Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Kinh THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI

TAM TẠNG BỒ ĐỀ LƯU CHÍ Dịch từ Phạn sang Hán 
Chân Hiền Tâm Việt dịch & Giải thích
 

 

MỤC LỤC

Lời nói đầu 
Nhân duyên Thắng Man gặp Phật 
10 hoằng thệ
3 đại nguyện
Nghĩa quảng đại của nhiếp thọ chánh pháp
Thực tướng của nhiếp thọ chánh pháp và chánh pháp
Ư nghĩa của 6 độ Ba la mật
Xả bỏ thân mạng và tài sản để nhiếp thọ chánh pháp
Lời ca ngợi của đức Phật đối với việc nhiếp thọ chánh pháp
Nhiếp thọ chánh pháp chính là nhiếp thọ Đại thừa
Sự khác nhau giữa Phật và La Hán
Hai loại tử
Ba thứ vô minh
Như Lai Tạng
Tác thánh đế và Vô tác thánh đế
Không và bất không Như Lai Tạng
Tịnh trí của Thanh văn và Duyên giác
Bốn trí nhập lưu
Giải thích 4 tướng ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả theo kinh Viên Giác
3 loại người có thể thành tựu đại pháp
Lời phó chúc của đức Phật
Chú Thích.

Thành kính tri ân
Sư ông - Ḥa thượng Thích Thanh Từ 
Bổn sư - Ḥa thượng Thích Nhật Quang
Đă giúp chúng con đầy đủ niềm tin để hoàn thành việc dịch giải bộ kinh.
Chân thành cảm ơn
Chư vị Ḥa thượng, Thượng tọa, Tăng, Ni, Cư sĩ, Học giả đă có các công tŕnh nghiên cứu, dịch thuật giúp chúng tôi có được tài liệu cần thiết cho việc dịch giải.
Chân Hiền Tâm

 

Lời nói đầu 

Kinh THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI là bản dịch từ Phạn sang Hán của ngài Bồ Đề Lưu Chí. Nội dung của kinh không khác với bản dịch Thắng Man Sư Tử Hống của ngài Cầu Na Bạt Đà La. Song khi dịch và giải, tôi chỉ có trong tay bản kinh Thắng Man Phu Nhân Hội, thành cứ y theo đó mà làm. Sau mới gặp được bản Giảng Luận của thầy Tuệ Sĩ, trong đó có đầy đủ cả hai bản tiếng Hán, nhờ đó có tài liệu để so sánh. Việc dịch giải cũng có điều kiện để  hoàn thiện hơn. 

Cũng như những kinh luận liễu nghĩa khác, nội dung của kinh không ngoài việc chỉ cho mọi người thấy được TÁNH PHẬT của chính ḿnh. Người thuyết kinh là phu nhân Thắng Man, một vương phi quyền quí, trí tuệ và tràn đầy ḷng bi mẫn đối với muôn loài. Bà gặp Phật, được Phật thọ kư và tŕnh bày với Phật về lợi ích của việc nhận lănh cũng như ǵn giữ chánh pháp. Qua đó, phân tích rơ cái chung và riêng giữa Nhất thừa và Nhị thừa, giúp người tu tránh được sự lầm lạc trong vấn đề tu hành. 

Văn kinh vốn đă rộng, nay có thêm phần giải thích lại càng dài hơn ... Để tránh t́nh trạng rối ren, trước mỗi đoạn kinh, tôi tóm lược đại ư của đoạn đó thành những tiêu đề ngắn để Độc giả nắm được vấn đề được dễ dàng. 

 Về phần dịch thuật, bản dịch đây nhờ vào bản dịch của chư vị Tôn túc rất nhiều, song trong bản dịch vẫn có vài chỗ dịch không giống với chư vị. Như phần “Tâm tương ưng, bất tương ưng”, “Tánh không, cái chân thật ẩn tàng”, “Nhiếp thọ chánh pháp không khác chánh pháp, không khác nhiếp thọ chánh pháp” v.v… Hy vọng phần giải thích đủ để biện giải cho những sai khác đó. 

Về phần giải thích, bản dịch đây chỉ tập trung giải thích phần nghĩa lư của kinh, không giải thích các ví dụ. Ư nghĩa của những ví dụ này các bạn có thể tham khảo ở những bản dịch khác, rất đầy đủ và chi tiết.

Nổi bậc nhất trong toàn kinh vẫn là 3 đại nguyện và 10 hoằng thệ mà phu nhân đă phát nguyện ... 

Nguyện đời đời sanh được chánh pháp trí, nguyện xả thân, mạng, tài sản để bảo vệ chánh pháp, nguyện đem lại lợi ích cho muôn loài v.v… Trong hiện đời đây, những lời nguyện này có khi trở thành hợm hĩnh và làm tṛ cười cho thiên hạ. Nhưng dù hợm hĩnh hay tṛ cười chăng nữa, nó luôn là thứ cần thiết cho đời sống nhân loại. Tinh thần ấy luôn là nền tảng để đạo đức và hạnh phúc được tồn tại, để mọi xấu xa đau khổ được đẩy lùi khi thế giới vật chất ngày càng tiến mạnh, con người ngày càng xa rời cội nguồn chân thật của ḿnh, trong thế giới chỉ c̣n hiện diện cái tôi và những cái của tôi.

CHÁNH PHÁP không ĺa ḍng đời, không chỉ dành riêng cho những người mang màu áo đạo Phật. V́ ta hạn cuộc chánh pháp trong những h́nh thức tôn giáo nên chánh pháp trở thành hạn cuộc. Xả thân mạng tài sản để bảo vệ chánh pháp dường như không khác những việc làm của những tín đồ cuồng tín ở những đạo giáo khác. Song chánh pháp không hạn cuộc trong h́nh thức đạo Phật. V́ nó chính là TRÍ TUỆ và T̀NH THƯƠNG vô hạn đối với mọi loài chúng sanh. Không ai không có loại trí tuệ và t́nh thương đó dù bạn đang mang màu áo đạo giáo nào. Nhưng do cái tôi và những cái của tôi, mọi thứ trở thành hạn cuộc. Bảo vệ chánh pháp chính là phát huy khả năng vốn có đó của ḿnh, để t́nh thương bàng bạc đến muôn nơi, thế giới bớt tranh tàn, đời sống đỡ tai ương hoạn nạn.

Là người tu Phật, tinh thần ấy càng phải được thắp sáng. Dù chưa thực hành được như phu nhân Thắng Man, những thệ nguyện ấy vẫn là ngọn đuốc cần có trong ḷng mỗi người tu Phật, những người con đích thực của Như  Lai.

Tp. HCM ngày 25.06.2005 

Chân Hiền Tâm

 

 

Nhân duyên phu nhân Thắng Man gặp Phật, tán thán công đức của Phật và được Phật thọ kư. 

Tôi nghe như vầy : Một thời, Phật ở tại thành Xá Vệ trong vườn Kỳ Thọ của ông Cấp Cô Độc. Khi ấy, vua Ba Tư Nặc nước Kiêu Tát La và phu nhân Mạt Lợi vừa chứng pháp xong, cùng nói với nhau rằng “Con gái Thắng Man của ta từ mẫn, sáng dạ, đa văn, trí tuệ. Nếu gặp được Như Lai th́ đối với pháp thậm thâm, sẽ chóng lănh ngộ không các nghi hoặc. Ta nay phải khéo chỉ bảo để nó phát ḷng thành tín”. Bàn với nhau xong, vua và phu nhân liền viết thư xưng tán công đức chân thật của Như Lai, rồi bảo sứ quân tên Chân Đề La mang thư đến thành Vô Đấu trao cho phu nhân Thắng Man.

Đây là giới thiệu thân thế và căn tánh của phu nhân Thắng Man. Cũng là nêu bày lư do [01] v́ sao có cuộc hội ngộ giữa bà với đức Phật.

PHU NHÂN THẮNG MAN là con gái của vua Ba Tư Nặc và phu nhân Mạt Lợi, được gả làm vương phi cho vua nước A Du Xà. 

Vua BA TƯ NẶC lên ngôi sau Phật thành đạo không bao lâu. Lúc đầu ông là người bạo ác, bất tín. Sau được Phật giáo hóa nên rất kính tin Phật pháp và là vị đại ngoại hộ cho giáo đoàn của Phật ở thành Xá Vệ lúc đó. (Xá Vệ là thủ phủ của nước Kiêu Tát La). C̣n phu nhân MẠT LỢI vốn là đứa tớ gái. Một hôm đức Phật vào thành khất thực, do thấy tướng hảo của ngài mà sinh ḷng kính tin cúng dường thức ăn để cầu hết kiếp tôi đ̣i. Nhờ công đức ấy, bà trở thành phu nhân của vua Ba Tư Nặc. V́ những nhân duyên đó mà ḷng tin của bà và vua ngày càng tăng trưởng. Tức hai vị đă hưởng được mùi vị của pháp lạc, nên nói VỪA CHỨNG PHÁP XONG. [02] Cả hai đều có ḷng ngưỡng mộ và tin Phật nên cả hai đều muốn con gái ḿnh cũng vậy. Đây là nhân duyên khiến phu nhân Thắng Man gặp Phật.

Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Pháp của chư Phật có nhân có duyên. Nhân duyên đầy đủ th́ pháp mới được thành ... Chúng sanh cũng vậy. Tuy có lực huân tập của chánh nhân, nếu chẳng gặp được chư Phật, Bồ tát và các bậc thiện tri thức lấy đó làm duyên mà có thể tự đoạn phiền năo, nhập niết bàn th́ không thể có”. 

CHÁNH NHÂN là chỉ cho chủng tử Phật pháp được huân tập trong tâm người tu. Một khi chủng nhân Phật pháp được huân tập sâu dày th́ ḿnh sẽ có cái quả là dễ lănh ngộ Phật pháp và có tấm ḷng đối với muôn người không kể là thân hay sơ. Dễ lănh ngộ Phật pháp là biểu hiện cho sự SÁNG DẠ, ĐA VĂN và TRÍ TUỆ. Có tấm ḷng với muôn người biểu hiện cho ḷng TỪ MẪN. 

TRÍ và BI là hành trang của một vị Bồ tát, là nhân duyên của việc thành Phật. Phu nhân có đủ những chủng nhân đó. 

Thứ ǵ từng huân tập nhiều, đủ duyên sẽ phát khởi mạnh. [03] Nếu Phật pháp từng được huân tập sâu dày từ những kiếp trước, th́ đối với pháp thậm thâm sẽ lănh ngộ dễ dàng mà không c̣n nghi hoặc. PHÁP THẬM THÂM là chỉ cho pháp Đại thừa, Nhất thừa, pháp tánh chân như, tánh Phật trong mỗi chúng sanh v.v…  Nghe “Tức tâm tức Phật”, nghe “Tâm Phật trong mỗi người chính là cội nguồn chân thật của tất cả pháp” v.v… mà tin ngay không chút nghi ngờ, đều là dạng “ĐỐI VỚI PHÁP thậm thâm sẽ chóng lănh ngộ không các nghi hoặc”.[04] 

Vua BA TƯ NẶC, phu nhân MẠT LỢI và sứ quân CHÂN ĐỀ LA là DUYÊN giúp cho phu nhân gặp Phật. Xưa, chưa có điện thoại và bưu điện, không có Chân Đề La th́ thư không thể đến, nên Chân Đề La là một duyên không thể thiếu. V́ thế đây nêu ra đầy đủ. Cũng giải thích lư do v́ sao phu nhân làm kệ tặng áo cho ông. 

PHẬT là thiện tri thức bậc nhất trong các thiện tri thức, là duyên tối ưu trong các duyên khiến chánh nhân được phát khởi. Nhân duyên đầy đủ th́ Phật đạo mới thành.

Thắng Man mở thư coi có việc ǵ. Bà vui mừng tột bực sanh tâm thật hiếm có, rồi hướng về Chân Đề La mà nói kệ:

Tâm không ở trạng thái b́nh thường mà đă có sự đổi khác nên nói SANH. Ai từng trải qua trạng thái NGỘ một câu kinh, một lời kệ hay đi nghe pháp mà gặp trúng thầy, trúng pháp[05]  … sẽ hiểu cái THẬT HIẾM CÓ nói đây. Không phải là sự hân hoan vui mừng b́nh thường mà c̣n thêm sự nhẹ nhàng, thanh thoát, rộng mở, hiền ḥa, an vui … chỉ trong Phật pháp mới có hương vị đó. Phu nhân Thắng Man vừa hưởng được sự an lạc do pháp vị mang lại (mà trước giờ chưa từng có), nên nói THẬT HIẾM CÓ. 

KỆ là một dạng có âm điệu như thơ nhưng không cần vần cú và thường là 5 chữ. Sau là bài kệ. 

Ta nghe danh Như Lai
Thế gian rất khó gặp
Lời này nếu chân thật
Phải cho ông y áo
Nếu Phật Thế Tôn kia
Lợi ích thế gian hiện
Tất v́ ta, thương xót
Khiến ta thấy chân tướng 

Phu nhân Thắng Man đọc thư xong, vui mừng hứng khởi nên ứng khẩu làm kệ. Đại ư là “Ta đă từng nghe đến tiếng tăm của Phật và cũng biết gặp được Phật không phải dễ. Song nếu ngài có công đức và hay v́ lợi ích của thế gian mà hiện, đúng như trong thư đă nói, nhất định ngài sẽ thương xót mà hiện chân tướng cho ta thấy”. CHÂN TƯỚNG là chỉ cho tướng chân thật của Phật. TẤT là nhất định, chỉ cho sự đương nhiên. “Nếu ngài thật có ḷng bi mẫn đối với thế gian th́ nhất định ngài phải thương xót đáp ứng nhu cầu đúng đắn của ta”. Phu nhân nói với sứ quân mang thư đến như vậy. Cũng là lời thỉnh cầu gián tiếp tới đức Phật.

PHẢI CHO ÔNG Y ÁO v́ không có ông lặn lội đường xa mang thư tới đây, ta không đọc được những lời quí báu này. Tuy đó là nhiệm vụ của ông, không cho ông y áo, ông cũng phải làm để giữ cái đầu, nhưng phu nhân vẫn nêu công trạng và tặng áo cho ông, biểu thị ḷng biết ơn của bà đối với sứ quân. 

Lời niệm vừa dứt th́ trên hư không, Phật hiện ra với thân tướng chẳng thể nghĩ bàn. Đại quang minh chiếu khắp. Thắng Man cùng quyến thuộc thảy đều tụ lại, chấp tay chiêm ngưỡng vái Phật và xưng tán đức đại Đạo sư :

Phật tâm trong mỗi chúng sanh vốn thanh tịnh viên minh. Một khi sống lại được với tâm Phật ấy th́ mê tối hết, cái sáng tràn khắp xuất hiện. Trong những bức h́nh của Phật và Bồ tát, ta hay thấy ánh hào quang tỏa chung quanh, hoặc như trong kinh diễn tả “Ánh sáng từ giữa 2 chặn mày của đức Như Lai” v.v…   là muốn nói lên những loại QUANG MINH này. Nó là ánh sáng phát ra từ TRÍ và THÂN của Phật cùng chư vị Bồ tát. Quang minh nói đây là loại quang minh chiếu khắp pháp giới nên gọi là ĐẠI QUANG MINH. 

Có 2 cách có thể thấy được thân Phật. 

1. Những chúng sanh có cơ cảm với Phật. Một trong các cách để có cơ cảm với Phật là trong quá khứ đă từng tu tập niệm Phật tam muội, nên hiện đời không cần nương vào tam muội mà vẫn thấy được sắc thân Phật. Đây là chỉ cho sắc thân thô với 32 tướng tốt, là HÓA THÂN PHẬT. 

2. Nương tam muội mà thấy Phật. Tức tâm phải lóng lặng thanh tịnh mới thấy được thân Phật. Nói cách khác, thân tâm phải thanh tịnh th́ Phật thân mới hiện tiền. Phật thân nói đây là chỉ cho BÁO và PHÁP THÂN PHẬT. 

BÁO THÂN có 2 thứ : TỰ THỌ DỤNG THÂN là báo thân viên măn, do chư Phật trải qua vô số kiếp tu tập thiện căn mà tạo nên, khắp giáp cả pháp giới, thân và cơi chẳng ĺa nhau, gọi là thật báo trang nghiêm độ. Thân này khi chưa thành Phật th́ chư vị Bồ tát chỉ được nghe tên chứ không thể thấy. THA THỌ DỤNG THÂN là do cảm ứng với từng căn cơ của chúng sanh mà ứng hiện. Đây là do chư Phật muốn chư vị Bồ tát thọ đại pháp lạc, tiến tu thắng hạnh mà tùy nghi ứng hiện. Các sự sai khác của báo thân, gọi là HÓA THÂN. 

Tuy phân thành nhiều thứ báo và hóa, nhưng tất cả đều là chỗ hiện của tự tâm. Phật th́ thấy từ ngoài đến nhưng thật ra đều từ tâm mà hiện.[06]  Tâm Phật và Phật tâm của chúng sanh không khác. Dụng của chư Phật cũng chính là dụng Phật tâm của chính ḿnh. Tâm càng thanh tịnh th́ ḿnh càng dễ cảm ứng với dụng của chư Phật, cũng là sử dụng càng dễ cái dụng Phật thân của chính ḿnh. Tâm càng thanh tịnh th́ Phật thân càng vi diệu.

Phật hiện thân với sắc thân không thể nghĩ bàn cộng với lời ca ngợi của phu nhân Thắng Man ở đoạn sau “Sắc thân Như Lai vô tận, trí tuệ cũng như vậy, tất cả pháp thường trụ” th́ biết Phật thân nói đây c̣n ám chỉ cho BÁO hoặc PHÁP THÂN PHẬT. Nghĩa là, một niệm đốn ngộ tự tâm[07]  của chính phu nhân vừa bùng vỡ. 

Công đức bên trong đầy đủ th́ thân tướng bên ngoài trang nghiêm đẹp đẽ, có lực làm cho người đối diện phải kính ngưỡng. CHIÊM NGƯỠNG là nh́n một cách kính phục, ưa thích, không rời  mắt. 

Sau là những lời xưng tán đức Phật của phu nhân, được chia làm 5 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, để dễ giải thích. 

Diệu sắc thân Như Lai
Thế gian không ǵ bằng
Cũng không thể nghĩ bàn  [08]
Cho nên con kính lễ

SẮC THÂN NHƯ LAI với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp … ở thế gian không ai có được nên nói KHÔNG G̀ BẰNG. Đó là hóa thân Phật. SẮC THÂN NHƯ LAI không h́nh, không tướng, trùm khắp, vượt ngoài cái thấy suy tưởng của tri thức, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN. Đó là báo và pháp thân Phật. Muốn có những sắc thân đó, phải trải qua vô số kiếp tu hành tích trữ công đức. Không có ḷng nhẫn nại, ư chí trường viễn và bi nguyện rộng lớn, không thể làm được. Cho nên CON KÍNH LỄ.

Sắc Như Lai vô tận
Trí tuệ cũng như vậy
Tất cả pháp thường trụ
Cho nên con qui y

Không h́nh, không tướng, trùm khắp nên sắc thân ấy VÔ TẬN. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Pháp thân ấy là thể của sắc nên hay hiện sắc. Bởi tánh của SẮC chính là TRÍ nên thể của sắc không h́nh, gọi là trí thân. Bởi tánh trí tức là sắc nên gọi là pháp thân khắp giáp tất cả chỗ”.[09]  V́ SẮC và TRÍ vốn không hai, nên SẮC vô tận th́ … TRÍ TUỆ CŨNG NHƯ VẬY.

Hiện nay, ai cũng thấy pháp thế gian là không thường. Có rồi mất, sanh rồi tử, không có ǵ c̣n hoài. Nghĩa là, với cái thấy hiện nay của ḿnh, các pháp là vô thường. Một khi sống được với tâm chân thật, ḿnh sẽ có cái thấy khác, như Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “V́ là tâm chân thật nên là tánh của các pháp. Tự thể hiển bày soi rơ hết thảy pháp hư vọng”. Nhận rơ tướng các pháp là hư vọng th́ sanh hay diệt, có hay mất, ra hay vào … thảy đều hư vọng. TƯỚNG sanh diệt của pháp th́ hư vọng nhưng TÁNH các pháp (là tâm chân thật) lại thường trụ, nên nói TẤT CẢ PHÁP THƯỜNG TRUï, là chỉ cho pháp tánh hay pháp thân Như Lai b́nh đẳng, không tăng, không giảm, không đến, không đi, bất biến, thường trụ. 

QUI là hướng về, Y là nương tựa. Đây là qui y Phật và qui y pháp. Cũng là qui y Phật và pháp tự tâm.

Khéo điều tâm lỗi ác
Cùng với 4 thứ thân
Đến chỗ bất tư ngh́
Con nay xin kính lễ

TÂM LỖI ÁC là chỉ cho những tạo tác thuộc về ư, là chỉ cho ư nghiệp. 4 THÂN là chỉ cho những tạo tác về thân và miệng, tức thân và khẩu nghiệp, được gói trọn trong 4 thứ sát, đạo, dâm và vọng ngữ. ĐIỀU là điều phục, là chỉ cho việc làm chủ 3 nghiệp, không để chúng phát tán thành tội lỗi mà luân chuyển trong 6 đường. BẤT TƯ NGH̀ là không thể nghĩ bàn. 3 nghiệp của Phật thanh tịnh hoàn toàn th́ tâm và sắc chẳng phải hai. SẮC THÂN có được từ cái chẳng phải hai với TRÍ ấy, không thể dùng tri thức phân biệt[10]  hiện nay của ḿnh mà thấy được, nên nói “Điều phục đến chỗ chẳng thể nghĩ bàn”. Trước một người như vậy, không thể nào không qui ngưỡng thán phục, nên CON NAY XIN KÍNH LỄ.

Biết các pháp nhĩ diệm
Trí thân vô quái ngại
Với pháp không để mất
Nên con nay kính lễ

NHĨ DIỆM, Kinh Lăng Già nói “Biết nhân pháp vô ngă, phiền năo và nhĩ diệm, thường thanh tịnh không tướng, mà khởi tâm đại bi”. Thiền sư Hàm Thị giải thích NHĨ DIỆM là sở tri. Nhị thừa phá được phiền năo chướng nhưng sở tri vi tế vẫn c̣n. Chỉ Phật mới thấu suốt được tận nguồn, nên nói BIẾT CÁC PHÁP NHĨ DIỆM. 

TRÍ THÂN Phật như hư không, trùm khắp, không có bờ mé, là tánh của tất cả pháp nên nói “Trí thân vô quái ngại, với pháp không để mất[11] ”. 

Kính lễ sao cho xứng
Kính lễ không ǵ bằng 
Kính lễ pháp tự tại
Kính lễ vượt nghĩ suy

KÍNH LỄ, bản chữ Hán là KHỂ THỦ, [12] là dập đầu sát đất mà lạy, biểu hiện cho sự thành kính, nên đây dịch thành kính lễ. Không có ǵ có thể kính lễ hơn được nữa, cũng không biết diễn tả ḷng thành kính ấy thế nào, nên nói “Kính lễ sao cho xứng, kính lễ không ǵ bằng, kính lễ vượt nghĩ suy”. 

KÍNH LỄ được lặp đi lặp lại nhiều lần, ngoài việc biểu tỏ ḷng thành kính, c̣n nói lên ḷng tha thiết của phu nhân đối với bậc Tôn sư của ḿnh, cũng là biểu tỏ ḷng tin thanh tịnh đối với tánh Phật của chính ḿnh. Đó là điều kiện tiên quyết để bà xả thân thọ 3 đại nguyện và 10 hoằng thệ sau này. 

Xin thương xót hộ tŕ
Khiến pháp chủng tăng trưởng
Cho đến thân tối hậu
Thường ở trước Như Lai
Phước nghiệp con đă tu 
Hiện nay đến cuối đời
Do lực thiện căn ấy
Nguyện Phật hằng nhiếp thọ 

Đây là điều mong muốn của phu nhân Thắng Man. Bà mong Phật che chở và hộ tŕ cho đến khi bà thành Phật. Sau là giải thích vào chi tiết.

“Pháp tánh b́nh đẳng trong tất cả chúng sanh”. Nghĩa là, ai cũng có sẵn tánh Phật ấy. Mê nó th́ làm chúng sanh. Tỉnh đó th́ làm Phật và Bồ tát. TÁNH PHẬT ấy gọi là PHÁP CHỦNG. 

V́ pháp Phật có cạn có sâu, nên PHÁP CHỦNG c̣n để chỉ cho VỐN PHẬT PHÁP được huân tập nhiều đời của người tu. Cạn, là chỉ cho phần giáo lư dạy người cách sống để người có được một đời sống an lạc hạnh phúc ở cơi trời và người. Cao dần lên là phần giáo lư của Thanh văn, Duyên giác và Đại thừa. Tối cùng của Đại thừa chính là Nhất thừa. Sống lại được với tánh Phật của ḿnh, chính là Nhất thừa, c̣n gọi là Phật thừa.

Người mà tập quen với chửi bới rồi, giờ nói ngừng không phải dễ. Tập quen với ma túy x́ ke rồi, nói bỏ rất ít người bỏ được. Những thứ làm khổ ḿnh như vậy, nói ḿnh bỏ, ḿnh c̣n thấy trần thân. Huống là nói bỏ ăn ngon, vợ đẹp, con ngoan, tiền tài, danh vọng  … là những thứ đem đến cái vui trong hiện tại cho ḿnh. Vào đến cửa Phật rồi, nói bỏ đi cái sở trường trong Phật pháp của ḿnh, lại càng khó hơn ... Thứ ǵ đă thành ruột rà của ḿnh, không có ư chí trường viễn, không có tâm quyết tử rất là khó bỏ. Đúng là đường thành Phật “Dài lâu nghiêm tuấn, cũng kỳ khu khúc khủyu, không kém nguy nan”.[13]  Bước tới hai bước, có khi lùi đến ba bước. Phật cao nhất xích, ma cao nhất trượng.

Ḷng tha thiết của bà đối với con đường thành Phật rất lớn, nhưng bà biết nó lắm khó khăn, nên đă nguyện với đức Phật “Xin Phật hăy thương xót mà che chở hộ tŕ con”. Che chở HỘ TR̀ là, khi nào con quên tu th́ hóa thân của chư vị sẽ nhắc cho con không quên, khi nào con làm bậy th́ tạo cái duyên nhắc con đừng làm bậy v.v... Cái quả nhắc nhở gần nhất là tâm bất an. Thành ai nghĩ quấy và làm quấy mà bị quả báo liền tay là biết đang được chư Phật thương xót hộ tŕ rất chặt chẽ. Nguyện với đức Phật cũng chính là nguyện với tánh Phật của chính ḿnh. Lời nguyện ấy chính là hành trang để bà đi trọn con đường ḿnh đă chọn. 

THÂN TỐI HẬU là thân cuối cùng trong cơi sanh tử như thân của A La Hán, Bích Chi Phật và Bồ tát. THÂN TỐI HẬU nói đây là cái QUẢ của việc nuôi lớn thánh thai PHẬT TÁNH, là thân tối hậu của Bồ tát chứ không phải của A La Hán, nên nói THƯỜNG Ở TRƯỚC NHƯ LAI. Tức quả Phật đă viên măn.

Xin Phật thương xót che chở nhưng không phải theo kiểu đưa một nải chuối hay một bó nhang tới lạy hối lộ rồi cầu đủ thứ c̣n việc thiện th́ bỏ mặc. V́ ĐA VĂN và TRÍ TUỆ nên bà hiểu, muốn có quả th́ phải gieo nhân và nuôi lớn nó. Muốn được HỘ TR̀ và NHIẾP THOï, bà phải hành thiện nghiệp, là cái nhân để có cái quả thiện. Như đứa con muốn được cha mẹ thương yêu th́ phải làm vừa ḷng cha mẹ bằng cách thực hiện những ǵ cha mẹ đă dạy. Muốn được chư Phật hộ tŕ nhiếp thọ, suốt đời này, bà sẽ hành thiện nghiệp, lấy đó làm thứ giữ ǵn sự che chở hộ tŕ của chư Phật.

NHIẾP  có 2 nghĩa là THU VÀO và G̀N GIỮ. 
THỌ, cũng là THU VÀO hay LĂNH  NẠP. 

H́nh thức nào có tính cách THU VÀO G̀N GIỮ, gọi là NHIẾP THỌ. Như Thầy Trụ Tŕ thu nhận đệ tử và đệ tử qui thuận Thầy, việc thu nhận đó là một h́nh thức của nhiếp thọ. 

Nghiệp thiện một khi được huân tập mạnh, không những đưa đến cảnh giới tốt đẹp vi diệu cho ḿnh mà nó c̣n có lực khiến ḿnh đi măi trên con đường thiện. Như 5 giới của người Phật tử tại gia có giới không trộm cắp. Người giữ giới quen rồi, khi móng tâm muốn lấy của ai thứ ǵ th́ sự sợ hăi hay mất b́nh yên sẽ xuất hiện. Cái tâm không yên ấy chính là động lực làm ḿnh không trộm cắp nữa. V́ sao? V́ thiện nghiệp đang NHIẾP THỌ ḿnh. Thiện nghiệp nhiếp thọ ḿnh nên thứ ǵ là thiện th́ nó thu vào giữ đó, thứ ǵ không phải thiện th́ nó không thu vào. Không thu vào th́ không đẩy đi cũng thành đẩy đi. 

Tương tự, chúng A La Hán, một khi đă hưởng được cái lạc do tịnh tâm mang lại, th́ cái lạc ấy chính là thứ nhiếp thọ các vị, khiến các vị không c̣n bị dục lạc của thế gian lôi kéo. Cũng vậy, một khi đă nếm được sâu xa pháp vị của Đại thừa th́ thứ ǵ đúng là pháp vị Đại thừa, tâm sẽ nhiếp thọ, thứ ǵ không đúng là Đại thừa nó sẽ không nhiếp thọ. V́ thế, ai từng gieo trồng thiện nghiệp công đức của Đại thừa SÂU ĐẬM rồi, pháp vị của chư vị Nhị thừa không thể thu nhiếp họ được, đừng nói là những dục lạc của thế gian. 

Như vậy, công đức thiện nghiệp của ḿnh chính là lực hộ tŕ che chở cho ḿnh chứ không ai khác. Tha lực của chư Phật chính là dụng Phật tâm của ḿnh nếu ḿnh SỐNG LẠI hoặc TÙY THUẬN được với tâm Phật ấy. Nghĩ và thực hiện những thiện nghiệp của cơi trời người, hoặc tu theo Tam thừa đều gọi là TÙY THUẬN. Cho nên, phu nhân Thắng Man tha thiết khẩn cầu sự hộ tŕ của Phật bằng cách lấy việc cả đời hành thiện nghiệp của ḿnh để giữ lấy sự hộ tŕ của bậc Tôn sư. 

Khi Thắng Man nói kệ xong, bà cùng quyến thuộc và hết thảy đại chúng đồng đảnh lễ dưới chân Phật. Lúc ấy Thế Tôn liền v́ Thắng Man mà nói kệ :

Ta xưa cầu bồ đề
Từng khai thị cho bà
Nay bà gặp lại ta
Đời sau cũng như vậy 

Đây là lư do v́ sao chỉ vài ḍng ca tụng đức Phật của cha mẹ, phu nhân đă bộc phát niềm tin thanh tịnh đối với Phật, rồi phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chánh pháp. Tiền kiếp, trong giai đoạn c̣n là Bồ tát cầu Phật đạo, Phật đă từng khai thị cho bà, nên nói “Ta xưa cầu bồ đề, từng khai thị cho bà”. Bà đă từng phát tâm và từng tu tập. V́ đức Phật là người từng nhiếp thọ bà trước đây, nên kiếp này đúng cái duyên đức Phật, bà lại bị nhiếp thọ. Nói đúng hơn là được nhiếp thọ. Việc nhiếp thọ được huân tập nhiều th́ bản thân nó cũng chính là lực khiến sự nhiếp thọ càng bền vững. V́ thế, kiếp này được đức Phật nhiếp thọ nữa th́ chắc chắn kiếp sau bà cũng được nhiếp thọ tiếp. Nên nói “Nay bà gặp lại ta, đời sau cũng như vậy”. 

Nói kệ xong, trước đại chúng, Phật thọ kư A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cho Thắng Man rằng “Bà nay xưng tán công đức thù thắng của Như Lai, do thiện căn này, trong vô lượng a tăng kỳ kiếp, ở nơi loài người và trời thường được làm vua tự tại, chỗ thọ dụng đều được đầy đủ, sanh ra chỗ nào cũng được thấy ta như hiện nay đang xưng tán ta không khác. Sẽ lại cúng dường vô lượng vô số chư Phật Thế Tôn.

Đây là lời thọ kư của đức Phật. THỌ KƯ, nghĩa của nó tương tự như hai từ CÔNG NHẬN. Việc thọ kư này không phải Phật muốn và phán như vậy là nó ra như vậy. Chẳng qua v́ Phật có cái thấy suốt từ nhân đến quả ... Nhân ở quá khứ như vậy th́ quả ở tương lai như vậy. Phật chỉ nói lại những ǵ ḿnh đă thấy. Lời nói đó khi nào cũng đúng nên nó trở thành lời nói ấn chứng, gọi là thọ kư. 

A NIỆU ĐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ĐỀ là chỉ cho quả vị Phật. Là lúc mà ta đă sống được hoàn toàn với tâm Phật của chính ḿnh, là lúc cái ḿnh đây cũng không c̣n. Đó là cảnh giới sự sự vô ngại của thế giới Hoa Nghiêm. 

Từ quá khứ cho đến hiện nay, rồi từ nay cho đến khi thành Phật, phu nhân c̣n phải trải qua vô lượng vô biên thân. Cơi người cũng có mà cơi trời cũng có. Song dù ở chỗ nào th́ phu nhân cũng được đứng đầu thiên hạ về cái gọi là TỰ TẠI, nên nói ĐƯỢC LÀM VUA TỰ TẠI. 

TỰ TẠI là không vướng mắc, không bị thứ ǵ ràng buộc. Muốn tự tại được th́ TRÍ PHÂN BIỆT phải hết, phải có cái nh́n như huyễn đối với thế giới, thân và tâm mà ḿnh đang thọ nhận. V́ thế, đúng với ư nghĩa của từ TỰ TẠI, tức tự tại cả về thân lẫn tâm, th́ phải là hạng Bồ tát Bất Động Địa, là địa thứ 8 trong 10 thánh Thập địa, mới có danh hiệu này.

Song cũng có thể dựa vào những duyên thấp hơn để có trường hợp tự tại. Hành thiện nghiệp của cơi trời người và nắm vững nhân quả mà sống, th́ chưa đến được địa vị Bất Động, ḿnh vẫn có cuộc sống khiến ḿnh được tự tại. Như 5 giới của người tại gia chẳng hạn. Giới đầu tiên là KHÔNG SÁT SANH, nếu hạn chế được việc giết hại cả những sinh vật nhỏ th́ ḿnh sẽ tránh được bịnh tật. C̣n không th́ tùy mức độ sát, mà bịnh không đến nỗi quá nặng để ḿnh không thể tự tại. Không TRỘM CẮP th́ không tàn mạt đến nỗi quá bức xúc mà hết tự tại. Không TÀ DÂM th́ không bị đau khổ về t́nh cảm gia đ́nh, cũng là một duyên khiến ḿnh được tự tại. Không nói nhiều, KHÔNG NHIỀU CHUYỆN th́ cũng không có duyên khiến ḿnh phải phiền năo để không tự tại v.v... Quan trọng nhất là làm sao nắm được nhân quả. 

NẮM ĐƯỢC NHÂN QUẢ là biết rằng, trong thế giới đây không có ǵ có quả mà không có nhân. Anh bị một cái ǵ đó th́ nhất định thứ đó phải có nguyên do, không ở kiếp này th́ ở kiếp trước hay kiếp trước nữa. Một sự kiện dù tốt hay xấu th́ nó luôn có cái nhân của nó. Quả xấu v́ nhân ác. Quả tốt v́ nhân thiện. Anh không gây nhân ăn trộm th́ có lỡ rớt đồ ra đó, chúng cũng không thấy mà lượm. C̣n anh đă gây cái nhân tham ô th́ cất kỹ bao nhiêu, nó cũng ra cho hết. Không gây nhân xấu th́ chắc chắn không có quả xấu. C̣n đă gây nhân xấu th́ có lo nó cũng cứ ra, thành cũng không có ǵ để phải lo. Nắm được nhân quả như vậy, ḿnh sẽ có tâm b́nh thản với những ǵ xảy ra cho ḿnh dù tốt hay xấu. Cũng không có ǵ lo lắng hay tính trước tính sau đối với tương lai. Cái mà ḿnh có thể tính và làm được trong hiện tại là luôn nghĩ thiện và làm thiện. Người có được những nhân duyên đó, dù chưa đạt được địa vị Bất Động, cũng là vua tự tại ở cơi đời này. 

Xét đến trường hợp của phu nhân Thắng Man. Với thiện căn và trí tuệ mà bà đang có[14]  th́ dù chưa đạt được địa vị Bất Động, bà vẫn cứ tự tại. Đây là lư do Phật thọ kư cho phu nhân Thắng Man trong vô số kiếp ở cơi người và trời, chỗ thọ dụng điều được đầy đủ và làm vua tự tại. ĐẦY ĐỦ nghĩa là không thiếu. Dư hay không th́ không biết, nhưng chắc chắn là không thiếu. Cứ cái ǵ là nhu cầu cần thiết cho bản thân th́ phu nhân đầy đủ, đủ để phu nhân có được sự tự tại về cả thân lẫn tâm.

Một điều hạnh phúc lớn lao nữa của bà là, sanh ra chỗ nào bà cũng được thấy Phật. V́ Phật là sở hiện của tự tâm nên ai không thấy là chuyện của ai, Phật có xuất hiện ở đời hay không là chuyện của Phật. Với phu nhân, khi nào bà cũng được thấy Phật. Không hóa thân th́ báo thân, không báo thân th́ pháp thân. Thấy HÓA, BÁO hay PHÁP th́ cũng đều là thấy Phật. Việc thấy Phật đây cũng là cái duyên giúp phu nhân càng thêm tự tại. Sẽ không có ǵ để lo lắng khi thấy bên ḿnh luôn có sự hộ tŕ của chư Phật. Sẽ không có ǵ để lo lắng khi quán sát thế giới này bằng giác tâm. Giác chính là Phật. Tâm vô quái ngại th́ đương nhiên là phải tự tại.

Tất cả những quả báo tốt đẹp đó đều xuất phát từ cái nhân là XƯNG TÁN CÔNG ĐỨC thù thắng của Như Lai. V́ sao chỉ xưng tán Như Lai mà được quả báo như thế? V́ việc xưng tán công đức Như Lai của bà phát xuất từ tâm chứ không chỉ ở miệng. Tâm bà thực sự nghĩ vậy nên miệng bà nói ra như vậy. V́ xuất phát từ tâm, nên sắc thân và trí tuệ của Như Lai chính là mục tiêu mà bà nhắm đến. V́ xuất phát từ tâm nên bà đă làm những ǵ mà Như Lai đă làm.[15]  Bà đă phát 13 thệ nguyện, lấy đó làm phương châm sống của ḿnh cho đến ngày thành Phật. Cách sống đó tạo nên các công đức thiện căn khiến bà có đời sống tự tại cả về vật chất lẫn tinh thần. Thân tâm tự tại th́ Phật phải hiện tiền.

Cho nên, muốn được các công đức như phu nhân Thắng Man th́ phải xưng tán Phật theo kiểu mà phu nhân đă xưng tán. Xưng tán không chỉ bằng miệng mà cả bằng tâm và thân nữa. Chỉ có miệng thôi, c̣n hành động lại đi ngược với những ǵ Phật đă dạy th́ việc xưng tán ấy chẳng được công đức ǵ, có khi trở thành phỉ báng Phật là đằng khác.

Qua hai vạn a tăng kỳ kiếp, sẽ được thành Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Cơi nước Phật đó không có các đường ác và các thứ như đau thương, già, bịnh, khổ ; Ngay cái tên bất thiện và ác nghiệp đạo cũng không có. Chúng sanh cơi nước đó h́nh sắc đoan nghiêm, đầy đủ 5 thứ cảnh vi diệu, hưởng toàn sự khoái lạc, hơn hẳn cơi Tha Hóa Tự Tại của chư thiên. Chúng sanh cơi nước đó đều qui thuận Đại thừa. Những ai học pháp Đại thừa như thế đều được sanh về đó”. 

Đây vẫn c̣n trong lời thọ kư của Phật. A TĂNG KỲ KIẾP là chỉ cho khoảng thời gian từ khi phát tâm tu hành đến khi thành Phật, không tính xuể với thời gian vô tận, nhưng cũng có thể là trong một đời, không nhất định. Tổ Đạt Ma dùng 3 độc tham - sân - si để ấn định cho cái vô số a tăng kỳ kiếp này. Hết 3 độc rốt ráo th́ hết vô số a tăng kỳ kiếp đó. Phu nhân sẽ thành Phật với pháp hiệu là Phổ Quang Như Lai. 5 THỨ VI DIỆU là chỉ cho sự tịnh diệu trong 5 cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc. [16] 

Cơi nước đó chỉ toàn người tu theo Đại thừa. Nghĩa là, ai không tu Đại thừa th́ không về đó được. “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phải có thứ ǵ là ĐỒNG th́ mới tương khớp với nhau, mới t́m đến nhau được. Phật gọi là đồng nghiệp. Đồng nghiệp ở đây là cùng tu Đại thừa. 

Phu nhân Thắng Man phát 10 hoằng thệ và 3 đại nguyện. Hội chúng thấy điềm lành, cũng phát nguyện đời đời cùng chung hạnh nguyện với bà 

Khi Thắng Man được thọ kư xong, vô lượng người và trời trong ḷng đều phấn khởi. Hết thảy đều nguyện văng sanh về thế giới của Phật kia. Lúc ấy, Thế Tôn cũng thọ kư cho họ được sanh về thế giới đó. Nghe Phật thọ kư xong, phu nhân Thắng Man chấp tay đối trước Như Lai phát 10 hoằng thệ :

THỆ tức là THỆ NGUYỆN, là thề nguyền hay tuyên thệ. Thệ nguyện rộng lớn trùm khắp tất cả chúng sanh, nên gọi là HOẰNG THỆ NGUYỆN. Sau là 10 hoằng thệ mà phu nhân đă phát.

1. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với các giới đă thọ không để phạm. 

Tu ǵ đó tu, Bồ tát lớn cỡ nào đó lớn, việc đầu tiên trong vấn đề tu hành là phải giữ giới. V́ GIỚI là tướng bên ngoài biểu hiện cho tâm bên trong. Chỉ khi trong tâm không c̣n phạm giới th́ mới không có giới bên ngoài để thọ. Song đa phần chúng sanh thời mạt pháp th́ luôn cần có giới để thọ. Ngay cả phu nhân Thắng Man, là người được Phật tán thán “Nghĩa này, chỉ có ngươi và các đại Bồ tát mới có thể vâng nhận, c̣n hàng Thanh văn và Độc giác th́ chỉ nhờ tin mà vào”, mà lời thệ nguyện đầu tiên của bà cũng là giữ giới. Th́ biết, GIỚI quan trọng thế nào đối với việc tu hành. 

Quá khứ qua rồi không bàn đến. Hiện tại, cho đến khi thành Phật, với những giới nào bà đă thọ, bà sẽ không để phạm. Chẳng hạn, kiếp này cái duyên của bà là Phật tử tại gia th́ 5 giới của Phật tử tại gia bà sẽ không để phạm. Nếu thọ giới Bồ tát th́ với giới Bồ tát bà cũng không phạm. Trong một kiếp nào đó, nếu bà thọ Sa di ni th́ bà sẽ giữ những giới của Sa di ni. Nếu bà thọ giới Tỷ kheo th́ bà sẽ giữ giới Tỷ kheo v.v… Trước mắt, bà phát 10 hoằng thệ này th́ bà sẽ không để phạm những ǵ ḿnh đă nguyện.

2. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng  quả bồ đề, đối với các bậc Sư trưởng chẳng khởi tâm kiêu mạn.

Trong luận Tối Thượng Thừa, có người hỏi “Thế nào là tâm ngă sở?”, ngài Hoàng Bá trả lời “Là có chút tâm cho ta hơn người, tự nghĩ ta hay như thế. Tâm ngă sở ấy là bịnh trong niết bàn”. Xuất hiện tâm kiêu mạn v́ có chút tâm cho ta hơn người. Chỉ cần MỘT CHÚT cho ta hơn người thôi, ḷng kiêu mạn sẽ xuất hiện. Nói BỊNH TRONG NIẾT BÀN, th́ biết cái bịnh này không phải chỉ xuất hiện ở người không biết tu, mà là khá phổ biến trong giới người tu, nhất là những người từng sở chứng được thứ ǵ đó trong việc tu hành. Tu một thời gian mà thấy ḿnh hơn bạn hơn Thầy, cái thấy của Tổ Phật cũng không bằng ḿnh, rồi mắng Tổ, mạ Phật, coi trời bằng vung th́ biết, ḿnh đang mắc cái bịnh trong niết bàn nói đây.

Phu nhân biết ḿnh có công đức và trí tuệ hơn người. Bà cũng biết nếu không khéo, cái thấy hơn người đó của bà sẽ là cái nhân làm phát sinh ḷng kiêu mạn, là một loại phiền năo chướng, một loại bịnh trong niết bàn, khiến việc tu hành của bà bị đ́nh trệ. V́ thế, lời nguyện thứ 2 là không khởi tâm kiêu mạn. Nguyện là do ḷng thiết tha đối với con đường Phật đạo của ḿnh, mà nguyện cũng là để chặn đứng một thói xấu. Bởi lời nguyện, ngoài tác dụng phát tâm của ḿnh ra, bản thân nó cũng tạo ra những duyên giúp ḿnh không rời được những điều ḿnh đă hứa. 

3. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với chúng sanh không khởi tâm oán giận.

Việc thứ ba không kém quan trọng là không khởi tâm oán giận. Bởi sân giận đốt cháy cả rừng công đức. Kư cóp bao nhiêu năm tháng, giận lên tiêu tán tất cả. Đối với những thiện nghiệp từ quá khứ đến nay, trải qua quá tŕnh dài lâu nên ḿnh không thấy, chỉ biết tin vào lời của người xưa. Nhưng ai đă từng ngồi thiền mới thấy nó thiêu hủy công đức của ḿnh thế nào. Buồn hay vui mà ngồi thiền th́ gắng một chút sẽ ngồi được, chứ sân giận oán hận th́ không thể ngồi thiền. Nó sinh chướng rồi lùng bùng cả người, không nặng người th́ nặng đầu rồi khó thở, bởi khí huyết chạy lung tung v.v… không cách ǵ ngồi được. Một ngày ngồi thiền là một ngày làm Phật. Một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật. Thiền không được không phải hủy hoại hết công đức sao? 

Ngoài ra, trí tuệ Phật hiển lộ là nhờ tâm lắng động. Sân giận lên th́ như sóng thần nổi trên biển cả, che lấp cuốn trôi tất cả. Tâm chúng sanh lại huân tập rất tốt. Sân giận một lần, hai lần mà không có ư thức dứt bỏ th́ nó sẽ có lực khiến ḿnh sân hận hoài. Trí tuệ lu mờ th́ mọi việc sẽ thành tăm tối. Nhân gian từng có câu “Giận mất khôn” là đó. Đây là đối với vấn đề tự lợi.

Với vấn đề lợi tha, nổi sân hay oán giận thể hiện ḷng nhẫn nại của ḿnh yếu, trí tuệ của ḿnh kém, t́nh thương của ḿnh đối với người ít ỏi. Nói ít ỏi là so với cái tôi của ḿnh đây. Làm lợi ích cho người mà thủ 3 thứ đó làm hành trang th́ khó mà thành công được. Trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca, thiền sư Sessan nói “Sân giận cuối cùng trở thành căm thù, trở thành đố kỵ và tai họa cho sự sống. Không thể biết sự độc hại sẽ dừng ở đâu?”. Không biết được sự độc hại sẽ dừng  ở đâu khi ḿnh luôn có tâm giận tức với người. V́ thế, KHÔNG KHỞI TÂM SÂN GIẬN là lời thệ nguyện thứ 3 của bà.

4. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với sắc thân và những sự tốt đẹp của người, không khởi tâm ganh ghét.

Thấy người hơn ḿnh sinh ghét là tâm trạng của đa số người đời. V́ ai cũng có cái TÔI. Khuynh hướng của cái TÔI là luôn muốn được nổi bật, luôn muốn trong vị trí hàng đầu. V́ thế, thứ ǵ hơn nó, nó có khuynh hướng không ưa. “Ta dễ cảm thông với người khác khi sự bất hạnh hay tai ương chụp xuống đầu họ ... Khi một người quen hứng chịu sự bất hạnh, ta ngạc nhiên làm sao khi một cảm giác sôi sục trong ta” nhưng “Những người bạn tốt, gần đây đă trở nên xa cách v́ tôn ông bên cạnh vừa xây một cửa hàng”.[17]  Thông cảm và chia sẻ với những bất hạnh của người khác th́ dễ, nhưng vui vẻ tán thán thật ḷng về những ǵ người khác hơn ḿnh rất là khó. Không phải là người đại lượng không thể làm được.

NHỮNG SỰ TỐT ĐẸP là chỉ cho những thứ như tiền bạc, tài sản, vật dụng ... nó cũng chỉ luôn cho trí tuệ, đức hạnh hay tánh tốt của một người. Thấy người tài trí hơn ḿnh mà sinh tâm khó chịu, hoặc thấy người bố thí cúng dường nhiều th́ không ưa, rồi t́m cách chê bai hay nói ra nói vô … đều biểu hiện cho tâm ganh ghét đố kỵ nói đây.

Với những việc tốt đẹp của người mà không tùy hỉ được th́ chí ít là đừng ganh ghét. V́ ganh ghét hay đố kỵ ngoài việc biểu hiện tướng ngă của ḿnh, nó c̣n bị quả báo không tốt. “Kinh nói, không có tội nào ác bằng đố kỵ với trí tuệ, tánh tốt và hành động thiện của người”.[18]  Quả báo ḿnh thấy rơ nhất trước mắt là sự bất ổn và mất an lạc của tâm. Ganh ghét, đố kỵ, ghen tuông … không phải là những cảm giác dễ chịu và hạnh phúc đối với ḿnh. Đó là trạng thái đau khổ của ngạ quỉ và địa ngục. 

5. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, dù vật thực không được nhiều cũng không có tâm lẫn tiếc.

VẬT THỰC KHÔNG ĐƯỢC NHIỀU là chỉ cho phần vật chất mà phu nhân có được trong một đời. Tùy duyên thọ thân của mỗi đời mà sự thọ dụng ở mỗi đời khác nhau. Nhưng dù trong cái duyên vừa đủ ăn thôi, bà cũng nguyện không có tâm bủn xỉn đối với chúng sanh. Thói thường của người đời là chỉ cho khi đă dư giả, không th́ thứ ǵ không xài mới tới tay người khác. Người tu Phật th́ không như vậy. Ngày mai chưa biết thế nào, nhưng trước mắt có người cần giúp đỡ, th́ ḿnh nên san sẻ những ǵ ḿnh có … Đó là tâm hạnh của Bồ tát, là việc làm giúp ḿnh xả đi sự ngăn cách giữa cái tôi của ḿnh với cái tôi của người, mở rộng ḷng từ, phá dần tâm chấp thủ và trí phân biệt.

Ở bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La th́ việc không lẫn tiếc này không chỉ nằm trong phạm vi của vật ngoài thân mà “Đối với nội ngoại pháp không có tâm lẫn tiếc”. NGOẠI là chỉ cho tài vật. NỘI là chỉ cho bản thân. Nếu thật sự thấy thân tâm thế giới này là mộng th́ với tài sản và thân thể này, có ǵ mà không cho được khi điều đó mang lại lợi ích cho chúng sanh? 

6. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, không v́ ḿnh mà nhận chứa tài vật. Phàm có thọ nhận, đều v́ thành thục chúng sanh bần khổ.

Lời nguyện này giúp phá trừ sự chấp thủ của người tu cũng là để việc lợi ích cho mọi người được tốt đẹp. V́ có ngă nên có sự chấp thủ của ngă, gọi là ngă sở. Tâm chúng sanh của ḿnh rất buồn cười. Với tiền bạc của người th́ rộng răi thoải mái với việc bố thí lắm. Không có th́ thôi, nhưng lỡ để dành được một đồng th́ lập tức muốn có đồng thứ hai, thứ ba và … không biết bao giờ mới đủ cho khoảng ḷng chúng sanh rộng mở của ḿnh. Có bao nhiêu cũng thấy không đủ th́ việc làm lợi ích cho thiên hạ tất sẽ hạn chế. Lấy tiền thiên hạ làm phước th́ hăng, nhưng đụng đến tiền bạc của ḿnh lập tức có so đo tính toán. V́ vậy, phải chặn đứng ngay ở niệm đầu tiên “Không v́ ḿnh mà nhận chứa tài vật. Phàm có thọ nhận cũng v́ thành thục chúng sanh bần khổ mà thôi”. 

THÀNH THỤC CHÚNG SANH là dùng phương tiện vật chất giúp đỡ khiến họ nhận ra được những ǵ nên làm, những ǵ không nên làm để cuộc sống của họ được vui vẻ và hạnh phúc. Bởi không ai giúp ḿnh được hạnh phúc lâu dài nếu không tự ḿnh có suy nghĩ và hành động phù hợp với qui luật Nhân Quả ở thế gian. Không có suy nghĩ đúng đắn và hành động đúng đắn th́ người có giúp bao nhiêu, khổ vẫn chỉ hoàn khổ.

BẦN KHỔ không phải chỉ có bần khổ về vật chất mà c̣n chỉ cho sự bần khổ về tinh thần. Đói cơm đói gạo mà khổ là lẽ tất nhiên. Nhưng đầy đủ cơm, gạo, nhà lầu, xe hơi mà không biết chút ǵ về luật Nhân Quả ở thế gian, cũng là một thứ khổ không thiếu cái bần của người đời. 

7. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, hành tứ nhiếp pháp mà chẳng cầu báo đáp, dùng tâm không tham, không lợi, không nhàm đủ, không ngăn ngại mà nhiếp thọ chúng sanh.

TỨ NHIẾP PHÁP là 4 pháp dùng để thu phục chúng sanh. Gồm có bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.

1. BỐ THÍ là tặng những thứ ḿnh có cho người. BỐ THÍ TÀI VẬT như giúp đỡ tiền bạc cơm gạo cho những người khó khăn. BỐ THÍ THÂN MẠNG, như ngày nay có người hiến thận hay hiến máu cứu người, đều thuộc loại bố thí này. BỐ THÍ SỰ KHÔNG SỢ như giúp người khi người bị hiếp đáp hoặc gặp chuyện bất b́nh giữa đường v.v... Hai trường hợp này không chỉ dành cho đối tượng là người mà c̣n cho cả loài vật. Cuối cùng là BỐ THÍ PHÁP, là cho ra những lời khuyên đúng thời đúng lúc, khiến người hồi tâm. 

Dù là bố thí nội tài, ngoại tài hay bố thí pháp th́ quan trọng là phải đúng lúc, đúng nơi. Người đang có nhu cầu về thứ ǵ th́ việc bố thí của ḿnh về thứ đó mới có tác dụng. Người đang nghèo đói cần ăn, ḿnh không cho ăn mà cứ dài ḍng văn tự “Cần phải tập bố thí cho người khác mới thoát khỏi cảnh đói nghèo” th́ cũng giống như ngài Xá Lợi Phất, nhè người thổi ḷ mà dạy quán bất tịnh. Song muốn sử dụng đúng pháp đúng thời th́ cần phải có CHÁNH PHÁP TRÍ. Nó là thứ để ta tới lui nhịp nhàng trong vấn đề lợi ích cho tha nhân.

Bố thí CHẲNG CẦU BÁO ĐÁP, là bố thí rồi th́ quên nó đi, coi như chưa từng làm ǵ cho ai hết. Chưa từng làm ǵ cho ai th́ người có đối xử với ḿnh thế nào, ḿnh cũng b́nh thường. Việc lợi ích cho người mới được dài lâu. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La th́ ghi “Không v́ ḿnh mà hành tứ nhiếp pháp”. KHÔNG V̀ M̀NH v́ làm v́ người. Chỉ v́ người mà bố thí nên dù người có thế nào với ḿnh, ḿnh cũng không quan tâm. Chỉ biết người cần ăn th́ ḿnh giúp họ no, người cần hết sợ th́ ḿnh giúp họ hết sợ, người cần một lời an ủi th́ ḿnh tặng một lời an ủi. 

2. ÁI NGỮ là lời nói nhẹ nhàng thương yêu. Người đời có câu “Mật ngọt chết ruồi” v́ phần lớn mọi người đều thích lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, gần gũi. Nhắm vào chỗ đó nên ÁI NGỮ là một trong 4 nhiếp pháp của Bồ tát. Song sự nhẹ nhàng nói đây là v́ lợi ích của người, KHÔNG PHẢI V̀ M̀NH mà nói. Đây là sự khác nhau giữa ái ngữ cũa người đời và người tu. Dùng ÁI NGỮ, không phải để ḿnh trở thành một người đáng mến trước mắt họ, cũng không phải v́ những mục đích riêng tư của ḿnh v.v… mà chỉ v́ để người tiếp thu được lời phải, khiến người có cuộc sống vui vẻ, đạo hạnh tiến bộ, nên nói KHÔNG CẦN BÁO ĐÁP.

3. LỢI HÀNH là khởi thiện hạnh làm lợi ích cho mọi người, khiến họ sinh tâm thân ái mà theo ḿnh học đạo. Thiền sư Lai Quả nói “Lợi hành có 2 thứ : Một là trợ giúp người hành đạo. Hai là làm lợi ích cho mọi người. Như người muốn ở tùng lâm không có y áo, không có lộ phí v.v… th́ t́m cách cho họ áo chăn của ḿnh, bán y bát của ḿnh cho họ làm lộ phí. Chỉ lo cho người đầy đủ chẳng màng đến sự cần dùng của ḿnh. Bồ tát v́ lợi ích của mọi chúng sanh khiến cho họ được hoan hỉ an vui, lấy cái lợi của ḿnh để làm lợi cho người. Lấy cái pháp của ḿnh đă hiểu ra dạy cho người, lấy cái hạnh ḿnh đă làm mà tập cho người. Người sống trái đạo th́ khuyên họ hối cải … Phải biết tự ḿnh hành đạo là công nhỏ, khuyên người hành đạo là công to, thế nên cái đạo LỢI HÀNH là vô tận vậy”. 

4. ĐỒNG SỰ là thuận theo căn tính ưa thích của từng người mà tùy phần thị hiện cùng làm công việc như họ để khuyến hóa họ. Nghĩa là, muốn vớt người đang ngụp lặn giữ ḍng th́ cũng phải nhảy xuống chỗ họ mà vớt, không thể đứng trên bờ huơ tay huơ chân và miệng th́ kêu inh ỏi. Do bi nguyện nên chư vị Bồ tát có thể hóa thân thành anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái hoặc làm cùng nghề, hoặc cùng một nghiệp với người ḿnh muốn hóa độ. Như cùng nghiệp uống rượu, nghiệp nhiều chuyện, hay cùng một nghề giáo viên chẳng hạn. Có vậy, mới có điều kiện hướng người cùng về Chánh Đẳng Chánh Giác. Thiền sư Lai Quả nói “Muốn độ người ăn xin th́ phải cùng người ấy làm nghề ăn xin để độ họ … muốn độ con heo th́ cũng phải đầu thai thành con heo để mà độ … gọi là đồng sự nhiếp”. 

Suy nghĩ và hành động của ḿnh một khi đă thành thói quen,[19]  rất là khó bỏ. Như những người nghiện rượu. Có người biết rượu là độc, tương lai sẽ xơ gan, sẽ xảy ra tai nạn, là xô sát … mà thấy rượu là quên tất cả. Đó là v́ thói quen có năng lực rất mạnh (Phật gọi là nghiệp lực). Nó chính là động lực đẩy ta luân hồi trong sanh tử. Song thói quen này thuộc về hành động, chỉ cần ḿnh đủ ư chí là bỏ được ngay. Nguy cơ nhất là thói quen nằm ở suy nghĩ, mà ta thường gọi là định kiến hay quan niệm. Cái kiểu “Nam vô tửu như kỳ vô phong” th́ thôi, không biết đời nào mới chay tịnh được. Phải chờ một trận “sóng rượu” nào đó khiến ḿnh chết đi sống lại với nó, mới mong thay đổi chút ǵ …

Với những vui, buồn, thương, giận và suy nghĩ của con người, là thứ được huân tập thành ruột thành rà từ vô thủy kiếp đến nay, lại càng khó bỏ. Nói chúng là vọng buông đi, không mấy ai chịu buông. Buông mà thấy chướng thân, chướng tâm thành không dám buông th́ không có ǵ để nói. Nhưng có người buông được mà không chịu buông. Tiếc! Ngay cả sự vật vă, đau khổ, buồn bă, một khi quen với nó rồi, nó cũng dẫn người chạy ḷng ṿng như một cái thú chứ chẳng phải chơi. Bà vật vă, đau khổ, mất cân bằng v́ đứa con thân yêu vừa qua đời, nhưng khi được các bậc thầy chỉ cho phương thức đơn giản để trị đau khổ th́ h́nh như bà không muốn. Bà sợ h́nh ảnh của con sẽ phai mờ trong kư ức của bà th́ phải … Không muốn thoát khổ th́ không ai có thể giúp ḿnh hết khổ. Cũng như không bỏ được những thói quen về thân, khẩu, ư th́ không thể có được cuộc sống b́nh an hạnh phúc, nói ǵ đến việc làm Phật, làm Tổ. Ông Tổ vật lư Einstein nói “Đời nay thay đổi một tư kiến c̣n khó hơn phá một hạt nhân nguyên tử”. Song nếu không thay đổi được những suy nghĩ sai lầm - là nền tảng cơ bản cho một hành động sai lầm, là nguyên nhân dẫn đến khổ đau - th́ làm sao có thể thành thục chúng sanh? Mới thấy, thành thục cho được chúng sanh trong tâm đă khó, nói ǵ là chúng sanh bằng xương bằng thịt ngoài tâm. Sức lực là vô kể mà thời gian th́ vô tận. Không có tâm “Không tham, không lợi, không nhàm đủ, không ngăn ngại” khó mà làm được. V́ thế, nó trở thành một trong các lời thệ nguyện của phu nhân Thắng Man. 

Bản Hán của ngài Cầu Na Bạt Đà La th́ ghi là TÂM KHÔNG ÁI NHIỄM thay cho tâm không tham, không lợi. TÂM KHÔNG ÁI NHIỄM, nghĩa của nó rơ ràng và dễ hiểu hơn ‘Tâm không tham, không lợi’. Như với việc LỢI HÀNH, giúp người với tâm không ái nhiễm th́ không v́ thương mới giúp, ghét th́ không. Giúp rồi cũng không lấy đó để tính ơn, tính nghĩa. Chỉ với mục đích duy nhất là làm lợi ích cho người mà thôi.

Trong cảnh ĐỒNG SỰ, nếu có tâm ái nhiễm th́ thay v́ hướng người đó về đạo bồ đề, ḿnh lại bị người lôi theo nghiệp tập của người. Thay v́ làm một anh say rượu để lôi những anh say rượu cùng tỉnh, ḿnh lại thành một tay bợm nhậu của đám xỉn say. Hạnh nguyện tiêu tùng mà công phu th́ sập tiệm. V́ vậy, tâm không ái nhiễm rất cần thiết cho pháp đồng sự. 

8. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, nếu gặp những ai không nơi nương tựa, bị các thứ tối tăm ràng buộc, bịnh tật, ưu năo, nguy ách th́ con chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nguyện sẽ làm cho họ được an ổn, dùng nhiều điều lợi ích khiến họ hết khổ.

 BI và TRÍ là thứ sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, chỉ do vô minh che lấp mà thành nhân ngă phân biệt. Song dù ở hoàn cảnh nào th́ bản chất tốt đẹp kia vẫn không mất. V́ thế, ai gặp kẻ cô độc, bần hàn, đau khổ cũng thấy động ḷng thương xót và muốn giúp đỡ. Song người hay gặp khổ nạn, tai ương, nghèo khổ thường là người thiện căn kém cơi. Nói THƯỜNG chứ không nói TẤT CẢ. Thiện căn kém th́ tập nghiệp xấu cũng nhiều. Tham nhiều, sân nhiều, mà ngu si cố chấp cũng nhiều. Ngu si cố chấp nhiều nên nhận lănh của người th́ nhiều mà khi nào cũng sinh tâm ghét bỏ, ganh tỵ, oán thù. Cho một đ̣i hai, thêm tṛ gian dối lừa phỉnh. Chỉ biết cái ǵ là vừa ḷng, chứ không phân biệt được cái ǵ là tốt cho ḿnh, cái ǵ không tốt cho ḿnh, nên khuyên lời phải ít chịu nghe. Tâm xấu xa mờ mịt nên cảnh giới chung quanh không thể thuận ḷng. Không thuận ḷng th́ sân hận và tham lam càng tăng trưởng. Nghĩa là, đủ thứ rối ren và rắc rối … V́ vậy, ḷng tốt của ḿnh đối với người dễ sinh giới hạn, ḷng nhiệt t́nh của ḿnh dễ bị lụi tàn. Việc nhiếp hóa thành thất bại. Để khắc phục điều đó, bà đă nguyện “Chẳng bao giờ bỏ rơi họ, nguyện sẽ làm cho họ được an ổn, dùng nhiều điều lợi ích khiến họ hết khổ”. 

LÀM NHIỀU ĐIỀU LỢI ÍCH để họ hết khổ là dùng nhiều phương tiện làm cho họ thay đổi những quan niệm sai lầm. V́ họ chỉ hết khổ thật sự khi tự họ nghĩ thiện và làm thiện. Thay đổi một tư kiến không phải là điều dễ làm. Không phải trong một đời mà có thể làm xong. Cũng không phải chỉ thuần những thuận hạnh mà có thể làm thay đổi đi một tư kiến. Có khi phải dùng cả những nghịch hạnh để mà nhiếp hóa. Cho nên, LÀM LỢI ÍCH không có nghĩa là làm cho người được sung sướng hạnh phúc.[20]  Có khi rồi cũng cần một sự đau khổ trong hiện tại là đằng khác. Chủ yếu là để người chuyển đi một tư kiến sai lầm, hầu có được một cuộc sống thiện về lâu về dài cho những kiếp sau.

9. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, phàm thành ấp hay tụ lạc nào mà con nhiếp giữ, nếu có các ác luật nghi hủy phạm giới cấm thanh tịnh của Như Lai th́ điều phục được, con sẽ điều phục ; nhiếp thọ được, con sẽ nhiếp thọ. V́ cớ sao? V́ điều phục và nhiếp thọ th́ chánh pháp được tồn tại lâu dài. Chánh pháp tồn tại lâu dài th́ chúng sanh ở các cơi trời và người sẽ thêm nhiều, c̣n ác đạo th́ giảm thiểu. Có thể khiến cho bánh xe pháp của Như Lai thường chuyển. 

Hiện thân kiếp này của bà là vương phi nên bà nói “Phàm thành ấp hay tụ lạc nào mà con nhiếp giữ”. Song dù không là vương phi th́ nơi nào bà đă đặt chân đến, nơi đó chính là nơi bà thực hành hạnh nguyện của ḿnh, nên nói NHIẾP GIỮ.

ÁC LUẬT NGHI là những hành động đưa con người đến cái quả là bịnh tật, tai họa và đau khổ. Theo các kinh luận th́ những công việc như bùa thuật, săn bắn, làm các nghề sinh sát, hàng rượu v.v… đều gọi là ác luật nghi. Ngoài ra nó c̣n chỉ cho những hành động phạm giới mà Như Lai đă đặt ra, như Phật tử tại gia mà phạm 5 giới của người tại gia, Tỷ kheo mà phạm 250 giới của Tỷ kheo v.v... Luận Câu Xá nói “Ác luật nghi là điều mà người trí quở trách nhàm chán nên gọi là ác hành. V́ không ngăn hành vi ác của thân và miệng nên gọi là bất luật nghi. Nó làm chướng ngại giới luật thanh tịnh nên gọi là ác giới”. V́ lẽ đó mà đây nói “Các ác luật nghi hủy phạm giới cấm của Như Lai”.

ĐIỀU PHỤC và NHIẾP THỌ đều mang ư nghĩa là dẹp đi các ác luật nghi ấy, không để nó có cơ hội phát triển. Song NHIẾP THỌ c̣n mang thêm tính THUẬN THEO. Không những chỉ bỏ đi các ác luật nghi mà c̣n quay về qui thuận Phật pháp. “Điều phục được th́ con điều phục, nhiếp thọ được th́ con nhiếp thọ” là, việc nào bà cũng gắng hết sức ḿnh. Song thứ ǵ cũng phải tùy duyên. Không có duyên th́ ngay cả Phật cũng bó tay nói là bà. Bà không phải là thứ quyết định mọi vấn đề mà chỉ là cái duyên hy vọng để cái quả gặt được trở nên tốt hơn. V́ thế, tùy sự tùy việc mà làm để đạt được kết quả tối cùng cho sự việc đó. Không đúng duyên th́ trước mắt, bà cũng không điều phục, cũng không nhiếp thọ. Chờ gieo duyên, kiếp sau tính tiếp.

V̀ SAO là hỏi để hiểu v́ sao phải điều phục và nhiếp thọ những thứ đó. V́ điều phục pháp ác và nhiếp thọ người qui thuận Phật pháp th́ thiện pháp được tăng trưởng. Thiện pháp tùy thuận với chánh pháp. Chánh pháp nhiếp thọ thiện pháp. Thiện pháp c̣n th́ chánh pháp c̣n. Chánh pháp c̣n th́ thiện pháp c̣n. Nên nói “Điều phục và nhiếp thọ th́ chánh pháp được tồn tại lâu dài”. 
Pháp thế gian là pháp duyên khởi. Pháp này luôn liên quan mật thiết đến pháp kia. Cái xấu của pháp này kéo theo cái xấu của pháp kia. Cái tốt của pháp này cũng kéo theo cái tốt của pháp kia. Chặn đứng được pháp ác này th́ sẽ chặn bớt được pháp ác khác. Pháp thiện này tăng trưởng th́ pháp thiện khác cũng tăng trưởng. V́ thiện pháp tùy thuận với chánh pháp nên thiện pháp tăng trưởng th́ chánh pháp tồn tại lâu dài. 

Như chuyện ma túy x́ ke chẳng hạn. Ma túy th́ thường đi liền với trộm cắp, giết người, đỉ điếm, bệnh tật và tham nhũng. Ngăn chặn được ma túy th́ cũng ngăn chặn được những thứ c̣n lại. Người sống thiện, không dính vào những việc xấu th́ dễ gần gũi và chấp nhận giới luật cũng như những lời Phật dạy trong kinh hơn là những người phạm vào các giới luật v.v… Như người không nghiện rượu, không tà dâm v.v… th́ dễ dàng chấp nhận 5 giới của Phật tử tại gia hơn là một chàng bợm nhậu hay một cô nàng đang ngoại t́nh. Do đó việc nhận lănh chánh pháp của Như Lai cũng dễ dàng hơn. Nên nói “Có thể khiến cho bánh xe pháp của Như Lai thường chuyển”.

10. Thế Tôn! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất. V́ cớ sao? V́ để mất chánh pháp tức là mất Đại thừa. Để mất Đại thừa tức là mất Ba la mật. Để mất Ba la mật th́ buông Đại thừa. Chư Bồ tát nào nếu đối với pháp Đại thừa không có tâm quyết định, nhiếp thọ chánh pháp không kiên cố th́ chẳng thể kham nhận cảnh giới siêu vượt phàm phu, là tổn thất rất lớn.

Đây là lời hoằng thệ cuối cùng của bà : Nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất, là thọ nhận và ǵn giữ chánh pháp không để mất. CHÁNH PHÁP là tất cả những ǵ mà Như Lai và chư vị Bồ tát đă nói và đă chứng. Phần nói là những thứ như kinh, luật, luận của Tam thừa. Phần chứng là phần thể nghiệm của bản thân về những ǵ được nói đó. CHÁNH PHÁP nói đây là chỉ cho Đại thừa. V́ Đại thừa thu nhiếp hết các thừa dưới mà phần thâm nghĩa của Đại thừa lại chính là Phật thừa. Song những ǵ thuộc về hữu vi như kinh, luật, luận, pháp môn th́ vô thường. Chỉ có pháp vô lậu vô vi mới thường hằng bất biến. V́ vậy, chánh pháp hay Đại thừa nói đây là phần trực nghiệm chủng vô lậu của bản thân, là muốn nói đến phần thâm nghĩa của Đại thừa. Một khi trực nghiệm được phần thâm nghĩa của Đại thừa th́ gom thâu đầy đủ. Tất cả pháp đều là Phật pháp. 

ĐẠI THỪA là ǵ?

Trên văn từ định nghĩa, Đại thừa có rất nhiều nghĩa. Hăy nghe Bồ tát Long Thọ nói về nghĩa Đại thừa trong luận Thập Nhị Môn “Đối với Nhị thừa th́ trên nên gọi là Đại thừa. Hay diệt trừ các khổ của chúng sanh cho việc lợi ích lớn nên gọi là Đại. Chư Phật là bậc tối đại mà thừa này hay đến nên gọi là Đại v.v… Phần thâm nghĩa của Đại thừa chính là KHÔNG. Nếu thông suốt nghĩa này là thông suốt Đại thừa, đầy đủ các Ba la mật, không có chướng ngại”. 

Câu cuối là câu đáng để ta ghi nhận : Thông suốt nghĩa KHÔNG th́ thông suốt ĐẠI THỪA, đầy đủ các Ba la mật. THÔNG SUỐT, nghĩa là phải tự ḿnh trực nhận, tự ḿnh kinh nghiệm qua. C̣n chưa suốt được th́ phải mượn phần văn tự sau để tạm thông về cái KHÔNG đó.

KHÔNG là chỉ cho cái KHÔNG của tâm ḿnh. Những thứ cảm giác như vui, buồn … hay những ḍng suy nghĩ ḿnh đang sở hữu đây không phải là tâm ḿnh. Phật gọi chúng là vọng tưởng. KHÔNG, nghĩa là LY[21]  hết những thứ đó đi. Nhưng không phải là trạng thái không tịch của các vị Nhị thừa, c̣n có cảnh giới để chứng đắc. Trạng thái không tịch đó, Tổ cũng gọi là vọng mà là vọng giác. Khi tâm không bị vướng vào hai thứ trên, nó sẽ trở lại trạng thái nguyên thủy của nó : Thanh tịnh, trùm khắp, với vô vàn công đức chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ 4 đức thường, lạc, ngă, tịnh. Đạt được cái KHÔNG đó là thâm nhập được cội nguồn chân thật của tất cả pháp. Cái không ấy chính là THỂ TÁNH của tất cả thế gian và mọi loài chúng sanh. Kinh luận gọi cái không ấy là tánh không, là chân như, là chân không diệu hữu, là Phật, là Như Lai. Phần thâm sâu của Đại thừa chính là cái KHÔNG này. Cái không ở NHÂN,[22]  gọi là tánh không hay Phật tánh. Cái không ở QUẢ,[23]  gọi là chân không diệu hữu hay Như Lai.[24]  Chính là Phổ Quang Như Lai mà phu nhân được thọ kư trong tương lai. 

Nghĩa là, sau một quá tŕnh dài vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp NHIẾP THỌ CHÚNG SANH trong tâm và NHIẾP THỌ CHÚNG SANH ngoài tâm, bà sẽ trở về được tâm chân thật của chính ḿnh, gọi là thành Phật. 

Như vậy, lời nguyện NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP CHẲNG ĐỂ MẤT với một dọc dài những danh từ và lư luận … gom lại chỉ có một ư nghĩa duy nhất : Mất chánh pháp th́ không thể thành Phật với pháp hiệu là Phổ Quang Như Lai mà Phật đă thọ kư. V́ thế, từ khi phát những lời hoằng thệ này cho đến khi thành Phật, bà nhất quyết nhiếp thọ chánh pháp không để mất. Không mất nhiếp thọ chúng sanh trong tâm th́ trí Phật được hiển lộ. Không mất nhiếp thọ chúng sanh ngoài tâm th́ bi nguyện được tṛn đầy. Bi trí cả hai đều đầy đủ th́ viên măn quả Phật.

Giờ nói về việc “Mất Đại thừa là mất Ba la mật”. 
Trong luận Đại Thừa Khởi Tín, BA LA MẬT là đối tượng tu hành của hạng Giải Hạnh Phát Tâm. Là những người đă có niềm tin sâu sắc và thâm hiểu được ít nhiều về tánh Phật của ḿnh dù chưa thực chứng được Phật tánh là ǵ. Pháp tu của những vị này là LY TƯỚNG, tức không c̣n đặt nặng vào những h́nh tướng bên ngoài như kính Phật, cúng dường Tăng hay chỉ dừng ở mức độ tàm quí và loại bỏ các niệm ác. Các vị đă bước qua giai đoạn phá trừ sự sanh khởi của tâm. Niệm thiện hay niệm ác đều buông, để đưa tâm về chỗ vô trụ vốn sẵn của nó. 

BA LA MẬT, là cứu cánh hay đến bờ kia. Pháp nào đưa người tu đến bờ giác ngộ rốt ráo gọi là Ba la mật. Muốn được gọi là Ba la mật th́ pháp ấy phải hội đủ 5 điều kiện : Không nhiễm trước, không luyến tiếc, không tội lỗi, không phân biệt và hồi hướng chân chính.[25] 

Với những điều kiện của BA LA MẬT trên, nếu không nhiếp phục được chúng sanh trong tâm và không có bi nguyện sâu dày th́ khó mà thực hiện được các Ba la mật. V́ thế nói “Nhiếp thọ chánh pháp chẳng để mất v́ để mất chánh pháp tức là mất Đại thừa. Để mất Đại thừa tức là mất Ba la mật”. Không thực hiện được các hạnh Ba la mật, tức buông phương tiện tu hành và buông luôn việc “đến bờ kia”, nên nói “Để mất ba la mật th́ buông Đại thừa”. 

“Đối với pháp Đại thừa không có tâm quyết định” là nói đến niềm tin của ḿnh đối với Đại thừa chưa dứt khoát. Nay Đại thừa, mai Tiểu thừa, ngày kia đi làm việc phước thiện. Nay tu pháp này, mai lựa pháp khác v.v… chẳng trụ đâu được lâu, cứ “Phất phơ như lông trong hư không”. Tâm không quyết th́ vui đâu gá đó. Làm việc ǵ cũng như sốt rét cách ngày, gặp khó liền nản, nên nói “Nhiếp thọ chánh pháp không kiên cố”. 

Tu hành mà niềm tin không vững vàng th́ trên sự chẳng thể khả quan, kết quả cũng không thể có. CẢNH GIỚI SIÊU VIỆT PHÀM PHU là chỉ cho phần thâm nghĩa của Đại thừa. Cảnh giới PHÀM PHU nói đây cũng chỉ luôn cho trạng thái không tịch của Nhị thừa. 

Thế Tôn! Nếu hiện tại và vị lai mà nhiếp thọ chánh pháp th́ chư vị Bồ tát sẽ được đầy đủ lợi ích rộng lớn không có bờ mé. Con phát các thệ nguyện này, dù thánh chủ Thế Tôn đă chứng tri, nhưng với các chúng sanh căn lành cạn mỏng, có người sẽ khởi lưới nghi. V́ 10 điều thệ nguyện này khó thành tựu nên các người đó đêm dài tập quen với pháp bất thiện, sẽ chịu nhiều khổ năo. V́ muốn lợi ích hơn cho họ, nay đối trước Phật con xin chân thành phát nguyện. Bạch Thế Tôn! Con nay phát 10 thệ nguyện này, nếu chân thật chẳng hư dối th́ trước đại chúng đây, hoa trời sẽ rơi, âm thanh vi diệu của trời sẽ trổi.

Đây là lời gút kết của phu nhân Thắng Man. Nếu như 10 điều bà nguyện đây là chân thật không hư dối th́ xin cho hoa trời mưa xuống, nhạc trời trổi lên để chứng minh điều bà đă thệ nguyện. CHÂN THẬT KHÔNG HƯ DỐI là, bà đă phát nguyện th́ nhất định bà sẽ làm được và những lời hoằng thệ đó là phương tiện đúng đắn dẫn bà đến cứu cánh. Bà xin như vậy để làm ǵ? Để khuyến dụ mấy vị căn lành cạn mỏng, là chỉ cho mấy vị c̣n vướng nặng ở tướng bên ngoài. V́ sao lại chấp vào tướng bên ngoài? V́ không đủ trí tuệ.

Những ǵ phu nhân vừa nói, Phật đều chứng tri v́ Phật có trí tuệ nh́n thấu tất cả. Nhưng với người căn lành cạn mỏng th́ khác. V́ không đủ trí tuệ nên các vị chỉ biết dựa vào những h́nh thức bên ngoài. Với h́nh tướng của một người nữ lại là một vị vương phi giàu sang phú quí, nói đến chuyện tu hành đă là khó, huống là nguyện làm những điều quá khó làm. V́ thế những hiện tướng như hoa trời rơi, âm thanh vi diệu trổi là việc cần thiết. Bà phải nương vào những ảnh tượng đó để khuyến dụ tha nhân. Phần sau chứng minh điều bà làm không hề dư thừa.

Phu nhân Thắng Man ở trước Như Lai vừa dứt lời xong, th́ trên hư không mưa hoa liền rơi, âm thanh vi diệu cơi trời liền trổi với lời khen ngợi “Lành thay, phu nhân Thắng Man! Đúng như lời bà nói, chân thật không có đổi khác”. Khi chúng hội thấy điềm lành đó, tâm không c̣n nghi hoặc mà rất vui mừng, đồng thanh xướng lên “Nguyện cùng phu nhân Thắng Man sanh ra chỗ nào cũng cùng chung hạnh nguyện”.

Phật Thế Tôn thọ kư cho họ được như sở nguyện. 

Dù trước đó Phật đă xác nhận phu nhân sẽ thành Phật ở cơi đó vào thời gian đó, nhưng khi Thắng Man phát lời thệ nguyện, hội chúng nghe th́ nghe, mà tin th́ không dám tin. Đúng như điều bà đă dự đoán. Những lời bà nói ra chỉ có Phật mới chứng tri được, c̣n chúng hội th́ phải “Thấy điềm lành đó, tâm không c̣n nghi hoặc mà rất vui mừng, đồng thanh xướng lên rằng …”. Nhờ thấy điềm lành đó, chúng hội mới chịu tin. Song nhờ vậy, ta mới thấy ḿnh có phần : Người dù căn lành cạn mỏng bao nhiêu cũng có thể thọ 10 hoằng thệ này. Chỉ cần có niềm tin và có quyết tâm th́ sẽ làm được. Không phải chỉ người có trí tuệ như phu nhân Thắng Man mới dám thệ nguyện.

ĐIỀM LÀNH nói đây là chỉ cho những duyên giúp cho một vị Bồ tát thực hành bi nguyện của ḿnh được vuông tṛn. Nếu thực là một vị có công phu đắc lực, có ḷng tha thiết đối với vấn đề lợi ích cho tha nhân, th́ ḿnh sẽ có được những phần duyên trợ giúp này. Nó không hẳn chỉ nằm ở việc hoa trời rơi hay nhạc trời nổi mà rất nhiều h́nh thức b́nh thường khác. Có khi chỉ là một duyên b́nh thường khiến lời nói của ḿnh có giá trị để người phát niềm tin thuận theo, khiến việc nhiếp hóa được dễ dàng.

Cha anh bạn tôi là một người rất thực tế. Nói thực tế v́ ông không tin vào việc phước thiện, không tin vào những thứ mà mắt thường không cảm nhận được. Như nói đến tiền bạc th́ không thể do bố thí cúng dường mà được giàu sang. Phải là tích chứa, thâu gom và làm cật lực mới có tiền. Quan niệm như vậy nên ông không thích bố thí cúng dường, cũng không thích con cháu ḿnh bố thí cúng dường. Hai chữ ‘thực tế’ muốn nói đây là như vậy. 

Anh không muốn cha vướng vào những suy nghĩ không đúng, có thể trải dài sự nghèo khó vào những kiếp sau, nên trong những buổi chuyện tṛ anh hay nói về phước đức, là cái quyết định rất nhiều đối với đời sống thường nhật của một con người. Nghe th́ nghe, nhưng tin th́ tôi biết ông cụ không tin.

Nhân duyên đến, cây đèn lớn như một dĩa bay trên trần nhà bỗng nhiên rớt xuống. Nó rớt vào lúc mà người xích lô vừa đi ra và ông cụ chưa kịp bước tới. Câu mà ông cụ buộc miệng nói sau đó là “Không có phước th́ chết rồi! Ḿnh không chết mà thằng xích lô chết, ḿnh cũng chết”. Nghĩa là, trong thâm tâm, ông cụ đă ít nhiều công nhận phước đức là thứ quyết định ít nhiều ở cuộc đời này, không hẳn chỉ có sức lực của con người. Đó là dấu hiệu thay đổi đầu tiên cho một tư kiến, là cái nhân để có những cái quả khác trong tương lai.

Thật ra, những loại điềm lành đó không hẳn chỉ do công đức hạnh nguyện của người nhiếp hóa mà c̣n có phần phước đức của người được nhiếp hóa nữa. Thấy được điềm lành đó để tin mà làm theo c̣n phụ thuộc vào phần phước đức của người được thấy. Không có phước báu và căn lành của chính ḿnh th́ không đủ duyên để gặp được những điều như vậy, để niềm tin h́nh thành mà phá đi những tư kiến không đúng

Chỉ rơ 3 thứ vô minh : Vô minh trụ địa, tứ trụ địa phiền năo và hiện khởi phiền năo. Hiển bày 2 loại sanh tử là Biến dịch sanh tử và Phần đoạn sanh tử. Cho thấy niết bàn của La Hán và Bích Chi Phật chưa phải là niết bàn rốt ráo. Chưa chứng được chỗ rốt ráo nên tâm La Hán và Bích Chi Phật c̣n nhiều hạn chế, trí tuệ và công đức của chư vị không thể như Phật. 

Như Phật Thế Tôn nói LỤC XỨ là chánh pháp trụ, chánh pháp diệt, biệt giải thoát, tỳ nại da, chánh xuất gia và thọ cụ túc. V́ Đại thừa mà nói 6 thứ này. V́ sao? Chánh pháp trụ là v́ Đại thừa mà nói. Đại thừa trụ th́ chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là v́ Đại thừa mà nói. Đại thừa diệt th́ chánh pháp diệt. Biệt giải thoát và tỳ nại da, 2 pháp này danh th́ khác mà nghĩa lại đồng. Tỳ nại da là pháp học của Đại thừa. V́ sao? V́ cầu Phật rồi xuất gia mà thọ cụ túc. Cho nên, giới uẩn Đại thừa là tỳ nại da, là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.

“Chánh pháp trụ là v́ Đại thừa trụ, chánh pháp diệt là v́ Đại thừa diệt” nói lên tầm mức quan trọng và tính quyết định của Đại thừa đối với chánh pháp. 

BIỆT GIẢI THOÁT là chỉ cho phần GIỚI, như 5 giới của Phật tử tại gia, 250 giới của Tỷ kheo v.v… TỲ NẠI GIA là một trong 3 pho tam tạng nói về LUẬT, cũng bao gồm những điều răn dạy như giới, nên đây nói “Biệt giải thoát và tỳ nại da, 2 pháp này danh th́ khác mà nghĩa lại đồng”. Chúng là pháp học của Đại thừa. Nói chúng là pháp học của Đại thừa v́ có cầu làm Phật mới xuất gia và thọ cụ túc. CỤ TÚC là giới của Tỷ kheo và Tỷ kheo ni, là giới cao nhất trong BIỆT GIẢI THOÁT.

GIỚI UẨN là chỉ cho sự nhóm họp của tất cả giới.  CHO NÊN … là câu tóm kết về giới Đại thừa. 

Bạch Thế Tôn! A La Hán th́ không có xuất gia và thọ cụ túc. V́ sao? V́ A La Hán chẳng cầu Như Lai rồi xuất gia mà thọ cụ túc. 

Chư vị La Hán ngày xưa, thấy vị nào cũng đầu tṛn áo vuông không có vị nào mang tướng cư sĩ. Đây v́ sao nói A La Hán không có xuất gia và thọ cụ túc? Chỉ v́ các vị cầu quả A La Hán mà không cầu quả vị Phật. V́ cái cớ ấy mà nói các vị không xuất gia, không thọ cụ túc dù mấy thứ đó các vị làm đầy đủ. 

A La Hán có cái tưởng sợ sệt mà qui y Như Lai. V́ sao? V́ đối với mọi việc làm, A La Hán có cái tưởng sợ sệt như có người cầm kiếm muốn đến hại ḿnh. Cho nên, A La Hán chẳng chứng được sự an lạc do xa ĺa rốt ráo. Thế Tôn! Qui y mà chẳng nhờ qui y, như các chúng sanh không có qui y, cái ǵ cũng sợ sệt. V́ để an ổn mà cầu qui y. Thế Tôn! A La Hán cũng vậy, có tâm sợ sệt nên qui y Như Lai. Cho nên A La Hán và Bích Chi Phật sanh pháp vẫn c̣n, phạm hạnh chưa thành, chỗ làm chưa xong, c̣n có chỗ đoạn, v́ chưa được cứu cánh, c̣n cách xa niết bàn. V́ sao? V́ chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới chứng được niết bàn, thành tựu vô lượng tất cả công đức chẳng thể nghĩ bàn. Chỗ cần đoạn đều đă đoạn, rốt ráo thanh tịnh, làm chỗ chiêm ngưỡng cho loài hữu t́nh, siêu vượt cảnh giới Nhị thừa và Bồ tát. A La Hán th́ chẳng như thế. Nói ‘được niết bàn’ chỉ là phương tiện của Phật. Cho nên, A La Hán c̣n cách xa niết bàn.

Mấy vị không cầu Phật đạo chỉ cầu A La Hán v́ các vị có tâm sợ sệt đối với thế gian, chỉ muốn cầu sự an ổn cho ḿnh. V́ thế, qua được phần thọ ấm và tưởng ấm, các vị trụ luôn trong trạng thái yên lắng của hành ấm không chịu ra nữa. Trong khi muốn thành Phật th́ phải trải dài sanh tử nhiếp hóa chúng sanh hữu duyên. Đó chính là quá tŕnh tiếp duyên để thanh lọc phần tập khí ẩn sâu trong thức tạng của mỗi người. Vào ma đạo để thành Phật đạo. Kinh Duy Ma nói “Bồ tát thực hành phi đạo là thông đạt Phật đạo”. Vào phi đạo mà không để ma đạo làm nhiễm là thông đạt Phật đạo. V́ có tâm sợ sệt, không dám vào ma đạo để hoàn thành Phật đạo nên nói “A La Hán chẳng chứng được sự an lạc do xa ĺa rốt ráo”. XA L̀A RỐT RÁO là xa ĺa phần tập khí từ vô thủy vô minh, đây gọi vô minh trụ địa. Bởi phần vô minh trụ địa này chưa hết nên các phiền năo sẽ sanh khởi khi tiếp duyên. Tâm đă hưởng được cái lạc của sự không sanh khởi mà giờ khởi lại th́ thấy bất an. Quả là phiền năo!

Như người nghiện rượu rồi cai rượu. Gọi là người hết nghiện khi đối duyên có rượu mà ḿnh vẫn b́nh thản y nhiên. Cái b́nh thản đó là do thói quen uống rượu đă hết mà chủng tử mê rượu cũng bị dẹp bỏ hoàn toàn. C̣n cai rượu, không tiếp duyên với rượu th́ yên mà có rượu, ḷng vẫn thấy lợn cợn th́ chưa gọi là hết con ma rượu. Đó là v́ thói quen uống rượu th́ hết mà hơi hướm (tập khí) uống rượu bên trong vẫn c̣n. Tu Đại thừa chính là để thanh lọc luôn phần tập khí này.

Chúng sanh, như người nghiện rượu, t́m rượu uống để thoả măn cơn nghiện, thành cứ theo cái lực của thói quen ấy mà sanh tử vô hạn định. A La Hán th́ như các vị đă cai rượu mà chưa hết tập khí uống rượu. Nên không có rượu th́ các vị yên ả (v́ không c̣n bị thói quen chi phối) mà thấy rượu th́ sự sanh khởi của tâm lại thành h́nh. Đụng duyên th́ không yên ổn, mà tới luôn như chúng sanh th́ không được, nên các vị tính đường tránh duyên cho khỏe, nhập niết bàn cho ăn chắc. Quá tŕnh tu Đại thừa chính là đối duyên để trừ bỏ hẳn cái gốc tập khí bên trong này. Nói chính xác là để phá đi tâm phân biệt của ḿnh. Hết tâm phân biệt th́ nước hay rượu không khác nhau. Độ người hữu duyên cũng chính là độ ngay ḿnh.

Vơ Tắc Thiên đời Đường thỉnh 2 lăo thiền sư vào cung rồi sai thị nữ hầu hạ tắm rửa cho 2 vị. Bà quan sát thấy thiền sư Lăo An ở Tung Sơn thuộc phái thiền Nam Tông th́ vui vẻ tự nhiên, c̣n Thần Tư thuộc phái thiền Bắc Tông th́ không được tự nhiên. Bà khen “Nhờ tắm mới biết được bậc đại nhân”. Bậc đại nhân nói đây là chỉ cho thiền sư Lăo An. Bởi ḷng ông rỗng rang, không vướng vào ái dục cũng không vướng vào giới luật nên mọi thứ thành tự nhiên. C̣n Thần Tư, v́ tâm phân biệt chưa hết nên c̣n e ngại. 

Qui y với Phật tâm của chính ḿnh th́ sẽ được 4 thứ không sợ. Song chư vị Nhị thừa chưa qui y được với Phật tự tâm mà chỉ mới qui y với Phật ngoài tâm, vẫn c̣n bị sự sợ hăi chi phối. V́ thế, tuy qui y rồi mà vẫn “Như các chúng sanh không có qui y” nên nói “Qui y mà chẳng nhờ qui y”. 

Bạch Thế Tôn! Nói “A La Hán và Bích Chi Phật quán sát được 4 trí giải thoát rốt ráo, đắc tô tức xứ” là do Như Lai nói theo ư họ, chẳng phải là cái nói liễu nghĩa. 

Phần LƯ Phật dạy Thanh văn và Duyên giác chưa phải là phần LƯ rốt ráo. LIỄU NGHĨA là chỉ cho phần LƯ rốt ráo, là nói về cội nguồn tột cùng. 

4 TRÍ GIẢI THOÁT là chỉ cho 4 trí sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, việc làm đă xong, chẳng c̣n thọ thân sau. Kinh sẽ giải thích rơ ở phần sau. TÔ TỨC XỨ là chỉ cho chỗ ngưng dứt ngơi nghỉ, chỉ cho trạng thái niết bàn của hàng La Hán.

NÓI THEO Ư HOï là tùy theo căn cơ của họ mà nói. Căn cơ của người chỉ mới tới đó th́ chỉ nói tới đó thôi. Nói nữa, chúng ngán chúng đi hết th́ mất cả ch́ lẫn chài. Đây là do tâm chúng sanh nhiều tầng nhiều lớp, nói thật không chịu nghe mà phải nói ḷng ṿng. 

V́ sao? Là để giải thích v́ sao nói phần lư Phật dạy Thanh văn Duyên giác đó chưa phải là chỗ rốt ráo.

V́ có 2 thứ tử. Một là phần đoạn tử. Hai là biến dịch tử. PHẦN ĐOẠN TỬ là sự tương tục của loài hữu t́nh. BIẾN DỊCH TỬ là, A La Hán, Bích Chi Phật, tự tại Bồ tát tùy ư sanh thân cho đến quả vị bồ đề.

A LA HÁN là quả vị tối cùng của Thanh văn.
BÍCH CHI PHẬT là quả vị tối cùng của Duyên giác.

TỰ TẠI BỒ TÁT TÙY Ư SANH THÂN là chỉ cho các vị Bồ tát thuộc hàng Thập Địa. Các vị đă trực chứng được nhân Phật tánh nên có thể theo ư nguyện mà hiện thân tướng làm lợi ích chúng sanh, nên nói TỰ TẠI. 

QUẢ VỊ BỒ ĐỀ là chỉ cho quả vị Phật. CHO ĐẾN QUẢ VỊ BỒ ĐỀ là chỉ cho hàng Bồ tát sát quả vị Phật. 

Các vị đó chỉ mới qua được PHẦN ĐOẠN TỬ mà c̣n vướng phần BIẾN DỊCH TỬ. 

PHẦN ĐOẠN TỬ là chỉ cho sự tương tục của loài hữu t́nh. Theo luận Thành Duy Thức, khi nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền năo chướng làm duyên th́ sinh ra cái quả dị thục thô phù trong tam giới với thân mạng sống lâu hay chết yểu. Do sức nhân duyên mà có sự hạn định đó nên gọi là PHẦN ĐOẠN SANH TỬ. Tức nhân duyên tụ th́ có thân, nhân duyên tan th́ thân mất như thân ta hiện nay với sự sống chết rơ ràng liên tục.

Khi nghiệp vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên th́ sinh ra cái quả là thân mạng thù thắng vi tế. Do bi nguyện mà thân mạng này chuyển dịch không hạn định nên gọi là BIẾN DỊCH. Đây là do định lực vô lậu làm duyên trợ giúp chiêu cảm ra, nên diệu dụng khó lường. Thân biến dịch này chính là ư sanh thân của chư vị Bồ tát Thập địa cùng với thân của A La Hán và Bích Chi Phật. 

Trong 2 thứ tử, do PHẦN ĐOẠN TỬ mà nói A La Hán và Bích Chi Phật sanh được cái trí TA SANH ĐĂ TẬN. Do chứng được quả hữu dư nên sanh được cái trí PHẠM HẠNH ĐĂ THÀNH, là chỗ mà tất cả ngu phu đều chẳng thể làm, 7 loại học nhân chưa thể thành tựu. Phiền năo tương tục đă đoạn rốt ráo, nên được cái trí VIỆC LÀM ĐĂ XONG. Thế Tôn! Nói được cái trí CHẲNG THỌ HẬU HỮU là, A La Hán và Bích Chi Phật chưa thể đoạn tất cả phiền năo, chẳng rơ tất cả trí thọ sanh. V́ sao? V́ A La Hán và Bích Chi Phật chưa đoạn hết hữu dư phiền năo nên chẳng thể rơ tất cả thọ sanh.

Đây là giải thích về 4 danh xưng mà Phật đă gắn cho A La Hán. Nói TA SANH ĐĂ TẬN là tận được phần đoạn tử của chúng sanh, không phải tận được phần biến dịch tử. TA SANH ĐĂ TẬN mà gọi là TRÍ v́ không có thứ ǵ ngoài tâm. Khi đạt được cái trí đó, tức an trụ được trong trạng thái thanh tịnh của tâm th́ các chủng tử hữu lậu không c̣n sanh khởi biến hiện thành thế giới, thân và tâm như chúng ta đang thọ nhận hiện nay, nên nói SANH ĐĂ TẬN. 

Nói PHẠM HẠNH ĐĂ THÀNH v́ chứng được quả hữu dư. Quả hữu dư là chứng quả rồi mà c̣n dư lại một chút ǵ đó. Cái chút đó chỉ cho phần vô minh nghiệp tướng. PHẠM HẠNH là thứ có được sau khi hàng phục hết những hoặc nghiệp của chúng sanh. Thân, khẩu, ư không c̣n điều kiện tạo nghiệp nên nói PHẠM HẠNH ĐĂ THÀNH. Hữu dư phiền năo là chỉ cho phần vô minh trụ địa.

Thanh văn có 4 bực là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Tuy là 4 nhưng thành 8 v́ có phần ngay đó mà có phần hướng đến đó. Như quả Tu Đà Hoàn th́ c̣n có phần hướng đến Tu Đà Hoàn. Trừ quả A La Hán là phạm hạnh đă thành. 7 quả c̣n lại đều trong giai vị hướng đến, tức phạm hạnh chưa thành tựu. Đó là 7 HẠNG HỌC NHÂN chưa thể thành tựu.

Không phải Phật, không phải 7 loại học nhân, không phải là Bồ tát, gọi là NGU PHU.

PHIỀN NĂO TƯƠNG TỤC là chỉ cho những thứ như vui, buồn, suy nghĩ v.v… là những sanh khởi của tâm khi đối duyên tiếp cảnh. [37] Ngoài không tiếp duyên, trong th́ phá bỏ sự sanh khởi của pháp trần nên phần phiền năo tương tục này không c̣n. Loại phiền năo tương tục này hết th́ chứng được cảnh giới rỗng không an lạc của tâm. Ba nghiệp đă hàng phục nên không c̣n nhân duyên để có thân kế tiếp. Thân kế tiếp đó gọi là HẬU HỮU. Nên nói VIỆC LÀM ĐĂ XONG.

Song cái gọi là không c̣n thọ đời sau đó chỉ mới là chấm dứt thân phần đoạn của chúng sanh chứ chưa phải là chỗ rốt ráo không c̣n thọ đời sau. V́ không biết nên tưởng là không c̣n thọ thân sau, nhưng thật ra vẫn c̣n thọ thân sau. Đó là thân biến dịch. Thân biến dịch này là cái quả của vô minh nghiệp tướng kết hợp với nhân vô lậu mà thành. 

Sau là nói rơ về PHIỀN NĂO để biết loại phiền năo mà A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được chưa thực rốt ráo.

Phiền năo có 2 : Trụ địa phiền năo và khởi phiền năo. TRỤ ĐỊA có 4. Thế nào là 4? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và hữu ái trụ địa. Bạch thế Tôn! 4 thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi phiền năo. KHỞI PHIỀN NĂO là, sát na sát na cùng với tâm tương ưng.

Thấy th́ đủ thứ tên, nhưng phân thành 2 loại chính là trụ địa và biến khởi. TRỤ ĐỊA là phần ẩn sâu bên trong. C̣n BIẾN KHỞI là phần mà trí tuệ phàm phu chúng ta có thể cảm nhận được. Phần ẩn sâu bên trong chia làm 4 thứ. Sẽ liệt kê và giải thích sau đây.

I. TRỤ ĐỊA PHIỀN NĂO : Loại trụ địa phiền năo này là nền tảng để ta có loại BIẾN KHỞI PHIỀN NĂO thứ hai. V́ có 4 loại trụ địa này làm nền tảng mà khi đối duyên, ḿnh mới sanh khởi phiền năo như buồn, thương, giận, ghét v.v…

1. KIẾN NHẤT XỨ TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi KIẾN HOẶC trong tam giới. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Dục giới là cơi giới ḿnh đang sống đây. Với Dục giới, KIẾN HOẶC là chỉ cho quan niệm sống của ḿnh. Nó thuộc về LƯ.  Như thấy “Tiền là tất cả ở thế giới này. Có nó ḿnh có tất cả”. Cái thấy đó là một thứ thuộc Kiến nhất xứ trụ địa. Kiến nhất xứ trụ địa là thứ dẫn đường cho những hành tác của ḿnh trong đời sống. Kiến thay đổi th́ hành tác của ḿnh sẽ thay đổi. 

2. DỤC ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho mọi thứ TƯ HOẶC ở Dục giới này. TƯ HOẶC là chỉ cho những thứ thuộc về hành động thói quen. Ở cơi Dục này th́ mọi hành động thường liên quan đến ái và dục nên lấy tên đó mà đặt. Nếu gặp được chánh pháp, kiến hoặc một khi đă dứt th́ không c̣n trở lại, nhưng tư hoặc th́ có thứ dứt liền được mà có thứ chưa thể dứt liền, cần phải có thời gian và ư chí trường viễn để hàng phục nó. 

Như người ngoài đời, thường ai cũng có quan niệm “T́nh yêu và tiền bạc là hạnh phúc của con người”. Nhưng sau những thăng trầm của cuộc đời, có người lại nhận ra rằng “Tu là cội phúc, t́nh là dây oan”. Nhận rơ được vậy, nhưng đụng duyên vẫn cứ vướng vào cái dây oan nghiệt đó, c̣n cội phúc th́ măi lần khần. Đó là do kiến hoặc đă thay đổi mà tư hoặc th́ một lần chưa thể xong. Bởi chủng tử ái dục c̣n tiềm ẩn bên trong chưa tróc gốc thành gặp duyên liền phát khởi. Tu chính là thay đổi kiến hoặc và bào ṃn tư hoặc. 6 Ba la mật là phương tiện để dứt bỏ phần tập khí ẩn sâu trong thức tạng này. 

3. SẮC ÁI TRỤ ĐỊA 

4. HỮU ÁI TRỤ ĐỊA

2 trụ địa này thuộc về tư hoặc của 2 cơi Sắc và Vô sắc, là cơi giới phải có thiền định mới nhập được.

4 trụ địa này tuy không phải một nhưng cũng không phải khác. KHÔNG PHẢI MỘT, v́ năng lực thô tế của chúng không giống nhau. Như dục ái trụ địa là tư hoặc của cơi Dục, c̣n hữu ái trụ địa là tư hoặc của cơi Vô sắc. Nếu vào được cơi Vô sắc th́ phần dục ái ở cơi Dục không c̣n. Không phải một là như vậy. KHÔNG KHÁC v́ hữu ái trụ địa là nền tảng để dục ái trụ địa sanh khởi, như 4 trụ địa là nền tảng để khởi phiền năo sau sanh khởi. 

II. KHỞI PHIỀN NĂO là sát na sát na cùng với tâm tương ưng. SÁT NA, sát na là chỉ cho thời gian rất ngắn, niệm này nối tiếp niệm kia. TÂM TƯƠNG ƯNG và TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG là 2 khái niệm đă được giải thích rơ trong luận Đại Thừa Khởi Tín. 

Nói TÂM TƯƠNG ƯNG là khi tâm có sự tương ưng ḥa hợp với cảnh. Như nghe tiếng mèo kêu ban đêm. Nghe mà b́nh thản không có ư niệm ǵ khởi lên trong ḷng th́ không rơi vào t́nh trạng tâm tương ưng nói đây. C̣n nghe mà thấy hăi hùng rồi trong đầu hiện lên bao cảnh ma quái là tâm ḿnh đang có sự tương ưng với cảnh. Sự sợ hăi rồi bao thứ khác khởi lên đó là một dạng thuộc KHỞI PHIỀN NĂO. Gọi là BIẾN KHỞI v́ một khi cái này khởi lên th́ kéo theo vô vàn những thứ khác khởi lên. BIẾN là chỉ sự lan rộng tỏa khắp.

Hoặc là những tư tưởng hay h́nh bóng hiện lên trong tâm – gọi là pháp trần – nếu những ư tưởng đó hiện lên rồi qua đi như một chiếc bóng không để lại dấu vết th́ không xuất hiện khởi phiền năo. Nhưng một ư tưởng nào đó vừa xuất hiện mà ḿnh thấy vui hay buồn v́ ư niệm đó, tức là tâm ḿnh đă rơi vào t́nh trạng tương ưng với cảnh. Cảnh đây là pháp trần. Những thứ vui hay buồn đó đều thuộc BIẾN KHỞI PHIỀN NĂO. Đó là ư nghĩa của câu “Sát na, sát na cùng với tâm tương ưng”. 

Theo sự phân tích trên th́ rơ ràng 4 thứ trụ địa là chỗ sanh tất cả biến khởi phiền năo. Do có sẵn những quan niệm trong đầu nên khi gặp duyên, thứ ǵ hợp với quan niệm của ḿnh th́ sinh vui thích vừa ḷng, không hợp với quan niệm suy nghĩ của ḿnh th́ sinh buồn bă khổ sở. Hoặc do yêu thương mà sinh tâm hoan hỉ hoặc do ḷng mong muốn không được thỏa măn mà sinh đau khổ v.v... Quan niệm th́ thuộc KIẾN TRỤ ĐỊA. Yêu thương và mong muốn thuộc DỤC ÁI TRỤ ĐỊA. Những cảm giác buồn, vui, hạnh phúc, đau khổ thuộc KHỞI PHIỀN NĂO. 

4 trụ địa dẹp rồi th́ khởi phiền năo cũng không c̣n. Đó là v́ nhân diệt th́ quả diệt. 

Chư vị La Hán và Bích Chi Phật vừa bỏ được kiến hoặc vừa bỏ được cả tư hoặc ở cả 3 cơi. Tức LƯ và SỰ của chư vị đă viên dung, nhưng do phần LƯ chư vị nhận được không phải là phần LƯ rốt ráo nên phần LƯ SỰ VIÊN DUNG của chư vị cũng không được rốt ráo, nên chư vị không có được phần SỰ SỰ VIÊN DUNG như của chư Phật.

 Sau sẽ đưa ra lư do v́ sao niết bàn của chư vị không được như niết bàn của chư Phật.

Thế Tôn! C̣n VÔ MINH TRỤ ĐỊA là tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay.

Niết bàn của La Hán và Bích Chi không được như Phật chính v́ phần VÔ MINH TRỤ ĐỊA này. Nó chính là phần VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

Tâm không đến với cảnh gọi là BẤT TƯƠNG ƯNG. Muốn hiểu đầy đủ câu “Tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay” th́ phải nghiên cứu phần Bất Giác trong cuốn luận Đại Thừa Khởi Tín[38].  Đây chỉ nói vừa đủ để có thể hiểu.

VÔ THỦY là không có khởi đầu. Nói không khởi đầu nhưng là để chỉ cho lúc khởi đầu cảnh giới của một chúng hữu t́nh. Không có khởi đầu v́ sao nói khởi đầu? V́ cái khởi đầu ấy không thực sự có chỗ khởi đầu. Chỉ do sự bất giác của nhất tâm thanh tịnh mà thành có thế giới, thân và tâm của một chúng hữu t́nh. Do cái bất giác ấy mà nói VÔ MINH TRỤ ĐỊA chứ không phải thứ vô minh do tâm và cảnh ḥa hợp với nhau mà có. Không có tâm cảnh th́ không có sự tương ưng nên nói TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG.[39]  Cái bất tương ưng ấy đă có từ vô thủy, cũng là nền tảng sanh khởi của tất cả phiền năo từ vô thủy đến nay nên nói “Tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay”. 

Bạch Thế Tôn! Lực của 4 trụ địa có thể làm sở y cho biến khởi phiền năo, song so với vô minh trụ địa th́ tính đếm thí dụ chẳng thể b́ được. Cũng vậy, vô minh trụ địa đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương th́ hơn hẳn chư Thiên ở cơi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn cả 4 trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà sa số phiền năo, cũng làm cho 4 trụ địa phiền năo tồn tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.

SỞ Y là chỗ nương. Tâm chúng sanh[40]  bị 3 thứ chi phối : Vô minh trụ địa, 4 trụ địa và khởi phiền năo. Tâm chúng ta vốn thanh tịnh trùm khắp song do bất giác mà sinh cái thấy hư vọng và hiện cảnh giới hư vọng như nay. Phần bất giác đó liên quan đến VÔ MINH TRỤ ĐỊA. Nó là nền tảng để sanh khởi 4 TRỤ ĐỊA. Từ 4 TRỤ ĐỊA lại có KHỞI PHIỀN NĂO. 

Nếu dẹp được 4 trụ địa th́ khởi phiền năo không c̣n. Nếu dẹp được vô minh trụ địa th́ 4 trụ địa mới thật sự hết. Vô minh c̣n th́ 4 trụ địa chưa hẳn hết. Đủ duyên,[41]  khởi phiền năo sẽ sanh khởi. Đây là lư do v́ sao chư vị La Hán khi đối duyên, nếu trúng phải loại tập khí của ḿnh th́ tâm vẫn sanh khởi.[42]  Như ngài Ca Diếp nghe nhạc ở cơi trời vẫn đứng lên nhảy nhót. Ấy là do phần vô minh trụ địa chưa hết.

HỮU ÁI TRỤ ĐỊA là chỉ cho phần tư hoặc thuộc cơi Vô sắc, là cơi giới cao nhất trong tam giới. Bởi nó cao nhất, nên phần tư hoặc của nó cũng thâm sâu nhất. Nhưng so với VÔ MINH TRỤ ĐỊA th́ không thấm vào đâu. So sánh vậy để thấy lực của vô minh trụ địa to lớn thế nào. Thứ này chỉ có trí kim cang của Phật mới đoạn được. 

Bạch Thế Tôn! Đúng vậy! Đúng vậy! Vô minh trụ địa, lực của nó rất lớn. Thế Tôn! Như THỦ làm duyên, NGHIỆP HỮU LẬU làm nhân mà sanh 3 hữu.

DUY TÂM nên mọi thứ từ thân, tâm cho đến thế giới ḿnh đang thọ nhận đây không có ǵ ngoài tâm. Chỉ do sự biến hiện của các chủng tử trong thức tạng mà thành có cảnh giới[43].  Thân phần đoạn của ḿnh đây là do sự kết hợp giữa THỦ và NGHIỆP HỮU LẬU mà biến thành. Nói chính xác là do CHỦNG TỬ của THỦ và CHỦNG TỬ của NGHIỆP HỮU LẬU kết hợp biến thành. 

NGHIỆP HỮU LẬU là chỉ cho thói quen của thân, khẩu và ư. Có nghiệp thiện, có nghiệp bất thiện. Nghiệp thiện th́ chiêu cảm ra cảnh giới tốt, nghiệp bất thiện chiêu cảm ra cảnh giới xấu. THỦ là chỉ cho sự chấp thủ. [44] Như vậy, những thói quen trong việc làm thường ngày của ḿnh đây sẽ để lại những dấu ấn trong thức tạng. Dấu ấn ấy đủ duyên kết hợp với tâm chấp thủ mà biến hiện ra thế giới, thân và tâm mà một chúng hữu t́nh đang thọ nhận. V́ thế, muốn không có thân luân chuyển trong sanh tử th́ phải buông bỏ sự chấp thủ và đưa 3 nghiệp thân, khẩu, ư đến chỗ tịch tịnh. Đây là chỗ hành của chư vị Nhị thừa. 3 HỮU là tên khác của tam giới.

Nói cảnh giới này chỉ từ tâm biến hiện ḿnh thấy khó tin. Nhưng việc này không khác ǵ ngủ rồi mộng. Khi đang mộng cũng thấy đi đây đi kia, gặp gỡ người này người người khác, vui, buồn, đau khổ v.v... Những thứ đó từ đâu mà có? Cũng chỉ từ tâm mà ra. Bởi ngủ rồi tỉnh nên biết những thứ ấy là mộng. Nếu không tỉnh th́ những ǵ thấy trong mộng đó chẳng khác ǵ những thứ ḿnh đang sống đây. 

Cũng vậy, VÔ MINH TRỤ ĐỊA làm duyên, NGHIỆP VÔ LẬU làm nhân sanh ra A La Hán, Bích Chi Phật cùng chư đại lực Bồ tát tùy ư sanh thân. Ba địa vị tùy ư sanh thân và vô lậu nghiệp này đều lấy vô minh trụ địa làm sở y. Kia tuy có duyên mà cũng hay làm duyên. Cho nên, bạch Thế Tôn! Ba thứ tùy ư sanh thân và nghiệp vô lậu đó đều lấy vô minh trụ địa làm duyên đồng với hữu ái trụ địa.

CŨNG VẬY là tương tự như thân phần đoạn nói trên. Thân biến dịch cũng từ nhân duyên mà thành. Song NHÂN bây giờ không c̣n là nghiệp hữu lậu nữa mà là nghiệp vô lậu. DUYÊN là vô minh trụ địa. Đó là v́ La Hán hoặc Bồ tát ở các địa, hoặc là nghiệp hữu lậu đă hết, hoặc là sự chấp thủ pháp hữu lậu không c̣n. Nhân duyên không đủ th́ không sinh quả. Tức nghiệp hữu lậu và thủ không c̣n làm nhân duyên cho nhau nên phần đoạn sanh tử chấm dứt, chỉ c̣n phần nhân duyên vi tế kết hợp, hiện khởi thân biến dịch. 

Tùy ư sanh thân là chỉ cho 10 địa vị Bồ tát thuộc hàng Thập địa.[45]  Nghiệp vô lậu là chỉ cho La Hán và Bích Chi Phật. Gọi là NGHIỆP vô lậu v́ La Hán và Bích Chi Phật do đoạn nghiệp hữu lậu mà có vô lậu. Nó thuộc loại chủng tử vô lậu mới huân không phải loại chủng tử có sẵn.  [46]

Luận Thành Duy Thức, khi nói về thức thứ 8 có đoạn viết “Chữ nương (Y) nghĩa là duyên. Thức chấp tŕ này từ vô thủy đến nay làm chỗ nương một cách b́nh đẳng cho tất cả pháp cho nên gọi là duyên”. [47] Vô minh trụ địa là chỗ nương (sở y) của 3 địa vị ư sanh thân và nghiệp vô lậu, cũng là thứ để 3 địa vị ấy lấy đó làm duyên phát khởi duyên hạnh, nên nói “Nó có duyên mà cũng làm duyên”.

Hữu ái trụ địa cũng lấy vô minh trụ địa làm chỗ y chỉ, nên nói “Tùy ư sanh thân và nghiệp vô lậu đều lấy vô minh trụ địa làm duyên đồng với hữu ái trụ địa”. 

Bạch Thế Tôn! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với vô minh trụ địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với 4 trụ địa. Khác với 4 trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. V́ sao? V́ A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được 4 trụ địa mà đối với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện chứng.

LỰC LẬU TẬN là một trong 10 lực của Phật, chỉ cho lực có được khi dứt bỏ hết mọi phiền năo. A La Hán nói hết phiền năo nhưng thật ra chưa hết. V́ A La Hán tuy đoạn được phiền năo nhưng chưa liễu tri được phần chủng tử của phiền năo, chưa liễu tri được cội nguồn của những chủng tử ấy. Nên nói “Đối với lực lậu tận chưa được tự tại, chẳng thể hiện chứng”. 

V́ sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên, A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu v́ bị vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng thấy. V́ chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên thứ cần đoạn th́ chẳng đoạn, thứ cần tận th́ chẳng tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát, được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức. Bạch Thế Tôn! V́ được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát … Cho đến được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO. 

LẬU HOC trong 3 cơi tuy đă hết nhưng chưa được lực lậu tận như Phật, nên nói A La Hán được lậu tận là LỜI NÓI THỪA. V́ c̣n phần vô minh trụ địa nên sự giải thoát, thanh tịnh cũng như công đức của 3 địa vị ấy chưa được hoàn toàn. Chưa được hoàn toàn th́ biết phần đoạn khổ, biết tập, tu đạo, chứng diệt của các vị cũng không hoàn toàn. 

Thắng Man lại bạch Phật rằng “Thế Tôn! Nếu chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO, gọi là diệt độ được ít phần, chứng được ít phần niết bàn, hướng về niết bàn giới. Nếu biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo th́ người đó ở nơi thế gian vô thường bại hoại này chứng được niết bàn thường tịch thanh lương. Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa. 

Đây là nói riêng về các vị A La Hán. Thấy khổ, tập, diệt, đạo nhưng chưa thấy được cội nguồn của khổ, tập, diệt, đạo nên chư vị nhập niết bàn mà bỏ công hạnh. Nếu thấy được cội nguồn của khổ, tập, diệt, đạo th́ các vị biết sanh tử không khác niết bàn. Tất cả đều là huyễn mộng chỉ từ tâm biến hiện. Thấy được tính huyễn mộng ấy của vạn pháp tức chư vị đang ở trong niết bàn. Sanh tử tức niết bàn th́ chư vị không bỏ công hạnh của ḿnh ở thế gian này. Công hạnh là chỉ cho việc “Làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa” nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa.

V́ sao? Là để giải thích v́ sao nói ngay thế gian đây mà chứng được niết bàn thường tịch thanh lương, không đợi phải nhập niết bàn mới có sự thường tịch thanh lương.

V́ với các pháp mà thấy có cao thấp th́ chẳng chứng được niết bàn. Kẻ mà trí tuệ b́nh đẳng, giải thoát b́nh đẳng, thanh tịnh b́nh đẳng mới chứng được niết bàn. Cho nên, niết bàn gọi là ĐỒNG MỘT VỊ.

V́ pháp vốn b́nh đẳng. Thấy hạnh phúc hay đau khổ, sanh tử hay niết bàn là do TRÍ PHÂN BIỆT của ḿnh mà ra. Phá được trí phân biệt th́ sẽ thấy được tánh b́nh đẳng của vạn pháp, sẽ nhận được TƯỚNG huyễn mộng của chúng, mà TÁNH của tất cả pháp chính là tâm chân thật của chính ḿnh. 

Nhận được tính b́nh đẳng của vạn pháp th́ mới thật là chứng niết bàn. Điều này cũng dễ hiểu. C̣n có chỗ để tâm e ngại th́ c̣n có chỗ để ḿnh phiền năo. Nếu ở địa ngục cũng như ở cực lạc, thấy nước cũng như thấy rượu, thấy đàn ông cũng như đàn bà, ngủ đường cũng như ngủ trong giường êm nệm ấm, đi bộ cũng như đi máy bay th́ khổ năo c̣n chỗ nào để xuất hiện? Song muốn đạt được điều đó th́ phải nhận ra được cội nguồn nhất tâm. A La Hán chỉ thấy được khổ, tập, diệt, đạo như những pháp thực hữu, mà chưa nhận ra được cội nguồn của những thực hữu đó, nên niết bàn của chư vị chưa phải là niết bàn chân thật rốt ráo. 

Sao nói “Một vị là vị giải thoát”? Bạch Thế Tôn! Nếu vô minh trụ địa chẳng đoạn, chẳng hết th́ chẳng được niết bàn đồng một vị đó. 

Muốn được niết bàn chân thật th́ phải phá đi trí phân biệt. Muốn phá trí phân biệt th́ phải biết chắc rằng trí phân biệt ḿnh đang có đây không có thực thể, chỉ do tự tâm thanh tịnh bất giác mà sinh phân biệt. Muốn thông được những điều đó th́ phải nhận cho được cội nguồn nhất tâm. Nhận được cội nguồn này, nhà Thiền gọi là kiến tánh, là chứng nhập được mặt THỂ TÁNH của vạn pháp. Kinh đây gọi là TRÍ TÁNH KHÔNG. Trí tánh không này chính là nhân vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chứng nhập được cái nhân đó là phá vỡ được một phần vô minh trụ địa, nhập vào địa vị Bồ tát của hàng Thập địa. Tiếp tục nương cái nhân đó phá dần trí phân biệt để viên măn Phật quả.[48]  Đó là lư do nói “Vô minh trụ địa chẳng đoạn chẳng hết th́ chẳng được niết bàn đồng một vị”. ĐOẠN là chỉ cho chỗ hành của các vị Bồ tát từ quả vị Sơ Địa trở lên. HẾT là chỉ cho quả Phật viên măn. 

V́ sao? V́ vô minh trụ địa chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng hà sa số tất cả pháp lỗi lầm đáng đoạn mà chẳng đoạn, đáng hết mà chẳng hết. V́ có hằng hà sa số tất cả pháp lầm lỗi chẳng đoạn chẳng hết nên có hằng hà sa số các pháp công đức chẳng biết chẳng chứng. Cho nên, vô minh trụ địa làm chỗ sanh cho tất cả các pháp đáng đoạn và các tùy phiền năo.

Đây là nêu ra sự tai hại khi không phá trừ phần vô minh trụ địa. TÙY PHIỀN NĂO là chỉ cho phần chủng tử (tập khí) phiền năo. 

HẰNG SA là cát sông Hằng. HẰNG SA SA SỐ là chỉ cho số lượng quá nhiều, không tính đếm được như cát sông Hằng, tương đương với từ vô lượng.

 Từ đó mà sanh chướng tâm phiền năo, chướng chỉ phiền năo, chướng quán phiền năo, chướng tịnh lự phiền năo … Cho đến chướng tam ma bát để phiền năo, gia hạnh, trí, quả chứng, lực, vô úy … Có hằng hà sa số tất cả phiền năo, chỉ bồ đề của Như Lai và trí kim cang của Phật mới có thể đoạn. 

TỪ ĐÓ là từ cái vô minh trụ địa đó mà sinh ra mọi thứ khác. V́ sao những thứ như chỉ, quán v.v… là thứ giúp ḿnh phá bỏ vô minh, quay về bản tâm thanh tịnh mà đây nói từ đó sanh … ? V́ chính từ vô minh trụ địa mới nảy sinh sở tri, phiền năo. Có sở tri và phiền năo mới phải xuất hiện các pháp đối trị như chỉ, quán v.v… mới có cái quả là quả chứng, lực ... Nếu không có vô minh th́ không có phiền năo, không phiền năo th́ không lập chỉ, quán v.v... nên nói TỪ ĐÓ MÀ SANH.

Do cái này mới sanh cái kia, c̣n bản tâm thanh tịnh vốn không có mấy thứ đó. Nên dù là thuốc trị bệnh chăng nữa, một khi ḿnh c̣n phải dụng đến chúng th́ những thứ đó vẫn c̣n là những vụn vàng làm xốn con mắt thanh tịnh. Nên gọi chúng là CHƯỚNG. 

Những thứ như QUẢ CHỨNG, LỰC, VÔ ÚY không phải là pháp trị bệnh mà chúng là cái quả tất nhiên phải có khi tâm đă hết sở tri và phiền năo. Song khi chưa thành Phật th́ những thứ này chưa đầy đủ viên măn như ở Phật. Cái chưa viên măn đó tương ưng với tâm chưa sạch vô minh. Chưa hết vô minh hoàn toàn th́ sự chấp thủ vi tế vẫn c̣n. Nếu thấy những thứ đó là cái quả đương nhiên rồi sinh tâm chấp thủ. Chấp th́ mọi thứ sẽ thành ma. Nên đây cũng phải liệt kê ra để người tu biết mà cẩn trọng. Phải xả đến tận cùng mọi thứ : Không chỉ bệnh mà cả thuốc trị bệnh nữa mới thật là người hết bệnh. Đây là lư do v́ sao ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói “Giữ giới cùng nhẫn nhục. Chuốc tội chẳng chuốc phước”.

BỒ ĐỀ không khác TRÍ KIM CANG. Song nói đến trí là muốn đến cái dụng của nó. Kim cang là thứ vững chắc cắt được mọi thứ, nên mượn h́nh ảnh đó để nói về trí lực đoạn phiền năo vi tế của Phật, gọi là trí kim cang. ĐOẠN ĐƯỢC nghĩa là đưa tất cả những thứ đó về chỗ vô trụ.

Sở đắc được thứ ǵ th́ tâm chấp thủ thứ đó rất mạnh. Sở đoản c̣n dễ bỏ, sở trường không phải dễ. Song tin được những điều đây, rồi thực hành theo niềm tin đó để buông xả dần mọi thứ, không phải là trí tuệ Phật th́ không làm được. V́ thế đây nói “Chỉ bồ đề của Như Lai và trí kim cang của Phật mới có thể đoạn”. Trí kim cang nói đây là nói đến trí kim cang của địa vị Bồ tát kế Phật, phá hoàn toàn phần vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa hết th́ những cành lá của nó là 4 trụ địa và khởi phiền năo mới thật sự  hết. 

Các khởi phiền năo, tất cả đều nương nơi vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa làm nhân duyên. Bạch Thế Tôn! Khởi phiền năo này sát na sát na cùng với tâm tương ưng, c̣n vô minh trụ địa là tâm bất tương ưng từ vô thủy đến nay. 

Phần này đă giải thích trên. Khởi phiền năo là loại phiền năo do tiếp duyên đối cảnh trong hiện tại mà có. C̣n vô minh trụ địa là nền tảng để khởi phiền năo xuất hiện. Nó có từ vô thủy đến nay.

Bạch Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà bồ đề Như Lai và trí kim cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y tŕ nơi vô minh trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại địa hoại th́ những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng hà sa số tất cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng. Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn th́ hằng hà sa số tất cả pháp mà bồ đề và trí kim cang của Phật nên đoạn cũng đoạn theo. 

Đây là nêu bày, muốn quả diệt th́ phải diệt nhân. Nhân diệt th́ quả mới thật sự diệt. 

Hằng hà sa số các pháp nên đoạn cùng tất cả phiền năo và khởi phiền năo đều đă đoạn, nên có thể chứng được hằng hà sa số các Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn. Với tất cả pháp, chứng được thần thông vô ngại, được các tri kiến ĺa tất cả lỗi, được các công đức, làm đại pháp vương. Đối với pháp tự tại th́ chứng được cảnh giới của pháp tự tại. Chính là tiếng rống của sư tử : Ta sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, việc làm đă xong, chẳng c̣n thọ hậu hữu. Cho nên, bạch Thế Tôn! V́ là tiếng rống sư tử nên chỉ y nơi liễu nghĩa một bề kư thuyết.

Vô minh trụ địa diệt th́ 4 trụ địa và phiền năo đều diệt, pháp thân hiển lộ hoàn toàn, nêu bày tướng và dụng không thể nghĩ bàn. Tri kiến của Phật là tri kiến như thật, thấy đúng bản chất của vạn pháp, v́ thế nói “Được tri kiến ĺa tất cả lỗi”. PHÁP TỰ TẠI là chỉ cho pháp thân. Phải chứng nhập được hoàn toàn cội nguồn chân thật đó th́ mới có thể rống lên tiếng rống của sư tử là sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, việc làm đă xong, không c̣n thọ thân sau.

Gọi là TIẾNG RỐNG SƯ TỬ v́ Phật từ trong trú xứ tam muội vương của chư Phật ra, miệng được vô ngại giải thoát, nương nơi 10 lực quảng đại, độ chúng sanh không sai thời, bày oai đức với các nghị luận sư của ngoại đạo tà giáo, giác tỉnh chúng hữu t́nh mê muội, mở đường cho kẻ tà kiến … Những thứ ấy giống như những đức tính mà một sư tử chúa đối với bầy thú quanh ḿnh, nên mượn h́nh ảnh sử tử để ví dụ.  [49]

Thế Tôn! Chẳng thọ hậu hữu có 2 thứ. Thế nào là 2? Hỏi là để giải thích về 2 thứ “Chẳng thọ hậu hữu”.

1. Chư Như Lai dùng lực điều ngự hàng phục 4 ma ra khỏi các thế gian, được sự chiêm ngưỡng của mọi hữu t́nh, chứng pháp thân thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn. Với cảnh sở tri, được pháp tự tại tối thắng vô thượng hoàn toàn không có sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng, đầy đủ 10 lực, vào được cảnh giới tối thắng không có sợ hăi. Với tất cả pháp quán sát không ngăn ngại, chính là tiếng rống của sư tử, chẳng c̣n thọ hậu hữu.

Cái KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ nhất là của chư Phật. Chư Phật dùng lực điều ngự của ḿnh để hàng phục 4 ma. ĐIỀU NGỰ là điều phục và chế ngự. 4 ma là chỉ cho những thứ cướp đi thân mạng cũng như tuệ mạng của người tu. Đó là phiền năo ma, ngũ ấm ma, tử ma và thiên ma. Hàng phục được 4 loại ma này th́ ra khỏi các thế gian. THẾ là chỉ cho sự dời đổi (như thời gian). GIAN là chỉ cho phương hướng (như không gian). Những ǵ có tính cách như thế đều gọi là thế gian. Theo nghĩa ấy th́ thế gian không phải chỉ dùng cho cơi ḿnh đang ở đây mà c̣n chỉ cho cơi Sắc, Vô sắc, thậm chí niết bàn của hàng Nhị thừa cũng chưa thoát khỏi 2 chữ thế gian này, nên nói là CÁC.

Cảnh giới sở chứng của Phật không giống như của hàng Nhị thừa. Cái khác nhau ấy nằm ở chỗ : Niết bàn của A La Hán và Bích Chi Phật vẫn c̣n là đối tượng của một cái năng chứng. Nói rơ hơn, dù là trạng thái thanh lương bặt mọi suy lường chăng nữa, trạng thái ấy vẫn là đối tượng của một cái năng biết. Vẫn là cảnh giới thuộc thức ấm. Thức ấm chưa không th́ chưa phải là cảnh giới của chư Như Lai. Phần này đặt nặng cho người có công phu.

Những ǵ là đối tượng của cái biết đều gọi là CẢNH SỞ TRI. Từ những h́nh tượng thô ḿnh thấy đây cho đến cảnh giới chứng nhập rỗng không của tự tâm, đều gọi là cảnh sở tri. Nếu đúng là cảnh giới chứng nhập của Phật th́ cảnh giới ấy không phải là đối tượng của cái biết. Bởi biết hay bị biết đều ḥa tan vào biển pháp thân. “Không sở tác, không thấy có cảnh giới sở chứng” là diễn tả cảnh giới đồng chư Phật nói đó.

THẬP LỰC là 10 lực của Phật. Đó là 10 loại trí lực biết như thật các pháp từ nghiệp báo và sự thọ báo của chúng sanh cho đến những sai khác vi tế của mọi cảnh giới thiền định.  [50]

CẢNH GIỚI TỐI THẮNG là chỉ cho pháp thân Phật. KHÔNG CÓ SỢ HĂI là để nói về sự khác biệt giữa Phật và A La Hán. Một khi pháp thân được hiển lộ hoàn toàn th́ có được 4 cái không sợ này. Bởi lúc đó đă sạch tất cả lậu hoặc, thành tựu được tất cả mọi loại trí thông suốt cả thế gian và xuất thế gian. 

2. A La Hán và Bích Chi Phật đă qua được vô lượng sanh tử sợ hăi, hưởng được cái lạc của sự giải thoát, rồi khởi nghĩ ‘Ta nay đă ĺa được sanh tử sợ hăi, chẳng c̣n chịu sự khổ năo’. Bạch Thế Tôn! A La Hán và Bích Chi Phật quán sát như vậy và cho là không c̣n thọ hậu hữu. Song chẳng chứng được đệ nhất tô tức xứ. 

Loại KHÔNG THỌ HẬU HỮU thứ hai là chỉ cho chỗ chứng của các vị Nhị thừa. Các vị không c̣n bị sanh tử phần đoạn chi phối nên nói qua được vô lượng sanh tử. Từ vô thủy đến nay trải qua không biết bao lần sanh tử nên nói VÔ LƯỢNG SANH TỬ. Sanh và tử là hai đầu mút của một cuộc đời. Ai cũng sợ sự khổ năo và đau đớn của đói nghèo, bịnh hoạn, tai nạn và những bất trắc trong cuộc đời này mà cái đáng sợ nhất là chết, nên nói SANH TỬ SỢ HĂI. Không c̣n bị trói buộc trong những thứ đó gọi là GIẢI THOÁT. Giải thoát được sanh tử th́ hết các sợ hăi, nên nói HƯỞNG ĐƯỢC CÁI LẠC của sự giải thoát. Tuy nhiên, thoát được những thứ đó cũng chưa phải là chỗ dừng dứt cuối cùng, nên nói “Chẳng được đệ nhất tô tức xứ”. ĐỆ NHẤT TÔ TỨC XỨ là chỉ cho niết bàn Phật.

QUÁN SÁT như vậy, chỉ cho thứ chư vị vừa khởi nghĩ “Ta nay đă ĺa được sanh tử sợ hăi, chẳng c̣n chịu sự khổ năo”.

Với cảnh giới chưa chứng, các vị ấy chưa gặp được pháp nên tự hiểu rơ ‘Ta nay mới chứng được cảnh giới hữu dư y, nhất định phải chứng cho được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề’.

Đây là nói về sự hiểu biết của các vị thắng căn A La Hán. Biết ḿnh được chỗ nào, chưa được chỗ nào. 

V́ sao? Là để giải thích. 

V́ Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa. Chứng Nhất thừa th́ được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là niết bàn. Nói niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh Nhất thừa th́ ĺa tương tục. 

Đây là nói về Nhất thừa. Nhất thừa th́ “Tức tâm tức Phật”. Ngay tâm này là Phật, không có Phật ngoài tâm. Nói Tam thừa thật ra là để qui về Nhất thừa, nên nói TAM THỪA CHÍNH LÀ NHẤT THỪA. Nói niết bàn, nói Như Lai, nói Phật, nói pháp thân v.v… đều chỉ cho cội nguồn nhất tâm chân thật của chính ḿnh, nên nêu ra một loạt CHÍNH và TỨC trên. Nói KHÔNG KHÁC là v́ tên khác mà nghĩa đồng.

TƯƠNG TỤC là chỉ cho sự lưu chuyển biến dịch tương tục của ḍng tâm thức, được biểu hiện thành 2 thứ sanh tử. Chứng được pháp thân th́ sự tương tục của tâm hết, 2 thứ sanh tử cũng hết. 

V́ sao? Bạch Thế Tôn! V́ Như Lai tồn tại không có hạn lượng, đẳng đồng hậu tế. Như Lai dùng vô hạn đại bi, vô hạn thệ nguyện để làm lợi ích thế gian. Nói vậy gọi là khéo nói. Hoặc nói Như Lai là thường trụ, là pháp vô tận, là chỗ y chỉ rốt ráo của tất cả thế gian, cũng gọi là khéo nói. Cho nên, hay đối với thế gian không chỗ che chở, không chỗ nương tựa đẳng đồng hậu tế, mà làm chỗ qui y vô tận, qui y thường trụ, qui y rốt ráo, gọi là Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác.

 Sự lưu chuyển tương tục của ḍng tâm thức chính là thứ tạo ra những phần đoạn bị ràng buộc trong không gian và thời gian. Hết tương tục th́ pháp thân không có bờ mé hiển bày, bao trùm tất cả, nên nói “Thời gian tồn tại của Như Lai không có hạn lượng, đẳng đồng hậu tế”. Hậu tế là bờ mé sau cùng. Bờ mé sau cùng đó không có sau cùng, nên nói KHÔNG CÓ HẠN LƯỢNG. V́ Như Lai tồn tại không hạn lượng nên đại bi của Như Lai cũng không có hạn lượng, thệ nguyện cứu độ chúng sanh của Như Lai cũng không có hạn lượng.

Bởi Như Lai là tánh của tất cả pháp nên nói “Là chỗ y chỉ rốt ráo của tất cả thế gian”. 

Pháp là đạo Nhất thừa. Tăng là chúng Tam thừa. 2 thứ qui y này chẳng phải là qui y rốt ráo, gọi là qui y ít phần.

Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch là “Pháp tức là nói đạo Nhất thừa”. Vậy PHÁP nói đây không phải chỉ cho pháp tánh chân như mà chỉ cho đạo Nhất thừa đă được phương tiện thành ngôn từ để giảng dạy cho chúng sanh. Qui y Pháp và qui y Tăng như vậy là c̣n nương vào những thứ sanh diệt, c̣n hướng ngoại chứ chưa hướng nội, nên không phải là chỗ chân thật rốt ráo. V́ thế, gắng cho chúng cái tên là QUI Y ÍT PHẦN. Tức mới qui y chút chút, chưa phải là sự qui y toàn diện, tối cùng. 

V́ sao? Là để giải thích v́ sao gọi 2 thứ qui y đó là qui y ít phần. 

Nói đạo Nhất thừa là chứng pháp thân tối cùng. Sau đó hoàn toàn không nói đạo Nhất thừa. Chúng Tam thừa v́ sự sợ hăi mà qui y Như Lai cầu mong xuất ly, tu học. V́ có chỗ tạo tác, v́ hướng về A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nên 2 thứ qui y đó chẳng phải là qui y tối cùng mà là qui y hữu hạn.

Nói đạo Nhất thừa là muốn chúng sanh trực nhập lại phần pháp thân rốt ráo của chính ḿnh, là qui y Phật, chứ phần giảng thuyết đó không phải là Nhất thừa. Nhất thừa không phải là chỗ mà ngôn từ suy nghĩ có thể đến. Chứng được pháp thân tối cùng th́ hiểu cái nói kia chỉ là phương tiện, nên nói “Sau đó hoàn toàn không nói đạo Nhất thừa”. 

Qui y Pháp hay qui y Tăng chỉ là phương tiện để đạt được Phật tâm. Phật tâm mới là đạo Nhất thừa. Đang trên đường hướng về nên nó không phải là chỗ qui y tối cùng. Đây là biện để rơ phương tiện không phải là cứu cánh.

Nếu chúng hữu t́nh nào được Như Lai điều phục mà qui y Như Lai th́ được pháp thấm nhuần. V́ tâm tin thích mà qui y Pháp và qui y Tỷ kheo Tăng. 2 thứ qui y này là do pháp thấm nhuần tín nhập mà qui y. Như Lai th́ không phải là pháp thấm nhuần và tín nhập mà qui y. 

Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Nếu chúng sanh nào được Như Lai điều phục, qui y Như Lai được pháp thấm nhuần, sanh tâm tin thích qui y Pháp và qui y Tăng th́ 2 pháp qui y này không phải là 2 pháp qui y đó mà là qui y Như Lai. Qui y đệ nhất nghĩa là qui y Như Lai”.

So sánh 2 bản dịch th́ thấy nghĩa của 2 bản dịch trái ngược nhau: Đều là qui y Pháp và Tăng nhưng có thứ qui y không phải là qui y Như Lai mà có thứ lại qui y Như Lai. Có cái khác nhau ấy là do cách nhận định pháp của ḿnh mà ra, không phải do pháp có sự khác biệt. Hiểu được chỗ này sẽ thấy ư nghĩa của hai bản dịch không khác nhau.

Như Lai là pháp tánh sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, là tự tánh chân như của mỗi người. Chính nhờ tự tánh này mà chúng sanh mới có lúc chán sanh tử khổ cầu cái vui niết bàn, nên nói “Chúng hữu t́nh nào được Như Lai điều phục”. Do cái hồi đầu đó mà tâm sinh tin thích đối với Pháp bảo và Tăng bảo, rồi hướng về nương tựa 2 thứ đó nên nói “Qui y Pháp và qui y Tăng”. 

Nếu nương tựa Pháp và Tăng mà hiểu Pháp và Tăng đó chỉ là phương tiện để ḿnh thể nhập Như Lai của chính ḿnh, ngoài tâm không có pháp, th́ 3 thứ qui y đều là qui y chân thật. Đây là ư nghĩa bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La. Nếu thấy ngoài tâm thật có Phật, Pháp, Tăng để nương tựa th́ cả 3 thứ qui y ấy chưa có thứ nào gọi là đúng nghĩa của qui y Như Lai. Đó là ư nghĩa của bản dịch đây. Nên phần sau nói :

Nói Như Lai, là chân thật qui y. 2 thứ qui y kia với nghĩa chân thật, gọi là qui y rốt ráo Như Lai. V́ sao? V́ Như Lai chẳng khác 2 thứ qui y đó. Cho nên, Như Lai tức là 3 thứ qui y. 

Như Lai không phải là pháp sanh diệt giả hợp mà là tự tánh chân thật của chính ḿnh, là thể tánh thường trụ của vạn pháp, nên qui y Như Lai là qui y chân thật, là chỗ nương tựa tối cùng. Một khi nhận ra được thể tánh chân thật đó th́ tất cả pháp đều là Phật pháp, nên nói “2 thứ qui y đó, bằng nghĩa chân thật, gọi là qui y tối cùng Như Lai”. Đi đông đi tây ǵ rồi cũng qui về cội nguồn nhất tâm. Đó là sự qui y tối cùng. 

V̀ SAO? là để giải thích. 

V́ Như Lai là thể tánh của 2 thứ qui y đó, nên nói “Như Lai không khác 2 thứ qui y đó”. Nói KHÔNG KHÁC nghĩa là 2 thứ qui y đó không thể xuất hiện nếu không có tánh Như Lai. 2 thứ đó không ĺa Như Lai mà có. Nhưng chúng không phải là Như Lai. Như nói bàn gỗ không khác gỗ, v́ gỗ là bản chất của bàn nhưng gỗ không phải là bàn. Nếu bàn là gỗ th́ gỗ không thể mang ra làm ghế hay làm giường. Đó là ư nghĩa của từ KHÔNG KHÁC. Không khác nhưng không nói là MỘT. V́ quả t́nh chúng không phải là một. Đây là nêu bày thực tánh hay thực tướng của 3 thứ qui y : Không khác cũng không một. Tức TƯỚNG tức THỂ, là một dạng của BÁT BẤT trong Trung Luận.

V́ sao? V́ nói đạo Nhất thừa là nói Như Lai tối thắng đầy đủ 4 vô úy. Chính là sử tử hống. Chư Như Lai theo tánh dục của người đời mà lập bày phương tiện. Nói đến Nhị thừa tức là nói Đại thừa. V́ Đệ nhất nghĩa không có 2 thừa. Nhị thừa đồng nhập Nhất thừa. Nhất thừa là thắng nghĩa thừa. 

ĐẦY ĐỦ 4 VÔ ÚY là chỉ cho quả vị Phật. Khi viên măn quả Phật th́ được đầy đủ 4 thứ vô úy này. Nói Tam thừa là tùy theo căn dục của chúng sanh mà lập. Như người chỉ thích cúng dường gieo duyên để hưởng phước báu thế gian mà ḿnh giảng nói về việc cạo đầu vào chùa th́ dù việc vào chùa ấy có mang lại công đức bao nhiêu, họ cũng cuốn gói tránh xa ḿnh. Đó là do cái trí của họ chưa thấy được cái lợi của việc xuất gia mà chỉ thấy được sự hỉ lạc của việc cúng dường và hưởng thụ phước báu của sự cúng dường đó. V́ căn và dục của họ chỉ tới ngang đó th́ chỉ lập bày ngang đó. Lập cao nữa chúng chạy mất. 

Cũng có người hưởng lạc thế gian rồi mới nghiệm ra rằng : Cái lạc của thế gian tiềm ẩn nhiều cái khổ, trong cái họa có cái phước, trong cái phước có cái họa, chẳng biết đâu mà lường. Với sự chứng nghiệm đó, họ lơ là với những thứ hiện tại và muốn t́m một chỗ nương tựa mới. Lúc đó lập bày việc tu hành mới có hiệu quả. Ứng vào tâm dục của chúng sanh như vậy th́ việc lập pháp mới thành công … 

Phật lập Tam thừa chính v́ vậy, là để mở bày trí tuệ cho chúng sanh từ từ. Trí tuệ phát triển rồi mới dễ thâm nhập pháp tối thượng. Cho nên, lập ǵ đó lập, nói ǵ đó nói, cũng cốt nói đến mục tiêu cuối cùng là Đại thừa và Nhất thừa. Một khi anh đă bước được vào Tiểu thừa, th́ dù cứng đầu bao nhiêu cũng có ngày anh bước sang Trung thừa, rồi bước vào Đại thừa, tối cùng là Nhất thừa. V́ sao? V́ cái LƯ nó như vậy. V́ Nhất thừa là nền tảng của mọi thừa, là tánh thể của tất cả thừa. Một bậc Tôn túc đă nói “Kiến trong miệng chén có ḅ đi đâu”. Nếu anh đúng là bậc lăo gia của Nhị thừa th́ anh phải có trí tuệ để nhận ra được tính logic của Tam thừa, phải thấy được cái LƯ siêu xuất bao trùm của Đại thừa. Không nhận ra được th́ cái trí của anh chưa phải là trí tuệ của bậc lăo gia. Đây là lư do v́ sao trong kinh Pháp Hoa, Phật nói chỉ cần vẽ h́nh tượng Phật là sẽ thành Phật, các bậc lăo gia thuộc phái Tiểu thừa xưa như Mă Minh, Vô Trước v.v… đều qui hướng Đại thừa và trở thành chư Tổ của Đại thừa.

Bạch Thế Tôn! Thanh văn và Độc giác lúc đầu chứng thánh đế, chẳng phải là dùng nhất trí mà đoạn các trụ địa, cũng chẳng phải là dùng nhất trí mà chứng 4 biến tri cùng các công đức v.v... cũng chẳng phải nhờ pháp mà khéo liễu tri nghĩa của 4 pháp này. 

NHẤT TRÍ là chỉ cho TRÍ TÁNH KHÔNG nói sau. Nó là dụng của tự tánh chân như (tức dụng của tánh không). Phải có trí này th́ mới đoạn được từng phần vô minh trụ địa. Nó là chủng vô lậu sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Hàng Nhị thừa chưa có trí này nên nói “Chẳng phải là dùng nhất trí mà đoạn các trụ địa …” 

Bạch Thế Tôn! Đối với trí xuất thế th́ không có 4 trí dần đến hay dần duyên. 

TRÍ XUẤT THẾ là chỉ cho NHẤT TRÍ vừa nói trên hay TRÍ TÁNH KHÔNG sắp nói sau. Loại trí này không phải do tu hành mà được, cũng không phải không do tu hành mà được. V́ sao? V́ trí ấy vốn sẵn đủ trong mỗi chúng sanh. Chỉ v́ bị vô minh che lấp mà trí ấy không hiển lộ được. Tu hành chính là vẹt đi đám vô minh mờ mịt để trí ấy hiển bày, không phải tu hành là tác nhân tạo ra trí ấy. Trí do tu hành mà có, đây gọi là TRÍ DẦN ĐẾN hay DẦN DUYÊN. 

Nhà Thiền phân trí thành 2 loại là trí vô sư và trí hữu sư. TRÍ TÁNH KHÔNG nói đây chính là trí vô sư. TRÍ DẦN ĐẾN hay DẦN DUYÊN không hẳn là trí hữu sư, nhưng nó không phải là loại trí vô sư mà nhà Thiền nói. V́ TRÍ TÁNH KHÔNG không dần đến hay dần duyên nên gọi là NHẤT TRÍ. 

 Bạch Thế Tôn! Trí xuất thế gian là pháp không có dần đến, như kim cang dụ định. Bạch Thế Tôn! Thanh văn và Độc giác dùng các loại trí thánh đế mà đoạn các trụ địa, không có trí xuất thế đệ nhất nghĩa. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Biến Tri (chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn và Độc giác) dùng trí tánh không chẳng thể nghĩ bàn phá tất cả mọi phiền năo. 

Xác định để rơ về 2 loại trí của hàng Nhị thừa và Bồ tát chứng tánh không. Đây là lư do v́ sao kinh luận gọi hàng Bồ tát Thập địa là chân thật tu hành. Nhà Thiền nói “Đốn ngộ đồng chư Phật”. Một niệm đồng chư Phật đó là chỉ cho TÁNH KHÔNG. Nương cái dụng của nó là trí tánh không phá dần TRÍ PHÂN BIỆT. Đến địa vị Bát Địa, thấy được chỗ sanh của vọng tưởng, việc tu hành không c̣n sự tạo tác đối trị, chỉ nhậm vận theo ḍng pháp chấp mà phá vào phần căn bản vô minh, chính là vô minh trụ địa. Trong 3 a tăng kỳ kiếp tu hành, giai đoạn này mất một a tăng kỳ kiếp.

KIM CANG DỤ ĐỊNH là chỉ cho tâm của hàng Bồ tát kế vị Phật. Dùng trí này phá đi phần tập khí cuối cùng mà nhập Phật quả. Trí đó chính là nhất trí của Như Lai như phần sau nói. 

Bạch Thế Tôn! Trí phá được phiền năo rốt ráo gọi là trí xuất thế đệ nhất nghĩa. Trí thánh đế đầu chẳng phải là trí tối cùng, vẫn c̣n thú hướng A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Bạch Thế Tôn! Thánh nghĩa chân thật chẳng phải là Nhị thừa. V́ sao? V́ Thanh văn và Độc giác chỉ có thể thành tựu thiểu phần công đức, có tên là THÁNH. 

TRÍ THÁNH ĐẾ ĐẦU là chỉ cho trí của chư vị La Hán và Bích Chi Phật. Chưa phá được hết tất cả phiền năo nên không phải là trí tối cùng như trí của Như Lai. Song vẫn gọi là thánh, v́ chư vị không c̣n là phàm ngu nữa. 

Bạch Thế Tôn! Nói thánh đế, chẳng phải là thánh đế và công đức của Thanh văn và Độc giác. Thánh đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới liễu tri. Rồi sau, v́ vô minh tạng của chúng sanh ở thế gian mà khai thị diễn thuyết nên gọi là thánh đế. Bạch Thế Tôn! Đế này thậm thâm vi diệu khó thấy khó biết, chẳng thể phân biệt, chẳng phải là cảnh giới có thể suy lường, là chỗ mà hết thảy thế gian chẳng thể tin. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng giác mới biết rơ. V́ sao? V́ nói về Như Lai Tạng thậm thâm. 

Tứ đế của Thanh văn gọi là 4 thánh đế. Đệ nhất nghĩa đế mà Phật có được cũng gọi là thánh đế. Nhưng thánh đế của Phật không phải là thánh đế của Thanh văn. Thánh đế của Phật không phải là chỗ ngôn từ đến được, là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Chỉ v́ kho vô minh của chúng sanh mà phương tiện khai thị giảng nói nên gọi là thánh, chứ nó không phải là loại thánh đế của Thanh văn. Sau là nói về Như Lai Tạng, chính là cảnh giới thậm thâm khó nghĩ bàn của Như Lai, là Đệ nhất nghĩa đế nói đây.

Phu nhân tŕnh bày về Như Lai Tạng, là cảnh giới thậm thâm của chư Phật. Hiển bày 2 loại thánh đế là Hữu tác thánh đế và Vô tác thánh đế, 2 loại trí là TỊNH TRÍ của Thanh văn và TRÍ TÁNH KHÔNG của chư Phật. Nêu bày thực tướng của sanh tử. 

NHƯ LAI TẠNG là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là chỗ hành của Thanh văn và Độc giác. Đối với Như Lai Tạng mà nói về nghĩa của thánh đế.

Như Lai Tạng chính là pháp thân của chư Phật nên nói “Như Lai Tạng là cảnh giới của chư Phật”. Chữ TẠNG này có 2 nghĩa. Một là nghĩa tích chứa. Hai là nghĩa ẩn tàng. Nghĩa TẠNG mà kinh này muốn nói là nghĩa ẨN TÀNG. Như Lai luôn sẵn đủ trong mỗi chúng sanh, nhưng v́ bị vô minh che phủ nên nó chưa hiển lộ được mà gọi là Như Lai Tạng. Thánh đế được nói trong kinh này y chỉ nơi Như Lai Tạng mà nói nên tuy cũng là thánh đế nhưng không phải là loại thánh đế Phật đă nói cho hàng Nhị thừa. 

Như Lai Tạng này thậm thâm vi diệu. Thánh đế được nói cũng thậm thâm vi diệu, khó thấy, khó biết, chẳng thể phân biệt, chẳng phải cảnh giới có thể suy lường, là chỗ mà hết thảy thế gian chẳng thể tin. Chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới hay biết.

V́ là cảnh giới của chư Phật nên khi chưa phải là Phật th́ chưa thể thấu suốt được nó. Có thấu suốt th́ chỉ nhờ niềm tin hoặc thấy được ít phần. 

Nếu đối với Như Lai Tạng đang bị ràng bọc trong vô lượng phiền năo mà chẳng nghi hoặc, th́ với Như Lai Tạng đă xuất khỏi mọi phiền năo - là pháp thân Như Lai - cũng không có nghi hoặc.

Song, dù chưa thấu suốt được Như Lai Tạng mà vẫn có niềm tin đối với Như Lai Tạng th́ sẽ có niềm tin đối với pháp thân. Như Lai Tạng khác pháp thân chỗ nào? Như Lai Tạng là pháp thân c̣n đang bị phiền năo che đậy. Vô minh phiền năo hết th́ thể, tướng và dụng của Như Lai hiển bày, gọi là pháp thân. 

Bạch Thế Tôn! Nếu có người đối với Như Lai Tạng và pháp thân Phật - là cảnh giới bí mật chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật - mà được tâm tối cùng, th́ đối với nghĩa của 2 THÁNH ĐẾ được nói đây có thể tin, có thể hiểu, có thể sanh thắng giải. Thế nào là nghĩa của 2 thánh đế. Đó là Hữu tác thánh đế và Vô tác thánh đế. 

NHƯ LAI TẠNG một khi không c̣n TẠNG (ẩn tàng) nữa, gọi là pháp thân. V́ có chỗ khác đó nên tuy cùng một thứ mà có 2 tên là Như Lai Tạng và pháp thân. Với cảnh giới bí mật chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật mà ĐƯỢC TÂM TỐI CÙNG là chỉ cho chỗ chứng của hàng Thập địa mà địa đầu là Sơ Địa. Chứng được tánh thể này th́ đối với 2 thánh đế nói đây có thể tin nhận và hiểu rơ. THẮNG GIẢI là chỉ cho sự hiểu biết thâm sâu. Tùy địa vị sâu cạn trong hàng Thập địa mà hoặc là tin, hoặc là hiểu, hoặc có sự hiểu biết thâm sâu về Như Lai Tạng. TIN là chưa thấy mà biết là có. HIỂU là hiểu được những ǵ Như Lai nói về Như Lai Tạng. SANH THẮNG GIẢI v́ đă trực nghiệm được Như Lai Tạng ít nhiều.

Sau là nói về nghĩa của 2 thánh đế.

TÁC THÁNH ĐẾ là nghĩa của 4 thánh đế chưa viên măn. V́ sao? V́ THA HỘ TR̀ nên chẳng thể biết được tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. Cho nên chẳng biết hữu vi, vô vi cho đến niết bàn.

TÁC THÁNH ĐẾ là loại thánh đế có liên quan đến sự tạo tác, là chỉ cho 4 thánh đế của Thanh văn. Sự tác ư này chỉ có tác dụng với những phiền năo thô chứ không có tác dụng đối với những phiền năo vi tế. 

THA HỘ TR̀ là sự hộ tŕ bên ngoài. THA HỘ TR̀ v́ c̣n thấy ngoài tâm có pháp, chưa thấu được Lư Duy Tâm. C̣n thấy có Phật 32 tướng, 80 vẽ đẹp để nương tựa, có niết bàn khác sanh tử để bước vào. Thấy như vậy là chưa thấy được cội nguồn của KHỔ và TẬP. V́ chưa thấy được cội nguồn nhất tâm nên phần DIỆT chứng được chưa phải là chỗ rốt ráo. Đó là do phần tu ĐẠO chưa rốt ráo.

“Chẳng biết hữu vi, vô vi cho đến niết bàn” là chẳng biết cội nguồn thật của những thứ đó. Chẳng biết tất cả đều lấy tâm chân thật làm tánh. 

Bạch Thế Tôn! VÔ TÁC THÁNH ĐẾ là nói về nghĩa thánh đế viên măn. V́ sao? V́ có thể TỰ HỘ TR̀ nên biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. 

VÔ TÁC THÁNH ĐẾ là loại thánh đế không do tạo tác. V́ sao? V́ không có sự tác ư đoạn trừ các TẬP như của Nhị thừa. Phần này sẽ được phu nhân Thắng Man giải thích rơ ở các phần sau.

TỰ HỘ TR̀ v́ biết không có ǵ ngoài tâm dù đó là Phật. Là biết “Tâm sanh th́ tất cả pháp sanh. tâm diệt th́ tất cả pháp diệt”.[51]  V́ thế, chỉ quay về nương lấy tự tâm của chính ḿnh, gọi là tự hộ tŕ. 

BIẾT TẤT CẢ KHỔ là biết được ngoài cái khổ phần đoạn sanh tử c̣n có cái khổ biến dịch. ĐOẠN TẤT CẢ TẬP là đoạn phần tập ngọn mà đoạn cả phần tập gốc. Tuy nói là đoạn nhưng thật không phải đoạn. Phần kinh sau sẽ đề cập đến. Ngọn là nghiệp tập của chúng sanh, tức 4 trụ địa và khởi phiền năo. Gốc là phần tập khí từ thời vô thủy, tức vô minh trụ địa. CHỨNG TẤT CẢ DIỆT là chứng được pháp thân thường trụ. TU TẤT CẢ ĐẠO là chỉ cho pháp Đại thừa.

THÁNH ĐẾ VIÊN MĂN là chỉ cho loại thánh đế đưa đến quả vị Phật, không phải loại thánh đế đưa đến quả vị La Hán của hàng Nhị thừa. 

Như vậy, có đến 8 thánh đế nhưng Như Lai chỉ nói 4 thánh đế. Với nghĩa Vô tác thánh đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới làm được việc rốt ráo, chẳng phải là chỗ mà lực của A La Hán và Bích Chi Phật có thể đến. V́ sao? V́ chẳng phải các pháp như thắng, liệt, thượng, trung, hạ mà có thể chứng được niết bàn.

Đây là lời tổng kết. Có đến 8 thánh đế chứ không phải là 4 như Phật đă nói với chư vị Nhị thừa. Đó là do biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo có thô và tế. Thô là 4 Tác thánh đế. Tế là 4 Vô tác thánh đế. Bởi Vô tác thánh đế chỉ có Như Lai mới hoàn thành được trọn vẹn nên Như Lai không nói với chư vị Nhị thừa. 

Pháp vốn không có thắng, liệt, trung, hạ … Thắng, liệt, trung, hạ là do trí phân biệt của ḿnh mà ra. V́ sao phân biệt? V́ thấy vạn pháp là thật. V́ thấy thật có khổ, tập, diệt đạo nên mới đoạn tập mà chứng diệt. Một khi biết được khổ, tập, diệt, đạo chỉ là cái bóng rỗng th́ không có ǵ để phải đoạn trừ nữa. Đoạn trừ đó gọi là TÁC, không đoạn trừ gọi là VÔ TÁC. 

Như việc hàng phục vọng tưởng của ḿnh. Khi mới thực tập, dù không muốn, cái BIẾT của ḿnh vẫn có tác dụng đè đi các vọng niệm chứ không phải chỉ có biết rồi thôi. V́ sao? V́ sự tương tục của ḍng vọng niệm quá mạnh. Dù biết chúng là vọng, nhưng hở một cái là nó đầy dẫy, cái chủ của ḿnh không c̣n. Một khi nó vẫn sai sử cuốn hút ḿnh như vậy th́ nó chưa phải là vọng đối với ḿnh. Không trừ bỏ đè nén là không được. V́ thế sự dụng công lúc này là cần thiết. Đây là giai đoạn TÁC.

Một khi sự tương tục của ḍng vọng niệm không c̣n, ḿnh không c̣n bị lực tương tục ấy cuốn hút, vọng có hay không không can hệ ǵ đến ḿnh th́ không cần trừ bỏ nữa. V́ sao? V́ lúc đó vọng đă hiện đúng bản chất của nó. Do đă liễu tri được bản chất của ḍng vọng tưởng mà không cần dụng công trừ khử.[52]  Đó gọi là VÔ TÁC. Tạm lấy tạm ví dụ này để hiểu sơ về nghĩa tác và vô tác. 

Nhị thừa c̣n thấy có sanh tử khác niết bàn, tức chưa thoát được trí phân biệt, chưa liễu tri được tính b́nh đẳng và như huyễn của vạn pháp, nên nói “Chẳng phải các pháp thắng, liệt, thượng, trung, hạ mà có thể chứng được niết bàn”. Hàng Bồ tát Bát Địa trở lên, do đă chứng nhập được tánh b́nh đẳng chân như, mới nhận ra được hoàn toàn tánh như huyễn của vạn pháp. Sở hành của chư vị mới thật là Vô tác thánh đế. Song phải đến địa vị Phật mới hoàn tất tận cùng nên nói “Vô tác thánh đế này chỉ có Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mới LÀM ĐƯỢC VIỆC RỐT RÁO”.

V́ sao với Vô tác thánh đế Như Lai đạt được chỗ tối cùng? Hỏi để giải thích v́ sao chỉ có Vô tác thánh đế mới có thể đạt được cội nguồn tận cùng. Qua đó hiển bày Vô tác thánh đế là ǵ.

V́ chư Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác biết hết các KHỔ, đoạn các phiền năo và khởi phiền năo, nhiếp được TẬP khổ, chứng được DIỆT khổ của tất cả ư sanh thân, tu tất cả ĐẠO diệt khổ.

Đây là nêu bày v́ sao Tác thánh đế không đạt được niết bàn pháp thân mà chỉ có Vô tác thánh đế mới đạt được. La Hán đoạn phiền năo để có niết bàn, cái đoạn ấy gọi là TÁC. Chư Như Lai cũng qua giai đoạn đoạn phiền năo như vậy, nhưng không dừng ở đó mà tiếp tục phá sâu vào phần vi tế bên trong để thấy được cội nguồn của khổ và tập. Tuy nói là phá nhưng cái phá ấy không mang tính đoạn trừ mà mang tính liễu tri nên nói NHIẾP TẬP KHỔ.

“Chứng được diệt khổ của tất cả ư sanh thân” là chỉ cho việc thể nhập được hoàn toàn pháp thân, là cội nguồn chân thật của tất cả pháp, trong đó có phần ư sanh thân. Sau là nói về phần DIỆT mà chư Như Lai đă chứng.

Bạch Thế Tôn! Chẳng phải pháp hoại đi mà gọi là diệt khổ. V́ sao? Nói DIỆT khổ là vô thủy, vô tác, vô khởi, vô tận, thường trụ, bất động, bản tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền năo. Bạch Thế Tôn! Như Lai thành tựu hằng hà sa số pháp đầy đủ trí giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, gọi là pháp thân.

Phần DIỆT của Vô tác thánh đế khác với phần DIỆT của Tác thánh đế ở chỗ : La Hán diệt phiền năo để có niết bàn. C̣n DIỆT của Vô tác thánh đế là nói về pháp thân thường trụ. Không phải diệt cái ǵ mới có niết bàn mà là nhận ra được cội nguồn của những thứ đó nên có niết bàn. Đó là trở về với pháp thân của ḿnh, gọi là được niết bàn. Vô thủy, vô tác … là bản chất của pháp thân thường trụ. V́ VÔ TÁC nên không thể dùng Tác thánh đế mà thể nhập nó được.

Cho nên, hành giả tu hành lúc đầu dùng pháp đối trị mang tính tạo tác rất nhiều, nhưng càng về sau càng phải đi dần đến chỗ vô tác, mới thể nhập được pháp thân thanh tịnh của ḿnh. Đây là lư do v́ sao Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy ngài Trần Nhân Tông “Tŕ giới và nhẫn nhục, chuốc tội chẳng chuốc phước, Muốn biết không tội phước, đừng tŕ giới nhẫn nhục. Như khi người leo cây. Trong an tự cầu nguy. Như người không leo cây, trăng gió có làm ǵ”. Rồi dặn nhỏ một câu “Chớ bảo cho ngươi không ra ǵ biết”. 

NGƯỜI KHÔNG RA G̀ là người mà c̣n cần đến pháp đối trị nhiều. Như người có tánh sân th́ cần phải tập nhẫn nhục. Nói là tánh v́ cái sân ấy đă được huân tập thành thói quen. Là thói quen rồi th́ ḿnh sẽ mê mờ theo nó mà tạo nghiệp vô vàn, quả khổ không biết bao nhiêu mà kể, càng đi xa cội nguồn pháp tánh chân như. V́ thế, cần phải dùng đến pháp đối trị là nhẫn nhục để dừng đi thói quen sân giận. 

Bản tâm vốn thanh tịnh không có sân. Một khi sân không c̣n là thói quen, tức không c̣n bị nó sai sử tạo nghiệp, ta sẽ nhận dần ra thực tánh của sân, nhận được tánh của sân th́ không cần dùng pháp đối trị nữa. Nếu vẫn dùng pháp đối trị th́ không khác ǵ người đang an ổn dưới mặt đất bỗng leo lên cây t́m sự nguy hiểm. Lúc đó cái nhẫn ấy không khác ǵ cái sân. Như có bệnh th́ uống thuốc, hết bệnh th́ thuốc phải bỏ. Hết bệnh mà vẫn uống thuốc th́ sẽ sanh bệnh mới.

Bạch Thế Tôn! Như vậy pháp thân chẳng ĺa phiền năo, gọi là Như Lai Tạng.  Bạch Thế Tôn! Như Lai Tạng đó chính là trí tánh không Như Lai, là chỗ mà tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy cũng chưa từng chứng, chỉ có Phật mới có thể liễu tri và tác chứng.

Pháp thân c̣n bị phiền năo ràng buộc gọi là Như Lai Tạng. Đây là t́nh trạng của chúng ta. Nghĩa là không ai không có phần Như Lai Tạng này. Dù đang khóc hù hù hay cười hi hí th́ kho tàng vô giá ấy vẫn sờ sờ ra đó. Chỉ v́ bận cười và khóc nên không có đầu óc đâu để sử dụng đến nó. 

“Như Lai Tạng đó chính là trí tánh không” là nhấn mạnh về mặt THỂ TÁNH của vạn pháp. Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi nó là TỰ TÁNH chân như, là tánh thể của vạn pháp. Nhờ tánh thể này, ta mới chán sanh tử khổ, cầu vui niết bàn. Địa vị Sơ Địa trực chứng được tánh không này. Chứng tánh không này rồi, lậu hoặc vẫn chưa hết, nên chưa gọi là pháp thân mà gọi là Như Lai Tạng, là Như Lai c̣n bị phiền năo ràng bọc. Trải qua các vị Thập địa cho đến địa vị Bồ tát tối hậu, tập lậu theo đó trừ dần, TƯỚNG và DỤNG của cái THỂ ấy từ từ hiển lộ. Đến địa vị Phật th́ viên măn. Lúc này Như Lai Tạng với thể, tướng và dụng hiển bày đầy đủ gọi là pháp thân. 

Bạch Thế Tôn! Trí tánh không Như Lai Tạng này lại có 2 thứ. Thế nào là 2? Một là KHÔNG NHƯ LAI TẠNG, là ĺa tất cả phiền năo và trí chẳng giải thoát. Bạch Thế Tôn! Hai là BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG th́ đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể nghĩ bàn và trí giải thoát của Phật. 

NHƯ LAI TẠNG này có 2 thứ. 

1. KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho TÁNH THỂ chân như. Nó chính là cái KHÔNG của tâm chân như trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Đây gọi là trí tánh không. 

V́ nói về mặt THỂ TÁNH của Như Lai, nên ở đó ngay tướng KHÔNG cũng không thể thấy, nên nói “Ĺa tất cả phiền năo và trí chẳng giải thoát”. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Không Như Lai Tạng th́ vừa ly, vừa thoát, vừa khác tất cả phiền năo”. 

2. BẤT KHÔNG NHƯ LAI TẠNG là chỉ cho pháp thân với thể, tướng và dụng đă đầy đủ, là phần BẤT KHÔNG trong luận Đại Thừa Khởi Tín. V́ đă đủ luôn cả TƯỚNG và DỤNG, nên nói “Đầy đủ hằng hà sa số pháp chẳng thể nghĩ bàn và trí giải thoát của Phật”. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch “Bất không Như Lai Tạng th́ chẳng ly, chẳng thoát, chẳng khác hằng hà sa số Phật pháp”. Thể, dụng và tướng tuy ba mà chẳng phải ba nên nói chẳng ly, chẳng thoát, chẳng khác. Đây là cảnh giới sự sự vô ngại của thế giới Hoa Nghiêm.

Bạch Thế Tôn! 2 thứ không trí này các vị đại Thanh văn do tin mà vào. Bạch Thế Tôn! Như vậy, tất cả Thanh văn và Độc giác, trí tánh không là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển. Cho nên, tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy, chưa từng chứng. Chỉ có Phật mới là hiện chứng tất cả DIỆT khổ, hoại các phiền năo, tu ĐẠO diệt khổ.

Phu nhân khẳng định 2 loại KHÔNG Như Lai Tạng và BẤT KHÔNG Như Lai Tạng này không phải là chỗ chứng của hàng Thanh văn, Duyên giác. Đối với chỗ đó, chư vị chỉ có tin mà vào chứ chưa phải là chỗ thực chứng của chư vị. Cội nguồn chân thật nhất tâm th́ thường, lạc, ngă, tịnh. Song chư vị chỉ thấy được TƯỚNG vô thường, bất tịnh, vô ngă của vạn pháp mà chưa thấu được TÁNH thường, lạc, ngă tịnh của vạn pháp, nhưng lại lấy 4 cái tướng ḿnh thấy ấy làm tánh thật của vạn pháp, nên nói là 4 đảo cảnh. ĐẢO có nghĩa là ngược lại. Nếu tu tập tiếp, Thanh văn Độc giác sẽ đạt được trí tánh không như Phật. Trí đó là từ cái trí thấy 4 đảo cảnh tu tập tiến về,[53]  nên nói “Tất cả Thanh văn và Độc giác, trí tánh không là từ 4 đảo cảnh phan duyên mà chuyển”. 

 Bạch Thế Tôn! Trong 4 đế này, 3 đế là vô thường, 1 đế là thường. V́ sao? V́ 3 đế thuộc tướng hữu vi. Tướng hữu vi th́ vô thường. Nói vô thường đó là pháp phá hoại. Pháp phá hoại th́ chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng phải là chỗ qui y. Cho nên 3 đế theo đệ nhất nghĩa th́ chẳng phải thật, chẳng phải thường, chẳng phải là chỗ qui y.

Diệt đế là chỉ cho pháp thân Như Lai nên nói là thường. Nói thường là đối với cái vô thường của thế gian mà nói, chứ bản thân nó th́ không thường cũng không vô thường.

Thứ ǵ sanh rồi diệt th́ thứ ấy vô thường nên nói 3 thứ khổ, tập, đạo là vô thường. Vô thường th́ có ngày nó hoại. Nương vào cái hoại th́ khi nó hoại ḿnh sẽ khổ. V́ thế không thể qui y với những thứ vô thường giả dối. 

Bạch Thế Tôn! Chỉ một một thứ DIỆT KHỔ THÁNH ĐẾ là ĺa tướng hữu vi. Ĺa tướng hữu vi th́ tánh thường trụ. Tánh thường trụ th́ chẳng phải là pháp phá hoại. Chẳng thể phá hoại th́ thật, th́ thường, là chỗ qui y. Cho nên, diệt khổ thánh đế v́ là thắng nghĩa nên là thật, là thường, là chỗ qui y. 

Chỉ có DIỆT thánh đế là chỗ nên qui y v́ pháp thân ấy là cội nguồn chân thật của tất cả pháp.

Bạch Thế Tôn! Diệt khổ đế này chẳng thể nghĩ bàn, vượt quá cảnh giới tâm thức của chúng sanh, cũng chẳng phải là chỗ mà trí Thanh văn và Độc giác có thể đến. Thí như người mù th́ chẳng thấy sắc, trẻ sơ sinh th́ chẳng thấy mặt trời. Diệt khổ đế cũng lại như thế. Chẳng phải là chỗ mà tâm thức phàm phu có thể duyên đến. Chẳng phải là cảnh giới của trí Thanh văn và Độc giác.

Đây là nói về pháp thân Như Lai, là phần DIỆT của Vô tác thánh đế. Muốn chứng được cảnh giới này chúng ta phải ly hết mọi suy nghĩ mang tính nhị biên hiện nay – tức phải bỏ đi trí phân biệt. Cảnh giới này không phải là đối tượng của cái thấy cũng như cái biết hiện nay của ḿnh, nên nói “Vượt quá cảnh giới tâm thức của chúng sanh”. Cảnh giới tâm thức của chúng sanh bao gồm những ǵ sẽ được nói ngay sau đây.

TÂM THỨC của phàm phu là 2 biên kiến. 

Tâm do bất giác mà thành thức nên gọi là TÂM THỨC. Tâm thức của phàm phu th́ luôn luôn bị trí phân biệt chi phối. Phân biệt th́ phải có xấu hay đẹp, thường hay đoạn, tốt hay không tốt v.v… Những thứ đó gọi là 2 BIÊN. C̣n 2 BIÊN KIẾN là cái thấy 2 bên. Tu chính là bỏ đi cái thấy 2 bên ấy. Tu ǵ đó tu, giữ giới ra sao đó th́ giữ, chỉ khi phá vào phần phân biệt này th́ tương lai mới thành Phật được. 

TRÍ của tất cả Thanh văn và Độc giác gọi là TỊNH TRÍ. Trí của Thanh văn và Độc giác gọi là tịnh trí. V́ sao gọi là tịnh trí? Tâm phàm phu th́ hoạt động không ngưng nghỉ, bày cái này, nghĩ cái kia, luôn luôn hướng ngoại náo động nên thân náo động theo. Tâm của La Hán và Độc giác không c̣n những thứ đó nên nói TỊNH TRÍ. Vậy nói TỊNH là do đối với ĐỘNG mà nói. 

Nói BIÊN KIẾN là đối với 5 thủ uẩn mà chấp trước cho là ngă, rồi sanh phân biệt.[54]  Biên kiến có 2. Thế nào là 2? Đó là thường kiến và đoạn kiến. Bạch Thế Tôn, như cái thấy sanh tử là vô thường, niết bàn là thường. Nếu có cái thấy chẳng phải đoạn chẳng phải thường, gọi là chánh kiến. 

Đây là giải thích v́ sao gọi là biên kiến. 5 THỦ UẨN là chỉ cho cái thân với đầy đủ cảm thọ suy nghĩ của ḿnh đây. Với thân tâm này mà cho là chính tôi, gọi là CHẤP TRƯỚC CHO LÀ NGĂ. V́ thân tâm này là chính tôi th́ ngoài những thứ đó ra, c̣n lại đều không phải tôi. Cái thấy tôi và không phải tôi đó gọi là PHÂN BIỆT. Đó là cái phân biệt đầu tiên sản sinh ra các loại phân biệt c̣n lại. 

Một loại phân biệt khác là phân biệt thường và đoạn. Đây lấy ví dụ niết bàn là thường và sanh tử là vô thường. V́ cho niết bàn là thường nên bỏ sanh tử t́m niết bàn. Cho sanh tử vô thường nên đoạn sanh tử nhập niết bàn. Chẳng biết rằng, niết bàn không khác sanh tử, chẳng thường cũng chẳng vô thường. Thấy như vậy là thấy chính xác về bản chất của vạn pháp nên nói CHÁNH KIẾN. 

V́ sao? Là để giải thích v́ sao cái thấy thường và vô thường không phải là chánh kiến. 

V́ những kẻ phân biệt thấy thân cùng các căn cảm thọ đó, suy nghĩ đó, thấy sự hoại diệt của các pháp hiện tại, mà chẳng biết ǵ về sự tương tục của hữu. V́ không có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy đoạn kiến. 

Đây nói về phần ĐOẠN KIẾN trước. KẺ PHÂN BIỆT là chỉ cho chúng sanh ḿnh. Nh́n tới đâu là phát huy cái nh́n xấu, đẹp, ta, người, thân, sơ tới đó. Những kẻ phân biệt th́ thấy ǵ? Trong th́ chỉ biết đến sự suy nghĩ và cảm thọ của ḿnh, ngoài th́ thấy Phuket huy hoàng đă biến mất khỏi thế gian, thấy người này sanh ra và người kia chết đi. Mọi thứ rất hăi hùng. Chết rồi, không c̣n thấy lại nữa nên cho rằng chết là hết, mà không hiểu rằng chết đây sanh kia, luân chuyển liên tục trong 6 đường : Cha thành cháu nội, mẹ thành chú chó giữ nhà v.v… SỰ TƯƠNG TỤC CỦA HỮU là chỉ cho mấy thứ đầu thai tương tục không có ngày chấm dứt đó. HỮU, chỉ cho một đời. Thấy không đúng sự thật nên nói là MÙ MỜ. Cái mù mờ này do thiếu trí tuệ mà ra, nên nói “V́ không có con mắt tuệ nên mù mờ khởi cái thấy đoạn kiến”.

C̣n với tâm tương tục hoại diệt trên từng sát na, lại ngu tối chẳng rơ cảnh giới ư thức, nên khởi cái thấy thường kiến. 

Đây là nói về cái thấy THƯỜNG KIẾN. Thường kiến là thấy vạn pháp c̣n hoài. Nói cái “c̣n hoài” đó th́ với thế gian ḿnh thấy khó gặp. V́ không ai là không chết, nên có cái thấy vô thường dễ hơn là có cái thấy thường. Song một khi ḿnh cho thân tâm này là thật, là ḿnh đă dính vào thường kiến. V́ sao? V́ không phải thân tâm này chỉ có hai đầu mút là sanh và tử mà nó sanh diệt sanh diệt trên từng sát na. Cái sanh diệt trên từng sát na đó biểu hiện cho cái không thường. Không thường th́ không thật. Cái sanh diệt đó là phần sanh diệt của ư thức. [55]

Một loại chấp THƯỜNG nữa là chấp có linh hồn bất tử. Có người thấy thân đúng là pháp sanh diệt nhưng lại cho vọng tâm (nghiệp thức) th́ thường trụ và gọi nó là linh hồn bất tử (một dạng thân trung ấm). Gọi là bất tử v́ dù thân xác này mất đi th́ linh hồn vẫn vĩnh cữu. Thật ra, không có linh hồn vĩnh cữu nào ở đây. Khi chứng nhập được niết bàn của các vị La Hán hay Bích Chi Phật, mới thấy cái gọi là linh hồn đó không có, chỉ c̣n lại một trạng thái an lạc trống không, chính là trạng thái vô ngă của Nhị thừa. Song muốn đạt được trạng thái an lạc này của chư vị Nhị thừa th́ ḿnh phải tu hành hàng phục vọng tâm như chư vị, không phải chết là có ngay cơi cực lạc đó được. Đây là chỗ khác nhau giữa trạng thái niết bàn của chư vị Nhị thừa với linh hồn. Cái gọi là linh hồn chỉ là phần nghiệp thức của chúng sanh, theo nghiệp mà luân chuyển, chết đây sanh kia, c̣n nghiệp c̣n sanh, c̣n sanh là c̣n tử, không có chuyện bất tử. Hết nghiệp hết sanh, hết sanh th́ hết tử, cũng không thể nói là không bất tử. Đó là thực tướng của vạn pháp ở thế giới này. 

Trạng thái niết bàn của A La Hán và Độc Giác đó tuy không c̣n bị sự sanh diệt của ư thức chi phối, nhưng vẫn bị sự tương tục của phần chuyển thức vi tế chi phối, không thật tĩnh lặng như các vị đă cảm nhận. Nên, nếu cho niết bàn của chư vị là thường, vẫn không được xem là chánh kiến. 

Bạch Thế Tôn! Mọi thứ đó, lỗi là từ phân biệt và cái thấy hạ liệt. Do các ngu phu vọng sanh dị tưởng điên đảo chấp trước mà cho là đoạn, là thường.

Đây là kết luận của phu nhân Thắng Man. Mọi thứ đều do cái thấy phân biệt mà ra. Nghiệm lại trong đời sống hiện nay sẽ thấy rơ điều này. Chỉ v́ sự phân biệt ta người mà có tranh dành, cướp bóc, tham nhũng, tan thương v.v… Cái thấy phân biệt ấy chỉ đưa đến những kết quả xấu nên nói là HẠ LIỆT. Người mà không đủ trí tuệ nh́n đúng thực chất của sự vật gọi là NGU PHU. Nh́n không đúng thực chất của sự vật nên nói VỌNG SANH DỊ TƯỞNG ĐIÊN ĐẢO. Từ cái thấy sai lầm đó mới có sự nắm giữ hay tống đi nên nói CHẤP TRƯỚC. Như thấy mọi người chết rồi đều không c̣n gặp lại, liền cho chết là hết, không có đời sau. Nghĩ vậy rồi, ai nói khác đi ḿnh cũng không nghe không tin th́ đó là biểu hiện cho sự chấp trước về đoạn kiến.

Bạch Thế Tôn! Chúng sanh điên đảo, đối với 5 thủ uẩn, vô thường mà tưởng thường, khổ mà tưởng lạc, vô ngă mà tưởng ngă, bất tịnh lại tưởng tịnh. Tịnh trí của Thanh văn và Độc giác, đối với cảnh giới Như Lai và Phật pháp thân chưa từng được thấy. 

ĐIÊN là không b́nh thường. ĐẢO là ngược. Thân này sanh diệt trên từng sát na mà cho là thường đó là cái thấy ngược nên nói điên đảo. Tương tự với các thứ c̣n lại cũng vậy.

Nhị thừa do đă trú được trong tịnh trí nên đă nhận ra được cái sanh diệt của thân cùng cái vô ngă của tâm. Song cả hai vẫn c̣n trên đường đi v́ chưa ai thấy được cội nguồn của những thứ đó : Chính là Phật pháp thân, c̣n gọi là cảnh giới Như Lai.

Nếu có chúng sanh tin Như Lai nên đối với cảnh giới Như Lai, khởi cái tưởng thường, lạc, ngă, tịnh. Đó chẳng phải là cái thấy điên đảo, tức là chánh kiến. 

Thấy thân tâm sanh diệt đây là thường th́ rơi vào điên đảo nhưng tin Phật pháp thân của ḿnh là thường th́ gọi là chánh kiến. Đây là đứng trên phương diện ngôn từ mà lập bày, nên thấy có sự đối đăi. Nói THƯỜNG là đối với cái chấp VÔ THƯỜNG của hàng Nhị thừa mà nói, để thấy trí của Nhị thừa chưa phải là trí tối cùng. 

V́ sao? V́ pháp thân Như Lai là thường Ba la mật, lạc Ba la mật, ngă Ba la mật, tịnh Ba la mật. Nếu hữu t́nh nào có cái thấy như vậy gọi là thấy chân chánh (chánh kiến). Người có chánh kiến gọi là chân Phật tử, từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hóa sanh, đă có phần trong Phật pháp. 

Ba la mật là đến bờ kia. Do đến được bờ kia mà đạt được 4 thứ thường, lạc, ngă, tịnh đó nên nói “Pháp thân Như Lai là thường Ba la mật, lạc Ba la mật …” 

Đây nói đến niềm tin của ḿnh đối với pháp thân Phật, cũng chính là pháp thân Phật của chính ḿnh. Người mà tin ngoài tâm không có Phật, rồi phát tâm hàng phục vọng tâm là người đă có quá tŕnh tu hành nhiều đời, như phu nhân Thắng Man đây. 

Luận Đại Thừa Khởi Tín gọi những người có niềm tin như vậy là Chánh định tụ. Chánh định tụ là chỉ cho hạng người không c̣n đi nam về bắc t́m cầu ǵ nữa. Lui sụt thế nào cũng chỉ duy nhất một đường mà đi, gọi là bất thối. Đường đó là ǵ? Hàng phục vọng tâm bằng cách phá dần trí phân biệt để thành Phật. 

Bất thối có 2 loại. Một loại là nghe rồi tin mà phát tâm tu hành. Một loại là do chứng nhập nhất niệm Phật tâm mà tu hành. Nhân là tin Phật tâm của chính ḿnh, th́ quả mới chứng nhập được nhất niệm Phật tâm. Nhân là Nhất niệm Phật tâm th́ quả mới là niết bàn Phật.

Người được như vậy gọi là chân Phật tử. Tu để trở lại gốc Phật của ḿnh chứ không để thành ǵ khác nên nói là CHÂN. C̣n đang giai đoạn hướng về nên không gọi là Phật mà gọi là PHẬT TỬ. 

CHÁNH PHÁP có 2 nghĩa thô và tế. Thô là chỉ cho giáo pháp Phật đă nói, tế là chỉ cho pháp tánh chân như. Nhờ nghe giáo pháp Phật nói mới phát tâm tu hành mà thể nhập pháp thân của chính ḿnh, nên nói TỪ MIỆNG PHẬT SANH. Chứng nhập pháp thân rồi, hiện hóa và báo thân làm lợi ích chúng sanh, để đạt quả vị Phật tối cùng, nên nói TỪ PHÁP HÓA SANH. Gộp hai thứ đó lại th́ có TỪ CHÁNH PHÁP SANH. 

Bạch Thế Tôn! Nói TỊNH TRÍ chính là trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác. Tịnh trí đó so với diệt khổ đế c̣n chẳng phải là cảnh giới, huống là loại diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu. 

TỊNH TRÍ là trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác. V́ sao? V́ tịnh trí đó là chỗ “Đến bờ kia” của Thanh văn và Độc giác, nên nói “Trí Ba la mật của tất cả Thanh văn và Độc giác”. Cũng là Ba la mật mà không phải của Phật. V́ thế, cảnh giới niết bàn của Thanh văn và Độc giác chưa phải là cảnh giới niết bàn của Như Lai, nên nói “Tịnh trí đó, so với diệt khổ đế c̣n chẳng phải là cảnh giới”. DIỆT KHỔ ĐẾ nói trong câu này là diệt khổ đế của Phật.

4 trí nhập lưu là 4 trí nhập vào ḍng pháp. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi “Tuy gọi là tịnh trí, nhưng đối với diệt đế kia c̣n chẳng phải là cảnh giới huống là trí 4 y”. Như vậy 4 trí nhập lưu nói đây bắt nguồn từ 4 y : Y pháp không y người, y nghĩa không y ngữ, y trí không y thức, y kinh liễu nghĩa không y kinh bất liễu nghĩa. Đây là 4 phương tiện Phật dùng dạy cho người tu Đại thừa, [56] chưa phải là chỗ rốt ráo. Gọi là NHẬP LƯU v́ nó khiến người tu có hướng đi đúng đắn để nhập vào ḍng pháp. 

Có được 4 loại trí này th́ ta có được loại DIỆT khổ ứng với 4 loại trí đó. Như loại Y TRÍ BẤT Y THỨC. Do sống theo trí không sống theo thức, nên suy nghĩ và hành động của ḿnh không bị cái tôi và những cái của tôi chi phối. Không bị cái tôi sai sử chi phối th́ hiện tại ḿnh đă không khổ mà hành động của ḿnh cũng không gây tội lỗi để lại nhân xấu cho tương lai. Đối với những nghiệp nhân trong quá khứ, ḿnh cũng có cái nh́n b́nh thản đối với nó. Đó là một loại DIỆT khổ mà luận đây gọi là “Diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu”. SỞ HÀNH là chỉ cho chỗ tu hành, pháp tu hành. C̣n người tu gọi là NĂNG HÀNH. 

Tịnh trí của La Hán và Bích Chi Phật thuộc pháp không sanh diệt, c̣n 4 loại trí này vẫn là pháp sanh diệt, v́ thế 4 trí này so với tịnh trí của chư vị Nhị thừa vẫn c̣n chưa tới, huống là loại DIỆT đế của chư Phật, nên nói “Tịnh trí đó so với diệt khổ đế c̣n chẳng phải là cảnh giới, huống là loại diệt khổ đế mà sở hành là 4 trí nhập lưu”. 

V́ sao? Hỏi để giải thích.

V́ với Tam thừa sơ nghiệp, kẻ chẳng ngu pháp có thể đối với nghĩa đó sẽ chứng, sẽ thông. Thế Tôn v́ nghĩa đó nên nói 4 nhập lưu. Bạch Thế Tôn! 4 nhập lưu này là pháp thế gian. Thế Tôn được nhất nhập lưu, đối với các nhập lưu kia là trên, là nhất. Đệ nhất nghĩa chính là nhập lưu, chính là qui y, là diệt khổ đế.

Với cả 3 thừa, dù là người mới tu nhưng nếu hiểu được thứ ǵ là phương tiện, thứ ǵ là cứu cánh th́ với những ǵ đă được dạy, ta sẽ đạt được chỗ rốt ráo. V́ thế, Phật dạy 4 trí nhập lưu cho người tu Đại thừa. Nhờ pháp sanh diệt đó mà người tu có thể tiến dần về quả  nhập lưu của Phật, chính là Đệ nhất nghĩa đế.

Như cái Y đầu tiên là Y PHÁP KHÔNG Y NGƯỜI. Thường ḿnh đến học pháp với ai, ḿnh cũng kiếm cho được người có bề ngoài nghiêm túc, giới luật đầy đủ mà học. Đó là lẽ tất nhiên. Nhưng căn cứ vào thân tướng người khác mà học đạo như thế th́ việc học pháp của ḿnh không tiến triển bằng không căn cứ vào thân tướng người mà chỉ quan tâm ḿnh đă học được ǵ ở người đó. Học pháp với người đó mà tham sân si của ḿnh ngày mỗi hết, trí tuệ ḿnh phát triển th́ người đó xấu hay tốt, nghiêm hay không nghiêm, quả t́nh không can hệ ǵ đến ḿnh. Người ứng dụng được vậy phải là người ít chấp tướng, chỉ qui hướng về tâm là chính. Có qui hướng về tâm th́ mới có ngày thành Phật. Cái qui hướng về tâm đó gọi là nhập lưu. V́ thế Phật dạy “Y pháp bất y nhân”.

Bạch Thế Tôn, sanh tử là y nơi Như Lai Tạng. V́ Như Lai Tạng mà nói tiền tế chẳng thể biết được. Bạch Thế Tôn! Có Như Lai Tạng nên có sanh tử. Đó gọi là khéo nói. 

V́ Như Lai Tạng là cội nguồn chân thật của tất cả pháp, trong tất cả pháp đó có pháp sanh tử, nên nói “Sanh tử y nơi Như Lai Tạng”. 

Như Lai Tạng vốn không có sanh tử.[57]  Chỉ do bất giác mà sanh cái thấy hư vọng cùng cảnh giới hư vọng nên mới vọng thấy có sanh tử. Tuy nói Như Lai Tạng là cội nguồn của sanh tử nhưng cái cội nguồn ấy không có h́nh tướng nơi chốn, v́ thế nói TIỀN TẾ CHẲNG THỂ BIẾT ĐƯỢC. Một khi ḿnh c̣n có cảnh giới để biết th́ cảnh giới ấy không phải là cội nguồn chân thật của vạn pháp. 

V́ có cội nguồn Như Lai Tạng nên mới bất giác mà thành có sanh tử, không có cội nguồn đó th́ bất giác không nương đâu mà có để có sanh tử, nên nói “Có Như Lai Tạng nên có sanh tử”. KHÉO NÓI, dịch từ chữ THIỆN THUYẾT ra, là chỉ cho cái nói đúng đắn, nói hay. 

Bạch Thế Tôn! SANH TỬ đó, các thọ căn th́ diệt tương tục không có khoảng hở, c̣n các căn chưa thọ th́ khởi, gọi là sanh tử. Bạch Thế Tôn! 2 pháp sanh tử chính là Như Lai Tạng, theo thế tục mà gọi là sanh tử. Bạch Thế Tôn! TỬ là thọ căn diệt. SANH là thọ căn khởi. Như Lai Tạng th́ chẳng sanh, chẳng tử, chẳng khởi, chẳng lặn, ĺa tướng hữu vi. Bạch Thế Tôn, Như Lai Tạng là thường hằng bất hoại.

Đây là nói về thực chất của sanh tử.

Một khi chứng nghiệm được cội nguồn Như Lai Tạng, mới thấy thực tánh của sanh tử là Như Lai Tạng, nên nói “2 pháp sanh tử chính là Như Lai Tạng”. C̣n khi chưa thấu nghiệm được Như Lai Tạng th́ thấy SANH có tánh của sanh, TỬ có tánh của tử, nên nói “Nói theo thế tục là sanh tử”. Hoặc đă thấu nghiệm rồi nhưng v́ nương theo ngôn từ ở thế gian mà nói, cũng nói “Nói theo thế tục …”.

Với người thế gian th́ CĂN là chỉ cho 6 căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. THỌ là chỉ cho 2 thứ cảm thọ đối nghịch nhau (như vui, buồn v.v…) và 1 thứ không rơi vào 2 đối nghịch trên (như không vui không buồn v.v…) CĂN đă thành h́nh th́ luôn dính liền với 3 thứ cảm thọ trên, nên nói gộp thành THỌ CĂN. Nói chung, thọ căn là chỉ cho thân ḿnh đây. 

CĂN cũng như THỌ là một chuỗi sanh diệt sanh diệt liên tục trên từng sát na chứ không phải chỉ có 2 đầu mút sanh và tử như ḿnh đă thấy. Từ nhỏ đến lớn, già rồi chết là một quá tŕnh sanh diệt liên tục. Nói CĂN CHƯA THOï là đối với loại THỌ CĂN đang hiện diện mà nói, chỉ cho loại THỌ CĂN sẽ xuất hiện khi loại THỌ CĂN trước hoại đi. 

Như vậy, SANH TỬ chẳng qua chỉ là sự DIỆT và SANH tương tục của các THỌ CĂN chứ không có ǵ khác. Thân này mất đi, có thân khác xuất hiện … Cứ vậy mà liên tục theo những ǵ ḿnh đă tạo trong đời hiện tại pha lẫn với những ǵ đă tạo trong tiền kiếp.

Thọ căn diệt, thọ căn khởi, xoay vần liên tục như thế, nhưng theo cái sanh diệt ấy vẫn có một thứ không sanh diệt. Đó là Như Lai Tạng. V́ không sanh không diệt nên nó không lặn cũng không khởi, nên nói KHÔNG KHỞI, KHÔNG LẶN. Không sanh diệt th́ L̀A TƯỚNG HỮU VI. V́ những điều ấy, phu nhân Thắng Man kết luận “Bạch Thế Tôn, Như Lai Tạng là thường hằng bất hoại”.

Cho nên, bạch Thế Tôn! Như Lại Tạng là chỗ y tŕ kiến lập của trí tạng chẳng ĺa giải thoát, cũng là chỗ y tŕ kiến lập của các pháp hữu vi cùng với trí tạng ĺa hẳn cái chẳng giải thoát.

CHO NÊN là câu kết luận sau khi đă nói rơ về sanh tử và Như Lai Tạng. Như Lai Tạng là cội nguồn từ đó phát sanh vạn pháp, cả về pháp thế gian mà cả về pháp xuất thế gian. Nói phát SANH nhưng cái sanh ấy không có tánh. Chỉ như ngủ rồi mộng. V́ bất giác nên mê mà thấy có mọi cảnh giới. Hết mê th́ mọi thứ là không, chỉ là nhất pháp giới với đầy đủ mọi công đức khó nghĩ lường. 

Khi mê th́ sanh mọi cảnh giới trong lục đạo nên nói “Cũng là chỗ y tŕ kiến lập của các pháp hữu vi cùng với trí tạng ĺa hẳn cái chẳng giải thoát”.[58]  Phần dịch này, Ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch rơ hơn “Như Lai Tạng là chỗ y tŕ kiến lập của pháp hữu vi đoạn, thoát, khác, ngoài”. Pháp hữu vi tuy lấy Như Lai Tạng làm chỗ y tŕ kiến lập nhưng v́ do mê mà thấy có, hết mê th́ mọi thứ là không, nên nói “Pháp hữu vi đoạn, thoát, khác, ngoài”. Thoát, khác, ngoài là nói pháp hữu vi thoát, khác, ngoài Như Lai Tạng. Nhờ thoát, khác, ngoài nên mới ĐOẠN được.

Hết mê th́ pháp thân hiển bày với mọi thứ trí tuệ và công đức, nên nói “Như Lại Tạng là chỗ y tŕ kiến lập của trí tạng chẳng ĺa giải thoát”. Ngài cầu Na Bạt Đà La dịch “ Như Lai Tạng là chỗ y tŕ kiến lập của Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, chẳng ĺa, chẳng đoạn, chẳng khác, chẳng thoát”. Nghĩa là, trí tuệ và công đức của Như Lai không phải là pháp thân Như Lai nhưng CHẲNG LY, CHẲNG KHÁC, CHẲNG THOÁT pháp thân ấy. Cái không một mà không khác, không ĺa, không thoát ấy vượt ngoài sự suy nghĩ và cái thấy thường t́nh của người đời, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN. Như Lai là thường trụ bất biến nên công đức và trí tuệ của Như Lai thường trụ bất biến, v́ thế nói CHẲNG ĐOẠN. 

Bạch Thế Tôn! Nếu không có Như Lai Tạng th́ không nên có việc chán khổ, thích cầu niết bàn. 

Như Lai Tạng vốn thường, lạc, ngă, tịnh. V́ nó THƯỜNG và TỊNH mà nó LẠC. Nếu không thường và tịnh th́ không có cái lạc ấy. Song do ĐỘNG mới có chúng sanh. V́ thế chúng sanh không sử dụng được cái thường, lạc, ngă, tịnh này.

Cái gọi là LẠC của thế gian là do đối với cái khổ của thế gian mà có. V́ thế chỉ người nào trải qua cái khổ rồi mới cảm nhận được cái vui, mới thấy được giá trị của cái vui đó. Như người khổ v́ nghèo th́ khi t́m được tiền mới thấy vui. C̣n người nghèo mà b́nh thản với cái nghèo th́ có tiền họ cũng b́nh thản. Nghĩa là, cái lạc hay khổ ở thế gian mang tính đối đăi. Không có tính đối đăi này th́ cái lạc và khổ ấy không xuất hiện. Đây là lư do v́ sao những người quá đầy đủ có khi lại tự tử mà chết hoặc thỏa măn một thứ ǵ đó rồi lại nảy sinh cảm giác chán nản. V́ cái lạc của họ được xây dựng trên sự liên quan đối đăi. Khi cái đối đăi ấy hết, cái lạc ấy cũng không c̣n. Không c̣n mà thiếu trí tuệ nữa nên … thắt cổ! C̣n những người xây dựng cái lạc của ḿnh bằng cách bố thí, cúng dường, quan tâm đến người khác th́ các lạc ấy tùy thuận với cái lạc của Như Lai Tạng nên nó không bị cái khổ và lạc kia chi phối. Song nó vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cái lạc đối đăi đó. Cũng như cái lạc của cơi Sắc và Vô sắc đều có giới hạn v́ chúng vẫn c̣n lệ thuộc vào nhân duyên. Duyên hết th́ chúng cũng hết. 

LẠC của Như Lai Tạng là cái lạc tối thắng, không có cái lạc nào ở thế gian có thể sánh được, lại là cái sẵn đủ trong mỗi chúng sanh nên dù hưởng được dục lạc ở thế gian bao nhiêu, con người vẫn không hoàn toàn cảm thấy hạnh phúc sung sướng. V́ có cái lạc vốn do BẤT ĐỘNG này làm nền tảng nên dù là người đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần, không hẳn đă là một người yên vui. Vẫn tiềm ẩn một sự bất an hoặc nảy sinh cảm giác chán nản. Sự bất an và chán nản đó phá hủy đi thứ hạnh phúc ḿnh đă đạt được để t́m cầu một thứ khác hơn. Ngay cả với người t́m thấy cái lạc trong việc bố thí, cúng dường v.v… một lúc nào đó cũng sẽ thấy việc ấy không mang lại cái lạc cho ḿnh nữa. 

Với người đủ duyên, họ sẽ được hộ tŕ để hướng về con đường tối thượng, c̣n với người chưa đủ duyên, họ hướng sự chán nản lo âu của ḿnh vào những dục lạc khác của thế gian hoặc t́m đến cái chết. Người đời chỉ làm theo những ǵ bản năng thôi thúc mà không hiểu được nguyên do của những hành động đó. Chẳng qua, v́ ai cũng có cái KHÔNG Như Lai Tạng bất động, nhưng lại bị vô minh chi phối. Đây là phần khó hiểu mà Đức Phật và phu nhân Thắng Man đề cập trong phần sau. Đây chỉ nêu tạm một ví dụ để cảm nhận được chỗ này. 

Như người từng sống quen ở quê hương ḿnh, quê hương là chùm khế ngọt, th́ dù được mọi thứ đầy đủ trên miền đất hứa, vẫn muốn quay về để hưởng cái mùi khế ngọt quen thuộc kia. Cái hơi hướm quen thuộc đó là cái ǵ không ai giải thích được. Nhưng nó chính là thứ khiến kẻ lăng du mong mơi một ngày về. Không có hơi hướm đó, người ta sẽ đi măi không có ngày dừng nghỉ. V́ đă có cái lạc của Như Lai Tạng nên không có cái lạc nào ngoài cái lạc đó khiến ḿnh thấy yên ổn. Cái lạc nào ngoài cái lạc ấy rồi cũng đưa đến cái khổ mà thôi. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Động là có khổ, v́ quả chẳng ĺa nhân”. Khổ th́ phải t́m cầu thoát khổ. Đó là lư do v́ sao đây nói “Nếu không có Như Lai Tạng th́ không nên có việc chán khổ, thích cầu niết bàn”. Thấy thiên hạ chán khổ thích cầu niết bàn th́ biết thiên hạ có Như Lai Tạng nên nói KHÔNG NÊN.

V́ sao? Hỏi để giải thích v́ sao nói không có Như Lai Tạng th́ không có sự nhàm chán sanh tử, thích cầu Niết Bàn. 

Với 6 thức và sở tri, như vậy là 7 pháp, sát na chẳng trụ, chẳng nhận các khổ, chẳng chịu chán ĺa mà nguyện cầu niết bàn. Như Lai Tạng không có tiền tế, không sanh cũng không diệt. V́ là pháp nhận các khổ, kia mớùi chán khổ mà thích cầu niết bàn. 

Nếu chỉ có 6 thức và sở tri th́ không đủ khả năng khiến người chán cái khổ sanh tử, thích cầu cái vui niết bàn. V́ sao? V́ nếu chỉ có 6 thức ngoài th́ 6 thức này sanh diệt sanh diệt trên từng sát na không thể là chỗ giữ ǵn và chịu sự huân tập các chủng tử khiến chúng sanh lưu chuyển khổ năo trong 6 đường. Không khổ, không có sẵn cái lực an lạc khiến người muốn t́m về niết bàn, th́ khó mà thức tỉnh được. Ai cũng có Như Lai Tạng mà đa số ḿnh đây c̣n … một đi không trở lại, nói là không có. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch phần chẳng nhận các khổ là “Chẳng gieo trồng các khổ”. Đây là phá cái nh́n của hàng Nhị thừa, chỉ biết có 6 thức ngoài, không biết có Như Lai Tạng thâm sâu. 

6 THỨC ngoài là chỉ cho 6 thức : Nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức. 6 thứ này đều có phần hạn riêng của nó nhưng không ĺa nhau mà có v́ cùng một thể mà ra. Cái thể ấy chính là Như Lai Tạng. Như Lai Tạng không có chỗ khởi đầu nên nói KHÔNG CÓ TIỀN TẾ. V́ không có tiền tế nên không sanh, không sanh th́ không diệt, nên nói KHÔNG SANH CŨNG KHÔNG DIỆT.

SỞ TRI, chỉ cho phần pháp chấp. Nó thuộc về phần thâm sâu của tâm thức. Như Lai Tạng do bất giác mà thành thức Alaida, là chỗ lưu giữ tất cả chủng tử hữu lậu cũng như vô lậu, là NHÂN của tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. 

Bạch Thế Tôn! Như Lai Tạng th́ không có ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả. 

Như Lai Tạng nói đây là chỉ cho Như Lai Tạng đă xuất triền. Song cả khi vẫn c̣n bị trói buộc trong phiền năo, nó vẫn không có mấy tướng đó. Những tướng đó chỉ là vọng hiện.

Với cái nh́n đơn giản của ḿnh hiện nay th́ NGĂ là chỉ cho ta, NHÂN là chỉ cho người, CHÚNG SANH là chỉ cho tất cả mọi sanh khởi ở thế gian. Thứ ǵ thấy có thực sanh thứ đó gọi là chúng sanh. THỌ GIẢ là nói đến mạng căn. 

Thấy có ta, có người … là do mê Như Lai Tạng mà thấy, là cái thấy đă bị điều kiện hóa bởi nghiệp thức. Như Lai Tạng vốn không có mấy thứ đó. Nên nói “Như Lai Tạng không có ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả”. 

Vi tế hơn, 4 tướng này diễn tả cảnh giới của tâm. Một khi tâm c̣n bị 4 tướng ấy chi phối th́ Như Lai Tạng vẫn c̣n bị vô minh làm nhiễm, chưa phải là Như Lai Tạng với đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn mà ta muốn trực nhập.

NGĂ TƯỚNG, có 2 phần là thô và tế. NGĂ THÔ là chỉ cho cái ta của người đời, được biểu hiện qua tham, sân ... Không có ta th́ không có tham, sân ... Nên thấy tham, sân … là biết có ta. NGĂ TẾ là chỉ cho cái ta của người tu, được biểu hiện qua việc sở đắc kiến giải và những ǵ ḿnh đă trực nghiệm được bằng sự thực chứng. Kiến giải hay sự chứng nghiệm đó nếu không có tâm sở đắc th́ không lỗi. V́ nó là những kết quả tất yếu phải có trong quá tŕnh tu hành. Nhân duyên đầy đủ th́ sinh quả. Song nhân duyên hết th́ quả cũng không c̣n. Một khi ḿnh có tâm sở đắc thủ chấp là ḿnh đă không c̣n đặt chúng đúng vị trí nhân duyên của chúng nữa. Tâm sở đắc đó là biểu hiện của ngă tướng.

Kinh Viên Giác nói “Thế nào gọi là ngă tướng? Là tâm sở chứng của chúng sanh ... Này thiện nam tử! Tâm đó cho đến chứng Như Lai hay liễu tri niết bàn đều là ngă tướng”. Một khi ḿnh đă có tâm sở chứng th́ dù đạt được cảnh giới Như Lai chăng nữa, cũng đều biểu hiện của ngă tướng mà thôi. V́ sao? V́ một khi c̣n thấy đó là mặt của anh th́ mặt anh đang là đối tượng được thấy của tôi chứ tôi chưa phải là chính anh. Tương tự, thể nhập được với Như Lai Tạng th́ ngay lúc thể nhập ấy, Như Lai Tạng không phải là đối tượng để ta có thể thấy. Thấy có chứng có đắc v́ ta không c̣n ở trong chứng trong đắc nữa. Cái khoảng không chứng không đắc đó không phải là Như Lai Tạng mà thủ chấp th́ chính là tâm chúng sanh. Ngay cả khi đang chứng mà cảnh giới chứng ấy c̣n trong ṿng năng giác sở giác, th́ cái chứng ấy vẫn chỉ là sở kiến của tướng Năng Kiến chứ không phải Như Lai Tạng. Năng Kiến là tướng thứ 2 trong 9 tướng bất giác.[59]  Bất giác th́ không phải là Như Lai Tạng, nên nói “Như Lai Tạng không có ngă, nhân …”.

“Này thiện nam tử! Tâm đó cho đến chứng Như Lai …” là cách nói ẩn dụ để thấy cái lỗi kinh khủng của sự chấp thủ. C̣n với tâm chấp thủ đó th́ chẳng bao giờ có thể chứng được cái nhân Như Lai, đừng nói là niết bàn thanh tịnh, là quả niết bàn Như Lai. 

Tóm lại, tâm sân, tâm kiêu mạn, tâm ghen ghét, tâm sở đắc v.v… không có tâm nào là Như Lai Tạng dù Như Lai Tạng không hề ĺa mấy tâm đó.[60]  Ngay nơi những tướng đó mà không có các tướng đó, chính là Như Lai Tạng. V́ thế xuất hiện tướng NHÂN dưới.

NHÂN TƯỚNG, kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng nhân? Là tâm ngộ chứng của các chúng sanh”. NGỘ CHỨNG là ngộ được tâm sở chứng là ngă. 

Lấy một ví dụ để dễ hiểu, người không biết thế nào là ngă tướng th́ hành xử thoải mái theo những ǵ ḿnh thích và nghĩ. Bố thí tới đâu, thiên hạ biết tiếng tới đó. Nghe một câu trái với ư kinh là lùng bùng rồi cự tuyệt loạn xạ mà không thấy điều đó là lỗi. Nghe khen th́ t́m cách gần mà nghe chê th́ phản biện hùng hồn. Được chút sở đắc ǵ trong công phu tu hành th́ thích thú, đắc chí v.v… Tuy nhiều h́nh thức khác nhau như thế nhưng đều biểu hiện cho một thứ gọi là NGĂ TƯỚNG. Nhận ra được những thứ đó đều là ngă tướng th́ tướng ngă liền mất. Ngă mất nhưng tâm ấy vẫn chưa phải là Như Lai Tạng. V́ sao? V́ vẫn c̣n có tâm NĂNG nhận và đối tượng là SỞ nhận. Gọi cái tâm năng nhận ấy là tướng NGỘ. 

Như vậy, NGỘ là chỉ cho cái thấy biết thâm sâu hơn CHỨNG. Nó không nằm trong phạm vi của cái ta chấp thủ nữa mà thường mang tính bao quát hơn, v́ thế gọi là NHÂN TƯỚNG. Ta thường gọi là NGỘ LƯ. NGỘ là sự thấu suốt về cái LƯ của mọi vật sự.[61]  V́ thế, nó vi tế thâm sâu hơn tâm thủ chứng. Kinh Viên Giác nói “Ngộ này vượt hơn tất cả các cái chứng”. NGỘ không phải là CHỨNG mà vượt hơn CHỨNG, nên đặt cho nó tên mới là NHÂN TƯỚNG.

Ngộ này dù là NGỘ LƯ, nhưng một khi cái LƯ ấy vẫn c̣n là đối tượng của một cái NĂNG KIẾN th́ TÂM NGỘ LƯ  ấy vẫn chưa phải là Như Lai Tạng. Như ngoại đạo xưa, chứng thấy được mười phương hư không đều từ THỨC sanh. [62] Cái LƯ ấy không sai. Song v́ chưa thấu được cội nguồn nhất tâm nên không thấy được THỨC ấy chỉ do Như Lai Tạng bất giác mà có. Không thấy được cái bất giác ấy nên không thấy được vạn pháp chỉ do thức biến. Không thấy được vạn sự đây chỉ như ngủ rồi mộng, tỉnh th́ liền không, không có tánh sanh. Do không thấy được vậy, nên lập phần THỨC ấy làm cội nguồn chân thật sanh ra vạn pháp. Đó là lập cái sanh diệt vô thường làm cái thường trụ bất biến. Vạn pháp đáng lẽ chỉ như giấc mộng đêm qua giờ thành hiện thực tất cả. V́ một chút lầm lẫn đó mà phết lên ḿnh 2 chữ ngoại đạo. 

Cho nên, thứ LƯ nào được chứng nghiệm c̣n trong ṿng năng sở, thứ LƯ ấy c̣n có sự hạn chế của nó. Dù ngộ được LƯ TÁNH KHÔNG,[63]  là cái THỂ tột cùng dứt bặt năng sở, mà sau đó c̣n thấy “Ḿnh vừa ngộ được cái LƯ tột cùng. Ḿnh đă chứng thực được tánh không của vạn pháp” th́ phải biết, ḿnh chỉ mới trực nghiệm được cái nhân là Phật tánh chứ cái quả là Như Lai Tạng th́ chưa. Nghĩa là, cái ngộ ấy chưa phải là cái ngộ cuối cùng, chưa phải chứng xong cái niệm ấy là đă xong tất cả mà có thể vung tay múa chân như Tổ, Phật. C̣n đến 2 đại a tăng kỳ kiếp nữa … C̣n rất nhiều thứ để tu và để làm. V́ thế, kinh Viên Giác nói “Tâm c̣n một chút ngộ cho rằng chứng LƯ đầy đủ đều gọi là nhân tướng”. 

Đó là nói về tướng nhân và ngă, là 2 tướng có thể giải thích rơ ràng để cảm nhận. Sau là nói về 2 tướng chúng sanh và thọ mạng, là những tướng khá tế.

CHÚNG SANH TƯỚNG vi tế thâm sâu hơn CHỨNG và NGỘ, v́ nó là cái tâm LIỄU TRI được cái chứng và ngộ đó. Kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng chúng sanh? Là chỗ mà tâm tự chứng ngộ của chúng sanh không đến được. Này thiện nam tử! Chỉ cần các chúng sanh liễu được CHỨNG liễu được NGỘ đều là ngă nhân - chẳng phải là chỗ mà tướng ngă nhân đến được, c̣n có sở liễu [64] - gọi là chúng sanh tướng”. Trí nào thấu được bản chất của chứng và ngộ chỉ là ngă tướng và nhân tướng, trí đó gọi là CHÚNG SANH TƯỚNG. Nó liễu tri được 2 tướng chứng và ngộ, nhưng vẫn chưa phải là Như Lai Tạng v́ nó vẫn c̣n có cái sở liễu để liễu tri, nên nói C̉N CÓ SỞ LIỄU. C̣n sở th́ c̣n năng. C̣n trong ṿng năng sở th́ chưa phải là Như Lai Tạng. 

Tướng THỌ MẠNG, kinh Duy Ma nói “Pháp không có thọ mạng, ĺa sanh tử”. Không có thọ mạng v́ Như Lai Tạng không có sanh tử. Tức không có phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Nghĩa là, một khi c̣n thấy sanh th́ c̣n chưa phải là Như Lai Tạng.

Kinh Viên Giác nói “Thế nào là tướng thọ mạng? Là tâm chiếu thanh tịnh của chúng sanh giác được cái sở liễu. Tất cả nghiệp trí chẳng thể tự thấy, ví như mạng căn”. SỞ LIỄU là chỉ cho cái trí liễu tri trên, chính là TƯỚNG CHÚNG SANH vừa nói. Gọi là sở liễu v́ cái liễu tri ấy bây giờ đă thành đối tượng được giác của cái năng giác là tâm thanh tịnh. Giác được th́ cái được giác liền không, chỉ c̣n một TÂM THANH TỊNH trùm khắp. Nên tuy nói là giác mà không có sở giác. Chính là phần GIÁC MINH thanh tịnh nói trong kinh Lăng Nghiêm, phần NĂNG KIẾN của luận Đại Thừa Khởi Tín.  Do không có sở giác, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh chiếu soi trùm khắp, nên nhiều người đă lầm nó là cội nguồn chân thật Như Lai Tạng. Song một khi cái thanh tịnh chiếu soi ấy vẫn là đối tượng để ḿnh cảm nhận được th́ nó chỉ mới là phần SỞ MINH Phật nói trong kinh Lăng Nghiêm, vẫn là phần sở giác vi tế, chưa phải là cội nguồn rốt ráo Như Lai Tạng. Đó là chính là mạng căn. Ngài Thiết Nhăn nói “Lúc đó tâm của bạn rỗng rang như hư không. Bạn cảm thấy cả pháp giới hiện hữu trong ấy, như có cái ǵ thanh lương khó nghĩ. Hơn phân nữa con đường hành thiền đă hoàn tất. Khi trạng thái này tiếp tục một thời gian mà bạn nghĩ ḿnh đă được giác ngộ, và thấy ḿnh ngang hàng với Thích Ca hay Bồ Đề Đạt Ma là bạn lầm. Ngôi vị này là thể hội ấm thứ 5. Đây là  điều mà kinh Lăng Nghiêm nói “Hội nhập cái tịch lặng, trở về bờ mé của thức”… Đây là thức thứ 8 của chúng sanh. Thức này chính là nguyên nhân đưa đến luân hồi … Mặc dù thức này gần giống với bản tâm nhưng không phải là bản tâm”. Đó là hành tướng của thức ấm.

Tướng THỌ MẠNG này thâm sâu vi tế, qua được sự sanh diệt của hành ấm rồi mới thấu được tướng này. Nó là nền tảng của 3 tướng trên. Chưa qua được 3 tướng trên th́ tướng này không có phần. V́ thế, nó không phải là thứ mà nghiệp trí có thể thấu được. NGHIỆP TRÍ là so với pháp trí mà nói. V́ là cái trí c̣n liên quan đến nghiệp lực hay sự tạo tác nên gọi là nghiệp trí. Song dù không thấy, tướng này vẫn hiện diện làm nền tảng cho 3 tướng trên. Như mạng căn, tâm của người thường không cảm nhận được, nhưng nó vẫn hiện diện trong mỗi chúng sanh, làm nền tảng cho các thứ khác được tương tục, nên gọi tướng này là tướng thọ mạng. V́ thế, kinh Viên Giác nói “Tất cả nghiệp trí chẳng thể tự thấy, ví như mạng căn”. 

Như Lai Tạng chẳng phải là cảnh sở hành của những chúng sanh có cái thấy thân kiến, điên đảo kiến và không kiến.[65] 

CẢNH SỞ HÀNH, là chỉ cho cảnh giới Như Lai Tạng. 

KIẾN là chỉ cho quan niệm sống của ḿnh. Do đâu có quan niệm? Do cái thấy của ḿnh đối với thân, tâm, con người và thế giới như vậy, nên ḿnh h́nh thành trong đầu ḿnh những suy nghĩ như vậy. Suy nghĩ ấy gọi là quan niệm. V́ vậy, nói đến KIẾN là nói đến quan niệm hay định kiến. 

THÂN KIẾN là những tà chấp sai lầm về thân, như cho thân này là thật. Thấy thật th́ đụng chuyện sẽ nẩy sinh tham, sân, si … là tâm ngă tướng. Ngă tướng th́ không phải Như Lai Tạng, nên nói “Không phải là cảnh sở hành của người có cái thấy thân kiến”. 

ĐIÊN ĐẢO KIẾN là cái thấy bắt nguồn từ sự điên đảo. Thấy không đúng thực chất của sự vật, gọi là thấy điên đảo. Như tướng thế gian vô thường mà ḿnh cho là thường, là rơi vào điên đảo kiến. Phật tánh không thường không vô thường mà nói Phật tánh vô thường, cũng rơi vào điên đảo.[66]  Nói chung, không nh́n đúng bản chất của pháp trong cái duyên nó đang an trụ, gọi là điên đảo kiến. 

KHÔNG KIẾN là chỉ cho mấy vị thủ chấp cái không làm chân lư. Phàm phu do thấy mọi thứ ở thế gian hiện diện như thật nên thường rơi vào chấp CÓ hơn là chấp không. Chỉ có các vị sơ học của Đại thừa mới dính vào loại không kiến này. Như nghe Bát Nhă Tâm Kinh nói không sắc, không thọ v.v… rồi tưởng mọi thứ đều không. Hạng thứ 2 là các vị nhập được cái định vô tưởng, phi tưởng phi phi tưởng xứ ǵ đó của cơi Vô sắc. Đó chỉ là một trong những trạng thái của tâm trong quá tŕnh thiền định, thấy th́ không lỗi, song thủ chặt nó làm nơi an trụ cuối cùng th́ rơi vào loại không kiến nói đây. 

Bạch Thế Tôn! Như Lai Tạng là pháp giới tạng, là pháp thân tạng, là xuất thế gian tạng, là tánh thanh tịnh tạng. Tánh tịnh vốn có này của Như Lai Tạng, theo cái hiểu của con, tuy bị khách trần phiền năo làm nhiễm vẫn là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai.

TẠNG nghĩa của nó là ẨN TÀNG SÂU KÍN cũng có nghĩa là TÍCH CHỨA RỘNG LỚN. Như t́nh trạng chúng ta hiện nay th́ các thứ như Như Lai, pháp giới, pháp thân, xuất thế gian đều mang nghĩa ẩn tàng sâu kín. Một khi vô minh hoặc nghiệp hết, những thứ đó hiển bày bao trùm tất cả th́ mang nghĩa tích chứa rộng lớn. Không nói PHÁP GIỚI mà nói PHÁP GIỚI TẠNG là để hiển bày rơ các tính chất trên của pháp giới, c̣n nghĩa của chúng th́ không khác.

KHÁCH TRẦN là chỉ cho phiền năo ở cả 2 mặt thô lẫn tế. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật giải về chữ khách trần này rất rơ. KHÁCH là đối với chủ mà nói. TRẦN, chỉ cho bụi bặm, là đối với hư không mà nói. Khi quán tâm, ḿnh sẽ thấy : Ḍng suy nghĩ này qua đi, ḍng suy nghĩ khác liền đến, cái vui chợt đến, cái buồn xuất hiện … Cái BIẾT những thứ đi đến đó gọi là CHỦ. Những thứ đi rồi đến đó gọi là KHÁCH. Những thứ đi đến đó giống như bụi lấm tấm trong không gian rộng lớn của tâm nên gọi chúng là KHÁCH TRẦN.[67]  Đó là một ví dụ về loại khách trần thô để ta nắm vấn đề. 

Phật Tổ và chư vị đại Bồ tát thường dùng ví dụ “hư không và khách trần” hoặc dùng “bụi và gương”  để chúng ta cảm nhận được đôi phần về tánh tịnh của Như Lai Tạng bị phiền năo làm nhiễm ra sao : Bị bụi phủ mờ nên tính sáng và trong của gương không hiển được, nhưng tính sáng và trong ấy vẫn đầy đủ không mất. Nghĩa là, bụi tuy có khả năng làm tánh sáng và trong của gương không phát ra được, nhưng không có nghĩa là làm tiêu hoại được tính sáng và trong ấy. V́ thế phu nhân Thắng Man nói “Tuy bị khách trần phiền năo làm nhiễm vẫn là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai”. 

V́ sao? Hỏi để giải thích v́ sao nhiễm mà vẫn không làm mất đi tính thanh tịnh của tâm.

Bạch Thế Tôn! Sát na, sát na thiện tâm và bất thiện tâm, khách trần phiền năo chẳng thể nhiễm. V́ sao? V́ phiền năo chẳng xúc chạm tâm, tâm chẳng xúc chạm phiền năo. 

Đơn giản v́, phiền năo không chạm được đến tâm, tâm cũng không để phiền năo xúc chạm. Như bụi và guơng, bám thí bám nhưng bụi không có tác dụng ăn ṃn phá hủy luôn mặt gương. Đó là ư nghĩa của từ XÚC CHẠM nói đây. 

Nói SÁT NA SÁT NA là muốn diễn tả sự liên tục từ giây này qua giây khác. Nói giây là để dễ hiểu, c̣n SÁT NA đây chỉ cho thời gian cực nhỏ mà trí ḿnh hiện nay không thể cảm nhận được. Như các nhà vật lư với những thiết bị tinh vi mới thấy được tốc độ của ánh sáng là 300.000km/g, c̣n ḿnh th́ chỉ thấy nó sáng chứ không hề thấy nó đi.

Thiện tâm và bất thiện tâm là chỉ cho tâm thiện và tâm bất thiện của ḿnh. Khi tâm nổi lên những tư tưởng tính toán, tội lỗi, tham, sân, kiêu mạn v.v… gọi là BẤT THIỆN TÂM. Ngược lại với những thứ đó gọi THIỆN TÂM. 

Chẳng xúc chạm nhưng sao có nhiễm tâm? Bạch Thế Tôn! V́ có phiền năo, có tâm nhiễm theo, theo phiền năo mà nhiễm, khó hiểu, khó biết. Chỉ có Thế Tôn là mắt, là trí, là pháp căn bản, là cao quí, là bậc đạo sư, là chỗ y chỉ của chánh pháp, mới có cái thấy biết như  thật.

Không xúc th́ sao có cái gọi là nhiễm? Câu hỏi rất chí lư. Áo trắng đem nhuộm đen mà thành đen th́ rơ ràng phải có sự xúc chạm, màu trắng mới thành đen, sao nói không xúc chạm? BẠCH THẾ TÔN là mở đầu cho câu trả lời của ḿnh thêm trịnh trọng. Phu nhân trả lời “V́ có phiền năo, có tâm nhiễm theo, theo phiền năo mà nhiễm”. Trả lời như vậy th́ cũng như không trả lời, nên bà tiếp “Khó hiểu, khó biết … chỉ có Thế Tôn”. Nghĩa là, chỗ này tụi con chịu, chỉ có Như Lai mới thấy được. Đợi con thành Như Lai rồi, con sẽ tŕnh chỗ này cho Như Lai nghe. Giờ có nói th́ cũng chỉ là vọng ngữ mà thôi. Nói ǵ bây giờ. 

Phần sau là tán thán Phật, đồng thời cũng để hiểu v́ sao bà không giải thích được chỗ này. V́ bà chưa phải là chỗ y chỉ của chánh pháp. CHỖ Y CHỈ là chỉ cho Như Lai Tạng, là tánh của tất cả pháp. Nó là nền tảng của tất cả pháp, là chỗ xuất sanh của tất cả trí, tất cả mắt, là pháp vương v.v… 

Thế Tôn ca ngợi phu nhân Thắng Man “Lành thay! Lành thay! Như bà đă nói, tánh thanh tịnh của tâm theo phiền năo mà nhiễm, khó có thể biết thấu. Lại nữa Thắng Man! Có 2 pháp khó có thể biết thấu. Thế nào là 2? Một là tánh thanh tịnh của tâm khó có thể biết thấu. Hai là tâm đó bị phiền năo làm nhiễm cũng khó có thể biết thấu. 2 pháp này, bà và chư Bồ tát thành tựu đại pháp mới có thể vâng nhận, c̣n các Thanh văn khác là do tin mà hiểu. 

Phật nghe bà “biết ḿnh, biết ta” như vậy, liền khen “Lành thay! Lành thay!”. Đây là dịch từ chữ THIỆN ra. Cũng có thể là “Giỏi lắm! giỏi lắm!”. Trong tất cả mọi lănh vực từ buôn bán, đánh giặc cho đến tu hành th́ “biết người, biết ta” là nền tảng của sự thắng lợi. Khen là lẽ tất nhiên.

Có 2 thứ mà chỉ có Phật mới biết đó là tánh tịnh không mất của Như Lai Tạng. Tuy không mất nhưng vẫn bị nhiễm ô để có 6 đường. V́ thế nói “Khó có thể biết thấu”. VÂNG NHẬN nói đây chắc chắn không phải là thấu được toàn bộ như Phật, nhưng cũng không phải chỉ có ḷng  tin như hàng Nhị thừa. Trừ 2 khoảng đó ra, c̣n lại gọi là vâng nhận. Loại Bồ tát vâng nhận được điều này phải là loại THÀNH TỰU ĐẠI PHÁP. Chỉ cho hàng Thập địa, nhất là từ hàng Bồ tát Bát Địa trở đi. 

Này Thắng Man! Nếu đệ tử của ta là người có niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí, th́ ở nơi pháp ấy mà được chỗ rốt ráo.

Như Lai Tạng với đầy đủ tướng và dụng gọi là PHÁP TRÍ. Người có niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí là chỉ cho người có niềm tin vững chắc đối với Phật tâm của ḿnh rồi thực hành tu tập những pháp thuận với pháp trí. Đó là pháp giúp hành giả đi dần về cảnh giới vô niệm của tâm. Tu tập tùy thuận pháp trí th́ sẽ chứng được tánh thể của pháp nên nói ĐƯỢC CHỖ RỐT RÁO.

TÙY THUẬN PHÁP TRÍ là quán căn - thức - cảnh, quán sát nghiệp báo, quán giấc ngủ của A La Hán, quán tâm tự tại, ái lạc và thiền lạc, quán thần biến thông của Thanh văn, Độc giác và các Thánh. Do thành tựu 5 thứ quán thiện xảo ấy, các đệ tử Thanh văn trong hiện tại và vị lai, nhơn nơi niềm tin tăng thượng tùy thuận pháp trí, sẽ hiểu được tánh thanh tịnh của tâm bị phiền năo làm nhiễm thế nào mà chứng cứu cánh. Này Thắng Man! Chỗ cứu cánh ấy là nhân của Đại thừa. Các ngươi nay phải biết và tin Như Lai, đối với pháp thậm thâm chẳng sanh phỉ báng”.

Đây có 2 chỗ cần chú ư. Một là chỉ bày 5 pháp quán. Hai là nói đến việc chứng cứu cánh. Chứng cứu cánh, đây nói là NHÂN CỦA ĐẠI THỪA. Mới NHÂN chứ chưa phải QUẢ. Tức mới nói đến việc chứng tánh thể, nhà thiền gọi là kiến tánh, chưa nói ǵ đến việc thành ông Phật với đầy đủ lực dụng và công đức được cúng chuối xanh trên bàn thờ. 

QUÁN, nghĩa là NH̀N THẤY hay QUAN SÁT. Song không phải nh́n theo kiểu nh́n chất đầy quan niệm định kiến của ḿnh hiện nay, mà phải nh́n cho đúng bản chất của sự vật. Chưa nh́n được thực chất của nó th́ phải y theo kinh dạy mà tập thay đổi cái nh́n từ từ, cho đến khi nh́n đúng thực chất của chúng. 

Như 3 thứ căn - trần - thức trên. CĂN là chỉ cho 6 căn mắt, tai v.v… của ḿnh, CẢNH là đối tượng của 6 thứ đó. Chính là sắc, thanh, hương v.v… Người đời chỉ biết ta có cái tai để nghe những âm thanh ta thích, có con mắt để nh́n cái sắc ta muốn … Không ai quan tâm đến THỨC là ǵ. Song người tu th́ phải biết THỨC đó mới là mấu chốt của mọi vấn đề. Do THỨC mới có CĂN và CẢNH. Từ căn và cảnh đó, thức mới có cơ phát huy tác dụng. Nhiệm vụ của người tu là phải quán cho thủng được thực chất của 3 thứ đó. Quán cho đến khi nhận thấy được tánh thật của chúng : Muôn h́nh vạn trạng bao nhiêu th́ thể tánh của chúng vẫn không. Cái không ấy không phải là đối tượng mà ta thấy được. Là không nhưng đầy đủ mọi công đức chẳng thể nghĩ bàn, không hề không ngơ. Đó là lúc ḿnh nhận ra được tánh Phật của chính ḿnh. 

NGHIỆP BÁO là chỉ cho những thứ có liên quan đến 3 thứ thân, khẩu, ư của ḿnh. Thân, khẩu, ư thiện th́ ḿnh sẽ có cái quả là cảnh giới thiện. Thân, khẩu, ư bất thiện th́ cái quả là những việc bất như ư trong cuộc sống, khiến ḿnh phải khổ đau. NGHIỆP là chỉ cho những hành động của ḿnh. BÁO là chỉ cho kết quả ḿnh gặt được từ những hành động đó. Như anh học tṛ chăm chỉ học hành đúng đắn th́ thi đậu, uống rượu quá nhiều th́ xơ gan v.v... 

Phần nghiệp báo này trên sự mà nói th́ rộng mênh mang chi xứ. V́ không phải cứ nhân đó là đă cho ra quả đó, mà c̣n lệ thuộc rất nhiều vào duyên. Như cùng một giống xoài nhưng trồng ở vùng đất xấu, khí hậu cũng xấu th́ quả gặt ra không thể như giống xoài trồng ở đất màu mỡ. Cho nên, cùng một hành động như nhau, nhưng có khi quả báo lại khác nhau. Đây chỉ diễn giải trên phần LƯ để tạm hiểu về nghiệp báo. C̣n SỰ th́ không đề cập đến được. Vô vàn sai biệt! Song sai biệt thế nào, cũng không ĺa tâm mà có. Tánh chúng đều không.

Quán GIẤC NGỦ CỦA LA HÁN. Trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, phẩm Phật Đạo, ngài Duy Ma Cật nói “Người thấy vô vi mà vào chánh vị thời không thể c̣n phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, ví như chỗ g̣ cao không thể sanh hoa sen, mà nơi bùn thấp ướt mới có hoa sen”. Người thấy vô vi vào chánh vị, là chỉ cho các vị La Hán trú luôn trong cái lạc của Diệt tận định. So với cả trường đại mộng đây th́ cái định ấy cũng như một giấc ngủ ngon không mộng mị, v́ các vị chưa phải là người đă tỉnh thức hoàn toàn như Phật. Có thể đây là lư do Phật nói QUÁN GIẤC NGỦ CỦA LA HÁN. Quán cho đến tận cùng giấc ngủ đó để thấy được thực tướng của nó. 

Hai thứ c̣n lại đều là dụng của tâm thiền định. Quán cho đến khi thấy được thực tướng của chúng.

5 thứ quán trên là phương tiện giúp người tu nhận ra tánh thể của vạn pháp. Phương tiện th́ tùy thời, tùy căn cơ của chúng sanh mà lập, không nhất thiết là mọi thời phải áp dụng nó mới có được đạo quả bồ đề. Ngay trong một thời c̣n có vô vàn pháp môn, huống là khác thời quá xa. Song phương tiện nào th́ mục đích của chúng cũng là giúp người tu đưa tâm về chỗ vô trụ mà nhận ra được thực tướng của vạn pháp. Đây chỉ là một trong các cách tu Phật đưa ra để giúp người tu chứng nhập được tâm vô trụ. Hợp th́ áp dụng. Không hợp th́ thôi. 

Phu Nhân nêu bày 3 hạng người có khả năng thành tựu pháp thậm thâm. Phật phó chúc cho ngài A Nan và trời Đế Thích ǵn giữ và truyền bá kinh này.

Phu nhân Thắng Man bạch Phật rằng “Lại có  nghĩa khác được nhiều lợi ích nữa. Con muốn nương vào thần lực oai nghiêm của Phật mà nói về nó”. Bà c̣n muốn nói nữa, chưa hết.

Phật nói “Hay thay ! Bà cứ nói tùy ư”.

Phật khi nào cũng hoan hỉ với bà. 

Phu nhân nói “Có 3 loại thiện nam tử và thiện nữ nhân, với pháp thậm thâm không c̣n tự hại ḿnh, sanh nhiều công đức, bước vào con đường Đại thừa.

PHÁP THẬM THÂM là chỉ cho phần Phật pháp thâm sâu của Phật. Nói chín xác là chỉ cho pháp tánh chân như hay Như Lai Tạng. Người nào có thể tin tâm ḿnh là Phật và bắt đầu qui hướng tu tập là đang bước vào con đường Đại thừa. Tu tập pháp Đại thừa th́ tương lai sẽ có trí tuệ, được mọi công đức, thoát mọi khổ năo nên nói KHÔNG C̉N TỰ HẠI M̀NH. 

Thế nào là 3? Hỏi để biết về 3 hạng người nào có thể bước vào con đường Đại thừa và không c̣n tự hại ḿnh. 

1. Thiện nam tử và thiện nữ nhân có thể tự ḿnh thành tựu pháp trí thậm thâm. 

Đây là hạng thứ nhất. Không kể là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, miễn chịu tu là được, nên nói THIỆN NAM TỬ và THIỆN NỮ NHÂN. 

THÀNH TỰU PHÁP TRÍ THẬM THÂM là chỉ cho hạng đối với chỗ thậm thâm đó đă có sự trực nghiệm của tự tâm. Như nói Phật tánh th́ phải chứng nghiệm được cái Phật tánh ấy là ǵ. Như đường ngọt th́ phải biết thật sự vị ngọt của đường là thế nào, không phải nghe nói nó ngọt mà tưởng ra cái ngọt ấy. Đây là chỉ cho hạng Chứng Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

2. Hạng có thể thành tựu tùy thuận pháp trí.

Đây là chỉ cho hạng Giải Hạnh Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín. Hạng này chưa chứng nhập được Phật tánh nhưng việc tu hành đă có sự tùy thuận. Nghĩa là, đă bước vào giai đoạn tu L̀A TƯỚNG. Tu L̀A TƯỚNG là sự tu hành bây giờ không c̣n đặt nặng vào những h́nh thức bên ngoài hoặc chỉ dừng ở mức độ tàm quí hay loại bỏ niệm ác mà đă bước qua giai đoạn phá trừ sự sanh khởi của tâm để đưa tâm trở về chỗ vô trụ. Tâm mà vô trụ th́ đương nhiên phải ĺa tướng. 

 3. Hạng đối với pháp thậm thâm chẳng thể hiểu rơ nhưng ngưỡng suy Thế Tôn “Chỉ có Phật mới biết, chẳng phải là cảnh giới của ta”. 

Hạng thứ 3 là hạng chưa trực chứng cũng chưa áp dụng pháp tu ĺa tướng nhưng biết lượng sức ḿnh và có niềm tin đối với pháp thậm thâm. Tin được điều đó không phải là người có tín căn Đại thừa th́ không thể tin được, nên hạng này cũng được liệt vào hạng có phần trong Đại thừa. Đây là hạng Tín Thành Tựu Phát Tâm trong luận Đại Thừa Khởi Tín. 

NGƯỠNG SUY THẾ TÔN là cung kính tín nhiệm đối với đức Phật. Ḷng tôn kính tín nhiệm đó chính là công đức và động lực để hạng này có thể bước lần vào 2 địa vị trên. Đây là lẽ tất nhiên. Bởi khi ḿnh khổ, ḿnh chỉ có thể nghĩ đến người nào có khả năng giúp ḿnh hết khổ, mà quan trọng là người ấy luôn có t́nh thương và không bỏ rơi ḿnh. Đức Phật đủ cả BI và TRÍ, là chỗ mà ḿnh đă đặt trọn niềm tin và sự tín nhiệm th́ ḿnh sẽ nghĩ đến ngài tức th́ khi ḿnh gặp chuyện bất an trong đời sống. Những niệm đó được huân tập lâu dần sẽ thành cái quả chính mùi. Nó chính là cái nhân cho việc tu hành. Đă tu th́ sự tu hành cũng có nghiệp lực của nó. Nghiệp lực ấy chính là động cơ để người tu đi trọn con đường ḿnh đă chọn. Đó là lư do v́ sao chỉ mới có ḷng tin và sự kính trọng đối với Như Lai, là đă nhập được vào một trong 3 vị đây. 

Trừ 3 loại thiện nam tử và thiện nữ nhân này ra, chúng hữu t́nh c̣n lại, đối với pháp thậm thâm đều theo chỗ chấp thủ dính mắc của ḿnh mà vọng nói, đi ngược với chánh pháp, huân tập các chủng tử hủ bại của ngoại đạo. Nếu ở những phương khác th́ nên đến mà trừ diệt. Các hủ bại ấy, tất cả trời và người nên hàng phục trừ bỏ”.

Ngoài 3 hạng liệt kê trên c̣n lại đều vô phần với Đại thừa. Như vậy, dù là tu theo Đại thừa, Nguyên thủy hay Tiểu thừa mà trúng phải một trong 3 khoảng vừa liệt kê trên th́ dù không gắn mark Đại thừa, ḿnh vẫn phải chịu là người có căn tánh Đại thừa. C̣n dù ḿnh đang có cái mark Đại thừa, mà sàng qua sàng lại cũng không thấy ḿnh ở đâu trong 3 khoảng đó th́ coi như xong. Phát biểu linh tinh bừa băi nữa th́ lọt vào thứ mà phu nhân Thắng Man gọi là “Huân tập các chủng tử hủ bại của ngoại đạo”. 

Phát biểu linh tinh bừa băi là nói những thứ không có trong kinh luận, chỉ toàn tưởng là tưởng mà nói. Vi tế hơn, là bóp méo kinh luận theo ư ḿnh. Điều này rất dễ biết. Thứ ǵ do tưởng mà nói th́ đầu xuôi đuôi không lọt, không có tính logic hay nhất quán đối với toàn bộ kinh luận của chư Phật. Đó là ư nghĩa của câu “Đều theo sự chấp thủ dính mắc của ḿnh vọng nói”. 

Tất cả hủ bại ấy trời và người phải nên hàng phục trừ bỏ. V́ sao? V́ thứ ǵ đi ngược với chánh pháp đều mang lại đau khổ cho chúng sanh, xă hội rối ren, đất nước không ngóc đầu lên được. V́ thế phải trừ bỏ và hàng phục. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt La ghi “Những hạng ấy phải bằng sức của vua, trời, rồng, quỉ thần mà hàng phục”. Nghĩa là, nếu cần mượn đến pháp luật để ngăn ngừa trừ bỏ th́ cũng phải làm. Cho nên, là Phật tử th́ những thứ thuộc mê tín dị đoan như bói toán, cúng sao giải hạn v.v… là những thứ không những ḿnh không nên theo mà c̣n phải giúp một tay để trừ bỏ. Song phương cách trừ bỏ thế nào là c̣n tùy lực, tùy duyên để việc làm của ḿnh được tốt đẹp nhất.

Phần này cho thấy, Phật pháp không ĺa ḍng đời. V́ thế, nói đến Phật pháp không có nghĩa chỉ có ăn chay, nằm đất, cam chịu, nhẫn nhục v.v… Đó chỉ là những phương tiện tạm thời giúp người tu lấy lại được sự b́nh lặng. Từ sự b́nh lặng ấy ḿnh sử dụng được trí tuệ vốn có của ḿnh. Như NHẪN NHỤC, dù không phải là người tu hành, nó cũng là chiêu sách rất ăn tiền trong cuộc sống thường nhật. Các nhân vật trong lịch sử nhờ nhẫn nhục mà đạt được thắng lợi vẻ vang. Trong cuộc sống b́nh thường đây, nhẫn khiến mọi thứ tốt đẹp, gia đ́nh hạnh phúc v.v… Tu hành lại càng cần thiết. Nhẫn mới hàng phục được những tham muốn của bản thân. Nhẫn đến khi không c̣n thấy nhẫn nữa th́ trí vô sư xuất hiện. Có trí tuệ th́ việc làm của ḿnh không nhầm lẫn. V́ thế, Phật dạy người tu phải NHẪN. C̣n h́nh tướng ấy không phải là cái LƯ tối hậu của nhà Phật. LƯ tối hậu là KHÔNG NHẪN CŨNG KHÔNG KHÔNG NHẪN. V́ được chỗ “Không nhẫn không không nhẫn” nên tùy duyên mà có nhẫn hay không nhẫn. 

Nếu không nắm được phần LƯ rốt ráo của nhà Phật, sẽ thấy lời nói “Nếu ở những phương khác th́ nên đến mà trừ diệt. Các hủ bại ấy, tất cả trời và người nên hàng phục trừ bỏ” là đi sai với tinh thần nhẫn nhục mà đức Phật đă dạy. Song nắm được lư bất biến tùy duyên, sẽ hiểu không hề có sự nghịch lư ở đây. LƯ mà đầy đủ th́ SỰ nào cũng là LƯ. 

Quan trọng là người tu phải có được chánh pháp trí. Phải biết được trí tuệ của ḿnh đến đâu để hành xử trong cuộc sống được nhịp nhàng. 

Phu nhân Thắng Man nói lời ấy xong, bà cùng với quyến thuộc đảnh lễ dưới chân Phật. Phật tán thán “Lành thay, này Thắng Man! Đối với pháp thậm thâm bà phương tiện thủ hộ, hàng phục oán địch, khéo hay thấu suốt. Bà đă thân cận trăm ngàn ức chư Phật Như Lai mới nói được nghĩa này”.

Sử dụng đến cái GIÁC đă nhiều nên nói thân cận trăm ngàn ức chư Phật Như Lai. 

Nói xong, Thế Tôn phóng quang minh chiếu khắp đại chúng, thân cất lên hư không cao bằng 7 cây đa la, rồi dùng thần thông đi trên hư không trở về thành Xá Vệ. 

Lúc ấy phu nhân Thắng Man cùng các quyến thuộc mắt chẳng rời chiêm ngưỡng Thế Tôn. Thế Tôn đă khuất bóng mà mọi người vẫn c̣n hoan hỉ phấn khởi, lần lượt xưng tán công đức của Như Lai, rồi nhất tâm niệm Phật trở về thành Vô Đấu, khuyến khích vua Hữu Xứng kiến lập Đại thừa. Trong thành, trẻ nữ từ 7 tuổi trở lên đều được bà dùng Đại thừa để giáo hóa. Vua Hữu Xứng cũng dùng Đại thừa giáo hóa trẻ nam từ 7 tuổi trở lên. Người dân khắp nước không ai là không học. 

Đây là tâm trạng của những người sau khi gặp được đức Phật. Tương tự như ngày nay ḿnh đi nghe pháp mà gặp được vị thiện tri thức hữu duyên của ḿnh. Ai từng có tâm trạng đó sẽ hiểu tâm trạng của những người  nói đây.

NIỆM PHẬT cũng có thể là niệm danh hiệu Phật như pháp môn niệm danh hiệu Phật đang được sử dụng ngày nay, cũng có thể là nghĩ nhớ đến Phật. Phật đi rồi, nhưng tâm hướng về Phật vẫn chuyên nhất, đâu cũng chỉ có Phật trong ḷng, giác tánh sáng tỏ … đều là h́nh thức của niệm Phật.

Phật pháp được mở rộng trong toàn nước v́ những vị lănh đạo đất nước đều là Phật tử. Con nít từ 7 tuổi trở lên đều được đức vua và phu nhân dạy cho Đại thừa. Dưới 7 tuổi th́ nhỏ, khó tiếp thu Phật pháp, v́ thế lấy mốc từ 7 tuổi trở lên. Con nít vừa dễ dạy mà lại dễ tiếp thu cái mới hơn là người lớn, đă chất đầy định kiến và quan niệm, nên phu nhân nhắm vào con nít mà dạy. Đây cũng biểu hiện cho phần chánh pháp trí của phu nhân Thắng Man. 

Khi ấy Thế Tôn vào Thệ Đa Lâm, nói với tôn giả A Nan và nghĩ đến Thiên Đế. Cảm ứng với niệm đó, Thiên Đế Thích cùng với quyến thuộc liền tới trước Phật. Phật nói với Thiên Đế rằng “Kiều Thi Ca! Ông phải thọ tŕ, khai thị, giảng nói kinh này, làm cho cơi trời Tam Thập Tam được an lạc”. Lại nói với A Nan “Ông cũng phải thọ tŕ, v́ bốn chúng mà phân biệt giảng nói”.

Đây là lời dặn ḍ của Phật với ngài A Nan và vua Đế Thích. BỐN CHÚNG là Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Ngài A Nan chịu trách nhiệm truyền dạy cho 4 chúng đó. C̣n trời Đế Thích th́ chịu trách nhiệm truyền dạy cho chư thiên. 

Điều này cho thấy không phải chỉ có những người đến chùa mặc áo tu mới được giảng nói kinh này. Ngoài 4 chúng ra, chư thiên cũng được giảng nói kinh này. Nghĩa là, kinh vẫn đang được truyền bá rất rộng ở khắp mọi nơi, không phải chỉ trong màu áo tăng ni hay cư sĩ. Phật pháp và tinh thần xả thân v́ nhân loại vẫn hiện diện thầm lặng trong những con người không mang màu áo đạo Phật. Đó là những bộ kinh Thắng Man sống động trong đời sống đây. Bởi  không ai không có Phật tánh, không ai không có trí tuệ và đức tướng mà Như Lai đă có. Chỉ cần chúng ta không để cái tôi và những cái của tôi hiện diện làm mờ đi chân tánh của ḿnh, th́ những ǵ phu nhân nói đây sẽ tự hiển bày. 

Thiên Đế Thích bạch với Phật “Bạch Thế Tôn! Tên gọi của kinh này là ǵ? Làm sao để phụng tŕ?”. 

Trên chỉ là một buổi “Tŕnh kiến giải và phát lời thệ nguyện của phu nhân Thắng Man. Đồng thời là lễ thọ kư và dạy bảo của đức Phật đối với phu nhân cùng những người hữu duyên với bà”. Đây, Phật dạy làm thành kinh để truyền bá cho đời sau. V́ thế, Ngài Đế Thích hỏi tên kinh và cách lưu truyền cũng như cách phụng tŕ kinh. 

Phật nói với Thiên Đế “Kinh này thành tựu vô biên công đức. Lực của tất cả Thanh văn và Độc giác c̣n chẳng thể bằng, huống là các chúng hữu t́nh khác. Kiều Thi Ca phải biết, kinh này thậm thâm vi diệu, tích tụ nhiều công đức. Nay ta v́ ông mà lược nói tên của nó. Lắng nghe, lắng nghe, hăy khéo suy nghiệm đó!”.

Kiều Thi Ca là tên cúng cơm của trời Đế Thích. Trước khi tóm lược đại ư của kinh, Phật nói về công đức của kinh. 

Thiền Sư Thánh Nhất nói “Chân pháp là con đường giải thoát tối thượng, khi lọt vào tai ai một lần, người ấy sẽ được thọ kư vào Bồ tát đạo”. Bồ tát đạo là con đường tích tụ rất nhiều công đức.

Thiên Đế Thích và tôn giả A Nan bạch Phật “Hay quá, bạch Thế Tôn! Con kính vâng thọ tŕ”.

Sự mong mơi được đáp ứng nên 2 vị reo mừng.

Phật nói “Kinh này tán thán công đức chân thật của Như Lai, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về 10 hoằng thệ chẳng thể nghĩ bàn, nên như thế mà thọ tŕ! V́ một đại nguyện nhiếp tất cả nguyện, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về việc nhiếp thọ chánh pháp chẳng thể nghĩ bàn, nên như thế mà thọ tŕ! Nói nhập Nhất thừa, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về vô biên đế, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về Như Lai Tạng, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về Phật pháp thân, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về nghĩa tánh không là cái chân thật ẩn tàng, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về nghĩa của Nhất đế, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về nhất qui y thường trụ, bất động, tịch tịnh, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về cái điên đảo và chân thật, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về tự tánh thanh tịnh của tâm bị phiền năo che đậy, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về đứa con đích thực của Như Lai, nên như thế mà thọ tŕ! Nói về phu nhân Thắng Man sư tử hống, nên như thế mà thọ tŕ! 

Lại nữa, Kiều Thi Ca! Nói ra kinh này là để đoạn trừ tất cả nghi, quyết định liễu nghĩa, nhập Nhất thừa đạo. Này Kiều Thi Ca! Nay sở dĩ nói kinh Phu Nhân Thắng Man Sư Tử Hống, là muốn giao phó cho ông đến khi pháp được tồn tại. Trong mười phương thế giới, hăy khai thị và giảng nói”.

Đức Phật nói kinh này ra là muốn kinh được tồn tại ở đời. Kinh nói đây không phải là những lời nói, ngôn từ cũng như chính bản kinh đây. Nó chính là tinh thần mà phu nhân đă nói qua 3 đại nguyện và 10 lời hoằng thệ của bà. Phật muốn tinh thần ấy được phát huy và tồn tại trong mỗi người chúng ta. Mỗi người phải là một bộ kinh Thắng Man, tiếp nối lan truyền từ đời này sang đời khác “Ta giao phó cho ông đến khi Pháp được tồn tại”. Pháp chỉ thực sự được tồn tại khi mỗi con người chúng ta chính là một phu nhân Thắng Man. C̣n kinh luận dù in ấn đẹp đẽ bao nhiêu, được truyền bá lưu giữ kỹ càng từ đời này sang đời khác bao nhiêu, mà chưa hề rời khỏi học tủ để làm lợi ích cho người, th́ chẳng có nghĩa ǵ đối với Phật pháp. Theo thời gian rồi cũng hoại tàn, chẳng c̣n dấu ấn. Đó không phải là điều Phật muốn giao phó cho những người con của Phật. 

Thiền sư  Sessan nói “Có 3 loại nghe pháp. Thứ nhất là nghe theo kiểu bắn súng, tức nhận được từ tai này qua tai kia và không c̣n lưu giữ được ǵ. Thứ hai là nghe theo kiểu cái rỗ. Khi đặt một vật vào, phần tinh túy lọt mất c̣n phần cặn bă đọng lại. Thứ ba là nghe như sự tiêu hóa : Tống khứ cặn bă và chỉ hấp thu cái tinh túy. Trong khi nghe pháp chúng ta phải cẩn trọng để nghe theo cách thứ ba. Nếu không, sự an lạc chỉ là nghe qua trên đầu môi chót lưỡi. Lỗ tai ở thiên đường nhưng chỉ riêng lỗ tai thôi”.  [68]

Đây là Phật nhấn mạnh lại những phần tinh túy mà Phật tử phải hấp thu nó như hấp thu chất bổ vào ruột mà thiền sư Sessan đă nói. Bản Hán văn của ngài Cầu Na Bạt Đà La ghi rơ các tiêu đề này vào từng phần của bản kinh. Như phần “Tán thán công đức của Như Lai” được lấy làm tiêu đề cho phần đầu, là đoạn từ khi phu nhân nhận được thư của cha mẹ, gặp Phật rồi ca ngợi Phật và được Phật thọ kư. “10 hoằng thệ nguyện” là tiêu đề của phân đoạn phu nhân phát 10 lời thệ nguyện v.v...

Riêng phần “Không tánh nghĩa ẩn phú chân thật”,  đây không dịch “Nghĩa tánh không che mất cái chân thật” hoặc “Thuyết chân thật bị che lấp bởi nghĩa không” mà dịch “Nghĩa tánh không là cái chân thật ẩn tàng”. V́ sao? V́ trí tánh không là nhân của cái quả chân thật ẩn tàng kia. Nó là chủng tử vô lậu sẵn có trong mỗi chúng sanh. Khai mở được nó chính là bước đầu giúp khai mở Như Lai Tạng. Không trực chứng được cái nhân đó, không thể có cái quả là Như Lai Tạng. Là nhân của Như Lai Tạng th́ không thể che mờ Như Lai Tạng. TỊNH TRÍ của Thanh văn che mờ cái chân thật th́ có lư, v́ phần tịnh trí đó vẫn c̣n thuộc thức ấm. Song TRÍ TÁNH KHÔNG th́ không phải là tịnh trí của Thanh văn và Duyên giác, như phu nhân Thắng Man từng khẳng định “Như Lai Tạng đó chính là trí tánh không Như Lai, là chỗ mà tất cả Thanh văn và Độc giác chưa từng thấy cũng chưa từng chứng”. Đó là lư do bản dịch đây không dịch ẨN PHÚ như là một động từ, mà dịch nó theo nghĩa tỉnh từ bổ nghĩa cho cái chân thật.

Thiên Đế Thích nói “Hay thay, Bạch Thế Tôn! Con kính vâng thọ tŕ”.

Đă thỏa măn những nghi vấn nên lại vui mừng reo lên lần nữa. 

Nghe Phật nói xong, Thiên Đế Thích, tôn giả A Nan cùng với chúng hội trời, người, A tu la, Càn thát bà v.v… đều sinh tâm đại hoan hỉ, tin nhận phụng hành. 

Chấm dứt bản kinh ai nấy cũng vui vẻ hoan hỉ. Song không chỉ có vui vẻ thôi mà c̣n tin nhận phụng hành nữa. Như ḿnh đi nghe pháp, nghe Ḥa thượng giảng xong, ḿnh thấy trong tâm nhẹ nhàng hoan hỉ, nhưng chừng đó chưa đủ. Nghe hay mà không làm th́ cái hay đó sẽ theo gió bay mất. V́ thế, cần phải ghi nhớ thực hành nữa. Đó mới đúng là nghe pháp hay đọc kinh, mới là Phật tử đích thực. Hăy nghe pháp theo loại nghe pháp thứ ba vừa nói trên, không nên nghe pháp theo kiểu bắn súng hay hóa thân làm cái rỗ mà nghe pháp. 

CHÚ THÍCH:

01 Lư do : Nhân duyên 

02 Bản khác là “Tin Phật chưa lâu”. Nghĩa là, tuy đời này đến với Phật pháp chưa bao lâu, nhưng đă có niềm tin đối với Phật. Văn của hai bản tuy thấy khác nhưng cùng một ư nghĩa. 

03 Thứ ǵ được lặp lui lặp tới thành thói quen rồi, khi đủ điều kiện nó sẽ hiện ra. Đây giải thích v́ sao có các thần đồng về âm nhạc, toán học v.v… cũng giải thích v́ sao có người nghe đến Phật và kinh th́ ưa mà có người th́ không, có người tin hiểu pháp Đại thừa, có người tin hiểu pháp Nguyên thủy … Đều do sự huân tập trước đây. 

04 Bản khác “Nhất định sẽ mau hiểu pháp, tâm được vô ngại”. 

05 Gặp được pháp và vị thiện tri thức mà ḿnh đă từng có nhân duyên từ những đời trước. 

06 Nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín – phần HUÂN TẬP KHỞI TỊNH PHÁP CHẲNG DỨT - sẽ thấy 2 loại sở kiến báo và hóa thân này. 

07 Tuy đều là ngộ nhưng có thô và tế. Thô là chỉ cho niềm tin hoặc báo thân Phật. Tế là chỉ cho pháp thân Phật, tức tự tánh chân như của chính ḿnh. Duy Thức Học gọi cảnh giới tự tánh chân như ấy là VÔ CHẤT TÁNH CẢNH.

08 “Vô tỷ, bất tư ngh́” : Không có ǵ b́ đọ, cũng chẳng thể nghĩ bàn. 

09 Đă giải thích rơ trong luận Đại Thừa Khởi Tín – dịch và giải Chân Hiền Tâm

10 Chỉ cho tâm phân biệt hiện nay của ḿnh, luôn luôn có chủ thể và đối tượng để nhận thức. Đó chính là ư thức.

11 Bản Hán của ngài Bạt Đà La là “Nhiếp tŕ tất cả pháp”.

12 Bản Hán của ngài Bạt Đà La ghi là KÍNH LỄ.

13 Lời của HT Trụ tŕ thiền viện Thường Chiếu

14 Được biểu hiện ở địa vị vương phi hiện tại và qua 10 lời thệ nguyện cùng 3 đại nguyện sau của bà.

15 Nghiệm chính bản thân ḿnh th́ sẽ thấy điều này.

16 Theo Văng Sanh Yếu Tập, nó là điều vui thứ 4 ở cơi Cực Lạc, gọi là “Ngũ diệu cảnh giới lạc” - Tự điển Phật Học Huệ Quang.

17 Bạch Ẩn Thiền Định Ca. 

18 Bạch Ẩn Thiền Định Ca.

19 Thói quen về suy nghĩ th́ gọi là định kiến, về hành động gọi là tập nghiệp.

20 Với người đời, những ǵ thuận với tánh dục của ḿnh là ḿnh hạnh phúc. Song thuận theo cái dục ấy có khi đưa đến kết quả tốt, nhưng có khi dẫn đến kết quả rất xấu. V́ thế, khiến người được hạnh phúc sung sướng không hẳn đă là làm lợi ích cho người.

21 LY nghĩa là không có các thứ đó hay không dính với các thứ đó (Do nhận ra được thực tướng của chúng). Nhờ vậy, chư vị Bồ tát mới có phương tiện làm lợi ích cho chúng sanh. 

22 V́ chỉ mới trực nghiệm được phần THỂ. 

23 V́ đă đầy đủ cả thể, tướng và dụng.

24 Được nói đầy đủ trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

25 Như pháp bố thí, muốn gọi là BỐ THÍ BA LA MẬT th́ phải hội đủ 5 điều kiện : 1/ Cho mà không được nhiễm trước : Không v́ thương mà cho, không dính mắc vào việc cho ấy v.v…   2/ Cho mà không luyến tiếc : Cho rồi th́ thôi, không suy nghĩ đúng sai ǵ nữa. 3/ Cho mà không gây tội lỗi : Cho không theo kiểu quăng ra hay nặng nhẹ cho xứng với thứ ḿnh cho, cũng không sanh tâm kiêu ngạo 4/ Cho mà không phân biệt : Không phải người ḿnh thương ḿnh mới cho, ghét th́ miễn. Không phải người thân của tôi tôi mới cho. Cho là cho, như Phật tặng vợ tặng con của ngài. 5/ Cho mà hồi hướng chân chính : Tất cả công đức có được từ việc bố thí đều hồi hướng cho con đường Phật đạo, không phải để t́m quả báo sung sướng ở cơi trời và người.

26 So với cái thấy của phàm phu th́ cái thấy của Nhị thừa được xếp vào loại chánh trí. Song so với trí tuệ của các vị Bồ tát đăng địa và chư Như Lai th́ trí Nhị thừa vẫn bị cho là thiên lệch. Đây là mặt DUYÊN KHỞI của vạn pháp. Một khi đă nói đến tốt, xấu, chánh, tà th́ phải nói đến DUYÊN. C̣n tánh của pháp th́ không có tính tốt, xấu, chánh, tà. Chỉ tùy duyên mà hiển tướng.

27 C̣n gọi là duyên sanh. Pháp ở thế gian không có ǵ TỰ xuất hiện mà phải NHỜ duyên mới xuất hiện được nên gọi là duyên khởi. Như con gà không thể tự xuất hiện. Phải có các DUYÊN như gà mái, gà trống, lương thực, thời tiết v.v… mới có gà con. V́ pháp xuất hiện là nhờ duyên nên gọi là DUYÊN KHỞI, là do duyên mà khởi, do duyên mà thành. 

Trong các phần DUYÊN để tạo ra pháp mới đó, có một DUYÊN QUYẾT ĐỊNH và những DUYÊN PHỤ TRỢ. Như gà th́ phải từ giống gà ra chứ không thể từ nước hay từ thóc. Duyên quyết định đó, gọi là NHÂN. Các duyên phụ c̣n lại gọi là DUYÊN. Chính hay phụ đều phải đầy đủ, pháp mới xuất hiện. V́ thế, ta có khái niệm NHÂN DUYÊN. 

Đă đủ nhân và duyên th́ pháp chắc chắn thành h́nh. Pháp thành h́nh ấy gọi là QUẢ. Trường hợp này, tất cả duyên phụ và nhân chính đều gọi chung là NHÂN. Gọi chung là NHÂN v́ do đối với QUẢ mà nói. V́ tất cả đều là thứ góp phần sinh ra QUẢ. V́ thế, ta có khái niệm NHÂN QUẢ. 3 thứ Nhân Quả, Nhân Duyên và Duyên Khởi này tuy có 3 tên khác nhau nhưng vẫn có phần dung thông không khác. 

28 Đó là với những người đă đủ duyên. Những người mà duyên chưa đủ th́ chưa chắc đă tin mà làm theo …

29 Thô là chỉ cho Nhân Duyên, Nhân Quả. Tế là chỉ cho chỗ “4 tướng đồng thời có, đều không tự dựng lập”. 4 tướng đây là chỉ cho 4 tướng sanh - trụ - dị – diệt của tâm. Của tâm mà cũng là của vạn pháp. Hội được chỗ Nhân Quả đồng thời này là hội được chỗ sanh ra thức tâm. Mới hay, vạn pháp chỉ là tướng của tâm, c̣n “Tâm chân thật chính là tánh của tất cả các pháp”. Muốn nắm được phần này th́ nghiên cứu 9 tướng bất giác trong luận Đại Thừa Khởi Tín - Dịch và giải Chân Hiền Tâm. 

30 Như thấy nước trên sa mạc, không hiểu đó là ảo ảnh lại tranh tàn giết chóc để lấy bằng được nước đó.

31 Thế gian là có, là không, là không có không không, là vừa có vừa không. 

32 Với loại tập khí sâu dày, không đau khổ thấu xương thấu tủy không dễ ǵ bỏ được.

33 Không khác nhưng không phải một. Nhờ cái KHÔNG KHÁC này nên dù lực oai thần của Phật sẵn đó mà chỉ có bà mới nương vào đó giảng nói được, c̣n người khác th́ không nương được.

34 Phương tiện là những thứ giúp trí vô sư hiển bày, không phải là thứ tạo ra trí vô sư ấy. Trí ấy sẵn đủ trong mọi chúng sanh, chỉ v́ bị vô minh che lấp mà không sử dụng được nó. 

35 Không có bờ mé. 

36 Đây, nói về những người có chất lượng Đại thừa, không phải là người chỉ có danh xưng Đại thừa. 

37 Đây là nêu tạm phần thô để ta h́nh dung. Phần phiền năo tương tục này c̣n phần tế. Dưới sẽ giải thích rơ. 

38 Luận Đại Thừa Khởi Tín - Dịch và giải Chân Hiền Tâm. 

39 Theo luận Đại Thừa Khởi Tín th́ tâm bất tương ưng này phân thành 3. Do vô minh nghiệp tướng mà có cái thấy hư vọng và hiện cảnh giới hư vọng. Do vô minh mà có CĂN BẢN NGHIỆP BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM, tương đương với phần VÔ MINH TRỤ ĐỊA nói đây. Cái thấy hư vọng ấy gọi là NĂNG KIẾN BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM. Phần hiện cảnh giới hư vọng gọi là HIỆN SẮC BẤT TƯƠNG ƯNG NHIỄM. Qua được 3 cái nhiễm ấy th́ thành Phật. Cái định của A La Hán và Bích Chi Phật đều là cảnh giới của phần Năng Kiến, tùy thô tế mà có A La Hán hay Bích Chi Phật. Chỉ có Phật mới phá được phần Căn Bản. 

40 Ngoài Phật, tất cả đều gọi là chúng sanh.

41 Gặp những duyên phù hợp với tập khí của ḿnh, như người nghiện rượu gặp lại rượu, người có chủng tử  âm nhạc trong tàng thức gặp lại âm nhạc.

42 Phần này, Bồ tát Long Thọ giải thích rơ trong luận Đại Trí Độ. 

43 Tâm do bất giác mà thành thức. Bởi thức này không có bờ mé, thâu gom tất cả, lại là thứ ẩn tàng khó thấy, nên gọi là thức tạng.

44 THỦ c̣n gọi là PHIỀN NĂO. Nên Thành Duy Thức Luận nói nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền năo làm duyên, sinh ra thân phần đoạn của chúng sanh. Thành Duy Thức Học phân cái THỦ này thành 4 loại. 

45 Theo kinh Lăng Già Tâm Ấn, phải đến địa vị thứ 3 trở đi mới có ư sanh thân.

46 Luận Thành Duy Thức. 

47 Luận Thành Duy Thức trang 128 – Bản dịch của HT Thiện Siêu.

48 Phần tu hành này đă giải thích rơ trong luận Đại Thừa Khởi Tín.

49 Muốn biết chi tiết xin xem luận Đại Trí Độ tập II, trang 165. Bản dịch của HT Thiện Siêu.

50 Muốn biết chi tiết về phần này, xin xem luận Đại Trí Độ tập II trang 120. Bản dịch của HT Thiện Siêu. 

51 Luận Đại Thừa Khởi Tín. 

52 Như một khi nhận ra vàng giả th́ dù sử dụng nó thế nào, ḿnh cũng không c̣n bị nó làm lầm để đến nỗi tan thân mất mạng.

53 Nói theo nhà thiền là kiến tánh hay chứng được nhất niệm vô sanh.

54 Âm Hán : Sanh dị phân biệt. 

55 Muốn rơ hơn về phần này th́ nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín hoặc Duy Thức Học.

56 Kinh Đại Niết Bàn, phần Tứ Y.

57 Vốn, nghĩa là bản chất của nó không có sanh tử. 

58 Ngài Hiền Thủ nói “Nay Tịnh độ của Nhất thừa tuy chỉ có ở Phật mà chẳng xả thân nghiệp chúng sanh cùng các pháp. Tuy chẳng xả mà chẳng đồng phần hạn. Tuy chẳng đồng mà tức là đó. Giống như trong mộng mà thấy các vật thế gian, chỉ là giác tâm lượng. Tuy là giác tâm lượng mà không như mộng kế. Tuy chẳng như mộng kế mà chẳng bỏ các pháp được thấy trong mộng”. 

59 Muốn rơ phần này th́ nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín. 

60 Không ĺa đây muốn diễn tả t́nh trạng như nước và sóng. Do duyên gió mà nước biến thành sóng, tướng nước không phải là tướng sóng nhưng bản chất của sóng vẫn là nước. Không phải KHÔNG L̀A là tham sân si không bao giờ hết. Hết duyên gió th́ sóng không c̣n. Hết duyên vô minh th́ tham sân si không c̣n. Chỉ là một Như Lai Tạng thanh tịnh. 

61 “Thấu suốt về cái LƯ của mọi sự mọi vật” là muốn nói đến tính chi phối bao quát của nó mà gọi là LƯ, không hẳn là nói đến chỗ rốt ráo. 

62 Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ của thiền sư Hàm Thị. Bản dịch của TT Phước Hảo. Phần thức ấm thuộc Ngũ ấm ma. 

63 Đây là nói đến sự trực nghiệm của tâm, không phải là niềm tin hay ngộ theo kiểu trong đầu bực ra các kiến giải.

64 Dịch thuận theo văn là “Mà tướng ngă nhân chẳng thể đến được, c̣n có sở liễu”.

65如來藏者。身見有情。顛倒有情。空見有情。非所行境 

66 Kinh Niết Bàn nói Phật tánh thường, là do đối trị cái chấp vô thường của hàng Thanh văn. V́ có chấp mới lập kinh ra để phá cái chấp ấy. 

67 Với người thường th́ khó cảm nhận chỗ này. Nhưng ai từng hàng phục vọng tâm sẽ thấy rất rơ. Như người từng miên mật với pháp Biết Vọng của Ḥa thượng Thanh Từ chẳng hạn. Sẽ thấy rơ cái đi và đến không vướng bận như mây trên hư không, như bụi lấm tấm trong hư không này.

68 Trích trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca.  說空性義隱覆真實

 

KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI
Chân Hiền Tâm dịch & giải
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
Nhà số 4 – lô 1 – Trần Duy Hưng – Hà Nội
ĐT : 04-5566701 – Fax : (04).5566702
Chịu trách nhiệm xuất bản
NGUYỄN THANH XUÂN
 Biên tập  :  Đỗ Thị Quỳnh
   Tŕnh bày  : Thủy Tiên
B́a  : 
Đối tác liên kết : Thủy Tiên ĐT : 8443138
In 1000 bản, khổ 14,5cmx20,5cm tại Xí nghiệp In Số 5, Q.5, Tp.HCM. Số xuất bản 145-2005/CXB/02-94/T6. In xong và nộp lưu chiểu quí I năm 2006. 

 

            Minh-Quang posted June 14, 2009

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]