nữ nhân một khi chính thức nhận ḿnh là bạn th́ họ luôn luôn biểu lộ trung thành tư cách bạn trong mọi t́nh huống: đối với nam nhân th́ hoàn toàn dị biệt ở chỗ ngoài mặt là bạn nhưng trong ḷng có thể là thù.  Chúng ta cứ đối xử tốt với Somavika như một người tứ cố vô thân sống trong sự đùm bọc cưu mang của chúng ta để trắc nghiệm bản tính tốt xấu con người có thể hoán chuyển, cải thiện được hay không.

Đức vua cũng dẫn chứng Angulimala c̣n gọi là Ahimsaka tức Vô năo.  Được Đức Phật hoán chuyển và khai thị sau khi sát hại hàng trăm người được trở thành bậc thánh A la hánAi bảo người xấu ác không thể hồi đầu hướng thiện.  Trong tiến tŕnh chuyển mê khai ngộ ấy không thể thiếu bạn lành hướng dẫn.  Đức Phật dạy: Bạn lành là toàn phần phạm hạnhMọi người hoàn toàn tán đồng ư kiến Đức vua và cùng hứa hẹn chờ xem.

 

Chính Thức Đăng Quang

 

Sau khi ổn định nội chướng giữa huynh đệ muốn tranh đoạt ngai vàng với ḿnh, Asoka liền nghĩ ngay đến kế hoạch bành trướng lănh thổ chiếm lĩnh địa vị siêu cường.

Muốn thành công trên quy mô bành trướng, bước đầu tiên phải thuộc địa hóa các tiểu quốc lân cận, và tiếp theo là các vương quốc tương đối kinh tế trù phú nhưng yếu kém quốc pḥng bằng chiến thuật quân sự ồ ạt hoặc tập kích bất ngờ.  Asoka liên tưởng thời kỳ các vị tiên vương Bharata thống trị th́ các quốc gia nhược tiểu quanh vùng bị thôn tính và trở thành lục địa Bharata rộng lớn, hùng cường.  Nhưng sau triều đại các ngài th́ lục địa Bharata tự động tách rời thành nhiều tiểu vương quốc.  Nghĩ đến bài học trong quá khứ, Asoka nhận thấy sức mạnh hợp quần có khả năng dời non lấp bể, thậm chí sa mạc cũng phải nở hoa và sỏi đá cũng phải thành thực phẩm.

Địa cầu này tồn tại bởi v́ nó là một khối vĩ đại bất khả phân, núi cao là h́nh thái nhô lên của địa cầu, biển sâu là lĩnh vực lơm xuống của trái đất cũng như sông ng̣i là để chứa nước, thực thể là một khối tập hợp khổng lồ.  Thực tế này là kinh nghiệm sống.  Asoka đưa tầm nh́n thật xa rộng về tương lai rực rỡ huy hoàng của một rừng cây có nhiều loại cây.  Khi đă có sức mạnh hợp quần th́ thế lực nào cũng bị đánh bại, chướng ngại nào cũng vượt qua, khổ cực nào cũng khắc phục được  Asoka cũng từng nghiền ngẫm môn sử học dưới mái giáo đường Takkasila về Đại đế Alexander nước Greek đă tiến quân đánh chiếm Ấn Độ một cách dễ dàng, không hao quân tổn tướng.  Bài học lịch sử này khiến Asoka ư thức được rằng cho đến khi nào mà dân chúng Bharata của 30 vùng c̣n sống riêng rẽ, thiếu tinh thần hợp quần, không đoàn kết thành khối th́ nước mất, nhà tan, người dân trở thành nô lệ.

Tiếp tục nguồn sử liệu, Asoka nhớ rất rơ, triều đại Nanda là một triều đại thối nát khiến toàn dân Bharata trở thành nô lệ của Alexender Đại đế, nước Macedon.  Dân tộc Greek dọc bờ biển Balkan, kinh đô là Macedonia, là một vương quốc cổ xưa, vô cùng hung mạnh ngang hàng với Roman.  Lúc ấy, Greece tự động chia thành 20 vùng lớn nhỏ.  Có ba vùng quan trọng.

Vùng Sparta nằm miền thung lũng núi, chủ trương chinh chiến.  Mọi con dân bắt buộc huấn luyện quân số từ thưở nhỏ để trở thành chiến sĩ giỏi chiến đấu.

Vùng Athens nằm miền đất bằng gần biển, chủ trương văn hóa, triết học và phát triển ngành kỹ nghệ.  Hai vùng này tranh giành ảnh hưởng vương quyền liên tục đến đỗi đôi bên đều mệt mỏi tạo cơ hội cho sự h́nh thành vùng thứ ba nổi bật.

Vùng Macedonia nằm về miền Bắc Athens và Spatar: Quốc vương là Vua Phillips, nhà vua rất mực thông tuệ, tài ba.  Xây dựng quốc gia vô cùng hung mạnh, bằng áp dụng cả hai quốc sách của hai vùng Athens và Sparta tức vừa phát triển kỹ nghệ vừa huấn luyện quân sự cho mọi con dân trở thành những đoàn quân thiện chiến.  Nhờ vậy, Macedonia trở thành trung tâm quyền lực.

Vua Phillips mất thời gian 20 năm mới thống nhất các vùng thành một cường quốc khiến các lân bang phải nể phục.  Bước tiếp theo Vua Phillips xua quân đánh chiếm thành công một số quốc gia lân cận.  Đang trên đà từ chiến thắng này đến thắng lợi khác, nhà vua ngă bệnh giá băng.  Lúc bấy giờ Alexender Thái tử mới 20 tuổi kế thừa sự nghiệp vua cha.

Alexender thưở nhỏ đă nổi tiếng anh dũng, tài ba và bất khuất.  Có một lần, Đức vua Phillips được hiến tặng một con ngựa thuộc loại tuấn mă nhưng rất hung dữ, không ai cỡi được.  Nhà vua truyền trao trả cho nguyên chủ.  Nhưng Thái tử xin vua cha ban cho ḿnh và tuy c̣n rất ấu thơ, Thái tử Alexender đă khuất phục được tuấn mă và điều khiển theo ư muốn.  Đức vua Phillips thấy con c̣n nhỏ mà tài ba xuất chúng như vậy, ngài buột miệng tiên đoán: “Vùng Macedonia này quá nhỏ đối với con.”  Alexender suốt thông binh pháp, tinh nhuệ quân sự.  Bác lăm văn học và các môn học thuật; uyên thâm các triết thuyết cổ kim và phát triển thành công vượt bực lĩnh vực kỹ nghệ.  Các vị giáo sư bác học nổi tiếng đương thời như Menaechmus, Aristote th́ Alexender đều có thụ giáo.  Sau khi lên ngôi, Alexender đeo đuổi chính sách bá quyền bằng giải pháp quân sự bất dung t́nh.

Sau Phật lịch, trước hết, Alexender đưa đại quân tiến chiếm vùng Châu Á và khoảng Phật lịch 109.  Những quốc gia sau đây hoàn toàn bị đại quân Alexender thôn tính: Persia (bây giờ là Iran).  Phần Phi Châu Africa th́ Egypt xin được làm chư hầu.  Sau những chiến công oanh liệt hiển hách, Alexender nhắm Bharata (Ấn Độ) tiến quân.

Trong quá khứ, lănh thổ phía Bắc con sông Sindhu đă từng bị Iran đánh phá.  Iran trở thành cường quốc Á Đông.  Măi về sau bị quân Greek thôn tính.  Quân Greek tiếp tục tiến về miền Bắc Ấn quanh con sông Sindhu, tiến chiếm Takkasila kinh đô nước Gandhara, tiếp theo xâm lăng PanjapTại đây, quân Alexender đụng độ quân của Porava (Phorus).  Với tài điều binh khiển tướng tinh thông – Porava nổi danh là sư tử Panjap – có trong tay 40,000 bộ binh, kỵ mă 4,000, xa binh 500 và tượng binh số lượng tương đối không ít.  Quân hai bên đụng độ nhau quyết liệt dọc bờ sông Vitassa - một chi nhánh của sông Sindhu.  Quân Alexender về bộ binh chỉ có 17,000 nhưng vượt qua được con sông Vitassa.  Phấn khởi đánh thật hăng vào đám tượng quân.  Các con voi hoảng sợ tháo chạy đạp bừa lên quân PanjapQuân Porava hoàn toàn thất bại.  Đức vua Porava bị bắt sống làm tù binh với thương tích đầy ḿnh.

Đại đế Alexender phán hỏi Đức vua Porava cách trang trọng:

- Ngài muốn tôi đối xử với Ngài như thế nào?

Vua Porava hiên ngang trả lời:

- Như một quốc vương!

- Ngài có yêu cầu ǵ nữa không? Alexender phán hỏi.

- Từ “Quốc vương” là bao hàm tất cả yêu cầu của tôi.

Với tâm hồn tương kính, biết trọng nhân tài vốn là bản tính cố hữu của Alexender cộng thêm tinh thần thắng không kiêu bại không nản, nhất là tư cách hiên ngang kiêu dũng của Vua Porava, Đại đế Alexender trả tự do cho Porava luôn cả lănh thổ và phong vương đặt dưới quyền quản chính của Đại đế.

Alexender cũng đă từng tự than: trái đất quá nhỏ.  Không c̣n một quốc gia nào để chinh phạt.  Nh́n về Tây, ngoại trừ Egypt, xa hơn nữa chỉ là sa mạc; nh́n về miền Trung Đông chỉ có núi non trùng trùng điệp điệp; nh́n về Nam Ấn chỉ có biển cả mênh mông trên trời dưới nước, thực sự quả địa cầu quá nhỏ đối với Alexender Đại đế.  Thực tế mà nói th́ địa cầu này không phải quá nhỏ như Alexender than thở mà c̣n nhiều lănh thổ ngài có thể chinh phạt.  Chẳng hạn như, hướng Đông Ấn th́ có lục địa Trung Hoa, ngay tại địa dư Bharata này cũng c̣n nhiều vương quốc rất phú cường mà ngài chưa chinh phạt chỉ nằm bên kia sông Sindhu như vương quốc Magadha mà chính ngài đă hạ quyết tâm chinh phạt nhưng v́ toàn bộ ba quân tướng sĩ một mặt v́ quá mệt mỏi viễn chinh, một mặt v́ quá nhớ vợ thương con đồng loạt yêu sách hồi hương.  Alexender chấp nhận yêu sách và rút quân.  Nhờ vậy mà tất cả vương quốc dọc theo lưu vực đại giang Ganga khỏi bị tàn phá, thảm sát, đói nghèo v́ chinh chiến.

Đại quân viễn chinh của Alexender chinh phạt thắng lợi toàn vùng dọc theo lưu vực sông Sindhu trọn cả hai miền cao nguyên và đồng bằng mất thời gian một năm tám tháng.  Trên đường hồi hương, Alexender chia quân thành hai đạo: đường bộ và đường thủy.  Lúc vừa đến Babylon giữa lưu vực sông Tigris và Fretish th́ Alexender giá băng, hưởng dương 33 tuổi.

Lúc sinh thời, mỗi khi đánh chiếm được nước nào th́ liền phong vương người địa phương cai trị.  Đôi khi chỉ định người Greek lănh đạo.  Trong trường hợp như vậy th́ Đại đế để lại một bộ phận quân đội để duy tŕ an nguy quốc chính.  Cho nên, một số vùng Ấn Độ và Trung Á do người Greek cai trị.  Sau khi Đại đế băng hà th́ các quốc gia ở hai vùng vừa kể tự động tuyên bố chính thức tự do  độc lập.  Nhưng nhân vật lănh đạo nào cũng muốn là đại diện chính thức của Đại đế Alexender cho nên các nước lại đánh nhau quyết liệt.  Lúc bấy giờ, người đại diện Alexender ở lại tiếp quản cùng với Đức vua Porava nổi loạn giết vua soán ngôi chuyên quyền cai trị.  Toàn dân Bharata vô cùng phẫn hận nổ lên vơ trang đánh đuổi tất cả người Greek ra khỏi lănh thổ Ấn Độ.

Thời điểm trước đó, ông nội Đức vua Asoka tên Candagupt là người yêu nước, có khả năng thuyết phục và lănh đạo dân chúng Bharata.  Nhận thấy Đức vua quan tâm sự an nguy quần chúng, bèn đứng lên kêu gọi ḷng yêu nước thương ṇi của mọi người, nhờ có tài hung biện và thuyết phục nên tập hợp được quần chúng khá đông đảo.

Trong thời gian chuẩn bị vũ trang tiến hành cuộc cách mạng lật đổ triều đại Nanda để thiết lập triều đại Moriya th́ kế hoạch bị tiết lộ, nên phải lẩn trốn ở Takkasila và có cầu xin viện binh Đại đế Alexender đánh chiếm Magadha, nhưng không được chấp thuận.  Măi đến khi Alexender hạ lệnh rút quân th́ Candagupt mới du hành, thuyết phục dân chúng vùng Panjab và vùng cận biên của Magadha.  Đúng thời may vận tốt khiến Candagupt gặp được hiền nhân có năng khiếu quân sự nhất là biệt tài điều binh khiển tướng tên Panaka (cũng gọi là Canakya) hết ḷng pḥ tá.  Nhờ tài ba thao lược cộng với ḷng yêu nước cao độ của toàn thể dân quân nên Candagupt gặt hái từ thắng lợi này đến thắng lợi khác liên tục vô cùng phấn khởi.  Ngài trục xuất tất cả người Greek ra khỏi lănh thổ Panjab.  Kế hoạch tiếp theo là hành quân tiến đánh một số thị trấn thuộc nước MagadhaĐang thắng thế bỗng đụng phải quân đội khá thiện chiến của Đức vua Dhanananda là bào đệ thứ chín của Vua Nanda đệ nhất.  Candagupt nhiều phen bại trận phải rút lui vào vùng rừng núi tạm ẩn và dưỡng quân.  Trong lần thất bại này, Candagupt lại gặp một sự kiện may mắn vô cùng hy hữu gần như là một kỳ tích.  Đó là ngài được nghe mẫu chuyện người mẹ rầy dạy con.

Số là người mẹ chiên bánh cho con ăn.  V́ ham ăn và bất cẩn, người con cắn giữa miếng bánh chiên, nóng quá, chịu không nổi, nhả bỏ và khóc đ̣i miếng bánh khác.  Người mẹ rầy dạy con:

- Láu táu th́ gặp cháo nóng, khóc nỗi ǵ.  Ai bảo con ham ăn cắn giữa bánh chiên.  May phước nhả kịp, bằng không th́ bị phỏng miệng – con nên nhớ, ăn bánh nóng th́ phải từ từ, cắn từng miếng ngoài b́a vào th́ ăn mấy cái cũng được.

Nghe câu chuyện này Đức vua tỉnh ngộ.  Đem thảo luận với Panaka, rút kinh nghiệm áp dụng chiến thuật đánh tỉa lần lần thành vết dầu loang cuối cùng hạ được kinh thành Pataliputra – Trung tâm quyền lực của nước Magadha.  Và, tại kinh thành Pataliputra này, Đức vua Candagupt tổ chức trọng thể đại lễ tức vị đăng quang và chính thức tuyên lập triều đại Moriya (Khổng Tước) tức Moriya đệ nhất, Phật lịch 222 niên đại.

Suốt 24 năm tại vị, Đức vua Candagupt dùng hầu hết th́ giờ, tâm trí thanh toán lực lượng các tiểu vương dọc lưu vực sông SindhuGanga đến chính sách loại trừ những thành phần người dân gốc Greek ra khỏi Bharata (Ấn Độ).

Ở Babylon, một vị tướng quân đại diện Alexender khởi phát dục niệm muốn bành trướng quyền lực như Đại đế, bèn xua quân tiến đánh vương quốc Bactrai khoảng Phật lịch 237 năm, sau lại xâm lăng Bharata (Ấn Độ).  Vượt sông Sindhu tiến vào Panjab, Phật lịch 238 – quân Greek và quân Magadha trực chiến quyết liệt tại kinh thành Pataliputra mà dân số tại đây ước chừng 400,000 người, tượng binh khoảng 4,000 con, nhờ vào nhân lực và binh lực hung hậu này nên đă chận đứng được những đợt tấn công ồ ạt của quân Greek.

T́nh trạng giằng co bất phân thắng bại, hai bên đồng ư chọn giải pháp ḥa b́nh hữu nghị.  Quốc vương Babylon chuyển nhượng bốn vùng lănh thỗ Tây Bắc Ấn trực thuộc vương quốc Magadha, phần Đức vua Candagupt hiến tặng tượng chiến 500 thớt làm tín vật trao đổi.  Đồng thời, quốc vương Babylon gả một cô công chúa cho Đức vua Candagupt.

Trong triều đại Đức vua Candagupt, nước Magadha là một đại cường quốc, quyền lực trải rộng, hướng Bắc đến tận đại sơn Hindukuta và xuyên qua Afghanistan chạy dài đến vịnh Bengal.  Quyền lực của Greek hoàn toàn mất ảnh hưởng.  Sau khi Đức vua Candagupt đệ nhất triều đại Moriya giá băng, ngai vàng thuộc sở hữu của Đức vua Bindusara tức phụ vương của Asoka và vị kế thừa chính là Hoàng tử AsokaḌng lịch sử quá khứ liên quan hai vị vua tiên trào triều Moriya kết thúc tại đây.

Asoka là vị quốc vương đương kim triều đại Moriya đệ tam của nước Magadha mà kinh thành Pataliputra là trung tâm quyền lực.  Asoka có cái nh́n toàn diện xa rộng, không cục bộ, đối nội đối ngoại, trong công cuộc kiến quốc và hưng quốc là bài học kinh nghiệm quá khứ mà người thừa kế bắt buộc phải kinh qua để phối hợp với dự kiến chiến thuật cũng như cấu trức chiến lược tương lai th́ mới tạo dựng phú cường đất nước và an cư lạc nghiệp toàn dân.

Asoka liên tưởng quốc sách các tiên đế áp dụng thành công, nhất là ông nội ngài tức đức Thái thượng hoàng mà hào quang rực rỡ huy hoàng vẫn tiếp tục soi sáng, chủ đạo thế hệ đương đại.  Cái dấu chân tiên đế mà ngài phải bước theo là tổ chức hợp quần và hàng ngũ hóa dân chúng, song song với công cuộc mở mang bờ cơi.  Ngài nhận định chính xác: khi nào dân Bharata c̣n sống rời rạc chia năm xẻ bảy, chưa đoàn kết thống nhất thành đại khối dân tộc th́ tránh không khỏi cái họa ngoại xâm.  Một quốc gia nhược tiểu là miếng mồi ngon của các thế lực bá quyền.  Ngài cảm thấy có trách nhiệm không riêng đối với Magadha mà c̣n đối với nhân dân thuộc các vương quốc toàn vùng lănh thổ Bharata.  Ngài tự cho phép ḿnh tư cách lănh đạo ấy.  Sau khi hạ quyết tâm áp dụng chính sách đối nội là cường quốc an dân, đối ngoại là mở mang bờ cơi; Asoka nghĩ ngay đến thực thể trong thực tế danh chánh ngôn thuận, ngài khẩn lệnh đại thần Sirigupt và phó tổng tư lệnh Srikhirin phối hợp cấp tốc tổ chức đại lễ tức vị đăng quang cáo tri trời đất, tuyên thệ với các vị tiên đế và chính thức hiệu triệu toàn dân.  Ngài nhấn mạnh là cuộc lễ phải được tổ chức rầm rộ trên toàn quốc thật long trọng, khởi sắc, phấn khởi và không thiếu bất cứ cuộc thi đua văn, vơ cũng như các tṛ giải trí cổ truyền dân tọc.

Lệnh truyền vừa ban ra, dân chúng cả nước đă xôn xao náo nhiệt, họ hoan hô, mạn đàm, tiên liệu và bắt đầu đánh cá về những cuộc dự tuyển theo sự phỏng đoán của họ.  Họ đón nhận tin này như một niềm vui lớn nhất trong cuộc đời.  V́ suốt bao nhiêu triều đại chưa đại lễ nào có được cái quy mô long trọng, vĩ đại trong sự tham gia, t́nh nguyện đóng góp nhân, tài, vật lực của toàn dân một cách vô cùng phấn khởi, hồ hởi như lần này.  Mỗi người dân tự động đóng vai liên lạc thông tin, miệng chuyền miệng, mười chuyền trăm, trăm chuyền ngàn, chuyền muôn, chuyền triệu.  Chỉ trong thời gian mấy ngày, không người nào không biết.  Tuy thời hạn tổ chức lễ phải hoàn thành trong một tháng, nhưng mới tuần lễ đầu mà quang cảnh từ thành thị đến thôn quê đă thay đổi hẳn bộ mặt.  Nhà nhà đều sơn phết sửa sang, các trục giao thông nhỏ lớn không một cọng rác, người ngựi mua sắm, thực phẩm dự trữ ăn uống, đăi khách, may cờ may phướng, kết bông lồng đèn, trang hoàng nhà cửa, những gia đ́nh quá nghèo cũng được những người khá giả giúp đỡ, tóm lại không một nhà nào dơ dáy, không một người nào rách rưới.

Toàn quốc sáng rực như thiên đường, mỗi khu vực đều có dựng lễ đài để thi đấu và tŕnh diễn văn nghệ.  Các trạm lợp bằng tranh, lá khéo và đẹp mọc lên từng chặng gần, xa có bánh, trái, đủ loại, kể cả thức ăn, nước uống miễn phí, các gian hàng buôn bán cũng được san sát dựng lên thật là tấp nập, sầm uất.

Thời gian đại lễ kéo dài một tuần vào cuối tháng.  Âm thanh các loại nhạc cổ, kim trỗi lên, ngân vang, trầm bổng, réo rắt trên toàn quốc cơ hồ bất tận.  Ngoài các nhạc công biểu diễn đủ loại nhạc cụ, c̣n có các ca sĩ tài danh soạn nhạc, phổ nhạc rồi tự hát hoặc hát những bài hát được truyền lưu trong nhân gian, những âm thanh ca, hát, xướng này cũng đă góp phần quan trọng bên cạnh âm nhạc tạo nên một tương quan vô cùng hấp dẫn mê ly như các vị Càn thát bà trên cơi trời Tam thập tam.  Lại có các vũ công nam nữ điêu luyện biểu diễn những vũ điệu vô cùng đẹp mắt và thích thú không kém những khúc nghê thường trên thiên giới.

Tạm gác một bên những cuộc thi đua văn tài, vơ lược, đấu thú, đấu chim, vân vân, cũng như các tṛ chơi giải trí cổ kim không kém phần lư thú th́ phải nói đến một sự kiện, một h́nh ảnh vô cùng đặc dị, kỳ diễm đáng chiêm ngưỡng mà các thanh niên thiếu nữ hằng mơ ước trong cuộc đời; đó là trong đại lễ đặc biệt này các thiếu nữ không phân giai cấp đều có quyền tham dự lễ, không cần che mặt.

Thật là ngàn năm một thưở để các cô nàng có cơ hội khoe sang, khoe đẹp, khoe dáng, khoe duyên.  C̣n các thanh niên mừng hết lớn v́ có cơ hội quan chiêm, làm quen, tặng quà nếu ưng ư.  Thiếu nữ chịu nhận quà dù là một bó hoa hay một tràng hoa kể như đă nhận tín vật cầu hôn.  Thử hỏi một cơ hội như vậy có thanh niên thiếu nữ nào không ước mơ chờ đợi.  Thật là sung sướng, thật là phấn khởi, thật là đáng thích thú.  Trên bờ là như vậy, nhưng dưới nước cũng không kém phần sảng khoái, tươi vui, rộn ră, dễ thương và kỳ thú – đó là các thanh niên thiếu nữ cùng nhau đua thuyền trên ba con sông Ganga, Campa, Sona và kè thuyền gần nhau ḥ hát đối đáp, tâm sự tỏ t́nh, nếu hai bên đồng ư th́ níu tay nhau làm tin, hẹn ngày hôn lễ.  Thật tuyệt diệu, đúng là: “dập d́u nữ tú nam thanh, trên bờ dưới nước trăm phần đẹp vui.

 

Mở Rộng Biên Cương

 

Nhằm mở mang bờ cơi, Asoka chú tâm nghiên cứu toàn diện địa dưBharata một cách tường tận, đạt yêu cầu cho chủ trương sử dụng quân sự trong chính sách đối ngoại mà ngài đă hoạch định.  Tuy nhiên công cuộc tiến hành phải có giai đoạn khởi đầu, giai đoạn chuyển tiếp và sau cùng là giai đoạn kết thúc.

Ưu tiên cho giai đoạn khởi đầu, Asoka nhắm địa h́nh địa vật bốn hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc.  Những địa giới giáp ranh Magadha: phía Bắc đụng Ganga, phía Đông giáp sông Campa: phía Nam chạm núi Vindhya, phía Tây chạy dài đến sông Sona.  Nước Magadha có tám muôn đơn vị gia cư.  Tương đối được xem là một nước có tầm cỡ quy mô trên phương diện gia cư và dân số.  Tuy vậy, mộng bành trướng và bá quyền không cho phép Asoka bằng ḷng với hiện thực.  Những vùng đất và vương quốc ngài nhắm đến là:

Vùng Anga nằm về phía Đông chạy dài theo lưu vực sông Ganga, kinh thành là Campa.  Sở dĩ có tên Campa v́ cây bông ngọc lan mọc rất nhiều, hương thơm tỏa ra ngào ngạt, cành là sum suê rợp mát, khiến kinh thành lúc nào cũng mát và thơm.  Thời Phật trụ thế, các nhà hiền triết, các vị giáo chủ các tôn giáo thường thường đến đây nghỉ mát và thảo luận triết lư cũng như giáo lư.  Campa chia làm hai khu vực: khu vực cổ xưa gọi là Campa Kasmir và khu vực hiện đại gọi là Campa Anga.

Vùng Kasi thuộc hướng Tây Magadha, kinh thành là Baranasi nằm giữa trục cuối nguồn thủy lưu gần giao tiếp của hai con sông GangaYamuna.

Vùng Kosala nằm hướng Bắc , lănh thổ chạy dài tận Đại sơn HimalayaMiền Bắc Kosala là vùng Sakya.  Miền Nam Kosala là vùng Koliya.  Kosala là một vương quốc giàu mạnh thời Phật trụ thế, có thể không kém Magadha.  Đế kinh vương quốc KosalaSavatthi, chính nơi này Đức Phật thường trú lâu nhất so với những trú xú khác.  Kosala có 3 thị trấn lớn:

1.  Ayodhya nằm theo lưu vực sông Sarayu, là một thị trấn quan trọng nhưng bị sáp nhập vào Kosala, không c̣n ảnh hưởng chính trị nhưng ảnh hưởng văn học nghệ thuật vẫn được bảo tồn.

2.  Savatthi nằm phía Tây Bắc Gorakhapura.  Thưở Phật trụ thế, là một thị trấn phồn vinh đệ nhất không kém Rajagaha; địa thế chạy dài theo lưu vực sông Aciravati

3.  Saketa giáp giới Ayodhya, phồn vinh sau khi Ayodhya xuống cấp.  Có thể nói Sakata thay thế Ayodhya.  Khi Đức Phật trụ thế, Saketa trở thành trung tâm thương mại quan trọng không khác Savatthi.  Từ Savatthi đến Saketa có phương tiện giao thông bằng xe song mă tuyến.  Đường dài trên dưới tám chục cây số nhưng phải thay bảy trạm xe.

Vùng Vajji nằm về phía Đông - ngạn sông Gandhaka, giáp giới Malla.  Đế kinh là Vesali.  Vajji thống hiệp hai tiểu quốc: 1) Licchavi – thành đô là Vesali, 2) Videha – thành đô là Mithila.

Vajji áp dụng chính sách tập đoàn lănh đạo.  Không có quốc vương nhưng có nhiều tiểu vương quyền hạn ngang nhau nên không phải chế độ quân chủ; tuy có quốc hội nhưng không phải chế độ lập hiến v́ người dân không có phần tham dự, duy các vị tiểu vương họp nhau điều hành quốc sự và được gọi là chế độ “Tập vương Licchavi.”  Tưởng cũng cần nói thêm về chế độ có phần khác lạ này.  Mỗi khi có quốc sự quan trọng, các vị tiểu vương họp mặt tại toà nhà nghị hội Santhagara và nguyên tắc biểu quyết là thiểu số phải phục tùng đa số.  Nhưng xưa nay trong nghị hội này có cái lệ bất thành văn là vị vua cao niên nhất luôn được xem là quyết định tối hậu có giá trị tuyệt đối.

Vương quốc Malla nằm hướng viễn Đông Kosala, phía Bắc Vajji, phía Đông Sakka – đế kinh là Kusinara.  Malla có hai đế kinh quan trọng là: KusinaraPavaTrong thời điểm phân chia ngọc Xá lợi Đức Phật th́ KusinaraPava được lănh đồng phần Xá lợi.  Ngoài ra Malla c̣n có hai đế kinh phụ là: AnupiyaUruvelakappa.  Vị tiểu vương ở đây cũng thuộc ḍng Vasittha như các tiểu vương Licchavi – cho nên khi Tôn giả Ananda đến báo tin Đức Phật niết bàn cho tiểu vương Malla, đă xưng hô là “Vasittha”.

Vùng Ceti nằm về hướng Đông Nam Avanti, đế kinh là Sotthivati.

Vùng Vamsa thuộc hướng Nam sông Yamuna và nằm về hướng Nam Kosala, hướng Tây là Kasi, đế kinh là Kosambi, một trục lộ giao thông đường bộ cũng như trung tâm thương măi giữa Kosala, Magadha và các đô thị quanh vùng.

Vùng Kuru nằm ở thượng nguồn sông Yamuna, kinh đô là Indapatta.

Vùng Pancala nằm ngay thượng nguồn sông Ganga, hướng Đông là Kosala, hướng Tây là Kuru, hướng Bắc là Tuyết sơn Himalaya, hướng Nam là sông Ganga.  Thưở xưa, đế kinh là Hastinapura hoặc , về sau dời đô về Bắc ngạn sông Ganga lấy tên là Kampila.

Vùng Maccha nằm về thượng nguồn giữa hai con sông Sindhu Yamuna, hướng Đông là Kosala, hướng Bắc là Surasena, hướng Nam là Kuru, đế kinh là Sagala đóng ở phía Bắc con sông Asigant cũng có tên là Candarabhaga.

Vùng Surasena nằm phía hạ nguồn giữa hai con sông SindhuYamuna, đế kinh là MadhuraSau khi Phật niết bàn, Madhura trở thành trung tâm học Phật vô cùng quan trọng.

Vùng Assaka trải dài theo lưu vực sông Godhavari, nằm về hướng Bắc của Avanti, kinh đô là Potana hoặc Potali.

Vùng Avanti nằm phía Bắc núi Vindhaya, hướng Đông Bắc là Assaka, thành đô là Ujjeni.  Chính nơi này Hoàng tử Mahinda con vua Asoka chào đời.  Có rất nhiều chùa và cổ vật liên quan Phật giáo ở tại đây.

Vùng Gandhara nằm ở thượng nguồn sông Sindhu, đế kinh là Takkasila, một trung tâm Giáo đường vô cùng nổi tiếng đă có mặt trước khi Đức Phật giáng trần.

Vùng Kamboja nằm gần nơi giáp giới Gandhara, kinh thành là Dvaraka, địa điểm nổi tiếng về các giống ngựa quư.

Vùng Videhi là vùng cổ địa, thành đô là Roruka hoặc Roruva là trung tâm tập trung hàng hóa từ các vùng phụ cận kể cả Magadha để được di chuyển bằng thuyền đến các thương trạm đă định.

Vùng Nanda, kinh đô là Sagala, đuợc liệt kê là một trong những kinh đô phú cường lúc Phật trụ thế.  Nổi tiếng nhất là khi Đại đế Alexender (A lịch sơn) đưa quân xâm lăng Ấn Độ th́ hai bên đánh nhau quyết liệt.  Mặc dù quân binh của vua Nanda không cân bằng lực lượng nhưng Ngài chiến đấu vệ quốc vô cùng dũng cảm.

Ngoại trừ hai vương quốc đă được sáp nhập vào Magadha trong triều đại Asoka, những vùng c̣n lại đều được nhắm đến như căn cứ chiến lược cần phải chiếm đóng.  Asoka tiến quân thần tốc như vũ băo, đánh đâu thắng đó chưa một lần nếm mùi thất bại.  Lúc bấy giờ, mộng bá chủ trong ḍng máu sôi sục, réo gọi, thúc giục Asoka phải bành trướng, mở mang bờ cơi để đất nước đủ rộng, để dân số đủ nhiều, để quyền lực đủ mạnh th́ ngài sẽ trở thành bá chủ lục địa BharataTrên lưng tuấn mă, Asoka chỉ biết có tiến, không có lùi.

Trong cuộc chỉ huy tiến quân như trời long đất chuyển, vó câu tuấn mă Asoka đă giẵm đạp lên xác người, đă lội trong máu người, bườn tới, xông lên; gươm ngài vung lên đầu người lăn long lóc, không phải hàng chục hàng trăm mà là hàng ngàn hàng muôn đầu lâu rụng xuống, dường như con người ngài cũng như cây gươm của ngài không bao giờ biết no với máu và thủ cấp người.  Tâm hồn ngài lúc bấy giờ đầy tràn, trào dâng bạo tàn và hung dữ, không c̣n một khoảng trống nào cho t́nh thương, bao dung ngự trị.  Vương quốc Vajji, thành đô là Vesali tương đối hùng cường, quân sự khá mạnh, chiến đấu tự vệ vững chăi nhưng cuối cùng cũng phải thúc thủ trước đại quân vô cùng thiện chiến mà Asoka vị chỉ huy tài ba xuất chúng.  Vương quốc Vajji bị đặt dưới sự bảo hộ của Asoka.  Dân Vajji im lặng, an phận và tiếp tục cuộc sống thường nhật của ḿnh.  Quân đội của Asoka rất tuân hành kỷ luật nên không gây phiền hà dân chúng.  Do đó dân Vajji lấy làm an tâm, không có bất cứ hành động chống đối hoặc bất măn.  Để tỏ ḷng tùng phục và hoan nghênh, dân Vajji tổ chức đại lễ khánh hỷ công cuộc trị quốc an dân mà Asoka đă ban cho.

Trong dịp này, có chương tŕnh văn nghệ do một ban hát tuồng nổi tiếng của Vajji tŕnh diễn để Đức vua và bá quan văn vơ thưởng lăm.  Mọi người đều vô cùng thích thú, tán thán không hết lời.  Ngay lúc ấy vở tuồng đến đoạn vô cùng t́nh tứ do kép chính, đào chính thủ vai chàng trai và cô gái gặp nhau trong lễ hội, làm quen nhau và yêu thương nhau.  Trong mẫu đối thoại giữa hai người, lời lẽ và ư tứ giống hệt lời lẽ và ư tứ của AsokaJalodharai tâm t́nh lúc sắp chia tay nhau để rồi một năm sau đó khi hội ngộ th́ than ôi bến xưa c̣n đó mà con đ̣ đă vội sang ngang.  Cái cảnh bẽ bàng ấy là vết thương ḷng rất lớn đối với Asoka, vết thương chưa lành bỗng dưng vở tuồng hôm ấy làm vết thương tái phát trầm trọng, Asoka thét lên:

- Nói láo, nói láo! Và đứng phắt lên, tay mặt nắm chặt chuôi gươm, hai hàm nghiến chặt và trong tư thế sẵn sàng hành động.

Rất may cho cô đào chính v́ Srikhirin thấu hiểu tâm trạng Asoka nên đă kịp thời quỳ xuống:

- Muôn tâu, xin lệnh Hoàng thượng dằn cơn thịnh nộ và bảo trọng ḿnh rồng.  Họ chỉ là đào kép diễn tuồng.  Ngưỡng mong lệnh Hoàng thượng tha chết cho họ.

Trước cử chỉ vô cùng kính hiểu và lời nói khẩn khoản chí t́nh của Srikhirin một người bạn quư, Asoka lập tức hồi loan.  Mọi người tại hiện trường đă phải một phen kinh hồn khiếp vía nhất là hai người đào chính, kép chính v́ quá sợ đă nằm bất tỉnh trên sân khấu.

Về đến hoàng cung, Asoka ngồi úp mặt trên hai bàn tay tức tưởi, nghẹn ngào: ai hiểu cho nỗi ḷng rướm máu của ta.  Thật là tàn ác, thật là bạc t́nh! vết thương ḷng của ta sắp lành th́ họ đă nhẫn tâm làm cho tái rỉ máu.  Họ đáng chết mà…

 

Hồi Tâm

 

Suốt tám năm chỉ huy quân đội viễn chinh không biết mệt mỏi Asoka đạt kỷ lục về thành tích chiến thắng.  Công trận hiển hách này đă đưa Asoka lên địa vị Đại đế.  Tất cả vương quốc thuộc các vùng Đông, Đông Nam, Nam, Tây Nam, Tây, Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc từ cao nguyên núi rừng, trùng trùng điệp điệp đến b́nh nguyên đồng bằng bát ngát bao la.  Thậm chí biển rộng, sông dài.  Các nguồn thủy lưu lớn nhỏ đều nằm dưới quyền thống trị của Đại đế Asoka.

Đúng vào Phật lịch 286 năm, tức cuối thời điểm năm thứ tám của cuộc viễn chinh, Đại đế Asoka xua quân tấn công vương quốc Kalinga – vùng đất nổi tiếng trù phú về nông nghiệp.  Dân chúng mạnh khỏe, sống nếp sống chánh mạng.

Cuộc tiến quân lần này có mang tính cách dứt điểm vương quốc sau cùng thuộc các vùng đă được Asoka quy hoạch như những cứ địa xung yếu cần phải chiếm đóng nên cuộc tiến quân như vũ băo vô cùng hung hăn quyết dứt điểm trong thời gian kỷ lục.  Ánh mắt Asoka nh́n về hướng nào th́ đại quân thiện chiến lập tức san bằng b́nh địa.  Không phải mất thời gian lâu, đại quân đă ca khúc khải hoàn vang âm long trời lở đất, như bao trùm lục địa Bharata lúc bấy giờ.

Trong khi đại công cáo thành, ba quân tướng sĩ đang vô cùng hồ hởi phấn khởi, họ nhảy múa ḥ hét tưng bừng, họ ôm nhau vui mừng như ngây như dại, tất cả hiện hữu, đất trời, núi sông, thành quách, thây người, máu người đối với họ đều vô nghĩa, chỉ sự reo mừng chiến thắng có ư nghĩa mà thôi.  Th́ Asoka trên lưng tuấn mă, trong tư thế trầm tư yên lặng, đưa ánh mắt tận xa tít mù khơi và từ xa xăm tít mù ngài từ từ khép phạm vi nh́n hẹp lại, hẹp lại.  Ngay giây phút thiêng liêng, linh nghiệm, kỳ diệu ấy - được lịch sử ghi nhận như vậy – trái tim Asoka bỗng nhói đau, xúc động, bàng hoàng, hối hận khi nh́n xuống vó câu tuấn mă, ngài thấy toàn máu, máu ngập cao hơn móng ngựa, máu cũ máu mới ḥa lẫn nhau phản chiếu ánh nắng hoàng hôn tạo màu sắc vừa thê lương ảm đạm, vừa khiếp đảm kinh hoàng và xác người sắp lớp cạn sâu trong biển máu mà nét hoảng sợ, đớn đau vẫn c̣n in rơ trên từng khuôn mặt.

Asoka rùng ḿnh, rởn ốc.  Nỗi hối hận tràn ngập tâm hồn, ngài tự thấy ḿnh quá ư tàn độc.  Sự sống vô cùng trân quư của mọi người th́ ngài thẳng tay hủy diệt chẳng chút lưu t́nh, thay v́ mở chút ḷng thương giúp họ an hưởng.  Trong khi sự chết th́ ai ai cũng kinh hồn khiếp vía, một triệu lần cầu sinh chưa một lần cầu tử th́ ngài nhẫn tâm mang đến và giáng xuống thân phận vô tội vốn không có khả năng tự vệ.  Ngài tự kết luận: cái mọi người cần ngài ban cho th́ ngài từ khước và tàn sát; c̣n cái mà tất cả đều sợ hăi, kinh hoàng là chết chóc th́ ngài giáng xuống đầu họ mà mạng sống mọi người đối với ngài chỉ là tṛ tiêu khiển không hơn không kém.  Ngài tự vấn: tại sao phải làm như vậy và cuối cùng của công tŕnh chiến thắng là ǵ?  Là thây người sống chết nằm ngổn ngang, sắp lớp, là máu người và thú chảy tràn sông máu lênh láng, là tiếng kêu la, khóc than, gào thét của người và thú mang đầy thương tích quằn quại trong cơn hấp hối, sống dở chết dở, là cảnh làng mạc nhà cửa ruộng vườn đ́u hiu, xơ xác, b́nh địa hoang sơ.  Nếu công tŕnh chiến thắng là như vậy th́ là một sự phí phạm nhân mạng, động sản, bất động sản một cách vô luân lư, vô đạo đức và vô nhân tính.  Ḍng tư duy vừa đến khúc quanh tỉnh thức, hối quá, và tự giác này, Asoka bỗng gỡ bỏ cung tiễn và gươm báo quăng xuống đất như quăng bỏ đôi giày rách.

Trong giờ phút linh thiêng, kỳ diệu ấy bỗng hiện tượng mang kỳ tích xuất hiện phi thường: trên trời tiếng gầm thét như thiên lôi giáng; sấm chớp tứ giăng như điện trời nổi lên thắp sáng không gian; địa cầu chấn động, rung động mạnh như sắp có cuộc đại địa chấn; các ngọn núi cao gần đụng trời như Hy mă tuyết sơn cũng chuyển ḿnh quằn quại như sắp sụp nổ vỡ tung; nhưng con sông lớn rộng, chạy dài cũng nổi sóng như giao long uốn khúc hút nước về trời - tất cả như bày tỏ tấm ḷng vô cùng hoan hỷ đối với một sự kiện gần như vô tiền khoáng hậu giữa cuộc sống nhân sinh và cuộc biến thiên hy hữu của vũ trụ.

Thấy hiện tượng lạ, các tướng cận vệ, nhất là Srikhirin, tất cả thúc ngựa đến đứng bao vây hộ giá.  Srikhirin đến gần:

- Muôn tâu, lệnh Hoàng thượng cảm thấy mệt mỏi và chán nản với cuộc viễn chinh, nên tôn nhan không được vui tươi, mặt rồng có chiều đăm chiêu tư lự, không giống như mọi lần chiến thắng trong quá khứ.

Đức vua, qua giọng nói buồn chán, ân hận:

- Các khanh, hăy nh́n xem, chung quanh chúng ta là biển máu, máu nhiều đến nỗi ngập cả móng ngựa, tiếng khóc than vô cùng ai oán, đớn đau của người và vật thương tích đầy ḿnh đang kêu cứu, thét gào; xác chết nhấp nhô nổi ch́m trong biển máu; thây người và thú sống, chết chồng chất lên nhau; xa gần đó đây quà quạ kên kên bu nhau giành giật cắn xé mổ rút; từ đây đến mút tầm mắt là quang cảnh tiêu sơ đổ nát, cô liêu hoang dă chẳng có bóng người kể cả bóng thú.  Trẫm chưa từng mang tâm trạng xót xa, quả tim chưa từng nhức nhối buốt đau và hối hận tràn ngập tâm hồn như lần này.

Nói đến đây, Đức vua tự động chấp tay đưa cao quá đầu và chính thức lớn tiếng cáo tri:

- Kể từ hôm nay, ta là Asoka dứt khoát từ bỏ vũ khí, tuyệt đối không cỡi chiến mă.  Những người vô tội, hàng triệu đă bị hy sinh oan uổng và mang thương tích trầm trọng dở sống dở chết cũng không ít, ta v́ mộng bá chủ nhằm thỏa măn bản ngă đă hủy diệt vô số mạng sống người và thú.

Hoàng hôn xuống, đoàn quân chiến thắng Asoka tiến thẳng vào Hoàng thành nhưng là một cuộc tiến quân im lặng khiến dân chúng Kalinga c̣n sống sót cảm thấy vô cùng ngạc nhiên.  Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi từ các ống loa thông tin phát ra lời trấn an chỉ dụ:

Toàn thể dân chúng Kalinga đừng lo lắng hoảng sợ.  Đại đế Asoka - người khả ái của chư thiên và bốn bộ binh chủng tuyệt đối tôn trọng sinh mạng, động sản và bất động sản của toàn dân.  Ai vi lệnh sẽ bị xử thật nặng theo quân kỷ.  Xin dân chúng an tâm và tiếp tục nếp sống hằng nhật của ḿnh.

Được nghe chỉ dụ này, dân chúng Kalinga vô cùng vui mừng và tiếng tung hô: vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!  Âm thanh reo vui, phúc chúc cứ măi vang vang gần như bất tận.  Tiếng hoan hô khánh chúc toàn dân khiến Asoka cũng cảm thấy phấn khởi, nức ḷng và tin tưởng.

Đêm hôm ấy, Asoka ngủ thật sớm khi canh một vừa qua, ngài thức dậy lúc canh hai chưa bắt đầu.  Asoka tưởng như vừa xảy ra trước khi ngài ngủ: cái sự kiện vô cùng tàn nhẫn mà ngài ra lệnh thiêu sống một số cung phi chỉ v́ họ hái hoa Asoka v́ nó tương đối đẹp, lẽ dĩ nhiên lá cành tả tơi, một số nhánh bị găy c̣n nằm đó đây dưới đất trong khi Asoka an giấc ngủ trưa thật say.  Sau khi thức dậy, ngài thấy lá cành xác xơ, một số nhánh bị găy nằm rải rác đó đây, ngài bỗng nổi trận lôi đ́nh, v́ ngài từng chỉ thị bằng miệng là: cây Asoka mang tên của ngài, không ai có quyền hái bông phá nhánh.  Ngài truyền lệnh thiêu sống các cung phi xem thường lệnh ngài.  Ngài nhớ rất rơ: những nét mặt kinh hoàng, những tiếng khóc la van xin tha mạng, những động tác vẫy vùng cầu xin tuyệt vọng, những h́nh hài bị bốc cháy trắng đen loang lổ v́ những lớp da chín tự động rớt ra từng mảng, c̣n những lớp da chưa chín mới xám đen c̣n bám dính trên thân h́nh các cung phi tội không đáng chết.  Thế mà ngài đă quá tàn nhẫn, xem họ như những người thù bất cộng đới thiên.

Càng hồi tưởng, Asoka càng cảm thấy ḿnh quá ư độc tài, tàn ác.  Càng trôi theo ḍng hồi tưởng, Asoka bỗng nhớ đến Jalodhara.  Một hận ḷng, một sự bạc t́nh, một tṛ chơi ú tim, người mà ngài yêu tha thiết đă dùng lời đường mật gạt gẫm ngài, đă thoa mật trên lưỡi dao cho ngài liếm, khi chứng kiến tất cả phũ phàng và máu lưỡi chảy ra v́ quá si t́nh liếm mật trên lưỡi dao bén, ngài đă hạ sát t́nh địch, luôn cả hai trợ thủ đắc lực của t́nh địch và phóng ngựa ra đi trong tuyệt t́nh, tuyệt vọng, bỏ lại ba xác chết, ba đầu lâu và một Jalodhara khóc không ra khóc, cười không ra cười.

Nghĩ đến đây, ngài cũng cảm thấy ân hận, tự trách ḿnh quá ư bồng bột, mất tự chủ, gần như không c̣n nhân tính v́ hễ ai làm vừa ḷng th́ ban cho sự sống, ai dám chống nghịch th́ phải chết.  Lúc bấy giờ trên lưng tuấn mă, ngài cứ cho ngựa phóng thật nhanh về trước, mặc cho ba bạn rượt theo muốn hụt hơi.  Nhưng v́ lúc đó tâm trạng Asoka đang bị ngọn lửa dục ái, lửa thù hận bốc cháy hừng hực nên không nghĩ suy, phải quấy, lợi hại mà chỉ tư duy một chiều, nhất quán bất thiện: c̣n t́nh đâu nữa là thù đấy thôi.

Hồi tưởng cuộc t́nh ngang trái vô cùng cay đắng và hành động nhất thời của cơi ḷng thiếu tự chủ, ngài cảm thấy cái bản ngă của ngài thật đáng ghét.  Ngài tự vấn: ngă là chi? mặt mũi nó ra sao hay chỉ là ốc mượn hồn, khi tháo bỏ vỏ chiêm bào, thấy nước biển màu xanh không hai vị.  Càng nghĩ càng thấy ḿnh quá nhiều tội lỗi.  Nước mấy sông rửa cũng không sạch lỗi lầm trầm trọng, tàn độc trong quá khứ.  Ngài hồi tưởng mời hồi hôm đây, nếu không có Srikhirin - người bạn tri kỷ, sinh tử cùng ngài kịp thời khẩn khoản, cảnh giác th́ hành động nhất thời của vết thương ḷng thiếu tự chủ, ngài đă giết cô đào chính đóng vai người yêu mà mẩu đối thoại giống một trăm phần trăm những ǵ mà Jalodhara đă tâm t́nh với ngài trong quá khứ.  Ngài cảm thấy xấu hổ, tự thẹn, một vị Đại đế mà hành động nông nỗi không khác trẻ con.  Hồi tưởng những sự kiện và hành động cũng như phản ứng của ngài trong quá khứ, bỗng trong thâm sâu kư ức lóe lên ánh sáng ăn năn tự hối dung hợp lư t́nh: tuổi trẻ có ai không ít nhiều lầm lỗi, trường hợp nặng nhẹ khác nhau, không thể nhặp nhằng, quyết đoán một chiều đơn phương chủ kiến.  V́ rằng trong t́nh yêu luôn có sự đ̣i hỏi của t́nh dục, nhưng t́nh dục th́ không cần t́nh yêu.  Ngài tự cảnh giác: cuộc sống là sự lẫn lộn giữa mật ngọt và mật đắng, giữa vườn hoa và nghĩa địa.  Mật ngọt mật đắng cũng là những vị thuốc quư.  Vườn hoa có cái đẹp của vườn hoa nhưng nghĩa địa nếu biết tô điểm hoa lá cành th́ cũng làm giảm thiểu cảnh ảm đạm thê lương.

Lĩnh hội trọn vẹn ư nghĩa cuộc sống là cả một vấn đề thiên nan vạn nan, bất khả tiên liệu.  Chẳng hạn tại sao ḿnh hiện hữu ở đây, hiện hữu với mục đích ǵ, rồi ḿnh sẽ đi về đâu, sự hiện thành và tiêu tán của một kiếp người do thành tố nào quyết định, ngay cả vũ trụ càn khôn này rồi sẽ ra sao, bản thân ḿnh khi già, đau, chết ḿnh phải đối phó như thế nào, lấy ǵ để đối phó, hay là bất lực.  Ta dường như có nghe đâu đó một câu kệ tuyệt diệu: “Một khi thần chết hiện về, nào ai có thể chở che cho ḿnh, vợ con quyến thuộc chí t́nh, ngậm ngùi chỉ biết đứng nh́n khóc than.”  Trong nỗi cô đơn cùng cực ấy ta c̣n ǵ không.  Tất cả chỉ là bóng mờ sương khói.  Cái sau cùng c̣n lại chỉ là chút hơi thở mà ta rất cần, ta muốn tàng trữ giữ nó lại nhưng cuối cùng nó cũng bạc bẽo bỏ ta đi chẳng một chút đoái hoài thương xót.  Tất cả những ǵ gọi là động sản, bất động sản mà ta hoàn toàn chiếm hữu, cười trong tiếng khóc, ngai vàng trên xương, vui sướng trong khổ đau, và chết chóc đồng loại, không mang bất cứ một ư nghĩa thiết thực hướng thiện nào của cuộc sống, nó thực sự vô nghĩa, vô bổ và vô ích, dẫy đầy tội lỗi.

Tŕnh độ cảnh giác trở thành tăng thượng duyên khiến từ ái, bi mẫn hiển lộ: ta thích vui ghét khổ, th́ mọi người cũng ghét khổ thích vui.  Có nên chăng v́ hạnh phúc cá nhân mà gây khổ đau kẻ khác.  Ngài tự vấn: không biết hành động trong quá khứ của ngài là quân tử, nhân, bá chủ hay là ngă kỷ, ác nhân, độc tài?  Ngài nghĩ, nếu là quân tử th́ hành động phải lợi lạc song phương tự thân và tha nhân; nếu là vĩ nhân th́ phải có những hành động tương đối phi thường để mang niềm tư tin, tự lực và tự cường cho tha nhân; là bá chủ th́ phải áp dụng vương đạo trong sứ mệnh trị nước an dân, tạo dựng thanh b́nh, phú cường cho toàn cơi và an cư lạc nghiệp toàn dân. Nhưng ngài tự nhận ḿnh chưa phải là quân tử, là nhân là bá chủ.  Những hàm tước, những xưng hô, những tán tụng chỉ là những danh từ rỗng không và mai mỉa.

Ngài tự phát thệ: Ta quyết hành động như một quân tử đúng như chánh pháp; sẽ biểu hiện đặc trưng tư cách nhân trung thực mang niềm tin minh triết và tinh thần cầu tiến trên phương diện tu thân, hành đạo, hướng thượng.  Và nhất định sẽ là một bá chủ cai trị dân bằng chánh pháp, tuyệt đối không sử dụng tà đạo.  Nặng giáo dục, nhẹ h́nh phạt, không chỉ áp dụng khẩu giáo mà quyết đem thân làm gương, làm chứng.  Nghĩ đến đây, ngày cảm thấy vô cùng phấn khởi, như vừa tỉnh cơn mê, như lạc đường đêm tối bỗng thấy ánh đèn.  Chính ánh sáng này chiếu toả rạng ngời tâm thức khiến ngài phát hiện chân lư cuộc sống là vay mượn mà ngài phaỉ hoàn trả một sớm một chiều và ngài cũng cảm nhận mọi người trong đó có ngài chỉ là khách trọ không hơn không kém.  Ngài là của cung điện, cung điện không phải của ngài.  V́ ngài là của cung điện, nên cung điện muốn giữ ngài th́ ngài ở, bằng không th́ ngài phải đi.  Ngài đúng là kẻ vô hộ, vô chủ, vô quyền.

Ngài thức ngộ được rằng: mọi sắc tướng sẽ tiêu vong, nhưng thể tánh th́ tồn tại.  Nhờ cách mạng tư tưởng, Asoka ngủ rất ngon, giấc ngủ an b́nh không c̣n lo âu, vướng bận.

Sáng hôm sau, Asoka chỉ định một vị Hoàng tử Kalinga kế vị trị nước an dân.  C̣n ngài truyền lệnh đại quân rút chốt hồi hương.  Trên lộ tŕnh hồi hương, từ Kalinga về Pataliputra, ngài lúc nào cũng ưu tư t́m biện pháp hành chính thế nào để nhân dân trong các vùng thuộc địa được sống cuộc đời an cư lạc nghiệp và các vương quốc đều được phú cường thịnh trị.  Mỗi trạm dừng quân, Ngài và Srikhirin thường cải trang thường dân di hành trong đêm để thăm dân và nghe ngóng cho biết sự t́nh.

Trong cuộc di hành, ngài nhận thấy đa số dân chúng thực sự c̣n nghèo, không đủ cơm ăn áo mặc.  Có một gia đ́nh ba con c̣n nhỏ, khóc thét từng hồi v́ quá đói mà cha mẹ chúng đă tối rồi mà chưa về.  Cuối cùng cha mẹ chúng cũng về nhưng gạo quá ít không đủ nấu cơm cho năm miệng ăn.  Nhưng cũng đành chịu biết làm sao hơn.  Không một người nào no ḷng nhưng nhờ uống nước lă cầm hơi, nên cả năm người cũng sống qua ngày đoạn tháng.  Ngài lại chứng kiến cảnh vợ chồng chửi bới đánh đập cũng chỉ v́ miếng ăn.  Vợ gây: v́ anh ham mê cờ bạc, có bao nhiêu cũng không đủ anh đem đốt ở ṣng bạc - người chồng th́ đổ thừa vợ không biết làm ăn buôn bán xoay sở cho có đồng ra đồng vô nên phải đói nghèo chớ đâu phải tại anh ta.  Đức vua nhận thấy trách nhiệm ưu tiên là làm sao cứu văn t́nh trạng đói rách nhân dân cấp bách.

Ngài vô cùng chua xót nhận ra rằng: không bệnh nào lớn bằng bệnh đói, không khổ nào sánh lại khổ ăn.  Ngài phải t́m cho ra giải pháp chống lại người thù nguy hiểm là nghèo đói.  Ngài hạ quyết tâm phát động phong trào động viên toàn dân cùng ngài xuất chiến nhưng không phải chiến đấu lấn đất giành dân mà chiến đấu sống chết với cuộc sống đói nghèo.  Chỉ dụ vừa loan, toàn dân hoan hô như long trời lở đất.  Tất cả nức ḷng, hồ hởi, phấn khởi và hưởng ứng một cách nhiệt t́nh chưa từng thấy.

Mọi ngành nghề, đều có trung tâm huấn nghệ: sĩ, nông, công, thương nhất loạt học tập và phát huy khả năng lao động chân tay cũng như lao động trí óc.  Một cuộc canh tân gần như vô tiền khoáng hậu.  Trong cuộc cách mạng hiện đại nầy hoàn toàn không có máu, nước mắt và khổ đau, chỉ có mồ hôi, nụ cười và những bản đồng dao lao động.  Họ lao động không biết mệt.  V́ tinh thần tự giác, tự nguyện, không có bất cứ một sự bắt buộc nào.  Ngay như bốn binh chủng cũng chỉ chừa lại một bộ phận cơ bản tiếp tục huấn luyện, duy tŕ khả năng quân sự pḥng khi bất trắc, đột xuất.  Những quân nhân dư ra đều buông khí giới khoác áo nông phu, tăng gia sản xuất, khiến Bharata trong triều đại Asoka vô cùng hùng cường, vinh phú và thanh b́nh.

 

Không Nên Phóng Dật

 

Công cuộc cách mạng tinh thần và phong trào canh tân quốc sách của Asoka khiến mẫu hậu Vimamsa và Hoàng hậu Vedisa sung sướng nhất, vui mừng nhất.  Bao nhiêu thắc thỏm âu lo trong những ngày Asoka xuất quân chinh phạt, may rủi thế nào, sống chết ra sao.  Ngày hồi loan trên lưng chiến mă, hay là… rồi nước mắt đoanh tṛng, không dám kết luận dù trong tư duy thầm kín.  Nhưng hôm nay, th́ sung sướng ngập ḷng, mừng vui rạng rỡ, tin tưởng sắt son, tương lai huy hoàng đầy hứa hẹn.

Niềm vui lớn nhất là nhị vị phát hiện trên con đường tu thân hành thiện từ nay có Asoka là kẻ đồng hành.  Hơn nữa, đây lại là con đường hướng thiện, hướng thượng, tự tha lưỡng lợi.  Thử hỏi c̣n đạo lộ nào có ư nghĩa hơn không.  Nhị vị hoàn toàn hưởng thụ lạc phúc thiết thực mà Asoka đă t́nh nguyện dâng hiến.  Nụ cười sẽ nở trên môi thay cho tiếng khóc; dung sắc sẽ thập phần thù thắng thay cho những nét u hoài, héo hon, tàn tạ; thưởng thức thực phẩm thượng vị cứng, mềm ngon lành măn khẩu thay v́ vô vị đáng nồng.  Trong giấc ngủ, nhị vị không c̣n nằm mơ thấy cảnh chém, giết, máu tươi lai láng, xương khô ră rời mà là giấc ngủ b́nh an, ngủ thật ngon, thức thật tỉnh, chư thiên hộ tŕ.  Đúng là một cuộc đổi đời, đổi đời toàn diện.  T́nh mẫu tử càng thiêng liêng thân thiết; nghĩa vỡ chồng càng đầm ấm, ngọt ngào.

Hoàng Thái tử Mahinda và Công chúa Sanghamitta thấy Hoàng thái hậu, mẫu hậu và phụ vương nở rộ hoa xuân vô cùng rạng rỡ trên gương mặt, vành môi, ánh mắt cũng khiến nhị vị vui lây, tuy chưa nắm vững động cơ huyền mật nào chuyển hoán tâm hồn cũng như cuộc sống quư vị.  Nhưng dù sao tất cả sự kiện thực tiễn này đă tạo cho cung đ́nh là cảnh thiên đường trần thế.

Hoàng hôn đă xuống từ lâu.  Kinh thành Pataliputra ch́m sâu trong giấc ngủ an b́nh.  Nhưng đèn phố và đèn đuờng vẫn sáng choang như ban ngày.  Asoka sau giấc ngủ thật yên lành, sảng khoái, vừa thức giấc thật tỉnh táo, Đức vua tắm rửa, thay đổi long phục, ra đứng ngay cửa sổ trên lầu nh́n xuống.  Một b́nh minh thật đẹp, khí trời mát dịu dễ thương.  Thỉnh thoảng tiếng nhạc từ xa theo gió mang âm thanh nhẹ nhàng, gợi cảm như nhắc nhở mọi người hăy bắt tay lao động để tăng gia sản xuất.

Asoka mỉm cười, phấn khởi, tự tin, nhân dân phúc lạc dám mong thế này.  Đang miên man trong ư nghĩ lạc quan, bỗng h́nh ảnh một tu sĩ ôm b́nh bát khoan thai từng bước hóa trai, phong nghi cốt cách tương đối khác phàm, nét mặt từ ḥa, ánh mắt nh́n thẳng vừa tầm, dường như bao nhiêu thế sự buộc ràng người đă bỏ lại sau lưng, c̣n phía trước th́ chiếu tỏa hào quang của b́nh đẳng, từ bi và trí tuệ.  Đúng là h́nh ảnh một Thích tử Mâu Ni, đắp y mang bát hóa duyên, từ ḥa nét mặt, nhàn vân gót hài.  Trước một mẫu đạo phong mô phạm ấy, Đức vua như bị thôi miên, ngài truyền lệnh thỉnh mời vị Sa môn và cúng dường thực phẩm.  Sau phần thọ trai, Đức vua từ tốn:

- Thưa Đại đức, nếu trẫm không vơ đoán th́ Đại đức tuổi đời không quá hai mươi niên kỷ.

- Muôn tâu, đúng vậy - bần đạo chỉ là một vị Sa di mới xuất gia không lâu lắm.

- Trẫm lấy làm thắc mắc.  Tuổi đời xuân xanh, tràn đầy nhựa sống, tương lai c̣n nhiều hứa hẹn, học lực chắc cũng không đến nỗi tệ, nhưng tại sao Đại đức lại dứt khoát chọn con đường này, một con đường không có lối thoát và dĩ nhiên không có tương lai.

- Muôn tâu, Bổn sư bần đạo tuyên nhắc lời Đức Phật dạy: Chúng sanh không nên phóng dật trong ba hiện tượng đặc trưng: một là tuổi xuân, hai là sức khỏe, ba là sự sống.  Nếu phóng dật sống vong thân, khi già, bệnh, chết đến th́ có muốn tu thân, hành thiện, thực hiện phạm hạnh th́ đă quá muộn v́ sức khỏe và thời gian không cho phép.

Im lặng khảnh khắc, vị tu sĩ tiếp lời:

- Muôn tâu, Bổn sư bần đạo khai thị thêm: Đối với quan niệm thế t́nh th́ Đức Phật cảnh giác, mọi loài hữu t́nh luôn bị tuổi già tàn phá và xô đẩy đến tử vong, tất cả là kẻ vô hộ, vô chủ, vô quyền; phải bỏ hoặc trả tất cả cho đời rồi ra đi cô lẻ; và là nô lệ thường trực của khát khao tham muốn.  Nhờ lănh hội lư đạo huyền nhiệm này mà bần đạo tự nguyện sống cuộc đời Tăng sĩ – Mâu Ni không nhà.

- Thưa Đại đức, câu nói tất cả hữu t́nh là kẻ vô chủ, vô hộ, vô quyền quả thật trẫm chưa lănh hội được.  Trẫm nghĩ, trong nhà phải có chủ nhà, trong cơ quan phải có người chỉ huy, trong một quốc gia cũng phải có người lănh đạo.  Tại sao lại nói vô hộ, vô chủ, vô quyền.

- Muôn tâu, lệnh Hoàng thượng năm nay cũng đă trên dưới năm mươi niên kỷ, nếu so với lúc 17, 18 tuổi xuân th́ có phải đă kém sức khỏe hơn xưa?

- Đúng vậy, thưa Đại đức.

- Muôn tâu, có khi nào lệnh Hoàng thượng bị bệnh không?

- Thỉnh thoảng cũng có – Thưa Đại đức.

- Muôn tâu, vậy lúc bấy giờ Hoàng hậu, cung phi mỹ nữ, bá quan văn vơ có ai chia sớt cái đau đớn trong long thể Hoàng thượng được không.

- Thưa Đại đức, làm sao họ đau thế cho trẫm được.

- Muôn tâu, cái vô hộ, vô chủ, vô quyền là thế đó.

- Thưa Đại đức, câu nói bỏ hay trả tất cả cho đời rồi ra đi cô thân chiếc bóng là thế nào.

- Muôn tâu, trước khi lệnh Hoàng thượng ngự trị ngôi báu, có phải lệnh thái thượng hoàng là đương kim thánh thượng hay không.

- Thưa Đại đức, sự thật là như vậy.

- Nhưng ngài có đem được những ǵ tùy thân hay là bỏ và trả lại tất cả rồi ra đi một ḿnh.

- Thưa Đại đức, bỏ lại tất cả, chỉ có hai bàn tay trắng, thật tội nghiệp.

Thưa Đại đức, tại sao gọi là nô lệ ái dục, khát khao thường trực, không biết đủ.

- Muôn tâu, Phật ngôn mà Bổn sư bần đạo trùng thuyết có ba loại ái: dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

1.  Dục ái là ham muốn, tham đắm sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạ.  Đối với những thứ dục này, không ai không ái – thích, thậm chí dùng mọi thủ đoạn chiếm đoạt, sẵn sàng nhúng tay vào tội ác dù lớn bằng trời, người ta không hề từ chối.  Nô lệ dục ái là như vậy.

2.  Hữu ái tức tham đắm, ham muốn có được cái này, có được cái kia, muốn có cái ḿnh chưa có, muốn có thêm những cái đă có.  Đă là như vậy th́ làm sao biết đủ biết vừa.  Suốt đời làm thân phận nô lệ.

3.  Phi hữu ái là tuyệt đối không muốn chuyện như vậy xảy ra nhưng rồi nó cứ xảy ra không giải quyết được.  Tránh né, chận đứng, ngăn ngừa tất cả hoàn toàn bất lực, thúc thủ.  Cái đau khổ thật triền miên bất tận, gần như cái đau khổ của “cầu bất đắc”.  Nói cho đúng th́ cái “phi hữu ái” này bao gồm cả dục ái và hữu ái.

Im lặng một chút, Sa di giải thích để vấn đề cũng như Phật ngôn sáng tỏ thêm:

- Muôn tâu, khi nhăn quan tiếp xúc sắc trần khiến phát khởi ư niệm khả hỉ, khả ái th́ gọi là thọ lạc.  Nếu ư niệm bất như ư khởi lên th́ gọi là thọ khổ, nếu ư niệm xúc tiếp vô thưởng vô phạt th́ gọi là thọ vô kư.  Thực tế mà nói th́ thọ vô kư cũng tức là thọ lạc một cách nhẹ nhàng trừu tượng.  Trong trường họp kể thọ chỉ có hai, th́ thọ vô kư được khép vào thọ lạc.  Cũng có thể nói: khi nào thọ lạc th́ tâm có khuynh hướng thiên về dục ái và hữu ái; khi nào thọ khổ th́ tâm có khuynh hướng thiên về phi hữu ái.  Cái dục thô sơ là Visattika tanha (Liên hữu dục).  Cái dục vi tế ngủ ngầm trong tâm, không hiển lộ bằng h́nh thái ngọai tại, gọi là Vattamulaka tanha (nguồn dục luân hồi).  Nguồn dục tế vi này phải nhờ đến khả năng thánh quả vô lậu mới đoạn diệt mầm mống một cách dứt khoát được.

- Thưa Đại đức, nghe nói pháp môn nhà Phật có tám vạn bốn ngàn (84.000) nếu tóm gọn th́ c̣n bao nhiêu?

- Muôn tâu, chỉ c̣n có một.

- Thật vậy sao, thưa Đại đức.

- Muôn tâu, bần đạo nào dám nói lời thất thiệt.

- Thưa Đại đức, tại sao lại chỉ c̣n có một?

- Muôn tâu, lúc trụ thế, Đức Phật tập trung toàn bộ giáo lư của Ngài vào một từ phủ định: “Không phóng dật.”  Điều này trở nên vô cùng căn bản, Ngài cũng dùng từ này làm di giáo tối hậu: Appamadena sampadetha hăy nghiêm hành không phóng dật.

Quá hoan hỉ với pháp thoại đi từ Pháp đàm, Đức vua tâm t́nh:

- Thưa Đại đức, v́ mải mê theo dơi pháp thoại, trẫm thật vô t́nh mà cũng kém phần lịch sự, quên mất, không hỏi phương danh, quư tánh của Đại đức.

- Muôn tâu, các pháp lữ gọi bần đạo là Sa di Nigrodha.

Đức vua ngỏ lời tán thán: 

- Thật phi thường, thật sự phi thường, đệ tử đức Thế tôn dù là một vị Sa di cũng thông tuệ xuất chúng.  Đối đáp nghiêm túc, giải thích rơ ràng, văn cú mạch lạc, chứng tỏ kiến thức uyên bác, có giáo dục và huấn luyện, dung hợp tiêu chuẩn lư, cơ đúng phương pháp.

 

Asoka Vấn Đạo

 

Tuy thoại đầu câu chuyện đi từ đối thoại đến đàm thoại có tính giải nghi, nhưng nhờ quá tŕnh công đức trợ duyên, cộng thêm bản chất thông tuệ cố hữu, Đức vua lănh hội tương đối giáo lư căn bản, khởi ḷng tịnh tín, muốn t́m hiểu thêm những phần thâm mật mà Đức vua hoàn toàn tin tưởng sẽ khám phá những tinh hoa kỳ tuyệt trong toàn bộ di giáo mà đức Từ phụ Thích tôn lưu bố cho hàng hậu học.

Đức vua cảm nhận bất cứ cuộc hành tŕnh nào cũng phải có bản đồ hướng dẫn và hướng đạo viên, bằng không sẽ rơi vào quỹ đạo tà ngụy mà hậu quả khó đo lường, nó giống như người mù dắt người đui quờ quạng trong đêm tối.  Đă có chủ đích, Đức vua quyết tâm tầm sư học đạo.

Bỗng có một ngày, bầu trời quang đăng, nắng ấm, gió mát, khiến Đức vua cảm thấy vô cùng sảng khoái, đúng hơn là ngày hoàng đạo, Đức vua được biết có một vị thánh Tăng đạo cao đức trọng, pháp danh Moggaliputta Tissa tịnh cư trong một hang động, núi Udhotangapabbata nằm ở thượng nguồn sông Ganga, giới luật nghiêm minh, đa văn quảng kiến, uyên thâm Phật học, thành tựu cứu cánh đời sống phạm hạnh, viên măn bốn tiêu chuẩn cụ túc:

1.  Atthapatisambhida: Nghĩa cụ túc cũng gọi là nhân cụ túc, tức quán triệt tất cả nguyên tố nhân duyên như thế nào sẽ đưa đến hậu báo ra sao một cách tường tận, tinh tế.

2.  Dhammapatisambhida: Pháp cụ túc cũng gọi là quả cụ túc, tức liễu tri toàn diện mọi hiện quả tác thành từ nguyên tố nhân duyên ǵ.

3.  Patibhanapatisambhida: Biện tài cụ túc hoặc biện tài vô ngại, tức thiên tài hùng biện, tất thắng trong mọi đối thoại, không phải đắn đo suy nghĩ trong tất cả vấn nạn dù hóc búa nan tri.

4.  Niruttipatisambhida: Văn cú cụ túc hoặc văn chương thi cú vô ngại tức sử dụng toàn diện các loại văn chương bát cổ, cận đại, hiện đại lưu loát kể cả các lọai sinh ngữ không hề ngăn ngại.  Người đối thoại dùng loại văn nào th́ liền đối đáp tuyệt hảo loại văn đó.

Đức vua c̣n được biết thêm: Tôn giả là vị thánh Tăng đă viên đắc lục thông (Chalabhinna):

1.  Dibbasota: Thiên nhĩ thông tức khả năng nghe được tất cả loại âm thanh dù nói thật nhỏ và cách ly muôn vạn dặm.

2.  Cetoparinnnana: Tha tâm thông tức hiểu biết tâm ư của tất cả hữu t́nh trời người thậm chí vi tế côn trùng toàn triệt, dù chỉ một khởi niệm thật vi tế.

3.  Pubbenivàsànussatinana: Túc mạng thông tức khả năng nhớ biết tiền kiếp tự thân và tha nhân trong vô số lượng kiếp không sót thiếu bất cứ một mảy may sinh nghiệp, sinh kế, tổ tiên gia phả, tên tuổi, thọ mạng, tâm tính và kiến thức.

4.  Cutupapatanana: Sinh tử thông tức khả năng siêu phàm toàn tri mọi loại chúng sinh tác tạo hạnh nghiệp như thế nào mà phải tái diễn luân hồi lưu chuyển trong các cảnh thiện thú hoặc ác thú như hai với hai là bốn, không hề có bất cứ một lầm lẫn nào dù vi tế.

5.  Iddhividhi: Thần túc thông tức năng lực siêu phàm biến hóa một thành trăm, thành ngàn, thành vô số hoặc thu hồi từ phức số trở thành đơn số tùy ư lực.  Thậm chí độn thổ, độn thủy, ngồi kiết già lơ lửng không trung rờ mặt trời mặt trăng hoặc trong thời gian duỗi tay Ngài có mặt ở cơi trời Phạm thiên.

6.  Asavakkhayanana: Lậu tận thông tức ư lực siêu nhiên thấy rơ, hiểu thấu, quán triệt nhân duyên trùng trùng sinh diệt, hữu vô năng sở, thoại đầu vô minh, thoại cuối sinh tử liên dây và sầu, bi, khổ, ưu, năo là một chuỗi dài liên lĩ vô thủy vô chung.

Sau khi đắn đo chọn người đại diện đi cung thỉnh ngài thánh Tăng.  Đức vua nhận thấy SasavatVenupala là nhân tuyển thích hợp nhất.  Nhận khẩu lệnh này, Sasavat thật sự vui mừng không thể tả. V́ xưa nay bản tính chàng thích cuộc sống nội tâm sâu sắc, thâm trầm không thích h́nh thức nhiệt náo, hào nhoáng bên ngoài.  Nên khi được chỉ định cùng Venupala đi cung thỉnh ngài thánh Tăng Moggaliputta Tissa, bèn lập tức khởi hành không phút giây chậm trễ.

Ngọn núi Lidhotanga tuy xa, nhưng Đức vua lệnh cho dùng mă xa, nên chẳng bao lâu ngọn núi đă hiển lộ từ xa.  Sau khi t́m chỗ dừng xe, Sasavat Venupala cùng leo núi.  Khi đến động đá cheo leo nơi ngài thánh Tăng tạm ngụ, SasavatVenupala chắp tay kính lễ vô cùng trang trọng và bạch rơ nguyện vọng nhà vua kính cung thỉnh Ngài lân mẫn quang lâm triều nội để Đức vua được cúng dường và học đạo.  Những nguồn tin tốt đẹp liên quan sự hồi tâm chuyển ư của Đức vua, Ngài cũng tường tận.  Trong thâm tâm vốn sẵn cảm t́nh trong niềm đạo, Ngài hoan hỉ nhận lời.

V́ là buổi chiều, nên Đức vua chỉ cúng dường sinh tố và các loại giải khát.  Sau phần giải khát, Đức vua mở lời:

- Thưa Tôn giả, thật là một diễm phúc lớn khiến trẫm được bái kiến một vị chân tu, đạo cao đức trọng.  Nếu không phải là chuyện quấy rầy, kính xin Tôn giả cho phép trẫm được nêu lên một số thắc mắc để Tôn giả từ mẫn giải tỏa.

Tôn giả nhận lời.

- Thưa Tôn giả, người đời nên có tín ngưỡng tôn giáo hay không.

- Muôn tâu, Hoàng thuợng nghĩ người đời nên có lỷ tưởng làm đối tượng sống hay không?

- Thưa Tôn giả, nên có.

- Muôn tâu, nếu người đời cần có lư tưởng làm đối tượng sống, th́ đối với tín ngưỡng cũng cần như vậy.

- Thưa Tôn giả, tôn giáo cần phải có những tiêu chuẩn ǵ?

- Muôn tâu, được gọi là tôn giáo đúng nghĩa, phải hội đủ sáu tiêu chuẩn:

1.   Vị giáo chủ phải là nhân vật lịch sử mà đa số quần chúng tin tưởng.

2.   Giáo lư căn bản là chân lư về khổ, nhân khổ, lạc và pháp đắc lạc.

3.   Có đệ tử xuất gia, tại gia là người thừa tự pháp.

4.   Có cơ sở tín ngưỡng cổ lưu và cơ sở tân tạo là (Phật giáo địa – Tôn giáo sở).

5.   Có h́nh thức lễ nghi truyền thống khế hợp lư, cơ.

6.   Có người tịnh tín, lĩnh hội và y giáo phụng hành, không lư thuyết suông.

- Thưa Tôn giả, tín ngưỡng (tôn giáo) Ngài đang thực hành có hội đủ tiêu chuẩn vừa kể hay không?

- Muôn tâu, hoàn toàn cụ túc.

- Thưa Tôn giả, người không có bất cứ tín ngưỡng nào hết th́ tốt hay xấu?

- Muôn tâu, người có tín ngưỡng chính kiến vẫn tốt hơn v́ tôn giáo chân chính thường gọi là Chánh đạo th́ luôn dạy khuyên người xa điều ác, làm việc lành, thanh tịnh tâm ư.

- Thưa Tôn giả, các tôn giáo có dị đồng về mặt thành tựu không?

- Muôn tâu, dĩ nhiên phải có.  Bần đạo thí dụ điển h́nh để vấn đề sáng tỏ, tuyệt đối không mang bất cứ ư niệm khích bác.  Chẳng hạn trong Bà la môn giáo, tín đố có quyền giết thú, thậm chí giết người để tế thần, trong khi đạo Phật tuyệt đối cấm sát sinh.  Giết người, giết vật tế thần th́ hậu quả là đau thương, chết chóc, máu tươi, xương trắng, sinh ly tử biệt, tiếng khóc oán than, sự sống là món hàng, t́nh người là tṛ chơi đổi chác, cái hạnh ngh́ệp đưa đến hậu quả như vậy liệu có cần thiết, có nên áp dụng hay không.  Trong khi đạo Phật chủ trương hoàn toàn trái ngược.  Chính công tŕnh trái ngược này là thành quả đưa đến hậu quả từ ái, bi mẫn v́ mạng sống được tuyệt đối tôn trọng, xương máu tuyệt đối được bảo lưu, người người sum họp, nhà nhà an vui.  Đồng loại được tuyệt đối trân quư.  Trong kinh Pháp cú có câu: “Chúng sinh đều sợ h́nh phạt và chết chóc, hăy xét phận ḿnh đừng bao giờ hành phạt và giết chóc ai.”

Đức vua cảm thấy thú vị, ngọt ngào, dung thông t́nh lư đối với pháp thoại của Tôn giả, nhưng ngài muốn xoáy vào lư đạo thật xuyên suốt, để đi đến một quyết định tối hậu:

- Thưa Tôn giả, người phát khởi tín tâm hướng thiện và hướng thượng, có cần thiết phải xuất gia không.

- Muôn tâu, xuất gia là hạnh ly dục chớ không phải h́nh thức giới điều, chiếc áo không tiêu biểu bậc xuất gia.  Đầu thí phát cũng không phải dấu hiệu đặc trưng của vị Sa môn.  Tuy nhiên, hạnh xuất gia có cơ hội phục vụ hữu hiệu hơn, lợi lạc hơn, kết quả hơn, v́ như lệnh Hoàng thượng khi chưa đăng quang tức vị th́ cơ hội phục vụ quyền lợi đất nước, dân tộc không được tích cực và hữu hiệu như bây giờ.

- Thưa Tôn giả, mục đích xuất gia là ǵ?

- Muôn tâu, mục đích xuất gia là giảm thiểu những bất thiện Pháp.

Đức Bổn sư không bắt buộc mọi người xuất gia, nhưng Ngài khẳng định hạnh xuất gia có nhiều phương tiện ưu việt hơn người cư sĩ, v́ cư sĩ đa đoan thế sự, nhiêu khê, phiền phức vợ, con, sinh kế, nghiệp chướng, phiền năo chướng ngoại tại đoanh vây, không có th́ giờ nhàn rỗi, lại thêm tiếp xúc quá thường xuyên với ngoại trần khiến tâm hồn luôn bị vẩn đục.

- Thưa Tôn giả, đạo Phật giải thích thế nào về tái sinh,chuyển kiếp c̣n gọi là luân hồi.

- Muôn tâu, các loài hữu t́nh, nếu c̣n phiền năo th́ c̣n luân hồi, trong thời điểm luân hồi, nếu tạo bất thiện nghiệp th́ phải đọa vào khổ cảnh như súc sinh hoặc địa ngục.  Nếu tạo nhiều thiện nghiệp th́ được chuyển kiếp làm người hoặc làm trời.  C̣n nếu phiền năo đoạn tận th́ không c̣n tái sinh, chuyển kiếp nữa.  Ví như lệnh Hoàng thượng, sau khi đàm đạo với bần đạo muốn được nghỉ ngơi th́ Hoàng thưọng sẽ trở về ngự pḥng.  C̣n nếu Hoàng thượng không muốn hồi cung th́ Hoàng thưọng cũng có thể ngự giá đến một địa điểm mà Hoàng thượng thích.

- Thưa Tôn giả, kính xin Tôn giả hoan hỉ giải thích tường tận, ngoài vai tṛ phiền năo c̣n có vai tṛ nào khác quan trọng hỗ tương trong tiến tŕnh luân hồi của các loài hữu t́nh, giúp trẫm lĩnh hội trọn vẹn vấn đề cơ hồ bất khả tri, bất khả tín.

- Muôn tâu, nếu đề cập vai tṛ chủ yếu tiến tŕnh luân hồi của mọi hữu t́nh th́ đức Bổn sư khẳng định nghiệp lư: Tất cả chúng sinh là chủ nhân của nghiệp cũng là kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là điểm tựa cho vạn loài.  Chính nghiệp phân chia sự dị biệt cao thấp trong đời.  Chính ḿnh làm việc ác nên khiến ḿnh uế trược, chính ḿnh làm việc lành nên khiến ḿnh thanh tịnh.  Thanh tịnh hay uế trược đều do ḿnh.  Không ai có thể khiến người khác tịnh thanh hay uế trưọc.  Chính định lư nghiệp là tác lực của luân hồi.  Nếu phủ nhận sự liên hệ bất khả phân giữa nghiệp lư và luân hồi th́ quả thật thế giới này sẽ không c̣n có công lư.

- Thưa Tôn giả, vấn đề càng trở nên phức tạp, kính xin Tôn giả hoan hỉ giải thích thật rộng răi, chi ly.

- Muôn tâu, trước hết, bần đạo xin tŕnh bày vai tṛ của nghiệp.  Nghiệp có bốn vai tṛ:

1 Janakakamma (Sinh nghiệp) tức vai tṛ chủ yếu tác nhân sự h́nh thành hữu t́nh tốt, xấu, sang, hèn.  Thuờng th́ sinh nghiệp là hậu báo của huân nghiệp (Acinnakamma) hoặc là hậu báo của cận tử nghiệp (Asannakamma) đóng vai tang trợ trước khi người ấy mạng chung.

2. Upatthambhakakamma (Tŕ nghiệp) tức vai tṛ tŕ dưỡng – là nghiệp đi theo Sinh nghiệp và tŕ dưỡng nghiệp này cho đến khi mạng chung.

3. Upapilakakamma (Chướng nghiệp) tức vai tṛ áp lực hoán chuyển làm yếu ớt, chấm dứt khổ đau, hay áp lực khiến phước đức tiêu hao hoặc mất khả năng trổ quả, nghĩa là dừng lại sự kết thành của sinh nghiệp, trái với tŕ nghiệp.

4. Upaghatakakamma (Doạn nghiệp)  tức vai tṛ chấm dứt quả của thiện nghiệp cũng như quả của ác nghiệp.

Nghiệp nói theo chức năng có bốn:

1.  Garukamma (Trọng nghiệp) tức năng lực Đại thiện tâm, thường là kết quả của thiền như Tứ thiền Sắc giới chẳng hạn, có chức năng tác thành hiện chính báo hoặc hiện y báo.  Về mặt Bất th́ện th́ năm nghiệp đại nghịch, như giết cha, giết mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu, phá ḥa hợp Tăng.  Trọng nghiệp bất thiện này có chức năng trả quả ngay trong hiện kiếp và hậu kiếp.

2. Bahulakamma hoặc Acinnakamma (Thường nghiệp hoặc Huân nghiệp) tức nghiệp liên tục v́ tích lũy ít nhiều không gián đoạn khiến trở thành thói quen.  Nghiệp này trả quả chậm nhưng dai dẳng.

3. Asannakamma (Cận nghiệp) tức hạnh nghiệp trước giờ phút lâm chung, dù chỉ là tác ư đều có chức năng tác thành cảnh giới thọ sanh.

4. Katattakamma hoặc Katattavapanakamma (Tích trữ nghiệp hoặc Khinh thiểu nghiệp) tức loại nghiệp mà chúng sinh tích tập dự trữ một cách vô tri, nghĩa là không có tác ư nhưng cũng có chức năng trả quả không nhất định thời gian, không gian.  Những hạnh nghiệp không thuộc ba loại trên đều khép vào nghiệp này.

Nghiệp nói theo thời điểm trả quả có bốn:

1. Ditthadhammavedaniyakamma (Hiện báo nghiệp):Hiện kiếp báo tức chính báo, y báo trả quả ngay trong hiện kiếp.

2. Upapajjavedaniyakamma (Sinh báo nghiệp): Hậu kiếp báo tức loại nghiệp trả quả ngay sau kiếp chết.

3. Aparaparavedaniyakamma (Hậu báo nghiệp): Hậu kiếp gián đoạn báo tức loại nghiệp trả quả tùy điều kiện, hoàn cảnh và thời gian.

4. Ahosikamma (Vô hiệu nghiệp) tức loại nghiệp có tác nhân nhưng không có hậu quả.

- Thưa Tôn giả, kính xin ngài hoan hỷ giải thích tổng hợp lư, sự, giúp trẫm lĩnh hội trọn vẹn một đề tài khó liễu tri tường tận.  Thưa Tôn giả, có phải Sinh nghiệp (Janakakamma) đóng vai tác nhân mọi hiện quả của chúng sinh như giàu, nghèo, ngu trí, sang hèn, đẹp xấu?

- Muôn tâu, đúng vậy.

- Thưa Tôn giả, c̣n tŕ nghiệp (Upatthambhakakamma) th́ vai tṛ rơ nét nhất là thế nào?

- Muôn tâu, một hữu t́nh sinh ra trong một gia đ́nh phú quư, không phóng dật, biết cách duy tŕ, có phương án phát triển, thương quư côn nhân, nói năng khiêm ái, có lương tâm và tư cách th́ người ấy chắc chắn càng giàu sang phát đạt.  Đó chính là vai tṛ của tŕ nghiệp thiện (Upatthambhakakamma).  Ngược lại, nếu có người được sinh vào gia đ́nh giàu có nhờ quá tŕnh công đức, nhưng phung phí trác táng, tài khí tửu sắc, tiếp cận và đồng lơa với ác hữu, không có quy tŕnh duy tŕ, phát triển th́ người ấy chắc chắn sẽ bị hao tài, suy sụp và phá sản.  Ấy chính là vai tṛ của tŕ nghiệp ác (Upatthambhakakamma).  Trong trường hợp v́ sinh nghiệp ác (Janakakamma) tác thành hữu t́nh thô xấu, hàn vi lại tạo thêm nhiều hạnh nghiệp bất thiện th́ chắc chắn cuộc đời họ càng thảm thương hơn.  Đây chính là vai tṛ của tŕ nghiệp bất thiện.

Nếu như một hữu t́nh hàn vi, thô xấu nhưng không phóng dật, tiếp cận thiện hữu, th́ tŕ nghiệp sẽ biến thành chướng nghiệp (Upapilakakamma) khiến nghiệp bất thiện cũ suy yếu.  Nếu người này luôn có sự nỗ lực tinh cần, sống đúng theo chánh nghiệp và nuôi thân đúng theo chánh mạng, huân tập nhiều công đức th́ tŕ nghiệp (Upatthambhakakamma) biến tướng thành đoạn nghiệp (Upacchetakakamma) có chức năng chấm dứt bất thiện nghiệp cũ, khiến trở ḿnh vươn lên địa vị khá giả, phú quư trong xă hội.

- Thưa Tôn giả, trẫm đă lĩnh hội tương đối rốt ráo những định lư về nghiệp qua cách giải thích dung hợp lư, sự vô cùng mạch lạc của Tôn giả.  Về chức năng của nghiệp như: Trông nghiệp (Garukamma), Thường nghiệp (Acinnakamma), Cận tử nghiệp (Maranasannakamma) và Khinh thiểu nghiệp (Katattakamma), th́ trẫm không c̣n thắc mắc.  Trẫm chỉ xin Tôn giả hoan hỷ giải thích thời điểm trả quả của nghiệp.

- Muôn tâu, bần đạo xin giải thích tổng hợp đại lược:

Nghiệp thiện hoặc ác mà thời điểm trả quả ngay trong hiện kiếp - thường là Trọng nghiệp - gọi là Hiện báo nghiệp.

Nghiệp nào không trả quả ngay trong hiện kiếp mà sẽ trả quả liền sau khi chết, gọi là Sinh báo nghiệp (Upapajjavedaniyakamma).

Nghiệp không có cơ hội trả quả ngay trong hiện kiếp, hoặc kiếp liền sau khi chết mà chỉ trả quả giai đoạn tùy điều kiện, hoàn cảnh và thời gian, gọi là Hậu báo nghiệp (Aparapariyavedaniyakamma).

Sau cùng, nghiệp có tác nhân nhưng không có hậu quả, gọi là Vô hiệu nghiệp (Ahosikamma).  Loại nghiệp này chờ đợi nhưng không có cơ hội, lâu ngày chầy tháng, thời gian cứ hun hút qua đi, cuối cùng không trả quả được, cũng như hạt giống để lâu bị hư.

- Thưa Tôn giả, có nghiệp nào cùng loại nhưng thớ điểm trả quả khác nhau mà tên gọi cũng khác nhau.

- Muôn tâu, có.  Chẳng hạn như: nghiệp sát nhân phải bị trả quả ngay trong hiện kiếp, gọi là hiện báo nghiệp (Ditthadhammavedaniyakamma).  Sau khi thân hoại mạng chung phải bị đoạ vào khổ cảnh như điạ ngục hoặc súc sinh, gọi là Sinh báo nghiệp (Upapajjavedaniyakamma).  Nhưng nếu thoát khỏi khổ cảnh được sinh làm người th́ phải yểu mạng; gọi là hậu báo nghiệp (Aparapariyavedaniyakamma).  Cũng loại sát nghiệp như vậy, nhưng nhờ chức năng tiền phước c̣n tang phục cẩn trộ khiến Bất thiện nghiệp (sát nghiệp) không có cơ hội trả quả, lại thêm người ấy tích cực tác tạo công đức liên tục không gián đoạn khiến khối công đức càng to tát, vĩ đại trợ duyên hữu hiệu, trong trường hợp như vậy, gọi là Vô hiệu nghiệp (Ahosikamma).

Bần đạo xin thí dụ, một người phạm tội sát nhân nhưng khéo trốn tránh suốt thời gian lâu hơn hai, ba chục năm th́ bản án sẽ được hủy bỏ, pháp luật không c̣n truy cứu nữa.  Vô hiệu nghiệp cũng giống như vậy.

- Thưa Tôn giả, Cận nghiệp và Thường nghiệp, nghiệp nào trả quả trước.

- Muôn tâu, Cận nghiệp trả quả trước nhưng trong thời gian rất giới hạn và sau đó là vai tṛ của Thường nghiệp (Acinnakamma) trả quả.  lẽ dĩ nhiên giai đoạn này liên lĩ lâu dài.  Thí dụ như đàn ḅ trong chuồng, con nào đứng gần cổng, dầu già hay yếu, sẽ ra trước.  Những con ḅ khác dù tơ hay mạnh cũng phải ra sau.  Trên đường đi, chúng có thể thay đổi vị trí.  Cũng giống như một người suốt đời tác tạo công đức, nhưng đă có một vài lần hỗn hào phạm thượng mẹ cha.  Trong giờ phút sắp lâm chung, chập tư tưởng sau cùng bỗng nhớ chuyện này và cảm thấy hối hận th́ sau khi mạng chung sẽ bị đoạ địa ngục, hoặc súc sinh, hoặc nếu được làm người th́ phải chịu cảnh khổ sở cơ hàn trong một thời gian ngắn,và sau đó thường nghiệp thiện (Acinnakamma) mới có cơ hội trả quả lâu dài.  Trong ư nghĩa tương phản, một người suốt cuộc đời chuyên tạo ác nghiệp, nhưng đă có một vài lần tạo thiện nghiệp.  Trong giờ phút sắp lâm chung, chập tư tưởng sau cùng bỗng nhớ tới công đức và cảm thấy hoan hỉ th́ sẽ được sanh về lạc cảnh hưởng thụ lạc thú trong một thời gian ngắn, và sau đó Thường nghiệp bất thiện (Acinnakamma) sẽ trả quả lâu dài.  Đúng với Phật ngôn: Natthi kammasamam balam: không sức mạnh nào bằng nghiệp.

- Thưa Tôn giả, nghiệp thiện có thể làm tan loan nghiệp ác hoặc ngược lại hay không?

- Muôn tâu, có thể.  Ví như bỏ nắm muối vào chén nước th́ nước sẽ mặn.  Nhưng nếu bỏ xuống sông th́ muối sẽ bị tan loăng mất chất mặn.  Cũng như thế ấy, nghiệp thiện có thể bị nghiệp ác làm tan loăng nếu nghiệp ác quá nhiều và ngược lại cũng vậy.  Loại nghiệp này cũng có thể gọi là có như không có (Abbhoharikakamma).

- Thưa Tôn giả, nghiệp thiện, nghiệp ác khi chưa trả quả th́ chứng ở đâu?

- Muôn tâu, ở trong tâm người ấy.

- Thưa Tôn giả, ở chung nhau không bị lẫn lộn sao?

- Muôn tâu, không thể lẫn lộn – ví như dầu với nước ở chung chai. Không thể lẫn lộn.

- Thưa Tôn giả, trên thực tế ḿnh không có thấy.

- Muôn tâu, tuy không thấy bằng mắt nhưng có thể cảm thấy bằng tâm.  Cũng như mùa này, xoài trong vườn Hoàng thượng chưa có trái nhưng đến đứng mùa nó sẽ có trái.  Vậy, theo Hoàng thượng, những trái xoài sẽ trổ trong tương lai hiện ở đâu?

- Thưa Tôn giả, th́ ở trong thân cây xoài.

- Muôn tâu, cây xoài và trái xoài cũng giống như nghiệp khi chưa trổ quả th́ không thấy bằng mắt nhưng cảm thấy bằng tâm.  Nghiệp trả quả tùy thời, đúng lúc và trả nhiều lần, trừ phi bị đoạn đứt bằng Thánh quả.  Cũng như, cây xoài vẫn kết trái đúng mùa, trừ phi rễ bị bứng lên hoặc bị chết.

- Thưa Tôn giả, cho đến bao giờ nghiệp mới chấm dứt không trả quả.

- Muôn tâu, có ba nhân tố:

1. Hết hạn tức nghiệp trả quả đầy đủ tương xứng th́ chấm dứt.  Ví như tội phạm bị kết án ba năm tù.  Đủ ba năm th́ hết tội, được trả tự do.  Hoặc trong thời gian ở tù, phạm nhân phạm thêm những lẫm lỗi khác th́ thời hạn sẽ bị gia tăng.  Nhưng nếu khéo nghiêm hành kỷ luật và tích cực tu sửa th́ cũng có thể sẽ được Hoàng thượng khoan hồng và măn tù trước thời hạn.

2.  Hết lực tức nghiệp lực bị hóa giải bởi thánh quả lực nghĩa là một vị thánh nhân nhờ năng lực siêu thế “Tứ vô ngại giải” hoặc gọi là “Tứ thần túc” hóa giải, không đủ sức trả quả.  Ví như loại trái ngon chỉ có thịt mà không có hột.  Thí dụ thứ hai, muôn tâu, như kẻ cướp rượt tài chủ đoạt của báu.  Nhưng khi chạy đụng con sông lớn, may mắn gặp thuyền sang sông, nên thoát được nạn.

3.  Can thiệp tức trường hợp có một trọng nghiệp khác can thiệp vào th́ khinh nghiệp đang trả quả phải tạm hoăn.  Đến khi trọng nghiệp can thiệp giải quyết xong th́ khinh nghiệp sẽ tái tục trả quả.  Sự can thiệp của thiện nghiệp hoặc ác nghiệp mang chung một ư nghĩa, một vai tṛ.

Cũng giống như hiện tại Hoàng thượng đàm đạo với bần đạo và Hoàng thượng sẽ tiếp tục hiện diện tại đây với bần đạo.  Nhưng nếu được khẩn tấu là có địch quân đang bao vây và tiến đánh kinh thành th́ Hoàng thựơng chắc chắn phải hồi giá lập tức.  Sự can thiệp của thiện nghiệp hoặc ác nghiệp cũng như thế ấy.  Do đó, muôn tâu, quả thật vấn đề nghiệp quả vô vàn nan tri toàn diện trong một hai kiếp sống.

- Thưa tôn giả, Phật giáo có khẳng định chúng sinh sau khi mạng chung c̣n tái sinh.

- Muôn tâu, Phật giáo xác nhận tái sinh là hệ quả nếu c̣n nhân tố tái sinh.

- Thưa Tôn giả, cái chi là nhân tố tái sinh.

- Muôn tâu, chính khát ái cùng với hỷ và tham, tầm cầu dục lạc đó đây, là nhân tố tái sinh.

- Thưa Tôn giả, khi tái sinh, kiến thức và kinh nghiệm cũ biến đi đâu, mà chúng sinh phải học tập trở lại.

- Muôn tâu, Hoàng thượng có tin là hột trái xoài giống vốn ở trong thân cây xoài.

- Thưa Tôn giả, trẫm tin.

- Muôn tâu, thế tại sao khi trồng xoài không đơm bông kết trái ngay mà phải chờ đợi, bón phân, tưới nước và phải bắt tay, khởi sự cho cuộc chăm sóc mới.

- Thưa Tôn giả, trẫm đă hiểu.  Tuy nhiên, trẫm c̣n hoài nghi một vấn đề sau cùng, là chính đương sự tạo nghiệp trực tiếp trả quả hay có một nhân vật khác gián tiếp trả quả.

- Muôn tâu, vấn đề tương đối phức tạp, khó hiểu.  Trước hết, bần đạo xin phân tích nghiệp theo chiều hướng liên đới nhân quả:

Nghiệp cá nhân.

Nghiệp gia đ́nh

Nghiệp xă hội

Nghiệp dân, nghiệp nước

Nghiệp thế giới. 

Cá nhân tạo nghiệp thiện hoặc ác th́ phải trực tiếp liên đới trách nhiệm hệ quả.  Nhưng gia đ́nh, đoàn thể, nhân dân, đất nước, thế giới cũng liên đới gián tiếp.

Muôn tâu, v́ như một con dân của Hoàng thượng phạm tội sát nhân, lẽ dĩ nhiên đương sụ phải trực tiếp lĩnh án trong hiện kiếp và tiếp tục trả quả khổ trong ác thú.  Nếu đương sự bị kết án chung thân th́ gia đ́nh tội nhân cũng phải gián tiếp liên đới trách nhiệm hệ quả nhất là cha mẹ vợ con và anh em huyết thống.  Trong mọi không gian vật lư, sinh lư và tâm lư.  Đối với tập thể gia đ́nh người bị giết th́ ông bà, cha mẹ, vợ con,anh em huyết thống, bà con, bạn hữu họ sẽ liên đới hệ quả đau khổ, nhớ thương, oán hận, t́m cách trả thù tạo nghiệp chướng oan oan tuơng báo vay trả trả vay khó bề chấm dứt.  Nếu người bị giết là trụ cột gia đ́nh th́ tập thể này sẽ khổ sở, nghèo đói và cực khổ biết bao.  Thêm một người phạm pháp th́ cộng đồng nhân dân mất một công dân tốt và tổ quốc phải tốn hao công quỹ vô ích trong việc cưu mang.  Nghĩa là Hoàng thượng cũng phải liên đới trách nhiệm tinh thần đối với con dân của ḿnh.  Nếu nhân dân của nhiều quốc gia liên đới trách nhiệm hệ quả bất thiện th́ thế giới cũng chịu ảnh hưởng lây.

Muôn tâu, đôi khi nghiệp bất thiện do người có quyền lực tối cao trong một quốc gia là tác nhân th́ hệ quả vô cùng khủng khiếp.  Nghiệp bất thiện do tham, sân, si chủ động thường đưa đến hệ quả núi xương, sông máu của tuyệt đại đa số người dân vô tội.  Đức Phật dạy: Phàm làm việc ǵ, trưóc hết phải nghĩ đến hậu quả của nó.  Chính nghiệp phân chia sự dị biệt cao thấp trong đời.  Chính ḿnh làm việc ác nên khiến ḿnh uế trược.  Chính ḿnh làm việc lành nên khiến ḿnh thanh tịnh.  Thanh tịnh hay uế trược đều do ḿnh.  Không ai có thể khiến người khác tịnh thanh hay uế trược.  Về thời gian nghiệp trả quả th́ có sớm muộn, lâu mau.

Đức Phật dạy: Khi ác nghiệp chưa trổ quả th́ người ác chưa thấy là ác, đến khi quả nghiệp kết thành, bấy giờ người ác mới thấy là ác.  Khi thiện nghiệp chưa trổ quả th́ người thiện chưa thấy là thiện.  Đến khi quả nghiệp kết thành, bấy giờ người thiện mới thấy là thiện.  Không phải do ḍng dơi thọ sinh mà một người cao quư hay thấp hèn.  Chính hành vi tạo tác khiến người thấp hèn hay cao quư.  Mỗi chúng sinh là kết tinh của những ǵ đă tạo và sẽ là kết quả những ǵ đang tạo.  Quá khứ, hiện tại, tương lai kết nối bằng những tác ư thiện hay bất thiện.  Về phương diện chính báo và y báo, Đức Phật dạy: Đời này đau khổ, đời sau cũng đau khổ.  Nguời tạo nghiệp bất thiện đau khổ cả hai đời.  Xét ác nghiệp đă làm, khiến ḷng sầu khổ.  Sinh vào khổ cảnh nỗi khổ nhiều hơn.  Kiếp này an lạc, kiếp sau cũng an lạc.  nguời tạo nghiệp lành hai đời an lạc.  Xét việc thiện đă làm khiến tâm hoan hỷ, sinh vào lạc cảnh hạnh phúc nhiều hơn.

Đức Phật xác nhận, người tạo nghiệp thiện trong hai phương diện: Phúc và huệ th́ đời này sống vô cùng an lạc, đời sau th́ sự an lạc sẽ triệu lần thủ thắng hơn: người tu tŕ phúc, huệ, hai đời vui biết bao.  Vui thay được tạo phước, thiên giới lạc đón chào.

Muôn tâu, quy luật nghiệp báo là khuôn thước chuẩn mực, là ngọn đuốc soi đường đêm tối, là hải đăng giữa bể cả mênh mông, kính mong Hoàng thượng hành tŕnh đúng phương hướng th́ Hoàng thượng sẽ cập bến bờ tịnh lạc, hạnh phúc cho bản thân, triều đ́nh, thần dân, quốc gia và thế giới.

- Thưa Tôn giả, trẫm vô vàn cảm tạ thâm ân giáo hóa của Tôn giả.  Trẫm phát nguyện, trọn đời quy ngưỡng.

 

Hoàng Đệ Vitasoka

 

Sau câu nói: Trẫm xin trọn đời quy ngưỡng, Đại đế Asoka rời ghế ngồi, đối mặt quỳ xuống, hai bàn tay chắp lại khít khao, muời ngón liền lạc đều đặn như hoa sen truớc sự chứng minh của Tôn giả Moggaliputtatissa, ba lần: Ngưỡng bạch Tôn giả, đệ tử xin quy y Phật, đệ tử xin quy y Pháp, đệ tử xin quy y Tăng.  Tam Bảo là đối tượng tựa nương, là ngọn đuốc soi đường trong cuộc đời.  Kính xin Tôn giả chứng minh cho đệ tử thành cận sự nam đă quy y Tam Bảo kể từ ngày nay cho đến trọn đời.

Thật là phi thường, thật là kỳ diệu! Vừa dứt ba lần chính thức phát nguyện quy y Tam Bảo của Đại đế, bỗng hiện tượng lạ phát sinh, trên trời mây chiếu tỏa năm màu, vũ trụ chuyển ḿnh như sắp có địa chấn, sóng biển thét gào, chim trời líu lo ca hót, toàn dân của Pataliputra đều vô cùng phấn khởi, hoan hỉ, và tin tưởng kỳ tích phi thường này là do tâm hồn hướng thiện của vị Đại đế kính yêu của họ mà xuất hiện.

Kể từ ngày chính thức trở thành Phật tử, Đại đế Asoka hoàn toàn chuyển hướng cuộc sống một trăm phần trăm.  Tích cực thực hành chính pháp: lánh xa điều ác, tu tập hạnh lành, tích cực hộ Pháp, cung phụng Tăng già.  Là một Phật tử thuần thành ngoan đạo.  Đại đế đối xử b́nh đẳng với các tổ chức tín ngưỡng không có kỳ thị và phân biệt.  Trong triều đại Đại đế, mọi tôn giáo đều được tự do phát triển và được Đại đế khuyến khích trợ duyên, đến đỗi tôn giáo nào cũng nghĩ Đại đế là tín đồ của họ.  Thậm chí trong các sử liệu các tôn giáo đều có ghi chép công đức hộ tŕ giáo pháp của Đại đế.  Tuy nhiên, về mặt sắt son tín ngưỡng th́ Đại đế đă biểu lộ rơ nét niềm tin Tam bảo bất thối chuyển cũng như tư cách Phật tử ngoan đạo tuyệt đối của Đại đế được ghi khắc trên các trụ đá và bia kư nơi bốn Phật tích và các cơ sở tu viện, tịnh xá.

Trụ đá tại Nepal có khắc ghi chỉ dụ: Đức vua Pihadassi tức Asoka sau khi đăng quang tức vị được mười bốn năm, đă kiến tạo hai ngôi bảo tháp cúng dường Đức Phật tổ Cồ đàm và đến năm thứ hai mươi mốt đă đích thân đến chiêm bái.

Một trụ đá tại Lumbini nơi Đức Phật đản sinh, có ghi: Đức vua Piyadassi tức Asoka sau khi lên ngôi được hai mưoi năm đă đích thân đến chiêm bái Lumbini v́ chính nơi này đức Thích Ca Mâu Ni Phật đă đản sinh.  Người cho dựng trụ đá để đánh dấu sự kiện lịch sử này ngơ hầu làm nơi chiêm bái cúng dường.  Dân chúng vùng Lumbini được miễn thuế bảy phần tám nghĩa là chỉ đóng thuế tượng trưng một phần tám.

Ngoài một số nhiều trụ đá, bia kư tại những thánh tích quan trọng do nhà khảo cổ khám phá, có một bia kư ghi niềm kính tin đối với hàng Tăng bảo: Đại đế Piyadassi tức Asoka kính lễ cộng đồng Tăng già Magadha (Ma kiệt đà) cầu Tăng đoàn hưng thịnh và khương an.  Các Ngài biết rơ Đại đế một ḷng kính tin bất thối chuyển đối với Tam Bảo: Phật đà, Dạt ma và Tăng già.  Chẳng những là một vị Đại hộ pháp vô cùng đắc lực mà Đại đế đă từng xuất gia làm Sa môn sống chung Tăng đoàn thời gian hơn một năm mới hồi tục lo việc triều chính.  Chính hạnh xuất gia gieo duyên của Đại đế là tấm gương tiêu biểu mà trong hiện đại, các vị vua thuộc những quốc gia thể chế quân chủ đều có xuất gia gieo duyên trong một thời gian lâu, mau tùy hoàn cảnh và tùy duyên sụ.  Về sự kiện này, bia kư có ghi: Đại đế Piyadassi tức Asoka trở thành tại gia Upasaka (U bà tắc) được hai năm rưỡi.  Trong khoảng thời gian này, Đại đế thực hành Chánh pháp không được tích cực; măi đến khi được sống chung trong cộng đồng Tăng già tuy chỉ hơn một năm nhưng quả thật có gặt hái thành quả.

Nhờ Đại đế lấy thân làm gương, làm chứng nên bá quan trào thần văn vơ cho đến thần dân bá tánh đều một ḷng quy ngưỡng Phật đà, thực hành chánh pháp, phương kính Tăng già, khiến lợi dưỡng phát sinh qua h́nh thức tứ sự cúng dường nhiều trên mức trung b́nh.  Hoàng thái hậu Vimamsa vô cùng hoan hỉ, sung sướng ngập ḷng v́ cuộc sống hoàn toàn chuyển hướng của Đại đế Asoka.  Bản tính lệnh bà hiền thiện và rất một đạo.  Tuy mang danh nghĩa là Phi của Đức vua Bindusara nhưng v́ một số cấm điều của Hoàng tộc thời bấy giờ, lệnh bà không được sống chung với nhà vua trong Hoàng cung – v́ lệnh bà là người yêu riêng của nhà vua lúc c̣n là Thái tử.  Cuộc mật giao với Đức vua, lệnh bà hạ sinh một trai đầu ḷng, đặt tên Asoka (Vô ưu); lần thứ hai, bà sinh một trai nữa đặt tên Vitasoka (Diệt ưu).  Mặc dù không được chính thức sống chung với Đức vua như những Phi khác, nhưng Đức vua rất yêu quư lệnh bà v́ sắc đẹp diễm lệ, đức tính ngoan hiền và đạo tâm thuần cố.  Trong cuộc sống h́nh thức tuy bất toàn nhưng thiện nghiệp cũng góp phần an bài một thứ t́nh yêu ngọt ngào và thú vị.  Bên cạnh t́nh yêu Đức vua riêng ban, lệnh bà c̣n một nguồn an ủi khác rất lớn đó là hai đứa con trai.  Asoka tuy không đẹp trai nhưng tài năng xuất chúng, giờ th́ rất mực nên thân – là Đại đế của tiểu lục địa Bharata, là một minh quân, một Phật tử, một Đại Hộ pháp - lệnh bà vô cùng sung sướng, măn nguyện với Asoka.  Đối với Vitasoka, lệnh bà lấy làm lo lắng, ưu tư v́ đứa con này chưa có niềm tin chánh pháp, vẫn tiếp tục sung quy ngoại đạo.

Một hôm, sau buổi cơm tối, lệnh bà gợi chuyện mang tính cách tâm sự mẹ con, qua một số vấn đề liên quan triều chính, đối nội, đối ngoại,nhất là chính sách an dân trị quốc của Asoka.  Nhận thấy cơ hội thuận hợp, lệnh bà nói:

- Vitasoka, dường như con không hoan nghênh tín ngưỡng của hoàng huynh con, con có thể cho mẹ biết quan điểm của con?

- Thưa mẹ, con thực sự chưa phát tâm quy ngưỡng.  Hăy để hoàng huynh làm theo ư thích của ḿnh.  Theo con th́ chiến chinh vừa kết thúc hoàng huynh lại thực hiện hạnh bố thí vô cùng rộng răi.  Không khéo ngân khố hoàng gia cạn kiệt.  Người nào kế vị hoàng huynh th́ thật tội nghiệp v́ ngoài ngai vàng sẽ không c̣n bất cứ một quyền lợi nào khác.

- Mẹ nghĩ, người tác tạo công đức như người gieo hạt giống.  Chuyện đơm bông kết trái là sự kiện tất nhiên v́ bông trái vốn tang phục trong thân cây từ thưở mới tượng h́nh.  Tuy không thấy bằng mắt nhưng cảm biết bằng lư trí.  Hoặc như bóng với h́nh, nếu h́nh bất động th́ bóng không hiển lộ.  Nhưng nếu h́nh hành hoạt th́ bóng lập tức hiện bày.  Hoặc như tập viết chữ, viết rồi xóa, xóa rồi viết.  Chữ viết tuy bị xóa nhưng không mất v́ chữ ấy đă nhập tâm.  Thân cây khi đúng thời kỳ th́ sẽ đơm bông kết trái; thân h́nh khi chuyển động th́ bóng sẽ hiện lên; chữ nghĩa nhập tâm khi cần th́ sử dụng được.  Mẹ nghĩ quả phước đă có sẵn trong nghiệp phước, chưa trổ quả v́ chưa đúng năm tháng và thời tiết, nghĩa là vấn đề thời gian.

- Nhưng thưa mẹ, con thấy các vị Sa môn rất ích kỷ, thích cuộc sống lợi dưỡng, tiện nghi.  Ngay như Tôn giả Moggaliputtatissa mỗi khi giảng đạo đều bảo rằng cúng dường cho các vị mới được phước nhiều.  Về điểm này, con cảm thấy các ngài thiếu từ bi và b́nh đẳng.

- Con ạ! mặc cảm đă khiến con chủ quan thiên kiến.  Mẹ cũng từng nghe Tôn giả giảng đề cập vấn đề bố thí, Tôn giả diễn dẫn Phật ngôn về ba tiêu chuẩn: Tài thí, Pháp thí, Vô úy thíTài thí tức thí vật chất như cơm nước, y phục, chỗ ở và thuốc men, thí cho súc vật, phước không bằng thí cho người.  Thí cho người thường, phước không bằng thí cho người có ngũ giới.  Thí cho người có giới hạnh tinh nghiêm thí phước càng nhiều.  Thí cho đoàn thể tu hành, không phân biệt th́ phước nhiều nhất.  Tôn giả đâu có giảng giải cúng cho cá nhân ngài hay đoàn thể Tăng sĩ của ngài.

- Thưa mẹ, con nghĩ bố thí mục đích là giúp đỡ người khác, đâu cần phước ít phước nhiều, phước lớn phước nhỏ.  Nếu bố thí để được phước nhiều th́ thưa mẹ, tư cách bố thí có hậu ư mong cầu, như vậy con nhận thấy vừa ích kỷ vừa tham lam.

- Này con, làm ruộng tốt th́ trúng mùa, ruộng xấu th́ thất mùa.  Tất cả nông phu đều chọn ruộng tốt để được trúng mùa.  Người làm phước cũng vậy.  Với ḷng từ bi bố thí cho côn trùng cũng được phước nhưng không bằng thí cho người hành khất.  Tri và hành như vậy không phải làm tham lam. Ruộng xấu mà muốn được trúng mùa như ruộng tốt mới là tham lam.  C̣n vấn đề bố thí có phân biệt hoặc không phân biệt th́ Tôn giả cũng đă phân loại rơ ràng là sự cúng dường vô phân biệt đến đại chúng Tăng già được vô lượng công đức.

- Thưa mẹ, từ ngày mẹ và hoàng huynh sung đạo, con nhận thấy việc làm, lời nói khác xưa hoàn toàn.  Có những lúc con nghe mà không hiểu ǵ hết, như Parami, Asava, Yonisomanasikara và nhiều nhiều nữa thật xa lạ mà xưa kia con chưa hề được nghe.

- Con à, mỗi chuyên khoa đều có những từ chuyên môn.  Con thông suốt nhiều ngành, ắt con hiểu biết hơn mẹ.  Đạo học hay Phật học cũng là một ngành chuyên biệt, lẽ dĩ nhiên phải có những từ chuyên môn.  Giờ th́ con chưa phát tâm mộ đạo nên con c̣n nghe lạ tai, khó hiểu.  Nhưng nếu có một ngày mà con sung đạo, mẹ chắc chắn con sẽ hiểu biết hơn mẹ nhiều.  Về những từ mà con nói là khó hiểu, mẹ lược giải đại khái.

Parami là mười bộ phận công đức riêng biệt để ráp lấp thành chiếc thuyền công đức có khả năng chuyên chở lữ khách từ bờ khổ sang bờ an lạc.  Nghĩa chính của từ Parami là “đến bờ kia”.  Mười bộ phận chiếc thuyền công đức, gồm có:

1.   Bố thí

2.   Tŕ giới

3.   Ly dục

4.   Trí tuệ

5.   Tinh tấn

6.   Nhẫn nại

7.   Chân thật

8.   Đại nguyện

9.   Từ bi

10.                       Hỷ xả

Asava là những bợn nhơ vẩn đục tâm hồn, tức phiền năo tham, sân, si, từ trong các cảnh cứ liên lĩ chảy ra không ngừng, khiến bỏ mất đạo và bị ch́m đắm trong ṿng sinh tử.  Gọi là “lậu”, là “hoặc”, là “lậu hoặc” gồm có ba:

1.   Dục lậu (Kamasava) tức mê loạn đắm say trong các dục.

2.   Hữu lậu (Bhavasava) tức đắm say mê loạn trong những cái đă có, đă hiện hữu thuộc vật lư, sinh lư.

3.   Vô minh lậu (Avijjasava) tức mê đắm trong ba cơi Dục giới, Sắc giới,Vô sắc giới.

Yonisomansikara là khả năng vận dụng tâm lư trong chiều hướng tác ư đúng chân lư như thật gọi là “Như lư tác ư”.  Nói cách khác là vận dụng trí tuệ quán chiếu thẩm thấu mọi vấn đề một cách toàn diện.

- Thưa mẹ, con thưa thật với mẹ, con không mặc cảm, chủ quan.  Nhưng con nhận thấy các vị Tỳ kheo chỉ sống ích kỷ, thích thụ hưởng, nhận của bá tánh cúng dường nhưng không làm ǵ có lợi cho bá tánh.  Ngoài những việc cầu an, cầu siêu, học kinh, ngồi thiền, dường như các vị không có việc ǵ khác phải làm.  Về vấn đề dạy đạo cho cư sĩ th́ chỉ thỉnh thoảng, không thường xuyên.  Công tác này cũng là thiểu số trong cộng đồng Tỳ kheo mà thôi.  Mẹ nghĩ, nhận xét của con có chủ quan không?

- Này con, nếu nói ích kỷ, thích thụ hưởng và sống nhờ bá tánh th́ mẹ nghĩ, chính chúng ta mới thực sự ích kỷ, thụ hưởng và sống nhờ bá tánh.  B́nh tâm suy nghĩ, con sẽ thấy sự nhận xét của con về cuộc sống các vị Tỳ kheo không có khách quan.  Công tâm mà nói th́ giai cấp Sát đế lỵ như chúng ta có bao giờ cửa ḷng rộng mở thương xót giúp đỡ tha nhân, bố thí chẩn bần, chia cơm sẻ áo.  C̣n như các vị Tỳ kheo từ bỏ gia đ́nh sống không gia đ́nh, cắt ái từ thân, sống v́ lợi ích, v́ phúc lạc cho đa số, thân nghiệp vô hại, khẩu nghiệp vô hại, không hại ḿnh, không hại người, thanh tịnh hóa tự thân và hướng dẫn tha nhân cùng thanh tịnh.  Chỉ một ít đức độ lược dẫn đă đủ chứng minh các ngài không ích kỷ.  C̣n nói các Ngài thích thụ hưởng th́ quả thật tội lỗi, mỗi ngày chân đất, tay ôm b́nh bát đi khất thực từng nhà không phân biệt.

Thường th́ bá tánh lao động - được chi dùng nấy không quyền đ̣i hỏi, lựa chọn; y phục thường th́ vải thô, rẻ tiền, chỉ được sử dụng một bộ chính thức và một bộ phụ tùng; nằm trên ván, nệm rơm, hoặc lấy y Tăng già lê trải lót; khi bệnh hoạn th́ dùng thuốc tự chế bằng trái a ma lặc ngâm nước tiểu ḅ đực c̣n tơ màu đen thay cho cung cách thụ hưởng mọi tiện nghi sang trọng nhất mà con đang sở hữu.  Đối với cuộc sống các ngài phải nhờ vào bá tánh một cách im lặng, khiêm tốn không hề mở miệng van xin.  Tùy tự tâm hoặc tín tâm bánh tánh bố thí và cũng chỉ nhận đủ ăn một lần trong ngày.  Nếu so sánh cuộc sống nhờ vả bá tánh th́ các ngài tùy thuộc sự phát tâm của bá tánh, trong khi chúng ta bắt buộc bá tánh đóng góp qua nhiều h́nh thức thuế vụ.  Có những h́nh phạt dành cho những người thiếu thuế.  Ngân khố quốc gia mà triều đ́nh sử dụng cho mọi phí khoản từ trong nội cung, nội thành phồn hoa náo nhiệt đến biên ải heo hút ngút ngàn gió bụi đều do sức cần lao gội mồ hôi tắm nước mắt của bá tánh.

Tóm lại, cuộc sống của chúng ta đều phải nhờ vào sự đóng góp của bá tánh có điều kiện bắt buộc.  Đă vậy mà đôi khi một số viên chức hữu quyền bóc lột bá tánh.  Hối lộ hối mại quyền thế khiến bá tánh vốn đă lầm than lại thêm đói nghèo cơ cực.  Chúng ta có bao giờ t́m hiểu cảm thông?  Nếu có biết th́ chúng ta đă có phương pháp giúp đỡ hữu hiệu nào cho họ chưa.  Trong khi các ngài khuyên họ thực hiện hạnh bố thí tức sống tương giáo, tương thân, tương trợ, tương thuận trên cơ sở tài vật, truyền nghề, trao đổi kinh nghiệm, ngăn cản việc ác, khuyến khích việc lành, gia công tập thể.  Để thăng tiến mức sống có hiệu quả, các ngài viện dẫn Phật ngôn: có bốn tiểu chuẩn thắng an hiện tại (ditthadhammikattha):

1.  Utthanasampada: Cần cụ túc tức tiến hành công tác một cách nỗ lực tinh cần, dù mưa nắng, sớm tối, đói no, xa gần, nghĩa là nỗ lực khắc phục điều kiện thời gian, không gian để hoàn thành công tác, không tùy thuộc điều kiện.

2.  Arakkhasampada: Kiệm cụ túc tức không phóng dật, không trác táng, không hoang phí trong tài sản đă có đồng thời biết sử dụng nó khế hợp lư t́nh.  Nhất là phải tuyệt đối tránh xa lục đổ tường: tài, khí, tửu, sắc, bạn ác và du hí.

3.   Kalyànamittatà: Thiện hữu cụ túc tức tiếp cận bậc hiền trí và y giáo phụng hành.  V́ bạn lành là toàn tố của mọi thành công thắng lợi cả hai mặt đời cũng như đạo.  Bạn lành phải hội đủ ba đức tánh:

1.      Dám khuyên can chấm dứt điều ác.

2.      Biết khuyến khích phát triển hạnh lành.

3.      Tuyệt đối không bỏ bạn trong cơn nguy biến.

4.  Samaj́vità: Chánh mạng cụ túc tức sống lương thiện, hợp đạo.  Không v́ điều kiện sinh sống bản thân mà gây đau khổ, phiền lụy tha nhân.  Dù buồn thối ruột, dù bị khổ thế nào, dù gặp nghịch cảnh làm sao, luôn giữ tự trọng, đạo đức, giới hạnh không tạo các ác nghiệp: sát, đạo, dâm, vọng, tửu; không buôn người, buôn thú, buôn khí giới, buôn rượu, x́ ke, ma túy, không buôn thuốc độc.

Nhờ thực hành đúng phương thức tương thuận, tương giáo, tương thân, tương ái và bốn tiêu chuẩn thắng an hiện tại nên anh em lao động tuy nghèo nhưng vẫn khắc phục được mọi khó khăn và từ từ thăng tiến trên cơ sở tự túc, tự cường qua điều kiện tập thể tương tác.  Về vấn đề giáo dục bá tánh của các Ngài mà con nhận định th́ chỉ là thiểu số trong cộng đồng Tăng chúng th́ mẹ quả thật không đặt nặng vấn đề số lượng như con mà mẹ chú trọng phương diện phẩm đức.  Mẹ nghĩ chính cuộc sống tri túc, dễ duôi, lục căn thu thúc, sống trong tiêu chuẩn lục ḥa kính, thường xuyên hội họp đông đảo, thảo luận, quyết định, giải tán và phân công trong niệm đoàn kết đă là phương cách giáo dục vô ngôn nghĩa là các Ngài đem thân làm gương, làm chứng mà thực tế cho thấy cuộc sống các Ngài có khả năng thuyết phục.

 

Chuyển Hóa

 

Câu chuyện đàm thoại vừa đến đây th́ Đại đế Asoka cũng vừa đến thăm mẹ.  Nhận thấy mẫu hậu đang đàm đạo với hoàng đệ, Đại đế cẩn tấu:

- Thưa mẹ, mẹ có chuyện nói với hoàng đệ, xin mẹ cứ tiếp tục.  Con sẽ đến vấn an mẹ sau.

Lệnh bà nói:

- Không có chuyện ǵ riêng tư quan trọng đâu, chỉ nói chuyện b́nh thường giữa mẹ con mỗi khi có dịp gặp gỡ mẫu tử thâm t́nh.  Con ở lại với mẹ, nhân tiện có em con, anh em chuyện tṛ nhau cho mẹ nghe với.

Lệnh bà kể cho Asoka nghe về cuộc đàm đạo vừa rồi, nhất là nhấn mạnh quan điểm của Vitasoka.  Đại đế Asoka góp ư ngắn gọn:

- Thưa mẹ, hăy để em con trọn quyền tự do lựa chọn đối tượng tín ngưỡng tâm linh.  Con tin, em con rất thông minh.  Sau khi trắc nghiệm, lượng giá, đối chiếu, thẩm định toàn diện vấn đề cách khách quan, chắc chắn em con sẽ có sự chọn lựa dứt khoát.

Vitasoka đặt vấn đề:

- Thưa hoàng huynh, trong thời gian xuất gia, sống phạm hạnh, hoàng huynh có gặt hái được thành quả ǵ không? Em thực sự muốn biết.

Asoka giải thích:

- Xuất gia vốn hạnh ly trần, quyết ra nhả lửa bỏ thân luân hồi, thân nhân sự nghiệp xa rời, độc cư thanh tịnh sống đời xả ly.  Huynh nghĩ, sự từ bỏ tạm thời ngai vàng, quyền lực, cung phi mỹ nữ, mọi tiện nghi, vương giả và những hưởng thụ dục lạc hấp dẫn như: sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon và xúc lạc đă là thắng duyên cho khả năng tự chủ, tự chế, tự thắng mà Phật ngôn có dạy: Thắng vạn quân thù không bằng tự thắng ḿnh.  Tự thắng ḿnh là chiến công oanh liệt nhất.  Huynh quả thật hoan hỉ, phấn khởi trong thành quả huân tập đức tự chế và đă làm chủ được ḿnh.  Công tŕnh thành tựu này chỉ người trong cuộc hoặc người chánh tín bất thối chuyển mới cảm nhận được.

Vitasoka bày tỏ:

- Thưa hoàng huynh, tiểu đệ nói thật ḷng là chưa có niềm tin như hoàng huynh.

Asoka an ủi:

- Niềm tin không có điều kiện bắt buộc hoặc miễn cưỡng.  Hăy để nó tự nhiên.  Vả lại, đệ không tin cũng không có sao.  Miễn đừng tạo ác nghiệp là tốt rồi.

Asoka chuyện tṛ hàn huyên với lệnh bà khá lâu mới xin phép cáo lui.

Kể từ ngày ba mẹ con hàn huyên tâm sự với nhau nhất là được biết chính xác em trai của ḿnh chưa thực sự có niềm tin chánh kiến, Asoka tự nghĩ sẽ t́m giải pháp khả tín để đưa Vitasoka quay về chánh đạo và quy ngưỡng Tam Bảo.  Một công tŕnh tuyệt vời an lạc phúc lành mà bản thân Asoka đă thực tế hưởng thụ.

Một hôm, theo kế hoạch đă định, Asoka lệnh đại thần Sirigupt phối hợp với Srikhirin tổ chức cuộc du ngoạn có hoàng đệ Vitasoka, VenupalaJalini cùng tham dự.  Trong chuyến văn cảnh, mọi người đều hưng phấn ngoạn thưởng cảnh vật thiên nhiện vô cùng thích thú.  Đoàn du ngoạn đến một địa điểm phong cảnh hài ḥa giữa nội cỏ hoa ngàn chạy dài theo ḍng sông xanh biếc và rừng cổ thụ tàn lá xum xuê mát mẻ giáp liền chân núi thật như mộng.

Ngay lúc ấy, không ai bảo ai, nhưng mọi người đều cùng nh́n về phía truớc, dưới cội cổ thụ, một vị du sĩ khổ hạnh đang ngồi, quanh người có năm đống lửa bốc cháy hừng hực thật nóng.  Thấy vị tu khổ hạnh, hoàng đệ Vitasoka lấy làm kính trọng, đến gần bạch hỏi:

- Thưa ngài, ngài tu khổ hạnh tại đây đă bao lâu rồi?

- Tâu phó vương, bần đạo đă khổ hạnh được 12 năm rồi.

- Thực phẩm của ngài…?

- Tâu phó vương, trái cây và ngó sen là thực phẩm của bần đạo.

- C̣n y phục th́ sao?

- Tâu phó vương, bần đạo dùng vải vụn, vải thô kết làm y phục.

- C̣n sàng tọa của ngài?

- Tâu phó vương, bần đạo nằm trên cỏ.

- Đáng kính, thực sự đáng kính, hoàng đệ lớn tiếng tán thán và hỏi tiếp: thưa ngài, suốt thời gian tu khổ hạnh tại đây, có những chướng duyên ngoại tại nào khiến ngài không được an vui?

- Tâu phó vương, không có những chướng duyên quan trọng, ngoại trừ mỗi khi những con hươu, nai đực, cái làm t́nh với nhau khiến bần đạo không được thoải mái tự nhiên.

- Thưa ngài, tu khổ hạnh 12 năm mà ngài c̣n cảm thấy không thoải mái, tự nhiên trước cảnh tượng thú vật làm t́nh th́ thử hỏi các vị Sa môn đệ tử Phật Gotama thọ dụng sự cúng dường đầy đủ và không hành tŕ khổ hạnh như ngài th́ làm sao thành tựu chánh quả?

Trên đường hồi triều, Đại đế Asoka làm như không hề thấy nghe những ǵ xảy ra nơi địa điểm có vị tu sĩ khổ hạnh và hoàng đệ Vitasoka dù người đă biết rơ tường tận.  Mấy tuần sau, một ngày đẹp trời, Đại đế lệnh triệu đại thần Sirigupt, SrikhirinVenupala vào hầu.  Người tâm sự:

- Em trẫm cho đến nay vẫn chưa có đức tin chánh kiến.  Bằng mọi giá, trẫm sẽ hướng dẫn và an trú nó vào niềm tin chánh pháp.

Đại thần Sirigupt cẩn tấu:

- Muôn tâu, cả ba hạ thần sẽ hoàn thành xuất sắc và nghiêm túc mọi chỉ thị của lệnh Hoàng thượng dù phải hy sinh.  Kính xin Hoàng thượng hạ chỉ.

- Chư hiền khanh, trẫm rất cảm động đức tính trung nghĩa của các khanh.  Thật ra, trẫm không có chỉ thị các khanh những công tác quốc chính.  Trẫm chỉ mong các khanh giúp trẫm thực hiện tốt kế hoạch cải hóa niềm tin lạc hướng của hoàng đệ.

- Muôn tâu, chúng hạ thần sẽ tích cực phối hợp thi hành cẩn trọng, huyền biến.  Xin lệnh Hoàng thượng an tâm và cho biết thánh ư.

- Thế này nhé, ngày mai, trẫm sẽ có cuộc họp bàn riêng với các khanh có sự tham dự của hoàng đệ.  Sau đó, trẫm sẽ vào pḥng tắm nại lư do nóng nực trong người và cho biết tắm lâu mất th́ giờ một chút, các khanh nán lại chờ trẫm, chúng ta cùng đi dạo ngự uyển ngắm hoa và thưởng thức tại chỗ những trái cây ngon đang độ chín bói.  Sau khi trẫm vào trong th́ các khanh khéo nói thế nào cho hoàng đệ mặc thử cẩm bào, đội măo và ngồi lên ghế của trẫm.

- Muôn tâu, chúng hạ thần đă hiểu thánh ư.

Ngày hôm sau, y theo kế hoạch đă định trước.  Sau khi đức vua đi vào pḥng tắm không lâu, đại thần Sirigupt đề cập đến người thừa kế đế nghiệp tương lai.  Mỗi người tán hùa một câu, khiến hoàng đệ cảm thấy vô cùng phấn khởi hồ hởi.  Đại thần đề nghị hoàng đệ mặc thử cẩm bào, đội măo và ngự lên ngai chắc chắn là oai phong lẫm liệt, tướng hảo phi phàm.  Mọi ngựi nhất loạt tán thưởng hưởng ứng, cùng nhau đề nghị Vitasoka mặc thử long bào, đội long măo, mang long hài và ngồi trên long kỷ.  Vừa lúc ấy, Asoka xuất hiện.  Thấy Vitasoka dám mặc long bào, và ngồi trên long kỷ, liền đùng đùng nổi giận, nói như thét:

- Vitasoka!  Có biết tự mặc long bào là phạm tội khi quân, một các tội lớn không thể tha thứ.  Thật là ác nghiệp, thật là nhục nhă!

Asoka nói tiếp:

- Ngai vàng này sớm muộn ǵ hoàng đệ cũng là nguời kế vị chỉ là vấn đề thời gian.  Tại sao đệ không chờ đợi mà phải hành động soán nghịch bất đạo, khiến trẫm vô cùng thất vọng.  Tuy là huynh đệ cùng chung huyết thống.  Nhưng trẫm phải đành đau ḷng cắt ruột thi hành quốc pháp.

Đại thần SiriguptSrikhirin đồng quỳ gối cúc cung trần tấu:

- Muôn tâu, chúng hạ thần có tội đồng lơa, là ṭng phạm.  Đúng ra, tội trạng c̣n nặng hơn tư cách ṭng phạm.  V́, chúng hạ thần nhận thấy lệnh Hoàng thượng rất yêu thương hoàng đệ Vitasoka nên đă bày vẽ hoàng đệ mặc thử long bào.  Nhưng hoàng đệ không dám, chính chúng hạ thần khuyến khích và giải thích rằng, lệnh Hoàng thượng là anh ruột, em mặc thử long bào của anh ḿnh th́ đâu có tội ǵ.  Hơn nữa, lệnh Hoàng thuợng cũng đâu có thấy.  Chính những lời giải thích của chúng hạ thần, nghe qua cũng có lư, nên hoàng đệ mới tạm mặc thử long bào.  Lệnh Hoàng thượng hăy giáng tội chúng hạ thần và giảm khinh tội vô ư khi quân phạm thượng của hoàng đệ.

Không khí nặng nề im lặng.  Mọi người vẫn tiếp tục quỳ gối cúi đầu, bất động.  Để phá tan bầu không khí ngột ngạt, căng thẳng, Đức vua cất tiếng:

- Các khanh quả thật trung thành với anh em trẫm.  Trẫm xá tội các khanh.  Đối với Vitasoka v́ c̣n trẻ ḷng non dạ, suy nghĩ không chín chắn, hành động vô tư và không nỡ làm buồn ḷng thái hậu, trẫm cũng không xử tội theo quốc pháp ngay bây giờ.  Trái lại, trẫm sẽ nhường ngôi cho Vitasoka làm vua bảy ngày, hưởng thụ tất cả phú quư vinh hoa, quyền uy tối thượng, lầu ngọc sang ngà, cung hoa thế nữ, tất cả sẵn sàng tuân lệnh.  Nhưng sau ngày thứ bảy sẽ bị xử tử.

Lệnh Asoka nhường ngôi cho Vitasoka vừa chính thức loan truyền th́ nghi thức tôn vương được tổ chức vô cùng trọng thể.  Ngồi trên ngai vàng, nắm quyền tối thuợng, nhất hô bá ứng, bá quan văn vơ tuyệt đối phục tùng.  Cung phi mỹ nữ hàng ngàn túc trực đêm ngày sẵn sàng phục dịch nhưng tân vương không hề hứng thú, mặt rồng đăm chiêu ra chiều lạnh nhạt, nh́n cung tần diễm lệ một cách vô hồn.  Nhạc trỗi tiên thiên, xướng ca d́u dặt, vũ điệu nghê thường đối với tân vương chẳng những vô nghĩa, vô tích sự, vô lư mà thật chán chường ngao ngán chỉ làm bẩn mắt chói taiNhững món sơn hào hải vị hiếm quư ngon tuyệt trên đời, tân vương không muốn đụng tới, lưỡi nghe đắng chát, miệng nghe lạt lẽo, dường như có vật ǵ ngăn ở cổ, cố nuốt cũng không vô.  Lầu ngọc vương ngà, gấm hoa nhung lụa, tân vương không cảm thấy một chút hứng thú, ngọai trừ cảm thấy khó chịu mỗi khi sử dụng những tiện nghi nằm ngồi sang trọng nhất đời dành riêng vua chúa.  Do đó, tân vương ngồi không thoải mái, nằm không yên thân, mặc không dễ chịu, nên lúc nào cũng thao thức, giấc ngủ chập chờn.  Nhất là tiếng loan báo của thông tín viên mỗi buổi sáng cảnh báo: một ngày đă qua, chỉ c̣n lại sáu ngày.  Mỗi lần nghe âm thanh này, tân vương cảm thấy đầu óc căng thẳng, tim đập liên hồi, toàn thân mồ hôi đổ giọt, không muốn nh́n, muốn nghe, muốn ngửi, muốn nếm, muốn đụng chạm, muốn suy nghĩ mà chỉ mang tâm trạng lo sợ, hoảng hốt, kinh hoàng, đờ đẫn như kẻ mất hồn.

 

Vitasoka Hướng Thiện

 

Đúng ngày thứ bảy, Đại đế Asoka truyền dẫn Vitasoka vào hầu.  Gương mặt mất thần, Vitasoka như kẻ mất hồn tự biết hôm nay chính là sự sống sau cùng trong cuộc đời, càng nghĩ càng ớn lạnh xương sống, da mặt tái xám không c̣n máu, hai chân bước đi không vững, loạng quạng muốn té.  Nhất là nghĩ đến lưỡi đao của tên đao phủ thủ lia ngang cổ khiến toàn thân run lên hai chân quíu lại.  Thấy em như vậy, Asoka muốn đứt từng đoạn ruột, ngài phán hỏi:

- Vitasoka, chắc đệ cảm thấy măn nguyện và hạnh phúc trong ngôi vị đế vương suốt bảy ngày qua.

- Muôn tâu, đệ thực sự không cảm thấy hạnh phúc chút nào.

- Thật là lạ.  Tại sao làm vua mà không hạnh phúc.  Trẫm thực sự nghĩ không ra.

- Muôn tâu, v́ sự chết ám ảnh dễ sợ quá.  Mỗi khi nghĩ tới nó th́ đệ ăn không ngon, ngủ không yên, không c̣n ḷng dạ nào nghĩ đến hưởng thụ lạc thú trần gian.

- Có phải kinh nghiệm bản thân đệ là tưởng nhớ sự chết thường xuyên th́ sẽ không ham muốn dục lạc như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon và xúc lạc?

- Muôn tâu, đúng như vậy.

- Đệ mến, bản thân đệ đă có quan niệm chuyển hướng dửng dưng không đam mê lạc thú mỗi khi nghĩ tưởng sự chết th́ các vị Tỳ kheo, Sa di trong pháp luật đức Thế tôn được giáo dục thường xuyên quán niệm sự chết theo từng hơi thở: thở vô không thở ra là chết, thở ra không thở vô là chết, cái chết ở ngay ṇng mũi và trong từng hơi thở.  Đệ thử nghĩ, nếu người nào quán niệm liên tục không gián đoạn th́ người ấy có ḷng dạ nghĩ đến mọi thứ dục lạc hay không?

- Muôn tâu, qua kinh nghiệm bản thân, đệ chỉ nghĩ đến sự chết tuy gián đoạn, không liên tục nhưng đệ đă không c̣n ḷng dạ ham muốn mọi thứ dục lạc mà đệ có thẩm quyền th́ các vị Tỳ kheo, Sa di lúc nào cũng quán niệm sự chết trong từng hơi thở th́ làm sao khởi sanh ḷng ham muốn đối với các dục lạc mà các ngài không có thẩm quyền.

- Hoàng đệ quư mến, trước sự nhận định dung thông t́nh lư qua sự kết hợp niềm tin và trí tuệ một cách xuyên suốt của đệ, trẫm cảm thấy vô cùng phấn khởi và sung sướng.  Một sự chuyển hướng lớn qua cái nh́n toàn diện thay cho phiến diện, khách quan thay cho chủ quan trong chiều hướng lựa chọn niềm tin chánh pháp không c̣n chấp thủ thiên kiến.  Đệ biết không, có những vấn đề nhất là có liên quan đời sống nội tâm, lư tưởng tín ngưỡng, chúng ta không thể áp dụng niềm tin đơn thuần cũng như nhận định cá nhân đánh giá một chiều mà phải có sự phối hợp của trí tuệ trợ duyên th́ công cuộc lượng giá mới khách quan sáng suốt.  Nghĩa là không chỉ căn cứ trên những tiêu chuẩn mắt thấy, tai nghe, thân đụng mà vội kết luận đúng, sai, chánh pháp hoặc phi chánh pháp mà phải dùng trí óc xét đoán tế tinh, tường tận, cân nhắc lợi hại, so sánh thiệt hơn, giải phẫu vấn đề rồi hăy kết luận, chọn lựa – không bất cập, không thái hóa, b́nh tĩnh, sáng suốt là bí quyết thành công.  Đệ là người thông minh, học rộng, hiểu nhiều.  Nếu b́nh tâm nhận xét, đệ sẽ thấy đạo Phật là đạo của nhân quả.  Sự tương quan nhân quả là điều kiện tất yếu, không ai có thể phủ nhận.  Suy nghiệm càng hiển bày thi thiết càng có khả năng thuyết phục.  giống như vàng nguyên chất, càng cao lửa càng tươi màu.

Đức Phật là bậc đạo sư, là vị giáo chủ lập đạo, ngài xuất thân là một vị vua như chúng ta, từng hưởng thụ mọi thứ dục lạc trần gian, nếu ngài không phát hiện một giá trị phúc lạc tuyệt đối trong nếp sống ly dục tịnh cư th́ làm sao ngài đủ hùng tâm, đại lực ĺa bỏ ngai vàng, cắt đứt t́nh thương phụ hoàng, gỡ cánh tay luyến ái hiền thê, xa lánh hài nhi vừa mở mắt chào đời, khoác áo cà sa thay long bào, chọn cội tùng vách đá thay cung vàng, ăn trái chua củ đắng thay cao lương mỹ vị.  Sáu năm khổ hạnh nhịn ăn nhịn thở đến đỗi h́nh hài tiều tụy khô cằn, chỉ c̣n da bọc xuơng nhưng vẫn không thành Phật.  Ngài thay đổi phương pháp tu thay v́ cực h́nh khổ hạnh Ngài thực hành trung đạo tức con đường chánh tám chi phần có khuynh hướng thanh tịnh nội tâm.  Nhờ định lực sung măn nên trí tuệ hiển lộ.  Sự có mặt của trí tuệ đẩy lùi tất cả những ǵ của thế giới vọng tưởng, vô minh, đẩy lùi sinh tử và làm hiển lộ niết bàn.

Vitasoka ơi, huynh chưa bao giờ có ư nghĩ làm khổ đệ th́ làm sao huynh có thể giết hại đệ.  Huynh chỉ có mục đích duy nhất là lợi dụng phương tiện thiện xảo nhưng thực tế để tự bản thân kinh nghiệm, đánh giá, so sánh, trắc lượng sự kiện cả hai mặt h́nh thức nội dung, sự và lư một cách khách quan dung thông, xuyên suốt và nhờ đó mà đệ sẽ lựa chọn cho ḿnh một niềm tin chánh kiến, một lư tưởng hướng thiện và hướng thượng.  Sự giác ngộ tự thân nhờ như lư tác ư đích thực là một thành tựu, một kỳ công, một b́nh minh suốt tiến tŕnh cuộc sống.

Khi biết rơ tấm ḷng hoàng huynh, Vitasoka vui mừng khôn xiết và cũng ư thức hành động, ngôn từ do thiên kiến, biên kiến của ḿnh là quá đáng, nhất là đối với các vị Tỳ kheo đệ tử đức Thế tôn.  Tự thấy hổ thẹn và ăn năn, Vitasoka chấp tay búp sen, cúc cung trước Đại đế và tự phát nguyện:

- Đệ tử nguyện trọn đời quy y Đức Phật, bậc tuệ nhăn vô lượng, bậc thanh tịnh vô tỷ, bậc từ bi quảng đại như đại dương, bậc xứng đáng nhận lễ bái của trời người.  Đệ tử nguyện trọn đời quy y chánh Pháp, giáo lư do Đức Phật thiện thuyết, chứng ngộ hiện tại, vượt ngoài thời gian, có khả năng hướng thượng, trí giả thân chứng.  Đệ tử nguyện trọn đời quy y Tăng già đệ tử đức Thế tôn: Bậc diệu hạnh, Trực hạnh, Như lư hạnh, Chân chánh hạnh, gồm bốn đôi, tám vị, đáng nhận lễ phẩm, tặng phẩm, tế phẩm, kính lễ là vô thuợng phước điền trong đời.  Đối với Tam Bảo, đệ tử nguyện trọn đời quy ngưỡng, trọn đời tựa nương, trọn đời bất thối chuyển và trọn đời phó thác sinh mạng.

Nghe em ḿnh chính thức khẳng định tư cách quy y Tam Bảo, Đại đế Asoka không cầm được nước mắt v́ quá vui mừng, quá cảm động.  Ngài vừa ôm Vitasoka vào ḷng thật chặt vừa nói:

- Đệ biết không, huynh vô cùng sung sướng, măn nguyện.  Nếu mẹ biết được tin này không biết mẹ sẽ hoan hỉ, phấn khởi đến mức độ nào.

Kể từ hôm ấy, hoàng đệ Vitasoka khởi ḷng tịnh tín đối với Tam Bảo, tham cứu giáo lư, hành hương chiêm bái các nơi Phật tích, thường bái kiến các vị Sa môn chân tu thạc đức và tùy thời thính pháp.

Một hôm, khi bái kiến Tôn giả Sangharakkhita tại ngôi chùa Asokarama, hoàng đệ đảnh lễ và kính bạch:

- Thưa Tôn giả, người sống thế nào gọi là không hoang phí cuộc đời?

- Tâu phó vương, sống với thiện pháp gọi là không hoang phí cuộc đời.

- Thưa Tôn giả, sống với thiện pháp là sống thế nào?

- Tâu phó vương, sống với thiện pháp tức sống nhiêu ích bản thân và tha nhân.

- Thưa Tôn giả, sống nhiêu ích bản thân và tha nhân là thế nào?

- Tâu phó vương, cuộc sống có hi hiến tức thực hiện hạnh bố thí; kiến tạo cuộc sống nhiều ích bằng thiện hạnh hóa thân, khẩu, ư, tích cực nỗ lực tu tập mọi thiện sự tinh tấn bất thối chuyển; sống trung hậu, chân chất trong hành động, ngôn từ, ư nghĩ tức thành thật với chính ḿnh và mọi người.

- Thưa tôn giả, đây có phải là những tiêu chuẩn tác thành phúc lạc hiện kiếp và hậu kiếp.

- Tâu phó vương, đúng vậy.

- Thưa Tôn giả, có những tiêu chuẩn nào kiến tạo hạnh phúc ngay trong hiện kiếp.

- Tâu phó vương, Đức Phật dạy bốn tiêu chuẩn có khả năng tiến thân hạnh phúc ngay trong kiếp sống:

1.Uitthanasampada - Cần mẫn tức nỗ lực công tác chuyên ngành, như thời niên thiếu tích cực học hành; trung niên tạo lập sự nghiệp hợp đạo; lăo niên chuyên tu phúc huệ.

2.Arakkhasampada - Kiệm phác tức cảnh gíác trong vấn đề chi tiêu, tằn tiện chất phát không hoang phí.

3.Kalyanamittata - Thiện hữu tức cẩn trọng kết giao, tiếp cận bạn hiền, bạn tốt.

4.Samajivita - Sống đơn giản tức biết an phận, không đua đ̣i, nghĩa là nghèo th́ sống theo thân phận người nghèo, không ngó lên, v́ quạ không thể nào thành phượng hoàng.

Tâu phó vương, bất cứ ai nghiêm túc tŕ hành bốn tiêu chuẩn này bảo đảm sẽ được hạnh phúc ngay trong cuộc sống hiện tại.

- Thưa Tôn giả, có tiêu chuẩn nào đặc biệt tác thành hạnh phúc trong tương lai.

- Tâu phó vương, Đức Phật dạy bốn tiêu chuẩn để thụ hưởng phúc trong tương lai:

1.Saddha – Chánh tín tức niềm tin có sự trợ duyên của trí tuệ tức tin nghiệp quả, chánh tà, tội phước, địa ngục thiên đường và sự giác ngộ chư Phật.

2.Sila - giới đức tức đời sống vô tội, không hại ḿnh hại người và luôn tôn trọng sự sống, tài sản và hạnh phúc gia đ́nh tha nhân.

3.Caga - Xả tài ban bố tức chia cơm xẻ áo, giúp đỡ kẻ nghèo, khuyết tật, mù ḷa, phong cùi, bệnh tâm thần mê loạn v.v.

4.Panna – Trí tuệ tức tạo điều kiện học rộng nghe nhiều, dùng trí suy nghĩ phán xét, đối chiếu, trắc lượng; thực tập thiền chỉ thiền quán khiến phát sinh trí tuệ.  Nhận định bốn sự thật cuộc đời là khổ, nhân sinh khổ, sự diệt khổ và phương pháp diệt khổ.

Tâu phó vương, người nào tu tập tích cực bốn tiêu chuẩn này th́ chắc chắn sẽ thành tựu phúc lạc trong những kiếp lai sinh.  Nhưng nếu muốn giải thoát sinh tử luân hồi, Đức Phật dạy pháp môn tu tập cao hơn, tức tu Tăng thượng giới, Tăng thượng Tâm (định), Tăng thượng tuệ, tức tu giới để diệt tham, tu định để diệt sân, tu huệ để diệt si.  Tâu phó vương, tu theo giới định huệ sẽ đoạn trừ tham, sân, si và sẽ được thành Phật.

- Thưa Tôn giả, người hành tŕ phạm hạnh với mục đích ǵ?

- Tâu phó vương, người tu tŕ phạm hạnh với mục đích thúc liễm các căn (samvara); đoạn phiền năo (Pahana), ly dục (Viraga), diệt khổ (Nirodha).

- Thưa Tôn giả, những Tăng thượng pháp này, người tại gia có thể hành tŕ được không.

- Tâu phó vương, dĩ nhiên là được, nhưng trong nếp sống xuất gia th́ khả năng tu tập tích cực hơn và sự thành tựu có cơ hội đạt kỷ lục vượt thời gian.  V́ giáo pháp đức Thế tôn khéo tuyên thuyết, khéo lưu bố, nghĩa văn cụ túc, thiết thực hiện tiền, dành cho những người phát tâm để chứng nghiệm, vượt ngoài thời gian, có hiệu năng hướng thượng, chỉ bậc trí giả mới thực sự thân chứng.  C̣n đời sống tại gia th́ quá bận bịu thế sự, công ăn việc làm, giáo dưỡng vợ con, giúp đỡ thân quyến, tiếp cận thù lao, giao tế xă hội, xúc tiếp trực diện sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon và nhiều thú vui khoái lạc vật chất, có quyền lựa chọn vật dục, tùy thuận thị hiếu, không có phương pháp chế tài, không người giám hộ, ngay cả luật lệ cũng trở thành vô nghĩa.  Trong khi đời sống xuất gia th́ hoàn toàn ngược lại.

Phó vương Vitasoka đảnh lễ Tôn giả Sangharakkhita xin phép cáo lui.  Trên đường về, phó vương triền miên suy nghiệm pháp thoại Tôn giả, cảm thấy thú vị ngọt ngào, một nỗi hân hoan, an lạc tràn ngập toàn thân.

 

 

 

 [trở về mục lục]  [trở lại phần 1]  [trở lại phần 2]  [xem tiếp phần 4]

            Minh Quang posted September 1, 2008

[Home] [Kệ Hồi Tâm] [Quan Âm Thị Kính] [Đạo Phật A Phú Hăn] [Bồ Tát Quan Thế Âm] [Tây Du Kư] [Những Ngày Tù Chung Với Ông Đạo Dừa] [Truyện Săi Văi] [Lô Sơn Chân Diện Mục] [Vụ Án Một Người Tu] [Chùa Trà Am] [Du Địa Ngục Kư] [Truyện Tích Phật Giáo] [Tế Điên Ḥa Thượng] [Tứ Chúng Đồng Tu] [Truyện Tích Quan Âm - Mục Lục] [Mùi Hương Trầm - Mục Lục] [Mục-liên bản hạnh] [Thiền Sư Minh-Hải và Tổ Đ́nh Chúc-Thánh] [Lễ Hội Cổ Truyền Tại Phố Cổ Hội-An] [Trong Động Tuyết Sơn] [Bán Con Vào Chùa - Nhuận Pháp] [Cư Trần Lạc Đạo Phú] [Sự Tích Tây Du Phật Quốc] [Bhutan Có Ǵ Lạ? - Như Điển] [Phật Giáo Với Con Người - Thích Như Điển] [Tôi Làm Phi Công - Thích Như Điển] [Chuyện Phật-Đản Trong Văn Nôm Xưa - Hoàng Xuân Hăn] [Hành Hương Nước Phật Nhân Mùa Đản Sinh PL 2550] [Hành Hương Xứ Phật Khắp Nơi Trên Thế Giới - Mường Giang] [Ḷng Thương Yêu Sự Sống 1 - HT Thích Trí Chơn] [Những Đóng Góp To Lớn Của Các Học Giả Anh Quốc] [Sức Mạnh Của Ḷng Từ] [Nhà Sư Vướng Lụy 1 - 5] [Đại Đế Asoka - HT Hộ Giác] [Cuộc Sống Ở Nhật Bản - Nguyễn Đ́nh Đăng] [Nhật Kư Dharamsala - Không Quán]