Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Phạm Thiên Thư

 

KINH NGỌC (QUA SUỐI MÂY HỒNG)

Thi Hoá Tư Tưởng Kim Cang Kinh Vajracchedika Prajna Paramita Sutra

 

Chùa Khánh Anh Xuất Bản 1993 

 

 

Nahi etehi yànehi gaccheyya agatam 
            disam yatthà ttanà sudantena danto 
            dantena gacchati 

Dhammapada 

 

nào nhờ xe mây biếc 
            ngựa hồng tới niết bàn 
            bè tâm trăng bát nhă 
            vượt bến hoặc mê sang 

Thích Già Mâu Ni 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Thầy Tuệ Không Phạm Thiên Thư một sinh viên tốt nghiệp Phật Khoa Vạn Hạnh đă có sáng kiến và can đảm thi hóa Kinh Kim Cương để cúng dường chánh pháp.   

Tôi nói sáng kiến v́ rất ít có Phật tử nếu không phải là chưa có, đă dùng thể thơ mà diễn đạt nghĩa chân không diệu hữu của Đại Thừa.   

Tôi nói can đảm v́ chỉ có tuổi trẻ mới can đảm làm những chuyện phi thường và thật là phi thường khi cả gan thi hóa bản kinh "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Thật sự, xưa kia Đức Phật cũng đă dùng thể kệ (gàthà hay sloka) để thuyết pháp độ sanh. Thể kệ tức là thể thơ ngày nay vậy.  

Gọi là để tán thán công đức thi hóa của thầy Tuệ Không, tôi ghi sau đây bài kệ bằng chữ Sanskrit. bản kệ này được dịch ra chữ Hán như sau:   

Nhược dĩ sắc kiến ngă 
            Dĩ âm thanh cầu ngă 
            Thị nhơn hành tà đạo 
            Bất năng kiến Như-Lai   

Ye màm rùpena càdràksurye 
            Màm ghosena cànvaguh 
            Mithyàprahàna prasrtà 
            Na mà draksyatite janà   

Thích Minh Châu 

Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh 

   

TỰA

 

Đứng trước cảnh tàn sát, lắng nghe tiếng rên siết, tự cảm thấy ḿnh bất lực, mà tụng niệm kinh Kim Cương th́ lại thấy tâm hồn dịu lại.   

Mầu nhiệm thay Kim-Cương! 
            Lạ lùng thay Kim-Cương!   

Ước ǵ ḷng tôi biến thành Kim-Cương để xóa tan biên giới Ta với phi Ta, để liễu ngộ sinh tử, để hết trụ vào Ta, cho cái tâm giải thoát.   

Phải chăng đấy là cái Tâm "Ưng vô sở trụ mà sinh" nó đă dẫn dắt Huệ Năng về Tào Khê, nó đă làm cho Thái-Tông khoát nhiên tự ngộ vai tṛ lănh đạo nhân dân "dĩ thiên hạ tâm vi tâm - dĩ thiên hạ dục vi dục". Vào sinh ra tử suốt cả một đời ngơ hầu thực hiện cái nghĩa vô tâm:   

"Lưu thủy hạ sơn phi hữu ư 
            Bạch vân xuất tụ bản vô tâm"   

Không có ư mà làm, với cái tâm không tâm! Thật khó lắm thay! Cao siêu thay!   

Ở vào thời mạt pháp, chính là thời khắp mặt đất mong cầu thánh chúa ra đời, Di-Lạc giáng thế. Cho nên để dọn đường cho hành động vô tâm tưởng như chỉ c̣n tâm lư nghệ thuật họa may làm cho con người tin tưởng vào Đạo Vô Cầu ở thế giới. V́ chỉ có cảm xúc mỹ nghệ mới gợi đuợc ở ḷng người ư vị Trang Chu mộng làm hồ điệp, để nh́n thế giới với đôi mắt kim cương:   

Nhất thiết hữu vi pháp 
            Như mộng huyễn bào ảnh 
            Như lộ diệc như điện 
            Ưng tác như thị quán   

Vậy thầy Phạm Thiên Thư đă cảm ứng mà thi hóa kinh Kim Cương Bát Nhă.   

Nên lắm thay!   

Gia Định nay tựa mồng một, tháng tư, năm Canh Tuất   

NGUYỄN-ĐĂNG-THỤC 
            Nguyên Khoa Trưởng Đại Học Văn-Khoa Saigon 

   

 

Nguyện cúng dường kinh tạng thơ hoa 
            Trải tam thế mộng một ṭa sắc hương 
            Kiếp sau làm chim trong sương 
            Về bay hóa độ mười phương trời vàng 
 

Phạm Thiên Thư 

 

 

NGỢI KINH 

 

thân như sương đầu cỏ 

tụ mười cơi trăng sao 

nhập ḍng thơ thâm diệu 

mộng thức dưới hoa đào 

 

DÂNG KINH 

 

cánh lan ngọc cong cong 

mười viền trăng thu khuyết 

hoa khép tay trầm hương 

qui-y tôn kính Phật 

 

MỞ KINH 

 

giấy cỏ hoa mây trắng 

chép đôi ḍng kinh thơ 

suối nào vi diệu tụng 

trang nghiêm cơi Phật thừa 

 

 

 

Mây hào quang về hội 

hoa suối cũng yên nghe 

pháp hội nhân do 

 

con chim thu cơi tịnh 

cũng về hội ta bà 

trùng trùng mây mây biếc 

hoa trải cúng dường hoa 

 

trong khu vườn mai trắng 

sương đọng mấy từng hoa 

sao tụ nước xá-vệ 

hương ngát mười cơi xa 

 

trên trụ đá mây đỏ 

trải chiếu cơi lưu ly 

Phật kết kim cương tọa 

chim tụng pháp diệu kỳ 

 

hai ngàn năm trăm vị 

tỳ-kheo rực pháp-y 

dưới thềm đá mây nổi 

dưới thềm hoa uy nghi 

 

II 

 

Giữa rừng hoa tịch mặc 

Thoảng tiếng suối thần rơi 

Thiện hiện khải thnh 

 

giữa đại chúng tịch mịch 

hiền giả tu-bồ-đề 

đứng dậy chắp tay ngọc 

hoa trắng trải hoàng-y 

 

vô ngàn, vô ngàn năm 

mây hương một lần tỏa 

vô ngàn, vô ngàn năm 

cơi ngọc nở sao lạ 

 

đức vô thượng như-lai 

chúng sanh cầu đạo cả 

chí an trụ nơi đâu 

pháp trừ tâm huyễn vọng ? 

 

III 

 

hoa vàng khe đá cũ 

trang nghiêm cơi đại thừa 

đại thừa chính tông 

 

thiện nam như ngọc trên đài sen 

như hoa mai đông một sớm nở 

lắng nhuần sương tụ mười cơi sao 

 

chúng sinh cầu đạo cả 

như trăng hiện hư không 

hào quang vô lượng biển 

mười cơi sáng mênh mông 

 

nguyện độ hết chúng sanh 

loài sinh từ trứng ngọc 

loài sinh từ thai hoa 

loài sinh hồ suối nước 

loài hóa sinh cơi trời 

loài có sắc không sắc 

lăng đăng bụi vàng rơi 

loài có tưởng, không tưởng 

tan hợp thoáng mây trôi 

 

chúng sinh như sương tụ 

chúng sinh như mây tan 

mười cơi bóng mây nổi 

nhập vô-dư niết-bàn 

vô lượng, vô biên độ 

mà không một chúng sanh 

đồng cùng như tánh trí 

từ biển lặng vô minh 

 

bồ tát thiên chấp ta 

của ta, rồi khác ta 

chấp chặt thọ gỉa tướng 

chúng sanh tướng hằng sa 

chưa thành bồ tát đạo 

 

IV 

 

dặm mây hồng muôn cơi 

nào v́ ngấn lệ hoa 

diệu hành vô trụ 

 

thực hành pháp bố thí 

chẳng chấp thức căn trần 

vô ngă vô sở trụ 

vô ngại cơi phù vân 

 

như mười phương sao biếc 

mười phương cơi hư không 

bố thí vô tướng trụ 

công đức chẳng suy lường 

 

bồ tát trụ tâm ta 

như trăng tụ sương ngọc 

như tĩnh lự mặt trời 

mạch sống mười cơi nước 

 

 

Phiến hoa mai trắng nở 

cửa động khép xuân thu 

như lư thực kiến

 

dùng tâm thân huyễn vọng 

nh́n vạn pháp mây trôi 

thấy chăng như lai tướng ? 

chỉ thấy nước trăng xuôi 

 

thân tướng không chân thực 

gỉa dối bóng mây đưa 

vượt qua vô chướng ngại 

phương tiện như lai thừa 

 

VI 

 

ba cơi ngọc lưu ly  

nở mặt rời không tiện 

chính tín hy hữu 

 

tu bồ đề tác bạch: 

đứng vô thượng pháp vương 

chúng sinh có tin thực 

cửa trí huệ chân thường 

 

người tu tŕ phước huệ 

nguyện phát thanh tịnh tâm 

tin pháp ngọc chân thực 

muôn xưa thiện kiếp trồng 

vô lượng kho châu ngọc 

nghiệp đức tụ trăm sông 

 

không chấp vạn hữu tướng 

ngă, pháp, sạch tâm không 

chính pháp như bè ngọc 

dùng qua ngọn suối hồng 

chân đến bờ vi diệu 

bè cũng thả xuôi sông 

 

VII 

 

mây hồng kết giải suối 

nào cần thuyền trăng đưa 

vô đắc vô thuyết 

 

nầy hiền gỉa bồ đề 

diễn bầy ư chân thực 

tôi được chính pháp chăng ? 

và trao quyền pháp ư ? 

 

không pháp nào vô thượng 

phương tiện, phương tiện thôi! 

ngài chưa thuyết một pháp 

v́ tánh chẳng y lời 

 

đạt ư, như thực ư 

ĺa lời, như thực lời 

đạt trí, như thực trí 

ư, lời ngọn sóng khơi 

 

vô lượng hiển thánh tăng 

pháp vô vi tu hành 

từ chân tâm vắng lặng 

sái biệt độ quần sanh 

 

VIII 

 

tặng trùng hoa giọt ngọc 

nào bằng thơ đại bi 

y pháp xuất sinh 

 

người đem biển châu ngọc 

vô lượng núi lưu ly 

rộng cho muôn cơi nước 

khắp cỏ hoa phù đề 

công đức vô biên lượng! 

chưa bằng tụng một ḍng 

kim cương biển trí tuệ 

 

hoặc diễn vi diệu thơ 

cúng dường nhất thiết tướng 

v́ vô lượng Như-Lai 

từ phẩm kinh ngọc này 

chứng vô thượng chính giác 

phật pháp, không phật pháp 

mới tạm gọi phật thừa 

thế gian tức phật pháp 

nhuần làn giải thoát mưa 

cỏ cây trổ hoa ngát 

 

IX 

 

cơi đất hồng mă năo 

nở muôn chúng hoa thơm 

nhất tướng vô tướng 

 

thánh quả tu-đà-hoàn 

gọi nhập ḍng giải thoát 

chẳng gọi tu-đà-hoàn 

v́ thực không quả đạt 

như đầm sâu bùn tanh 

ngại v́ hoa trổ ngát 

 

thánh quả tư-đà-hàm 

c̣n một lần sinh tử 

chẳng gọi tư-đà-hàm 

v́ chẳng nơi lai khứ 

như ao bợn bùn nhơ 

khóm sen xanh thường trụ 

 

thánh quả a-na-hàm 

chẳng trong ṿng dục-giới 

không gọi a-na-hàm 

v́ chẳng nơi ngăn ngại 

muôn cơi một cơn mây 

mưa từ vô lượng trải 

thánh quả a-la-hán 

bậc an trụ niết bàn 

chẳng là a-la-hán 

v́ ngă, pháp mây tan 

như mặt trời thanh tịnh 

muôn cơi giáp tâm đan 

 

nay con tu tịch tịnh 

vắng lặng như hư không 

nên chẳng gọi tịch tịnh 

v́ động tĩnh ngoài ṿng 

 

 

một bông hồng tịnh mặc 

trang nghiêm cơi bụt vàng 

trang nghiêm phật độ 

 

xưa hội Phật Nhiên Đăng 

tôi đắc pháp nào chăng ? 

ngài đắc vô sở đắc 

vượt ngă, pháp tâm băng 

 

vô lượng bồ-tát-hạnh 

cơi Phật làm trang nghiêm 

hạnh nguyện không sở nguyện 

trang nghiêm thực trang nghiêm ! 

 

bồ tát khởi sinh tâm 

thanh tịnh như hư không 

vô nguyện, vô sở trụ 

viên măn một tâm đồng 

như mưa khắp phương cơi 

riêng ǵ chốn tây đông 

 

XI 

 

cao cao từng mây biếc 

sao kết ḍng thơ hoa 

vô vi thắng phúc 

 

người phát tâm bố thí 

ngọc, sao đầy hư không 

vàng, cuộn long giang cát 

chưa bằng tụng kinh này 

hoặc kết ḍng thơ ngọc 

vào mật ư như lai 

tạo vô lượng nghiệp đức 

vô lượng trợ thần oai 

vàng ngọc thêm chấp chặt 

tham si lệ đổ hoài 

thấm ḍng thơ giải thoát 

cứu độ khắp trần ai 

 

XII 

 

trăng không ĺa đáy suối 

sen trắng ngát đầm xanh 

tôn trọng chính giáo 

 

người diễn nói kinh này 

dù một câu đạo vị 

khắp cơi quỷ, trời, người 

cúng dường như tháp Phật 

 

tôn kinh này nơi đâu 

đó hào quang chư Phật 

tŕ tụng trang ngọc kinh 

tựu thành pháp bậc nhất 

 

XIII 

 

y trụ trang diệu kinh 

lắng tan ba nghiệp vọng 

như pháp thụ tŕ 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

dưới thềm mây đá biếc 

tôn kinh này tên ǵ ? 

phụng tŕ sao như thực ? 

 

này hiền gỉa bồ đề 

tên kinh gọi kim cương 

bát-nhă ba-la-mật 

thụ tŕ như danh trên 

 

Phật thuyết ba-la-mật 

chẳng phải ba-la-mật 

mới thật ba-la-mật 

ĺa tướng như thực tâm, 

phương tiện lời biện biệt 

 

chính pháp như bè ngọc 

phương tiện vượt sông mê 

bừng tự tánh bồ-đề, 

bè sông như thực trí 

 

vô cùng bụi nhỏ vàng 

khắp đại-thiên thế-giới 

ông nghĩ bụi nhiều chăng ? 

vô lượng bụi vàng này 

cũng không nhiều, không nhỏ 

tạm gọi bụi vàng thôi 

Như-Lai gọi thế giới 

thế giới thực không nơi 

tạm gọi là thế giới 

 

như gợn mây đáy nước 

ĺa bóng để nh́n trời 

mây mười phương tan tụ 

bóng nào có một nơi 

ĺa kinh một chữ nhỏ 

tức xa như thực lời 

nệ chấp một câu nhỏ 

chân tướng măi xa vời 

chấp sóng chẳng thấy nước 

vọng tâm măi nổi trôi 

ĺa sóng để thấy nước 

sóng, nước một trùng khơi 

vào, ra không ngăn ngại 

chân , vọng chẳng riêng nơi 

 

ba mươi hai tướng quư 

có thấy được Như-Lai 

bóng hoa in đáy suối 

nào biết thực hoa mai

chẳng nệ tướng mây nổi 

sá ǵ nghĩa Như-Lai 

 

người mang vô thủy kiếp 

như đáy cát sông trong 

phát đại nguyện bố thí 

như người chuyển kinh này 

in tụng ḍng thơ nhỏ 

hoặc diễn giải thoát thơ 

chúng sinh vô lượng độ 

phúc đức ngút mây mờ 

 

XIV 

 

cánh cửa ngọc vi diệu 

mở tụng mười cơi sao 

ly tướng tịch duyệt 

 

mười phương trời châu ngọc 

thắp sáng từng lời kinh 

xuôi về biển trí tuệ 

hiền gỉa tu bồ đề 

 

đức vô thượng Như-Lai 

mở cửa ngọc vi diệu! 

con từ vô thủy nay 

mới nghe kinh mầu nhiệm 

ư tuyệt vời mây bay! 

 

có người nghe mật nghĩa 

vào biển thanh tịnh tâm 

khởi tướng vàng chân thực 

tựu thành đức hy hữu 

thật tướng, tức không tướng 

mới là thâm mật thân 

thật tánh, tức không tánh 

thân, ư nắm phù vân 

 

nay con được thụ tŕ 

nương từ âm thần lực 

thâm hiểu ngọc vàng kinh 

để vào Như-Lai-Ư 

 

vô lượng kiếp kiếp sau 

người tụng đôi lời ngọc 

phát tâm vô lượng từ 

tựu thành nhất thiết đức 

 

ĺa gỉa ngă huyễn vọng 

chẳng nệ tướng tụ tan 

chúng sinh nguyện độ hết 

địa ngục chuyển niết bàn 

 

sau nghiệp chúng sâu dầy 

có người tụng kinh ngọc 

sợ hăi chẳng sinh ḷng 

v́ tịnh không ngă, pháp 

hy hữu, hy hữu thay! 

 

đệ nhất ba-la-mật 

chẳng phải ba-la-mật 

mới thật ba-la-mật 

nhập thể tánh tṛn đầy 

xa ĺa ngôn tự thuyết 

 

nhẫn nhục ba-la-mật 

mê, ngộ chẳng xa ĺa 

ngă, pháp thể không lặng 

cầu ǵ bên bờ kia 

 

tiền thân tôi một kiếp 

từng bị Ca-Lợi vương 

hành hạ cắt thân thể 

tâm chẳng sinh giận buồn 

v́ ngă, pháp không lặng 

 

lại nhớ thủa quá khứ 

tôi là vị tiên tu 

nhập đại hạnh nhẫn nhục 

ngă, pháp tướng xa ĺa 

 

người cầu đạo bồ đề 

phát tâm vô lượng độ 

ĺa gỉa tướng mây hồng 

bố thí vô sở trụ 

 

chư tướng, không thực tướng 

chúng sinh, không chúng sinh 

lời chân như b́nh đẳng 

không dối trá mảy may 

 

khởi hạnh nguyện bố thí 

chưa ĺa tướng huyễn mê 

như người trong ngục đất 

quờ quạng có thấy ǵ ! 

 

khởi hạnh nguyện bố thí 

chẳng v́ sự, tướng mê 

như người mở mắt sáng 

dưới mặt trời lưu ly 

thấu rơ pháp chân, vọng 

 

mai sau có người nào 

thụ tŕ phẩm kinh ngọc 

vào biển trí Như-Lai 

tựu thành vô lượng đức 

 

XV 

 

giọt sương đọng đài sen 

ảnh chiếu ba cơi bụi 

tŕ kinh công đức 

 

có người đem thân mệnh 

như phù sa hồng hà 

bố thí muôn ức kiếp 

có người trộm nghe kinh 

khởi ḷng tin thanh tịnh 

đức vô lượng vô biên 

hơn đại nguyện bố thí 

trải thân ngọc tam thiên 

vàng ngọc đắp ngục tối 

ḍng kinh mở năo phiền 

 

v́ người khởi đại tâm 

phát nguyện tối thượng thừa 

tôi mở pháp vi diệu 

ai đọc tụng thọ tŕ 

diễn giải chân thực ư 

vào biển huệ lưu ly 

tựu thành vô lượng đức 

là chuyển đạo Như-Lai 

cứu người trong lửa vực 

 

người chấp trược ngă kiến 

chúng sinh, thọ gỉa kiến 

như tù ngục trong thân 

đối với kinh ngọc này 

không thụ tŕ tụng đọc 

chẳng thấy pháp NhưLai 

ch́m sâu ḍng suối độc ! 

 

nơi nào mở kinh này 

ngâm tụng ḍng thơ nhỏ 

khắp cơi quỉ trời người 

cúng dường vô lượng độ 

như kim thân Như-Lai 

như tháp thờ xá lợi 

thường tại giữa mây bay 

 

XVI 

 

vô cùng trăng sao vỡ 

vô cùng bọt nước tan 

năng tịnh nghiệp chướng 

 

người tŕ tụng kinh này 

bị người khác khinh chê 

v́ nghiệp trước sâu dầy 

nay nghiệp tội tiêu tan 

khởi phát thanh tịnh tâm 

chứng vô lượng đạo quả 

như sen ướp, trầm xông 

 

trải qua vô lượng kiếp 

tôi theo Phật Nhiên Đăng 

cúng dường vô lượng Phật 

công đức chẳng so bằng 

người tụng phẩm kinh ngọc 

nghĩa thâm diệu suy tầm 

ngă, pháp thể không tịch 

thực chứng đạo viên dung 

 

XVII 

 

rửa tay tam giới mộng 

sông cuộn bụi vàng rơi 

cứu kinh vô ngă 

 

Hiền gỉa tu-bồ-đề 

trải tọa cụ lưu ly 

chắp tay lan bạch ngọc 

tán thán pháp diệu kỳ! 

 

đức vô thượng Thế-Tôn 

truyền tâm đạo Bồ-Đề 

pháp nào ư an trụ ? 

pháp nào đẹp huyễn mê ? 

 

người thiện nam, thiện nữ 

khởi tâm đại Bồ-Đề 

hết thảy chúng sinh độ 

chúng sinh diệt độ rồi 

như không một chúng sanh 

mê, ngộ vô sai biệt 

đồng tánh trí tựu thành 

 

tu-bồ-đề hiền gỉa 

ư ông nghĩ thế nào ? 

tôi theo Phật Nhiên Đăng 

chứng đạo vàng vô thượng ? 

 

như mật ư Như lai 

xưa Nhiên Đăng Phật hội 

chẳng một pháp ngoài tâm 

không chính đẳng, chính giác 

 

nếu một pháp ngoài tâm 

tôi vào vô thượng giác 

cổ Phật Nhiên Đăng nào 

thụ kư sao thành Phật: 

hiệu Thích Ca Mâu Ni 

 

bồ tát chấp ngă tướng 

huyễn tướng khởi trùng trùng 

như mắt quáng hoa không 

chưa thành bồ tát đạo ! 

 

thực ra không pháp nào 

khởi tâm cầu vô thượng 

thực ra không pháp nào 

gọi chính đẳng chính giác 

 

xưa nay đạo không lặng  

mê, ngộ chẳng ngoài ṿng 

một tâm giáp mười cơi 

biển lặng bóng trăng trong 

 

Như-Lai là diệu nghĩa 

như như vạn pháp thường 

xưa nay không một pháp 

như bóng chớp hoa sương 

 

không một pháp bồ tát 

không ta cũng không người 

không trang nghiêm cơi phật 

mật nguyện hoa vàng tươi ! 

 

làm trang nghiêm cơi Phật 

tức trang nghiêm cơi người 

ngă, pháp bóng mây nổi 

vào ra ḍng nước xuôi 

 

XVIII 

 

một thể nước thanh tịnh 

mây sương suôí biển đông 

nhất thể đồng quán 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

diễn bày ư chân thực ! 

tôi có nhục nhăn chăng ? 

quả ngài có nhục nhăn 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

diễn bày ư chân thực ! 

tôi có thiên nhăn chăng ? 

quả ngài được thiên nhăn 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

diễn bày ư chân thực ! 

tôi có tụê nhăn chăng ? 

quả ngài có tụê nhăn 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

diễn bày ư chân thực ! 

tôi có pháp nhăn chăng ? 

quả ngài chứng pháp nhăn 

 

hiền giả tu-bồ-đề 

diễn bày ư chân thực ! 

tôi có Phật nhăn chăng ? 

quả ngài có Phật nhăn 

 

vô lượng số sông hồng 

vô lượng cát phù giang 

như vô lượng cơi Phật 

vô lượng tâm chúng sinh 

tôi đều như thực quán 

tướng đồng dị mang mang 

hoá sinh vô lượng kiếp 

không ngoài tâm viên đồng 

thể không sanh, trụ, diệt 

 

XIX 

 

mặt trời trí huệ sáng 

mười cơi một tâm không 

pháp giới thông hóa 

 

bố thí vô lượng ngọc 

bằng tất cả tam thiên 

phúc đức nhiều vô lượng 

từ một đại nhân duyên 

 

nếu như phúc thật có 

chẳng thể lượng ít nhiều 

v́ vốn không thật có 

phương tiện nói bao nhiêu 

 

nghiệp duyên như sóng nổi

phúc đức như bọt trôi 

khi gío yên biển lặng 

t́m đâu bọt giữa khơi 

 

XX 

 

ĺa sương un bọt nổi

tâm hiện một ḍng trong 

ly sắc ly tưởng 

 

nhờ kim thân đầy đủ 

có thấy tướng Như-Lai 

không qua thân mây nổi 

mà thấy đức Như Lai 

 

gọi sắc thân đầy đủ 

nào phải sắc thân thường 

mới gọt thân đầy đủ 

huệ đức tạng Kim Cương 

 

qua vạn tướng tốt đẹp 

có thấy được Như-Lai ? 

không qua tướng mây gấm 

mà thấy dấu Như-Lai 

 

đầy đủ tướng tốt đẹp 

không phải tướng tṛn đầy 

mới tạm gọi đủ tướng 

như bóng suối chim bay 

 

như hoa nổi hư không 

như mây ch́m đáy nước 

ĺa sắc tướng, tâm không 

chẳng t́m đâu một bước 

 

XXI 

 

không lời vàng thức ngộ 

tâm thể có mê đâu 

phi thuyết sở thuyết 

 

người chấp Như-Lai pháp 

là không hiểu nghĩa mầu 

nghe pháp không chấp pháp 

cầu pháp không người cầu 

tôi hằng phương tiện thuyết 

mê ngộ có xa đâu 

 

vô lượng kiếp kiếp sau 

người khởi tâm thanh tịnh 

biết cầu đạo nơi đâu ? 

 

t́m mộng trong giấc mộng 

người mê, chẳng thấy mê 

xưa nay không ngă, pháp 

t́m đâu lối bồ đề 

 

XXII 

 

mở mắt dứt mộng lớn 

mê ngộ chẳng đôi bờ 

vô pháp khả đắc 

 

đức vô thượng Như-Lai 

tâm không chỗ sở đắc 

đạo cả chẳng trong ngoài 

nào có được mảy may 

 

không một pháp vô thượng 

chẳng cho cũng chẳng cầu 

không hư, cũng không thực 

mới gọi pháp nhiệm mầu 

 

XXIII 

 

tâm mười cơi hư không 

nẻo vào đâu lối ngơ 

tịnh tâm hành thiện 

 

pháp như như b́nh đẳng, 

không thấp cũng không cao 

vô ngă, vô thọ gỉa 

vô nhân, vô chúng sanh 

do tu vạn pháp lành, 

nẻo vào vô thượng đạo 

 

pháp lành, không pháp lành, 

dùng pháp, không nệ pháp. 

lợi lạc khắp chúng sinh 

niết bàn vô thượng đạt. 

 

XXIV 

 

tiếng chuông vàng thức chúng 

cơi mộng thoảng tơ sương 

phúc trí vô tỷ 

 

có người dùng báu ngọc, 

góp triệu dăy trường sơn. 

rộng cho đến côn trùng, 

phúc đức vô lượng bể. 

không bằng một ḍng kệ, 

tŕ tụng hoặc diễn bầy, 

ca ngâm kinh ngọc này, 

khiến bừng tam giới mộng. 

nghiệp đức nước ngh́n sông, 

cứu độ nhất thiết khổ, 

cúng dường Phật mười phương. 

 

XXV 

 

mưa ngọc trải mười cơi 

vô lượng chúng hoa thơm 

hóa vô sở hóa

 

các ông chớ bảo rằng 

Như Lai độ chúng sinh 

v́ ngă, pháp không tịch 

nhân duyên tự độ ḿnh 

ḿnh là đảo ngọc sáng 

giữa biển vọng vô minh 

ḿnh, mắt xích phiền năo 

độ người tức độ ḿnh 

 

Như Lai tạm nói ngă 

chỉ phương tiện giải bày 

kẻ mê chấp thật có 

như lặng suối t́m mây 

 

 

 

XXVI 

 

vàng vàng hoa mướp nở 

mang mang hạt bụi rơi 

pháp thân phi tướng 

 

ba mươi hai tướng ngọc, 

chẳng quán được Như-Lai. 

dùng sắc không thấy Phật, 

pháp thân nào trong ngoài. 

 

dùng thân vàng thấy Phật, 

dùng khánh ngọc cầu ta, 

người đó lạc tà đạo, 

đũa ngọc gắp sao tà. 

 

XXVII 

 

ngọn suối sương un trắng 

ŕ rào bọt nước xô 

vô đoạn vô diệt 

 

xa ĺa thân huệ ngọc, 

nên chứng đạo bồ đề. 

từ ư đó cầu đạo, 

vạn pháp diệt tan đi. 

 

v́ phát tâm vô thượng 

không chấp pháp đoạn trừ 

xá chi mây tan hợp, 

chân thực tướng như như. 

 

XXVIII 

 

vào ra cơn mây nổi 

áo rũ bụi vàng rơi 

bất thụ bất tham 

 

bồ tát dùng thơ ngọc, 

như cát nổi cửu long, 

vô lượng kiếp bố thí. 

có vị chứng pháp không, 

được tạo thành pháp nhẫn. 

công đức kể vô cùng, 

hơn núi vàng biển ngọc. 

 

vạn pháp không thật ngă, 

ḥa hợp đốm mây xanh. 

chẳng tham chấp phước đức, 

không hưởng phước quả sinh. 

tâm ngọc không đắm nhiễm, 

tṛn tịnh nhật quang minh. 

 

XXIX 

 

chân khỏa ngọn suối trong 

tan mấy từng sao biếc 

vô nghi vô tĩnh 

 

có người chấp Như-Lai, 

là như lui, như tới. 

là như nằm, như ngồi, 

thật không hiểu nghĩa nói, 

 

Như-Lai không đâu lại, 

không do nơi nào đi. 

Như-Lai như thực trí, 

v́ khởi ngộ tan mê. 

ngă, pháp thể không tịch, 

không đi cũng không về. 

 

XXX 

 

một ngọn suối cát trắng 

thả mười cơi mây bay 

nhất hợp ly tướng 

 

nếu có người thiện nam, 

đem đại thiên thế giới,  

nghiền nát như bụi vàng. 

ông nghĩ bụi nhiều chăng ? 

 

tu-bồ-đề tác bạch: 

vô cùng hạt bụi vàng 

v́ nếu bụi có thực, 

Như-Lai không nghĩ bàn. 

thực tướng ĺa ngôn thuyết, 

ẩn dụ ư mang mang. 

 

những hạt bụi nhỏ đó, 

tức không phải bụi vàng, 

mới thật là bụi nhỏ. 

Thực tướng khó suy bàn, 

chẳng chấp phương tiện thuyết, 

 

ba ngh́n cơi đại thiên. 

không ba ngh́n thế giới, 

mới gọi đại tam thiên. 

vị thể không biện biệt. 

 

nếu cơi kia có thực, 

h́nh tướng hợp như mây, 

một h́nh tướng hợp lại, 

tức không phải tướng này. 

mới gọi tướng hợp lại, 

nhân duyên giấc mộng vầy, 

như ánh chớp trời ngọc, 

như thoảng nắm sương bay. 

 

h́nh tướng mây tan hợp, 

lời không thể nghĩ suy. 

ḷng tham chấp sự tướng, 

nghe thêm chẳng ích ǵ. 

như dưới cầu nước chảy, 

vừa đó đă qua đi. 

 

tôi thuyết, phương tiện thuyết, 

người nghe, không chấp nghe, 

bỏ quên lời bặt ư, 

tự hiện tâm bồ dề. 

mười phương nào ngăn ngại. 

 

XXXI 

 

máu huyết cất nhật nguyệt 

một cơi ánh lưu ly 

trí kiến bất sinh 

 

nếu có người cho rằng: 

Phật nói ngă, nhân kiến, 

chúng sanh, thọ, gỉa kiến, 

có hiểu ư tôi chăng ? 

 

người nào đó hiểu nghĩa, 

phương tiện thuyết Như-Lai. 

lời nói không trọn ư, 

người nghe chẳng vẹn lời. 

v́ tập kiến chấp chặt, 

càng xa nghĩa diệu vời. 

người phát tâm bồ đề, 

tin, thấy, biết như thực. 

chấp trược chẳng sinh ḷng, 

thực chứng minh huệ đức. 

 

viên ngọc dấu trong tay, 

nghe lời, tin lời thế 

chẳng khởi tâm giữ lời, 

cốt ĺa xem ngọc thể. 

niềm tin thoảng bóng mây. 

 

XXXII 

 

một cành hoa mai nở 

trang nghiêm đồi thông hồng 

vô hóa phi chân 

 

có người dùng mưa ngọc, 

rộng cho khắp tam thiên. 

phúc đức vô lượng bể, 

chưa bằng viết ḍng kệ. 

tŕ tụng hoặc diễn bầy 

ca ngâm kinh ngọc này, 

khiến tỉnh tam giới mộng. 

nghiệp đức nước trùng dương, 

cứu độ nhất thiết khổ. 

đền ơn Phật mười phương. 

 

người nhập kinh diệu này, 

xa ĺa huyễn ngă pháp, 

vô ngại bóng mây bay, 

cúng dường nhất thiết vật. 

tự tại giữa vần xoay, 

thể như như bất động, 

 

trùng trùng pháp hữu vi, 

như huyễn mộng bọt nước, 

như bóng chớp sương mai, 

thường quán tưởng như thị, 

 

Phật nói kinh này rồi, 

hoa cúng dường phơi phới. 

chim tụng vi diệu âm, 

mây về mười cơi giới. 

trưởng lăo tu-bồ-đề 

tỳ khưu, tỳ khưu ni, 

ưu bà tắc bà di, 

khắp cơi quỉ trời người, 

hoa hỷ bừng pháp hội. 

 

KHÉP KINH 

 

chẳng nương bè trúc ngọc, 

vượt qua suối mây hồng, 

con chim vô lượng kiếp, 

về tha trái nhăn không. 

 

ĐỘNG HOA VÀNG 

 

chim từ 

bỏ động hoa thưa 

người từ tóc biếc 

đôi bờ hạ đông 

lên non 

kiếm hạt tơ hồng 

đập ra chợt thấy 

đôi ḍng hạc bay 

 

 

 

 

Qua Suối Mây Hồng - phụ lục

 

NGĂ PHÁP MÂY NỔI

 

Tôi đang ngồi trên một chiếc ghế, một chiếc bàn viết gỗ nâu đặt ngay khung cửa sổ nh́n xuống khu đất cỏ xanh nằm xuôi hai bên con sông đọng nước tịch mịch. Khung cửa này là lối ngơ của hoàng hôn, của trăng sao, hoa cỏ và cả những tiếng chim lạnh buốt hắt vào tâm thức tôi mỗi chiều. Tất cả thế giới đó kết lại làm huyết bào nuôi dưỡng khí chất, nuôi dưỡng mảnh thân thể hiu hắt, rừng núi của những dù nấm hóa thân làm tinh tú mỗi đêm. Tôi , nuôi dưỡng tạo vật trong ḿnh, cưu mang tất cả nhật nguyệt mất máu ... Tôi tựu thành con xoáy khủng khiếp của vô lượng hành tinh lấp lánh trong ḍng ngân hà xa xăm. Tôi là một kết hợp dồn nén của tinh lực vũ trụ, của những dải mây huyền bí nhất, những mạch nguồn sâu thẳm nhất như bầy ngựa xanh chuyển vó, như ngàn ngàn con sông mang hoa lá dồn về. Tôi là đại dương nơi băo gío hát ca, nơi tụ đọng lớn lao của nước mắt loài người.   

Những ống máu trong tôi cuồng nộ như trăm ngàn ḍng Hồng Hà mang cát đỏ nuôi dưỡng h́nh hài.   

Trái tim tôi: Một nửa là cao nguyên Tây Tạng, nơi nghi ngút tuyết bay, nơi tím ngắt mặt trời, và một nửa là vực sâu của đại dương. Mỗi nhịp đập là lăng đăng mây bay, là gầm gừ biển lớn, là muốn xô nghiêng cánh cửa Âm, Dương, là vẫy gọi mặt trăng đầu thai vào mặt trời để trần gian ch́m toàn thể trong bóng tối thân mật, vắng vẻ, vĩnh cửu của mọi nhăn pháp so đo.   

Bây giờ thỏi nến vàng ệch lù mù trước mặt, chỉ đủ sức quyến rũ những con dế lang thang, những cánh bướm bỏ sương mù vào sưởi ấm. Tôi rất quư những bạn láng giềng này, những khúc ca, những cuộc chơi rong trọn kiếp, mà không bao giờ t́m thấy giữa loài người. Tất cả mọi tiếng ca chỉ c̣n lại trong tiếng rú thống thiết của ư thức thất bại. Tất cả mọi bước chân rong ruổi là những bước chạy trốn tù ngục tự thân. Cũng dưới ngọn lửa này, những trang kinh càng trở nên héo úa, những trang giấy nghi ngút tà dương. Mỗi phiến giấy thơm trở nên một chiếc lá khô xào xạc, những chiếc lá cuối mùa của một cồn rừng ǵa thâm u vắng vẻ. Những nét chữ cổ hiện thân từng đốt xương mục, từng nghành củi đeo đét th́ thào, từng cỗ xương chim ră nát, từng mảnh sỏi vô hồn ... Tất cả chỉ c̣n là bèo bọt lênh đênh trên cơn hồng thủy ư niệm dâng ào ạt trong tôi. Tôi hú gọi mật nghĩa về nhập xác. Tôi chuyển tinh năng vào từng ngữ ngôn hồi sinh. Tôi kết tinh tú lại làm ḍng kinh thơ nhật nguyệt. Tất cả bừng sáng trên một tâm địa huy hoàng. Mỗi ḍng kinh Kim Cương là một suối tóc biêng biếc hiu hiu, là sợi mưa thu lăng đăng, là một lấm chấm hoa đào, là sợi hương thơm tan loăng từng mây, là dế đá ngủ giữa mặt trăng và đàn ca năo nuột, là Nhị tướng giao nhau đẻ ngược ra Đấng vô cùng. Tôi gọi hồn thiên thu nhập với gang tay. Tôi chiêu vía vô cùng hiện giữa sương bụi. Tôi đốt xác hoàng hôn làm triêu dương mở mắt.   

Mỗi ḍng kinh thơ, là một mạch máu. Mỗi mạch máu là ḍng tinh khí mặt trời, là một hơi thở băo tố. Tôi thở bằng kinh thơ, cưu mang từng túi phổi. Tôi đâm nổ ư thức tôi cho những ḍng kinh vọt ra như vô vàn cây mống trời. Nút xoáy tinh lực không c̣n, tôi vỡ tung như trăm ngàn mảnh mây hào quang kiêu ngạo vỗ cánh vào vũ trụ. Mỗi chữ, mỗi nét mực xanh là mỗi cô đọng tinh lực vũ trụ. Sức mạnh của một biển cả thu gọn trong nét chữ bùa chú ngàn cân dưới cán bút ấn quyết xẻ núi. Tôi chỉ c̣n là kết hợp tạm bợ của sa mạc ư niệm, nằm chờ tiếng réo huyền bí của gío rừng tóc vô lượng ḍng kinh. Tôi c̣n vô lượng chiếc kén tơ của con tằm đang mọc cánh thoát h́nh vỗ cánh ra đi làm trăng sao vằng vặc.   

Bây giờ đúng ba giờ đêm. Mỗi vị sư là mỗi thế giới tịch mịch, mà mỗi gian pḥng là những cảnh giới vũ trụ riêng biệt. Quí thầy ngủ yên ấm như một bóng trăng hiền từ trong giọt sương. Chỉ c̣n tôi và ḍng sông dưới kia vẫn tỉnh thức cô quạnh. Tôi phải thức với ḍng sông, thức vĩnh cửu cho ḍng sông chảy măi, tôi chợt bâng khuâng trước một bóng bóng dáng trên tường. Không đó chỉ là chân dung của tổ Bồ-Đề vác thuyền trượng khai thị trên vai, treo chiếc giầy cỏ vi mạt vô minh như một chấm than chênh vênh cuối cùng; chiếc giầy duy nhất đạp lên Nhị tướng để ĺa cả sự ra đi. Trở về và ra đi cũng chỉ là sự gỉa danh, chỉ sự lênh đênh của cuộn mây trắng. Trở về chỉ là sự ra đi trùng sinh, sự ra đi nhập diệu, v́ hoàng hôn bên này là triêu dương bên nọ, cũng như lá cờ vĩnh cửu chỉ tung bay trong nhận thức, ḍng sông chỉ chuyển dịch trong huyết mạch, bia mộ chỉ là bia mộ của ảo tưởng thường tại; ảo tưởng này là biến chứng của tâm bệnh tham chấp và mê loạn.   

Sự chết không phải là sự trở về mà là sự ra đi đột biến, sự vượt cầu vào mây khói. Cây cầu lửng như là dấu nối ngắn ngủi giữa hai đầu của sự vô cùng - là một ảo giác hiện nổi lên giữa vô cùng tím ngắt cỏ hoa. Cỏ hoa là hiện thân của vô cùng vi diệu. Kẻ yêu cỏ hoa là kẻ đi vào vô cùng. T́nh yêu là chân tướng của vô cùng - chim non trong hốc cây - Mẹ dậy tiếng hót tŕu mến - Ngụ từ bất tuyệt thiên thu. Ngụ từ là liếc mắt mầu nhiệm. Ngụ từ là ngọn tóc bâng khuâng. Ngụ từ là tiếng em nước suối. Ngụ từ là tiếng bồ câu gù nhau trong hốc cây. Ngụ từ là con chim nho nhỏ tha cỏ lên cành. Ngụ từ là câu hỏi vu vơ: Sao em áo xanh đă vàng lệ đợi. Ngụ từ là muôn về trong một. Ngụ từ là ngôn ngữ tinh nguyên. Ngụ từ là nụ cười mầu nhiệm. Ngụ từ là ẩn tích của ngôn ngữ. Ngụ từ là ngụ từ.   

Kẻ lữ thứ qua cầu, muốn mau qua cầu như một cơn mưa thu, v́ đường c̣n xa, c̣n bao nhiêu núi cao mây trắng cám dỗ, c̣n bao nhiêu cồn hoa suối mát đợi chờ, rồi đến một thị trấn nào đó ít lâu lại làm lại cuộc ra đi. V́ máu huyết thường hằng sôi động ra đi. Tôi rất thèm những chuyến xe chợ xọc xạch, vừa mang tôi đi, vừa dằn vặt tôi, cũng như tôi vừa ra đi vừa dằn vặt ḿnh trọn kiếp. Tôi chán ngán hết mọi tỉnh lị. Tôi thèm một chỗ ngồi bên cửa xe, hút một cối thuốc, nh́n lên cây cao lăng đăng sương dài theo cỗ xe dong duổi t́m kiếm mảnh mặt trời vàng cuối núi. Tôi chỉ thèm chuyển dịch. Khinh thị những phố núi, đèo mây, những viện rượu ven rừng ngừng nghỉ. Nhổ nước bọt vào những ga mưa, chợ phố, những hang hốc cư ngụ. Tôi sống trọn vẹn bằng máu huyết ca hát lên đường. Chỉ có ra đi mới giải thoát. Giải thoát sự giải thoát mới giải thoát. Ra đi là bản chất của dịch hóa vũ trụ. sự ra đi cuối cùng, sự ra đi tột đỉnh là ra đi của sự ra đi, ra đi trong nỗi không tịch sấm sét.   

Một chiều, có lẽ vào một mùa hạ thật xa, ngày ấy như một cánh chim biếc đă rụng xuống ven núi rũ xương. Tôi cắp tấm nhựa về một ruộng lúa ngoại ô, nằm hút thuốc nh́n trời, việc nh́n trời cao đối với tôi cũng cần thiết như đóa hoa, sách quư, trông cây và như hai bữa cơm rau thanh đạm. Tôi chợt thích thú đón xe đi Vũng Tầu và t́m được chuyến xe cuối ngày lưa thưa hành khách. Thế rồi cỗ xe chợ ǵa cũng vừa kịp thả tôi xuống thành phố cùng với vừng sao đêm chi chít trên băi biển. Tôi vời khung xe gỗ ngựa chất đầy bóng tối về phía băi sau. Vó ngựa lọc cọc rơi mưa trên con đường cheo leo lưng núi. Tôi bỏ xuống chọn một quán ăn có cây đèn gío vàng ệch trên tường. Gọi một phần ăn, một ly rượu nâu đậm, một phin cà phê rồi ngả lưng nhồi cối thuốc hút nh́n biển. Biển đêm trở thành cây dương cầm gỗ huyền hoặc. Những ngọn sóng ŕ rào trong hốc đá, những ngọn gío hú vi vu cuồn cuộn chung quanh. Những bờ cây nào rũ tóc. Những đỉnh non nào le lói trăng sao. Biển chỉ c̣n những tiếng khóc, những tiếng thổn thức, tiếng nấc nghẹn thống thiết, tiếng nguyền rủa th́ thầm, tiếng hát ca man rợ. Biển là hiện thân của sự đau khổ chất chứa; nơi tụ đọng tất cả nước mắt loài người và trùng thú. Biển là dấu chấm hết vĩ đại nhất của thiên thu, cũng như giếng mắt huyền nhiệm của xử nữ, nơi vắng bặt sau cùng của mọi bản anh hùng ca chuyển núi. Biển là nước mắt kết thành tiếng khóc, tiếng khóc tự kết thành nước mắt. Nước mắt tự vỡ ra âm thanh năo nuột. Biển là vũng máu thiên thu, vũng máu vô ngàn năm tím ngắt. Biển là giọt máu duy nhất c̣n lại, chứng tích của cuộc ám hại, sau khi tên sát nhân vĩnh cửu xa bay. Biển là cỗ trống đồng meo mốc thúc giục mây xám lên đường. Biển thường xuyên tung tín điều cho loài người man rợ. Biển quyến rũ máu huyết hát ca. Biển là thông điệp thăm thẳm của thông điệp và sấm dậy; vắng vẻ ghê rợn và bùng nổ kinh hoàng. Hỡi con nước bất măn kia. Ta vứt xuống ngươi một cọng râu khinh thị. Hỡi dấu chấm câu hun hút kia. Ngươi nhỏ xuống lưng chúng đời sống như một ḍng văn ngô nghê. Hỡi thông điệp mê hoặc kia. Ngươi chỉ cần thiết cho những ngọn núi rầu rĩ. Hỡi thủy huyệt huyên náo kia, hăy trả mây trắng hồi sinh, hỡi bầy ngựa thiên thu kia. Hăy ḥ hét lên đường. Hỡi trùng dương sương muối kia hăy đổ xuống nụ cười thêm mặn.   

Tôi ngạo nghễ đứng lên trong những cử chỉ và khuôn mặt thật thô, bỏ xuống băi cát theo dấu chân một suối tóc thủy quái về cuối băi. Thân lau sậy đó đă mất hút từ khi cây đèn băo vàng ệch tắt phụt trên cột quán lần thứ nhứt, cũng như viền trăng lúc đó mất hút trong cơn mây đen ào bay. Một con chim nào mất dấu trên bầu trời, một tiếng chim nào chết đuối trên biển động. Dấu chân thứ nhất. Dấu chân thứ hai. Dấu chân thứ ba. Dấu chân thứ tư. Dấu chân thứ năm, thứ saú.... Ḍng chân hiện ra cùng với mảnh trăng trên băi cát, tôi gián tâm thức vào cuộc truy tầm dấu tích. Ḍng chân hút dài về cuối băi. Tôi măi theo và phát hiện thêm một ḍng chân đậm hơn ngược chiều. Những dấu chân đực cái giao nhau chần chừ, rồi trở thành những xoáy cát sâu hoẳm. Tôi ngồi xuống nh́n đôi chân ḿnh, đôi chân như h́nh ảnh cuộc sống, những dấu chân, những biểu tượng rơi rớt quẩn quanh. Hồi nhỏ, trước mỗi lần chui vào tấm phản gỗ hoàng tâm, đặt sau lưng khung cửa đất nh́n ra những tháp núi un sương ảo nghiệm, nghe tiếng dế gáy bùi tai, nằm thở hiu hắt với mảnh nguyệt đầu giường, mẹ tôi lại đem soi chân ra ánh trăng, nếu c̣n cát bụi là bế tôi ra con suối nhỏ đầu nhà, đem khỏa chân con xuống ḍng nước róc rách, cho cát bụi xuôi theo con suối với sao đêm. Có lẽ từ những ngày mất hút đó cùng với ánh trăng nơi trang trại Đá Trắng; một cơi sương khói tít mù. Tôi đă lớn lên và đă bao lần rửa chân mà thật ra chưa một lần nào sạch cát: cát hồng, cát tía, cát xanh, cát bẩn tưởi, cát hào quang ... tất cả mọi thứ bám đầy chân và lấp dần huyết mạch, đóng sạn trong tim, tụ lại nếp óc làm nên sa mạc, một thứ sa mạc đầy băo nổi và xương ngựa khô. Tôi đă gián bao nhiêu dấu chân trên mảnh đất này. Những dấu chân thèm đất, hút nhựa sống từ ḷng đất nuôi dưỡng tâm linh, chuyển vào đất những thất bại tức tưởi, gơ trên đất những âm động lao xao. Dấu chân đuổi theo những dấu chân. Dấu chân chạy trốn những dấu chân. Dấu chân khoan thai phỉnh gạt. Dấu chân sợ hăi chù chừ. Mỗi bàn chân là một ngọn cây cằn cỗi, một loại hoa xương rồng ngát hương. Mỗi ngón chân là một nụ sinh lực hồng hào, là một nhành hoa ngà ngọc. Mỗi người là một thân cây mọc ngược; gốc từ không trung, hấp thụ thanh khí nhật nguyệt, tinh chất cỏ hoa máu huyết biển núi. Mười nhành rễ chim bay, hút mật hoa hồng, uống suối ngọc thạch, hứng nhụy thông cao, mang thể chất vũ trụ vào sinh trưởng.   

Tất cả mọi con đường đều h́nh thành bằng những dấu chân. Những dấu chân ngàn xưa c̣n nạm đá cẩm tỏa sáng. Nhũ+ng dấu chân hôm nay đặt lên con đường rêu phong đó; những phiến đá kết tinh nô lệ, những dấu chân hôm nay ra đi chẳng tự tại chút nào, dù mỗi người đều có ư thức rằng ḿnh tự do một cách tù túng, mơ ước tự do một cách nô lệ.   

Những dấu chân mờ dần trên băi biển, rồi vô tăm tích dưới những đợt sóng đen tối. Cơn thủy triều đă dậy như một hàng dừa xanh. Ḍng chân trên cát biển bây giờ hiện rơ trong tôi như một ḍng mực, như những nét chữ kỳ diệu của trang kinh Kim Cương. Tất cả mọi con đường, mọi ước vọng, mọi vóc dáng, mọi khuôn diện chợt vắng lặng trong tôi như một con chim bay tấp vào cơn mây đen, như một ḷng suối cát biếc không vẩn gợn mây đục, như giọt nước ôm trọn vầng trăng. Trong giếng khơi thanh tịnh đó chợt hiện lên một bông hoa tím ngắt, nhỏ như đầu kim, một đóm hoa rơi, một chấm hoa mùa thu của kư ức. Không đó chỉ là một bọt nước nổi lên, phản ảnh chùm sao ly ti, chùm Bắc đẩu le lói biến hiện.   

Tôi chợt khinh thị tất cả tư tưởng, phẫn nộ với tất cả vách đá chiếm hữu mặt trời, độc quyền mặt trăng, ăn cắp tinh tú ngh́n xưa, đè nặng bóng tối huyền nghĩa xuống tâm thức con người. Tôi muốn chẻ tất cả tượng gỗ xuống nhóm lại bếp lửa nhân gian cho mọi sự sống ḥ reo lên đường, cho ngh́n suối mang hoa xuống non, cho trăm sông mang máu hồng về biển, cho trùng dương thả mây trắng phiêu bồng, cho rừng già thố lộ với núi cỏ, cho sỏi đá t́nh tự với chim muông, cho tinh tú nhào vào mạch máu, cho em hong tà dương từng ngọn tóc, cho anh vợi hoàng hôn trong mắt xanh, cho mùa đông cất cánh, cho thung lũng thay mầu, cho xuân thu đổi áo, cho tất cả chiến tranh, tất cả h́nh thái phơi sương nḥa lệ thực sự vắng lặng nơi mỗi người. Mặt trời phải sống dậy nơi mỗi người. Mặt trời không c̣n là xác chết, không là vụn đá, không là sa mạc ứ đọng huyết mạch. Mặt trời trùng sinh. Mọi con đường nổ tung. Mọi dấu chân tỉnh thức. Mọi bàn tay mọc cánh thăng hoa. Tôi đọc được mật nghĩa từ một ḍng chân mất hút trên băi biển.   

Tôi đứng dậy bâng khuâng, và trọn đêm bới cát, đắp mũi tên vàng từ bờ xa cắm phập xuống biển xanh.   

Sáng hôm sau tôi từ băi biển thức dậy với mặt trời. Một con chim xanh đậu trên đầu mũi tên như một cầu lửng cát vàng bắc xuống biển. Con chim ca hát hiu hiu, rồi lao cánh mất hút trên sóng biếc như một mũi tên bích ngọc. Tôi tiểu tiện vào biển và nhặt một vỏ ṣ trắng, ôm giọt nước xanh trong kẹt đá với mặt trời rực rỡ ly ti. Tôi bỏ lên, t́m vào quán ăn rồi đáp xe về tỉnh.   

Qua một kiếp sống nổi nêng, mỗi người đă vượt qua bao nhiêu cây cầu; một cây cầu trúc vàng, một cây cầu đá xám, một cây cầu tre La Ngà, một cây cầu ván thiên, một cây cầu sắt rỉ ... Bao nhiêu con cầu dựng lên để tiếp nối những ḍng chân, những bước đi không bao giờ ngừng nghỉ, v́ tư tưởng là ra đi, ra đi từ bản chất, ra đi trên những dấu chân, trên những nẻo đường ảo tưởng, những lối quạnh tàn trăng. Giấc mơ cũng là sự ra đi, ra đi trong dấu chân hoài niệm và thao thức. Chỉ có giấc ngủ say, giấc ngủ mệt thiếp, giấc ngủ chết lịm, giấc ngủ của Đạo gia, giấc ngủ của kẻ đau nhừ thất bại, và hoan hỷ trong sự thành công mĩ măn nhất, tột đỉnh nhất của ư thức thất bại, đồng nhất trong sự thất bại ném tung gỉa ngă xuống cỏ, một giấc ngủ không lo nghĩ, không tham vọng, không chấp nhặt v́ tất cả đều thất bại, v́ nhất tức nhất thiết, v́ nhất thiết tức nhất, v́ cỏ hoa cũng là tứ chi, v́ nước mắt tha nhân cũng làm ḿnh rướm máu, ḿnh khóc bằng máu, thở bằng nhịp tim, ăn uống bằng nhật nguyệt, cưu mang sự đau khổ loài người trên mỗi sợi tóc, trong mỗi chân lông, trên mỗi tế bào, trên mỗi vó ngựa ư thức trong rừng rậm tịch mịch, vượt qua khỏi bờ Nhân Ngă, nhẩy vọt vào đồng nhất với đại đồng. Chỉ c̣n lại một vầng trăng giữa thiên thu, giữa rừng tóc bồng bềnh mây nổi. Vừng trăng là nụ cười, nụ cười là con mắt, con mắt tịch mịch nhiệm mầu, con mắt nuôi nấng hào quang, con mắt cửa ngơ vào đại thể, con mắt cuối cùng của một nhân sinh xao xuyến. Con mắt đó vẫn ngủ êm trong mỗi người. Đó là giấc ngủ thanh tịnh nhất. Giấc ngủ cuối cùng ra đi, ra đi cả sự ra đi; mọi dấu chân xoáy tṛn làm tinh tú, mọi tinh tú nổ tung làm mọi cơi giới châu ngọc lưu ly. Một giấc ngủ Không Tịch, gối đầu, duỗi chân trên hai đỉnh tuyệt vô song.   

Nụ cười của Phật Thích Ca là thông điệp của sự thất bại ư thức. Tất cả quyền uy điện ngọc, và ḷng thương yêu rộng lớn và trí sáng suốt vô cùng, và ḷng dũng cảm vô biên và nỗi đau nhức vô lượng của chúng sinh, những bước chân lênh đênh cầu giải thoát những đạo sư ngủ gật trong rừng tối siêu h́nh ... Tất cả những tương quan hiện tượng đó, tất cả những cung bực mê loạn đó đă đưa Phật đến cuối cùng của sự thất bại và nhẩy vọt vào Tự Tánh Không của vạn pháp, nổ tung mọi thức tướng sai biệt, dứt vọng niệm, thể nhập vào tạng tính chân như, cho cây trải hoa cúng dường, cho chim diễn bầy vi diệu, cho trùng trùng tạng kinh luận mở cửa treo trăng.   

Ngă pháp đều không tự tánh, nên chỉ là giả lập, gỉa tướng, một phương tiện hư ngụy để vượt hư ngụy; một bè trúc xanh nổi nênh qua ngọn suối mây hồng.   

Viết trong đêm đầu thu 1969 

Pháp Vân Thiền Viện 

 

HIỆN HÓA PHÁP 

Thầy Quảng Trí

 

Mùa mưa năm nay lại về như một bầy câu trắng. Bầy chim mang theo những trái biếc; những cánh hoa và những rung động xào xạc. Trong cuộc đời chúng ta đă bao lần đuổi bầy mưa đi, gọi mây lớn về. Tâm hồn, mỗi kẻ đă biến đi mất hút bao nhiêu trận băo núi thổi tới, những xoáy gío hồng cuồng bạo, những cơn giông xanh nhẩy múa từ vách đá, từ đại dương, từ hốc sỏi, từ những ngọn cỏ, những cổ thư, những cửa hẹp, những đầu ngón tay, những suối mắt, những nụ cười, sợi tóc và kể cả những cơn mê loạn chính ḿnh. Những cuộn gío dấy đất, rên xiết, hú hếu rồi mất hút tịnh yên trong một tâm giới không lặng. Trận băo nào cũng bắt đầu từ chính ḿnh, và mất dấu từ chính ḿnh. Những trận băo hằn lên thân thể như bao nhiêu đường roi xanh quận lại tâm thức như một ổ rắn lục. Tại sao chúng ta phải cưu mang ? Mỗi nét mi, mỗi nốt tay, mỗi nhành chân, mỗi lời nói và hơi thở, tôi thấy đều là rắn, đều là những mầm mống dấy động nổi loạn. Tại sao chúng ta không thả chúng xuống ḍng sông ? Phải chăng chúng ta đă hoàn toàn bất lực, đă ung thối từ khi mới nở hoa, đă côi cút và bị tước đoạt bắt đầu từ một thức giới gỉa tưởng, đă mệt mỏi trên những bước thang hào quang bắc tới một thứ tuyệt đối hăo huyền.   

Trong mỗi chúng ta đều có sẵn những chốn ẩn trú, những cơn phố tịch liêu, những trạm ngựa ủ rũ, những ga sương tháng mười, những chợ khu âm động, những di chúc rầu rĩ c̣n ứ đọng trong máu huyết mỗi người. Chúng ta sống hoàn toàn bằng cái chết. Tất cả tử khí đó đă làm tê cứng gân máu chúng ta. Chúng ta chỉ c̣n lại một thứ xác khô canh giữ di ngôn trong ngôi cổ mộ thất lạc.   

Tôi muốn ra đi tất cả, từ bỏ tất cả, như một lăo đại hành khất, như một thiền sư vân thủy lang thang, như một con chuồn chuồn huyết dụ, như một vệt sao rơi, như một tia chớp giữa mộ đá tàn lụi. Tôi muốn ra đi khỏi những lời nói, những ư nghĩ, những t́nh cảm vụn vặt. Tôi muốn ra đi khỏi cả sự ra đi. Tôi muốn yêu mến thất bại để phá hủy mọi tham vọng. Tôi muốn sự từ khước cuối cùng đối với tất cả nơi trú quán siêu h́nh. Tôi muốn trở nên một tế bào reo ca trong cơ thể nhân loại. Tôi muốn đâm nổ con mắt, v́ tất cả mọi bước chân sợ hăi đều bắt đầu từ con mắt. Tôi muốn ngả co dưới một lớp tuyết trắng. Tôi cũng thèm tư cách thản nhiên của vách núi. Tôi thèm cuộc rong chơi như nước xanh. Tôi muốn không c̣n mọi ước muốn. Nhưng tôi vẫn t́m kiếm trí khôn, quỉ biện, lảm nhảm ... Đó là mọi hiện tượng bạc nhược, hèn mọn nghiệp dĩ. Tôi vẫn lừa đảo ḿnh trước cái chết bằng tất cả thành công và hạnh phúc bẩn tưởi. Tóm lại, tôi vẫn chuẩn bị cho sự nhắm mắt cuối cùng quá nhiều.   

Tôi có thói quen tự nghĩ về ḿnh. Trước đây ba mươi năm và lẻ một ngày, th́ tôi chỉ là con tinh trùng nguyên sơ trong một môi trường trong suốt. Rồi, quán tưởng đến bẩy mươi năm sau, tôi lại nguyên vẹn c̣n một nắm xương mục giữa những rễ cây gặm mút chằng chịt, và bên trên một thảm cỏ xanh, những thiếu nữ đang vít cành, hái trái xương tủy tôi ăn thích thú. Từ nhăn quan này tôi trở nên yêu mến mọi người và tất cả đời sống đều trở nên khôi hài kỳ hoặc. Một lần, tôi đi xem cuộc đua ngựa, tôi chợt nổi cười nghiêng ngả: Tôi thấy gần hai chục con tinh trùng người cưỡi gần trên hai chục con tinh trùng ngựa phóng đua măi miết, trước mấy trăm con tinh trùng đang ḥ hét và đánh cờ bạc; có con mặt hoa da phấn, có con đội mũ hút thuốc nghênh ngang. Ôi! Thật là khôi hài. Tôi lại chợt có ảo giác: chung quanh tôi, mấy trăm bộ xương trắng nhởn đang bầy cách gặm lẫn nhau. Ôi! Tôi muốn ù té chạy khỏi băi chết ghê rợn này. Nhưng, tôi chợt nhận ra ḿnh trong số đó, cũng chỉ là khung xương. Tôi chợt kinh tởm chính ḿnh. Từ sự bắt đầu tạo dựng mỏng manh đến sự hủy phá cuối cùng bi thảm hiện đến trong tôi chưa đầy một hơi thở. Tôi chợt đứng ngoài ḍng dịch hóa. Bên ngoài những h́nh thể gỉa tưởng và cảm thấy ḿnh rỗng không tịch mịch; những cơn mây chiều dường như phiêu bạt trong tôi, như một đàn cá thu kéo về theo tiếng réo của trùng dương, khúc hát huyền bí của tâm thể.   

Tất cả mọi khổ năo đều bắt đầu từ ư thức. Sự giải phóng tối hậu phải là sự giải phóng con người ra khỏi gỉa ngă, và thiên chấp sai biệt. Con người vượt thoát hiện tượng giới tức là chuyển đổi tư tưởng giới, giải phóng mọi ràng buộc nô lệ, mọi định thức giáo điều, để bước vào ngưỡng cửa một tâm giới mới, an trụ ở vô trụ. Vô trụ mà thực ra dung hóa được toàn thể trở lực. Tôi cho rằng Hiện Hóa Pháp của người Việt hoàn toàn bỏ xa Biện Chứng pháp của Hégel; một thứ biện chứng duy lư, ngưng đọng dựa trên những đường xoáy ảo tưởng: một đầu là ngôi vị tối cao, một đầu là hư vô mở rộng. Hiện Hóa Pháp Việt Nam không dựa trên một định thức, một con đường nào, nên không chỗ bắt đầu và cũng không nơi cuối cùng, mà chỉ là cánh cửa mở tung nhận thức, đập tan mọi kiến chấp hư ngụy để đối mặt với thực tại ảo diệu, duyên khởi, toàn khắp và nhất như của ḍng sống, "Khôn cũng chết, Dại cũng chết, Biết th́ sống", "Khôn, Dại" là hai mặt của cuộc đời, là hai cực của tiêu chuẩn hành động, là hai vế của Nhị nguyên. "Cũng chết" là tự chuyển biến đắp đổi dung hóa lẫn nhau. "Biết th́ sống" tức là vượt mâu thuẫn để điều ngự mâu thuẫn, nổ tung thiên chấp gỉa tướng, trực nhập ḍng sinh hóa mênh mang, tan rữa mọi vực bờ Nhân Ngă, vắng lặng mọi tham vọng so đo, và dẫn đến B́nh Đẳng Tánh Trí của muôn loài một vô môn quan dung thông Vô ngại. Đó là ch́a khóa để mở cửa những bế tắc chiến tranh, là sinh mạch của ṇi giống Việt: Hiếu ḥa Hiếu sinh nhưng kiên cường tự chủ.   

Mọi h́nh thái chiến tranh chỉ là chiến tranh của Quyền và Lợi. Mọi mê chấp Quyền và Lợi chỉ là sự sai lầm về nhận thức. Mọi kiến quan sai lầm chỉ là hậu quả của tâm bệnh bỏ quên bản chất và đánh mất thực tại. Vậy, đời sống lịch sử chỉ là một tiếp diễn đào thải và liên tục bắt đầu từ mỗi ư thức, mỗi cá nhân và mỗi thế hệ. Sự bắt đầu luôn luôn vươn tới sự tỉnh thức tự thân ra khỏi hang động ẩn trú của mọi nỗi sợ hăi, và lề thói trá ngụy trong một tinh thần dung hóa và sáng tạo truyền kiếp.   

Tất cả mọi ngữ ngôn, mọi nhăn quan chỉ là không của hư Ngụy. Nó có thể đóng lại và cũng có thể mở toang vào Nhật Nguyệt. Chỉ khi nào không c̣n người nh́n ngắm Nhật Nguyệt và cũng không c̣n Nhật Nguyệt để nh́n ngắm, th́ lúc đó không c̣n dụng tướng của cánh cửa và tâm thức trụ nhập với cỏ tím hoa vàng, đó là Nhập Pháp Thân Thường Trụ Như Lai.   

Tôi viết những ḍng chữ này thực cuồng lưu. Tôi tự biết ḿnh đang nốc từng đấu nước biển để bốc lửa cơn khát. Những đấu nước có thể là máu, là nước mắt là mồ hôi của biển xanh. Tôi tự biết những ḍng chữ bất lực và hư huyễn này không kêu gọi được ǵ trong cuộc chiến tranh VietNam và mọi réo gọi trong cuộc chiến hiện nay càng đẩy con người vào ngơ cụt đầy hoang mang và thù hận chồng chất. Viết đă là phản bội ḿnh lẫn người đọc. Nên tôi muốn những ḍng mực này, xin như những giọt nước, những gợn mây, những hơi gío thu thoang thoảng gợn nổi trăm ngàn con ốc trên da thịt hiu hiu. Nó sẽ tan biến trong một tâm thể sinh động và nổ tung sấm sét. Nó chỉ là ngọn cỏ nổi nênh dưới chân thiền sư vượt suối, không tạo nên một con đường nào v́ những bước chân đă trở nên thừa thăi của kẻ trên đ̣.   

Bây giờ nắng đă bắt đầu rực rỡ trên những cánh bướm vàng quẩn quanh những đóa hoa trắng thơm vừa nở trên thành cửa sổ. Cho tôi được dừng bút nơi đây trở về Phật Viện, vác cuốc xuống vườn trồng cải xanh. 

 

Viết tại thư viện Vạn Hạnh 

cuối thu 1969 

Tuệ Không  Phạm Thiên Thư 

 

đại nguyện 

Nguyễn Thị Minh 

 

Trầm thơm quyện tỏa hồn mơ 

Trà sen nhấp giọng ngâm thơ ngọc vàng 

 

Mỗi ḍng là ánh từ quang 

Mỗi trang là khói chiên đàn thoảng xa 

 

Mong sao mười cơi Ta Bà 

Bao nhiêu cát sỏi trần sa trở ḿnh 

 

Kinh Ngọc là khối quang minh 

Là đường cứu độ chúng sinh mọi loài 

 

Nguyện cho khắp cơi trần ai 

Tỉnh cơn ác mộng nở đài liên hoa 

 

Trầm tư Thơ Ngọc, Đạo Ca 

Mỗi người là một pháp ṭa trí bi 

 

Cảm tác khi đọc Kinh Ngọc 

SaiGon ngày đầu xuân Tân Hợi 

Bồ Tát Giới - Đức Minh 

Nguyễn Thị Minh 

 

với ḍng Kinh Ngọc 

trần thị tuệ mai 

 

Trong miền cát bụi phiêu du 

đă ngày mê mải, đă mùa trầm luân 

mắt xanh ánh biếc phai dần 

nh́n người kinh hăi, tưởng thân tật nguyền 

mịt mờ khuôn mặt hoa niên 

tóc chiêm bao rụng khô miền hỗn mang 

e như xuân đất trời tàn 

cây khô da thịt ngổn ngang rừng người 

 

Chợt thơm hương phấn tuyệt vời 

âm thanh Kinh Ngọc nở mười phương hoa 

 

Thắp lên ánh sáng Đạo Ca 

ngàn mùa xuân trước dựng mùa xuân nay 

 

Rừng đời trổ lộc muôn cây 

ḷng đời chim hót ấm đầy t́nh thương 

tóc chiêm bao mướt trầm hương 

ôm bờ vai ngọt - vô thường - chân như ... 

 

tặng bác phạm thiên thư 

bùi giáng 

 

chùa 

 

chạy quanh khu vực thần tiên 

mỏi chân mười ngón kết liên bốn mùa 

vườn cây trái ngọt trái chua 

mù sương hấp dẫn về chùa ngủ quên 

 

cây mọc 

 

Đạp thanh từ tiết phiêu bồng 

Hỷ căn du hư thần không ngậm vành 

cây trời mọc đất trút nhanh 

giờ đi bên khắc đêm thanh loạn ngày 

 

quận 

 

Giây rừng rút động chiều trưa 

góp sương châu quận về mưa thị thành 

xa từ lũng tạ âm thanh 

T́nh vân nhứ mạo xuân xanh chiên đàn 

 

Bùi Giáng 

 

trụ vũ 

 

vườn dâu 

 

vườn dâu năm trước c̣n không 

sớm nay nở với vừng đông một cành 

chim linh hót tiếng vô thanh 

quê hương ta hạt gieo lành ngh́n năm 

 

hoa mướp 

 

hoa mướp tṛn như trăng tháng tám 

tṛn như tâm của đức Mầu-Ni 

gío khơi thổi động cành phơ phất 

hoa mướp muôn đời chẳng nói chi 

 

con kiến 

 

sớm mai 

mặt trời mọc 

trong ánh sáng diệu huyền của tâm linh 

trên cành xoài lá xanh đông phương 

những con kiến hành hương 

về ánh sáng 

 

Tôi nghe nhất thể nhiệm mầu 

khởi điệu t́nh ca 

 

Lê Nghị 

 

giọt về 

một mai 

giang - tố quan - hà 

một lần 

nữa thác là sa giọt về 

núi ầm đổ 

ngọn triều khê 

Cuộc chơi 

thành Đá 

Cuộc về thành không 

 

VÀO CƠI KHÔNG TỊCH 

Vũ Tài Lục

 

Gốc rễ tín ngưỡng Phật học là chữ "Không" (néant) Không chẳng phải là Vô (nothing) v́ Vô là cái ǵ quay lưng lại với Hữu (something) cho nên chỉ là tương đối. Không mới thật là tuyệt đối.   

Không của nhà Phật xuất phát từ kinh nghiệm sinh hoạt bản thân. Theo Phật thể chứng th́ loài người mê lầm rất sợ hăi cảnh giới Không đó v́ Không là nơi vô t́nh vô vật, t́nh cảm vật chất đều tiêu diệt. Bởi sợ cảnh giới Không nên cố bấu víu vào Tâm hoặc Vật để mong t́m ra niềm an ủi mỗi khi nghĩ đến khoảng khắc của phút lâm chung. Bởi mê lầm nên nhận Không ra Chết. Thật ra Chết mới là t́nh trạng giải thể của vật chất và tinh thần chứ chưa phải là tiêu diệt. C̣n ở cảnh giới Không th́ hết thẩy mọi cơ duyên cũng như bi khổ đều tan biến mất. Giác ngộ được ư nghĩa chân Không th́ vẫn đứng ngang nhiên ở cơi đời mà siêu nhiên thoát tục.   

Lặng ngồi xem cuộc bể dâu thay 
            Gío thu thổi gốc mai cầu nọ 
            Áng áng hoa vàng trước dậu bay   

Kinh Kim Cương ghi những lời Phật giảng dẫn đường vào cảnh giới Không để phá bỏ những mê lầm về sự biện nhận cảnh giới này.   

Tên kinh gồm tám chữ là: Kim Cương bát nhă ba la mật đa kinh. "Ba la mật" dịch âm của tiếng Phạn có nghĩa là "bờ bên kia" ư chỉ một việc đă viên măn. "Bát nhă" là "trí tuệ". Kim Cương là tên một khoáng chất rất rắn, rất sắc, chất rắn sắc của nó nguyên lai vẫn đầy đủ không phải nhờ các vật khác rèn đúc, Phật lấy nó mà ví dụ như trí tuệ của người ta từ vô thủy ai ai cũng có khi thành bậc thánh nó cũng không thêm chút nào, lúc là phàm phu nó cũng không kém chút nào, nó đă không bị vô minh từ vô thủy làm ch́m đắm, trái lại nó c̣n chiếu tỏ để phá tan cái vô minh, ư như gío quét mây bay, gío tan sương móc. Khi có đủ Kim Cương bát nhă th́ người với pháp đều hết, sự với tướng đều không. Trong lời giảng Phật bảo ông Tư Bồ Đề rằng:   

Bồ tát nên xa ĺa hết thảy cái tướng hư vọng, phân biệt ḥa hợp mà phát cái tâm vô thượng chính đẳng chính giác, không nên y trụ vào lục trần mà sinh ḷng sai biệt, chỉ nên sinh cái tâm không trụ vào chỗ nào, nếu tâm c̣n có chỗ trụ, th́ là vào chỗ điên đảo không phải là trụ vào bát nhă vậy. Đọc thấu đáo kinh Kim Cương là có thể thấu triệt chữ Không của Phật học, bởi thế kinh Kim Cương là một loại kinh ở bậc cao. Sư cụ Thiều Chửu một vị rất uyên bác Phật học khi dịch kinh này đă viết:   

"Kinh này có nhiều nghĩa lắm, nguyên văn chữ Phạn dịch ra chữ Hán có đến sáu bản dịch khác nhau, các nhà chú giải th́ có hàng mấy trăm nhà, hiện văn tự c̣n lưu lại th́ cũng tới tám mươi hai nhà, mỗi nhà đều sở đắc một nghĩa đều có vẻ cao thâm huyền diệu cả, nhất là bộ Kim Cương huyền nghĩa của cụ Cát Tạng lại càng mênh mông bát ngát như trời như bể, bởi thế mà các Tổ xưa mới bảo rằng kinh này là kinh Vô lượng nghĩa, là kinh không thể lấy văn chữ, nói năng mà h́nh dung được. Các Tổ uyên bác là nhường nào mà c̣n kêu là khó, là không thể lấy văn chữ nói năng mà h́nh dung được th́ tôi, tôi là một kẻ kém đức có bao giờ dám cầm bút mà dịch."   

Nay khác hẳn với thái độ băn khoăn, khiêm tốn đến câu nệ của người thuộc thế hệ trước, thầy Phạm Thiên Thư táo bạo xông xáo vào kinh Kim Cương, chẳng phải chỉ để dịch mà thôi, Thư dám chuyển cả ư nghĩa bộ kinh này thành thơ rồi đặt cho một cái tên rất hay, rất thơ: Kinh Ngọc Qua Suối Mây Hồng. Phạm Thiên Thư đă thành công, cái thành công căn bản của Qua Suối Mây Hồng là phá bỏ sự ề à vẫn thường thấy trong các kinh sách với những câu "trầy vai áo chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng ..." hay "lại nữa ông Tu bồ đề này" hoặc "Như nay con hiểu ư của Phật nói th́" v.v... nghe dễ chán và bực ḿnh.   

Bằng những lời thơ êm dịu, Qua Suối Mây Hồng làm cho người đọc như tựa lưng dưới bóng hoa nghe hồi chuông tĩnh tâm của ngôi cổ tự mà lim dim ngủ; vào cơi Không Tịch thanh thoát như người tiều phu nào đó ngày xưa mải mê xem tiên đánh cờ dựa cái búa bên cạnh, lúc tan cuộc cờ nh́n lại th́ cán búa đă mục.   

Bằng lời thơ êm dịu, Phạm Thiên Thư đẩy nhẹ con thuyền trí tuệ lướt trên gịng kinh cho người đọc thoải mái thênh thang đi tới cảnh giới Không ở giữa rừng hoa tịch mặc tháng ngày thoáng tiếng suối thần rơi.   

Đọc kinh Kim Cương người ta có thể đến hạnh bồ tát để xử sự với thế gian bằng thái độ trong nhiệt t́nh vẫn giữ niềm xa cách, ở vẻ nguội lạnh vẫn chan chứa ân t́nh.   

Nào những ai đă nguội ḷng giấc mộng oa tranh nh́n công danh như hạt nước đọng trên cánh hoa, phú quí như giọt sương bám trên ngọn cỏ, Hăy t́m đến gịng suối mát Kim Cương bát nhă   

VŨ TÀI LỤC 

 

 

MỤC LỤC 

 

 

Lời Giới Thiệu 

Tựa 

 

Qua Suối Mây Hồng   

 

1) pháp hội nhân do 

2) Thiện hiện khải thinh 

3) đại thừa chính tông 

4) diệu hành vô trụ 

5) như lư thực kiến 

6) chính tín hy hữu 

7) vô đắc vô thuyết 

8) y pháp xuất sinh 

9) nhất tướng vô tướng 

10) trang nghiêm phật độ 

11) vô vi thắng phúc 

12) tôn trọng chính giáo 

13) như pháp thụ tŕ 

14) ly tướng tịch duyệt 

15) tŕ kinh công đức 

16) năng tịnh nghiệp chướng 

17) cứu kinh vô ngă 

18) nhất thể đồng quán 

19) pháp giới thông hóa

20) ly sắc ly tướng 

21) phi thuyết sở thuyết 

22) vô pháp khả đắc

23) tịnh tâm hành thiện

24) phúc trí vô tỷ 

25) hoá vô sở hóa 

26) pháp thân phi tướng

27) vô đoạn vô diệt

28) bất thụ bất tham

29) vô nghi vô tĩnh 

30) nhất hợp ly tướng

31) tri kiến bất sinh

32) vô hóa phi chân

33) phụ hội 

34) động hoa vàng 

35) ngă pháp mây nổi 

36) hiện hóa pháp 

37) thơ - nguyễn thị minh 

38) thơ - tuệ mai 

39) thơ - bùi giáng 

40) thơ - trụ vũ 

41) thơ - lê nghị 

42) vào cơi không tịch 

43) * 

44) mục lục 

45) * 

 

 Minh Quang posted July 4, 2005

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]