Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Kinh Bát Chu Tam Muội

Đời Tùy Tam Tạng, Khất Đa và Cấp Đa.  

HT Thích Minh Lễ

 

Mục Lục

Quyển Thứ Nhất

 Phẩm Thứ Nhất: Vấn Đáp

Phẩm Thứ Hai: Tư Duy

Phẩm Thứ Ba: Tam Muội Hành

Phẩm Thứ Tư: Thấy Phật

 

Quyển Thứ Hai

 Phẩm Thứ Năm: Chánh Tín

Phẩm Thứ Sáu: Quán Sát

Phẩm Thứ Bảy: Giới Hạnh Đầy Đủ

Phẩm Thứ Tám: Thọ Kư

 

Quyển Thứ Ba  

Phẩm Thứ Chín: Công Đức Thọ Tŕ

 

 

Quyển Thứ Nhất

 Phẩm Thứ Nhất: Vấn Đáp

  

Tôi nghe như vầy vào khoảng thời gian Phật ngự tại tinh xá trong vườn tre của ông phú hộ Ca Lan Đà (tinh xá Trúc Lâm) thuộc thành Xá Vệ cùng với trăm năm vị tỳ kheo, các vị tỳ kheo nầy đều là bực A La Hán đă dứt sạch hết các phiền năo không c̣n sanh khởi trở lại, đều được tự tại như con rồng to lớn có khả năng hàng phục tất cả, tâm và trí huệ đều được giải thoát khỏi vô minh, các công hạnh đă hoàn măn đầy đủ cả rồi, trút bỏ được gánh nặng thân hôi hám nầy sẽ không c̣n thọ thân sau nữa, thực hành pháp b́nh đẳng đă được sự lợi ích cho cá nhân một cách thiết thực, an trụ trong chánh giáo qua đến được bờ kia, chỉ trừ có A Nan ra kỳ dư các ngài đều như thế cả. 

Bấy giờ lại có năm trăm vị tỳ kheo vào buổi b́nh minh các ngài rời chỗ ở qua đến nơi Thế Tôn cung kính chấp tay đảnh lễ đầu chấm sát chân Phật rồi lui ra một bên. 

Khi ấy tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên sau mùa an cư tại thành Xá Vệ mới cùng với năm trăm vị tỳ kheo đi du hành trong các thôn xóm thành thị qua đến thành Vương Xá vào tinh xá Trúc Lâm đến yết kiến Thế Tôn, lúc đến nơi cung kính lễ Phật rồi lui ra ngồi một bên. 

Lúc đó đức Thế Tôn dụng sức thần thông phóng ra ánh sáng vĩ đại, trong các thôn xóm làng ấp thành phố thuộc các nước có bao nhiêu tỳ kheo đều làm cho họ quay về thành Vương Xá vào tinh xá Trúc Lâm, khi đến nơi thế Tôn ngự họ cung kính lạy sát chân Phật rồi lui ra ngồi một bên. Số tỳ kheo tụ họp về tinh xá Trúc Lâm đă lên đến trăm ngàn. Tỳ kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề cũng nhờ vào sức oai thần của Phật cùng với hai mươi ngàn vị tỳ kheo ni tập hợp lại đồng đến tinh xá Trúc Lâm ra mắt Phật đến nơi làm lễ Phật rồi lui ra ngồi một bên.

Trong thành Vương Xá có vị cư sĩ tên Hiền Hộ là bực thượng thủ năm trăm vị cư sĩ, các vị nầy đều thọ tŕ năm giới ǵn giữ từ cử chỉ nhỏ nhặt, họ là bậc đại Bồ tát đă trụ chánh đẳng giác v́ tu hành theo bổn nguyện nên thường theo Thế Tôn để nghe chánh pháp luôn luôn tinh tấn, cũng để hoàn măn các pháp trợ đạo nên từ sáng sớm do thần lực của Phật cả bọn đă rời chỗ ở đến yết kiến Phật. 

Trong thành Tỳ Xá Ly có vị quư tộc Ly Xa tên là Bảo Sanh làm thượng thủ dẫn dắt hai muôn tám ngàn người thuộc họ Ly Xa. Thành Chiêm Bà có vị phú hộ tên tà Tinh Đức làm thượng thủ lănh đạo hai muôn tám ngàn vị phú hộ. Chàng Na La Đạt Đa làm thượng thủ dẫn dắt hai muôn tám vị thanh niên có đức tin trong sạch. Hai vị phú hộ ở nước Xá Vệ tên là Đại Thương Chủ và Cấp Cô Độc làm thượng thủ dắt theo hai muôn tám người đến dự. Vị phú hộ Thủy Tiên ở thành Vương Xá cũng cầm đầu dẫn đến hai muôn tám ngàn người. Con trai Hoàng Hậu Vi Đề Hy và vua A Xà Thế chúa nước Ma Dà Đà dẫn đến trăm ngàn thần dân. Bốn vị thiên vương và trời Đế Thích cùng tất cả các vị trời ở cơi Dục, mỗi vị đều cùng với vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng trời đồng đến. Trời Đại Phạm chúa cơi Ta Bà dẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng trời. Vua trời Đại Tự Tại đến với vô lượng chúng trời ở cơi Tịnh Cư. Bốn vị vua A Tu La đến cùng vô lượng trăm ngàn chúng A Tu La. Vua rồng Nan Đà và Bạt Nan Đà đều cùng với trăm ngàn quyến thuộc đồng đến. Vua rồng Ta Già La và A Na Bà Đạt Đa cùng Ma Na Tư, Y Bạt La v.v... đồng với vô lượng trăm ngàn chúng rồng cùng đến. Tại cả tam thiên đại thiên thế giới tất cả tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ và hết thảy trời, rồng , dọa xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhân phi nhân cùng các vị đế vương hạng người tin Như Lai v́ thiết tha muốn nghe pháp nên đă đồng nhau đến. 

Các vị như trên, khi đến đều trước tiên làm lễ Thế Tôn sau đó lui ra ngồi một bên. 

Khi ấy vườn tre Ca Lan Đà biến thành rộng răi diện tích bằng cả tam thiên đại thiên thế giới, đại chúng đến nghe pháp ngồi chật ních không có chỗ nào trống. Như thế từ trên đến trời Sắc cứu Cánh, dưới đến cung điện Phạm thiên có bao nhiêu các vị trời có thần thông oai đức cho đến tất cả rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la già, nhân, phi nhân đều tập hợp đến nghe pháp. 

Lúc đó Bồ tát Hiền Hộ đứng dậy trịch áo bày vai mặt gối mặt quỳ xuống đất chấp tay hướng về Phật và thưa: 

Bạch Thế Tôn! Hôm nay con muốn thưa hỏi đức Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng chánh giác về các chỗ nghi hoặc trong tâm con, không biết Thế Tôn có cho phép không? 

Phật đáp: 

Nầy Hiền Hộ! Ông có nghi điều ǵ ông hăy cứ hỏi, ta sẽ giải thích cho để đem lại nguồn vui cho ông. 

Được Phật nhận lời, Bồ tát Hiền Hộ liền thưa: 

Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát thành tựu hoàn măn những tam muội ǵ mà được nhiều thứ công đức vĩ đại? Làm thế nào vừa được bể học rộng nghe nhiều thu hoạch kho tàng trí huệ, bất cứ ai hỏi ǵ cũng đều biết thông suốt lời hỏi đó không c̣n nghi hoặc. Làm thế nào đắc giới tụ vô ư, không mất sự thành tựu không thối lui trước trí giác vô thượng? Làm thế nào không thọ sanh vào chỗ ngu si, tà kiến rỗng không lại luôn luôn được nghe chánh pháp? Làm thế nào được trí túc mạng biết tất cả việc quá khứ vị lai? Làm thế nào đắc đại từ bi đại hỷ đại xả b́nh đẳng đem lại nguồn vui cho chúng sanh? Làm thế nào lúc nghe về pháp chơn không, vô tướng vô nguyện sâu xa tâm tin hiểu được không sanh sợ hăi thối chí? Làm thế nào được sự không ưa thích biếng trễ, có thừa khả năng nắm vững chánh pháp? Làm thế nào được trí huệ thông đạt thấu rơ tất cả, không ai sánh ngang hàng được? Làm thế nào được tùy ư sanh vào tất cả thế giới v́ không bị chi ngăn trở? Làm thế nào không bị tất cả ngoại đạo hàng phục được v́ họ không đủ năng lực để chiến thắng nổi? Làm thế nào được đức tin vững chắc v́ không hề có tà thuyết nào lay động được? Làm thế nào đắc được đại từ lực tín v́ không bị chao động? Làm thế nào thể nhập sâu vào đức tin v́ không hề vận hành? Làm thế nào được đức tin nhuần thấm đối với tất cả các pháp đều hoan hỷ? Làm thế nào đắc đức tin siêu việt cúng dường hầu hạ các đức Phật không hề nhàm chán? Làm thế nào có các đức tin căn để do vun trồng các căn lành? Làm thế nào đắc đức tin chơn diệu do sự tăng trưởng các công hạnh không hư dối? Làm thế nào được đức tin thanh tịnh vui vẻ v́ đă trừ sạch hết cả những bụi ganh ghét? Làm thế nào được đức tin trong sạch v́ đă đắc ánh sáng nhứt thiết chủng trí? Làm thế nào đắc đức tin ưa thích các công hạnh v́ đă trừ diệt các tội ác che phủ chướng ngại hết rồi? Làm thế nào có đức tin vui thích trí huệ đă thu nhập kinh nghiệm được tất cả cảnh giới Phật? Làm thế nào đắc đức tin trang nghiêm hạnh vượt bực hơn tất cả sự tô điểm của thế gian v́ đă thành tựu thế giới Phật thanh tịnh? Làm thế nào đắc giới hạnh thanh tịnh v́ đă diệt hẳn tất cả tâm Thinh văn, Bích Chi Phật? Làm thế nào đắc đại thệ trang nghiêm v́ tất cả động tác đều đến mức chí thiện? Làm thế nào được làm bực lănh đạo cho tất cả chúng sanh v́ muốn thực hành các công hạnh lành? Làm thế nào đắc được năng lực không bao giờ mệt mỏi v́ muốn dạy dỗ cho tất cả Bồ tát học về Ba La Mật? Làm thế nào chơn không vô sở hữu v́ đă xa ĺa tất cả ư tưởng? Làm thế nào đắc vô tưởng do quán sát tất cả pháp không thấy có hai tướng? Làm thế nào đắc biên tế pháp giới v́ tâm bồ đề không có hạn lượng? Làm thế nào đắc được sự không đắm trước tất cả thế giới v́ bổn tánh vốn không phân biệt? Làm thế nào đắc hạnh vô ngại có thể đi khắp mười phương tất cả thế giới Phật? Làm thế nào đắc các đà la ni nghe một biết muôn v́ thông đạt hết tất cả ư nghĩa của văn tự ngôn thuyết? Làm thế nào đương ở nơi một thế giới Phật chẳng những chưa đắc lục thông của xuất thế ngay đến ngũ thông trong thế gian cũng chưa được lại có năng lực nh́n thấy được tất cả các đức Phật nghe các ngài dạy về chánh Pháp cúng dường chư Tăng, chưa bỏ thân nơi thế giới này sanh qua các thế giới của chư Phật, an trụ ở đó lại thấy các thế giới của chư Phật khác đều được nghe lời các ngài giảng về chánh pháp, nghe xong vâng giữ hết và y theo lời dạy thực hành, từ đó về sau xa ĺa các đức Phật được nghe các ngài thuyết pháp ngay cả trong giấc mộng? 

Lúc đó Thế Tôn bảo Bồ tát Hiền Hộ: 

Hay lắm! Nầy Hiền Hộ! Ông đă v́ muốn đem lại sự lợi ích vĩ đại cho tất cả chúng sanh trong thế gian, mong đưa đến sự an lạc cho chúng sanh, xót thương các loài trời người và cũng để nhiếp phục các vị Bồ tát ở đời vị lai nên ông đă hỏi ta về diệu nghĩa như thế. 

Lại nầy Hiền Hộ! Ông đă từng cúng dường vô lượng các đức Phật vun trồng nhiều căn lành nghe, thọ tŕ, ưa thích, kính trọng chánh pháp, thực hành đại từ bi đối với tất cả chúng sanh sanh tâm b́nh đẵng, tùy ư được thấy tất cả chư Phật, phát nguyện rộng lớn thực hành diệu hạnh sâu xa, thích nhứt thiết trí, xuôi theo chủng tánh Như Lai, phát tâm Bồ đề kiên cố như chất kim cang, có năng lực thông đạt hết những ư nghĩa của tất cả chúng sanh trong thế gian, công hạnh vĩ đại không thể lấy ǵ so sánh được. 

Này Hiền Hộ! Có một môn tam muội của Bồ tát tên là NIỆM CHƯ PHẬT HIỆN TIỀN, nếu như có vị Bồ tát nào tu tập hoàn măn môn tam muội như thế sẽ thành tựu được các công đức như ông vừa hỏi ở trên. Nầy Hiền Hộ! Ngoài ra c̣n được vô lượng vô biên các công đức đặc biệt khác nữa không thể kể ra hết được. 

Bồ tát Hiền Hộ thưa: 

Bạch Thế Tôn! Thật là cơ hội tốt cho con! Xin Ngài hăy dạy về môn tam muội Bồ tát niệm tất cả chư Phật hiện tiền, lời dạy về môn tam muội nầy chắc chắn sẽ đem lại nhiều sự lợi ích an lạc cho trời người, Phạm thiên, Ma vương, Sa môn, Bà la môn, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân phi nhân trong thế gian nầy và cũng đem lại nhiều sự an lạc lợi ích cho vô lượng chúng sanh trong đời vị lai. 

 

 Phẩm Thứ Hai: Tư Duy

  

Khi đó đức Thế Tôn lại bảo Bồ tát Hiền Hộ: 

Nầy Hiền Hộ! Hăy lắng tai nghe cho kỹ và ghi nhớ cho rành rẽ ta phân tích giải thích rơ ràng đối với những lời như ông vừa hỏi: 

Hiền Hộ thưa: 

Bạch Thế Tôn! Như vậy hay lắm! Con hết sức ưa thích lời dạy bảo của Như Lai. 

Phật dạy: 

Thế nào lại đặt tên là tam muội Bồ tát niệm tất cả chư Phật hiện tiền? Nầy Hiền Hộ! Nếu có vị Bồ tát nào cầu trí giác vô thượng siêng năng dơng mănh mang trọng trách cứu độ chúng sanh, hầu hạ cung cấp những nhu yếu cho bậc thiện tri thức, thường tu tập hạnh hướng nội suy gẫm diệt sạch phiền năo, xa ĺa bạn ác dứt trừ các lời lẽ thế tục thu thúc sáu giác quan. Đầu hôm giữa đêm sớm mai đều giảm bớt sự ngủ nghỉ, không tham đắm nơi y phục món ăn uống thuốc thang nhà cửa pḥng xá địa vị, luôn ưa thích ở a lan nhă nơi thanh vắng. Không tiếc rẻ tự thân, không trọng tánh mạng không trau chuốc h́nh dáng bên ngoài, không buông lung tâm thu thúc lại bằng t́nh thương cao cả hằng mong đem lại an vui cho chúng sanh, đối với chúng sanh lúc nào cũng vui vẻ xả bỏ xí xóa, phá vỡ phiền năo thành tựu thiền định. Không đắm say vị suy tư, quán sát sắc tưởng nhưng tâm lại rỗng rang không loạn động chánh niệm, không chấp giữ các ấm, không đam mê nơi các giác quan (căn), không nghĩ tưởng các giới. Không đam mê chỗ sanh, chế phục ḿnh không tự cao ngă mạn. Không ganh tỵ tài sản của kẻ khác, hằng đem lại nhiều sự lợi ích cho thế gian. Đối với các chúng sanh tâm luôn luôn b́nh đẳng kính xem họ như cha mẹ hoặc thương xót coi như đứa con độc nhứt. Với tất cả pháp không có tư tưởng đối nghịch. Dù có tŕ giới nhưng không chấp trước. Luôn an trụ trong thiền định nhưng lại không đam mê. Ưa thích học rộng nghe nhiều lại không sanh khởi sự phân biệt. Không thiếu xót giới hạnh, thiền định không bị xao động, trí không c̣n hư vọng. Không c̣n mối hoài nghi nào đối với các pháp. Không đối nghịch với các đức Phật, không hủy báng chánh pháp, không phá hoại chư Tăng. Tu tập thấm nhuần năm pháp giải thoát diệt trừ được mười việc ác, nghĩ nhớ đến mười điều thiện. Dứt sạch được chín món năo hại của chúng sanh, trong tâm không xả ly môn quán cửu tưởng, nghĩ cách xả bỏ tám thứ giải đăi, chuyên tâm tu tập tám điều giác ngộ của bực đại nhân. Không nghĩ ḿnh học rộng nên ngă mạn đă trừ. Quán sát dục vọng như đờm mũi, hết sức thích hạnh xuất gia thuận theo lời Phật dạy, khuyên nhũ chúng sanh nên thực hành công đức. Ở trong ba cơi nhưng không ô nhiễm. Thấy tất cả Phật đều hiện ra trước mắt. Thọ tất cả thân đều xem như ảo mộng, suy gẫm sự vận hành lại không thấy quá khứ, vị lai hiện tại. B́nh đẵng đối với tất cả pháp không đối nghịch với tất cả thế gian, hành động cần thi hành không có mâu thuẫn. Thông đạt pháp mười hai nhơn duyên sâu xa, đi hết con đường của tất cả Như Lai trải qua, đắc sức nhẫn tối thượng, thể nhập chơn pháp giới, nh́n chúng sanh giới bản tánh không sanh không diệt thấy Niết Bàn giới bổn lai hiện tiền Huệ nhăn thanh tịnh thấy pháp không có hai tướng, tâm Bồ đề không có chặng giữa không có bờ mé tất cả các đức Phật thể tánh vốn không sai biệt. Thể nhập cửa trí huệ thanh tịnh vô ngại thấu rơ trí giác bồ đề tự nhiên, tập họp các Phật công đức không bao giờ cùng tận. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát nào muốn thành tựu tam muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền trước tiên hết cần nên hoàn măn các công đức như trên. Hiền Hộ! Ông nên biết lại c̣n có vô lượng công đức cũng do từ tam muội nầy sanh ra. Nếu như có ai hỏi do tam muội ǵ lại sanh công đức như thế? Ông có thể trả lời đó chính là tam muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền sanh ra công đức như vậy. 

Lại nầy Hiền Hộ! Thế nào gọi là tam muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền? 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ giữ giới trong sạch các công hạnh đă hoàn măn, ở một ḿnh tại chỗ vắng vẻ suy tưởng như thế này: Ở khắp mọi chỗ bất cứ phương nào chẳng hạn như phương tây có đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác. Người nầy vừa nghe được danh hiệu lập tức tưởng nghĩ như vậy: Như ta vừa nghe danh hiệu đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẵng Giác hiện nay ngài ngự ở thế giới chư Phật. Thế giới của ngài tên là Cực Lạc ngài thường ngự vào các pháp hội của các Bồ tát để nói pháp và giáo hóa. Rồi người nghe y theo chỗ nghe được chuyên tinh tưởng nhớ quán sát không ngừng nghỉ cho đến khi h́nh ảnh trên hiện rơ ràng trong trí sau cùng được thấy Đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẵng Giác. 

Lại nầy Hiền Hộ! Thí dụ như trong thế gian có kẻ trai hay gái lúc nằm chiêm bao thấy các vật báu như vàng bạc của cải, kho lúa hoặc thấy bạn bè hạng người quen biết hay đang lúc mơ cảm thấy tâm không ưa thích. Người nằm mộng nầy đối với cảnh được thấy hoặc chống đối hay xuôi theo, hoặc buồn lo hay vui thích. Sau khi người nầy tỉnh dậy nhớ lại cảnh vừa thấy trong giấc mộng bèn hồi tưởng để kể cho người khác nghe và cảm thấy trong ḷng có phần vui thích. Cũng như thế, nầy Hiền Hộ! Thiện nam thiện nữ ngồi ngay ngắn tinh thành chuyên chú tưởng nhớ đức Phật A Di Đà tướng tốt vẻ đẹp, oai nghi của ngài như thế, pháp hội như thế, ngài thuyết pháp như thế.... tùy theo sự kiện nghe được hết ḷng tưởng nhớ nhứt tâm liên tục có thứ lớp không tạp loạn trải qua một ngày hay một đêm như thế hoặc đến bảy ngày đêm tưởng nhớ liên tục theo như lời diễn tả về đức Phật ấy. Người nầy chắc chắn sẽ được thấy đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, nếu như không thấy được ngài giữa ban ngày th́ cũng được thấy trong đêm hay trong giấc mộng đức Phật A Di Đà hiện ra rơ ràng trước mắt. 

Nầy Hiền Hộ! Như người trai hay gái trong thế gian nầy mắc phải công việc ǵ đó phải đi sang xứ khác, trong đêm mơ thấy quê nhà. Đang lúc mơ thật không biết đó là đêm hay ngày hoặc trong hay ngoài h́nh ảnh chốn quê nhà hiện ra rơ ràng trước mắt không ngăn sông cách núi và cũng không bị trở ngại bởi tối tăm hôn ám. 

Hiền Hộ! Tâm của đại Bồ tát không bị chướng ngại cũng giống như thế. Đương lúc chánh niệm dù ngay trước mắt bị thế giới Phật án ở khoảng giữa, tất cả núi tu di, núi thiết vi, núi đại thiết vi và các dăy hắc sơn ngăn chận nhưng tất cả đều không thể che lấp được tâm nầy, không ngăn trở sự thấy của nhăn quan. Người nầy thật ra chưa đắc thiên nhăn nhưng có thể thấy được Phật, chưa có thiên nhĩ lại nghe được lời Phật nói pháp, không có thần thông để bay qua thế giới Cực Lạc lại cũng không ẩn mất tại thế giới nầy rồi sanh qua trước mặt Phật ở thế giới kia, nhưng thật ra chỉ ở tại thế giới này do sức tu tập tưởng nhớ đă lâu nên h́nh ảnh đức Phật A Di Đà và thế giới phương tây hiển hiện rơ ràng trong trí, v́ thế rốt ráo thấy được đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác và Tăng chúng cùng các vị Bồ tát ngồi vây quanh ngài, hoặc thấy tự thân ở pháp hội đó nghe Phật nói pháp, nghe chi nhớ nấy rồi thể theo lời dạy thực tập thọ tŕ. Hoặc có lúc được thân cận cung kính lễ bái cúng dường đức Phật A Di Đà, sau đó xuất ra khỏi tam muội nầy, lần lượt nhớ lại hết những ǵ vừa nghe đem ra dạy cho kẻ khác. 

Nầy Hiền Hộ! Như trong nước Ma Kiệt Đà có ba gả hào hoa, chàng thứ nhất nghe ở thành Tỳ Da Ly có nàng dâm nữ tên là Tu Ma Na. Chàng thứ hai nghe được một dâm nữ khác tên Yểm La Ba Ly, c̣n chàng thứ ba lại nghe tên nàng Liên Hoa Sắc cũng là một dâm nữ. Cả ba chàng nghe được như vậy ḷng luôn khát khao t́m đủ mọi cách để gặp các nàng cho được, tâm lúc nào cũng tưởng nhớ không phút nào thôi. Nhưng cả ba chưa từng gặp các nàng kia chỉ nghe lóm thôi, tâm nổi dục vọng mơ tưởng liên tục, sau đó nằm mộng mơ thấy gặp được các nàng cùng hành dục sự tại thành Vương Xá. Dục sự đă xong tâm mong cầu dứt hy vọng cũng hết liền bừng tỉnh dậy. Sau khi tỉnh, nhớ lại các việc đă xảy ra trong giấc mộng liền qua đến chỗ ông thuật lại các việc đă nghe, kinh nghiệm, ghi nhớ như thế. Ông nên đem phương pháp khéo léo tùy thuận giáo hóa nói pháp làm cho họ được trụ địa vị bất thối chuyển, cuối cùng thành tựu trí giác vô thượng. Cả ba chàng đó trong tương lai sẽ thành Phật hiệu là Thiện Giác Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cả ba chàng nầy đă trụ được bực bất thối chuyển nhớ lại chuyện xưa rơ ràng phân minh. 

Nầy Hiền Hộ! Thiện nam thiện nữ nào muốn thành tựu được tam muội Đại Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền, thân người nầy thường ở thế giới đây vừa nghe danh hiệu Đức Phật A Di Đà lại có khả năng nhiếp tâm tưởng nhớ liên tục rành rẽ không hề tạp loạn được thấy Đức Phật A Di Đà rơ ràng đó là Bồ tát tưởng nhớ hoàn măn thành tựu tam muội nầy thấy được Phật A Di Đà nên liền thưa thỉnh với Phật: 

Bạch Thế Tôn! Các hàng Bồ tát thành tựu pháp ǵ để được sanh về thế giới Cực Lạc đây? 

Phật A Di Đà đáp lời vị Bồ tát: 

Nếu có người nào phát tâm cầu sanh về thế giới Cực Lạc nầy nên luôn luôn nhiếp tâm tưởng nhớ Phật A Di Đà giữ ǵn chánh niệm liên tục liền sẽ được văng sanh. Người đă được sanh về rồi, Đức Thế Tôn biết rơ tâm địa của hắn cũng nghĩ nhớ tới hắn nên hắn mới được thấy Đức Phật Thế Tôn. Nầy Hiền Hộ! Ngay lúc đó Đức Phật A Di Đà lại dạy thêm cho vị Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Ông nên giữ chánh niệm siêng năng tinh chuyên tu tập, phát tâm rộng lớn nhứt quyết sẽ được sanh về Cực Lạc. 

Nầy Hiền Hộ! Khi ấy vị Bồ tát nầy lại thưa: 

Bạch Thế Tôn! Như thế nào là niệm Phật siêng năng tu tập phát tâm rộng lớn để được sanh về thế giới Cực Lạc? 

Phật A Di Đà lại dạy: 

Nầy Thiện nam tử! Giờ đây ông muốn làm kẻ chơn chánh niệm Phật nên niệm như thế nầy: Đức A Di Đà Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp thân sắc sáng vàng như chất vàng ṛng tỏa ra ánh sáng vĩ đại ngự trên ṭa sư tử trang trí bằng nhiều loại châu báu nói pháp cho chúng sa môn nghe. Ngài dạy rằng: Tất cả pháp bổn lai không biến hoại cũng không bị hủy hoại, như các ấm sắc bất hoại... cho đến thức cũng bất hoại, năm trần sắc bất hoại... cho đến xúc cũng bất hoại, Phạm thiên bất hoại, tất cả thế chủ cũng bất hoại. Như thế cho đến mức không niệm đức Như Lai cũng không được Như Lai niệm, kẻ nầy niệm Như Lai như thế lần lần đắc được không tam muội. Thiện nam tử! Đó là tam muội chánh niệm chư Phật hiện tiền. 

Nầy Hiền Hộ! Sau đó Bồ tát nầy xuất ra khỏi tam muội có đến nơi ông hỏi về tướng trạng của tam muội, khi ấy ông nên v́ vị ấy nói pháp tùy thuận giáo hóa làm cho vị nầy được bất thối chuyển nơi trí giác vô thượng. Nầy Hiền Hộ! Ta ngay lúc đó cũng thọ kư cho vị nầy đương lai sẽ thành Phật hiệu là Đức Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri... Phật Thế Tôn. 

Nầy Hiền Hộ! Ai đă chứng biết tam muội nầy? Đó là ông Ma Ha Ca Diếp, Bồ tát Đế Thích Đức, Thiên tử Thiên Đức và vô lượng Bồ tát tu tam muội Không nầy, đó là chứng. Làm thế nào chứng Không tam muội nầy? Nầy Hiền Hộ! Ta nhớ lại thuở xưa có Đức Phật Thế Tôn hiệu là Tu Ba Nhật, vào thời đó có một người đi lạc vào rừng, đói khát khốn khổ mệt lă, người nầy mới nằm ngủ thiếp bên đường mơ thấy dự một buổi tiệc đầy những thức ăn ngon ngọt, ăn no nê xong vừa khi đói lại, mơ đến đây tỉnh dậy vẫn cảm thấy đói khát như cũ, người nầy mới nghĩ rằng các pháp đều không chẳng thật, giống như cảnh vật thấy trong giấc chiêm bao không phải thật hữu, quán sát như thế ngộ được vô sanh nhẫn đắc bất thối chuyển nơi Vô thượng bồ đề. 

Nầy Hiền Hộ! Cũng giống như vậy, nếu có vị Bồ tát hoặc tại gia hay xuất gia nghe tên các đức Phật theo phương hướng ngài hiện đang ngự liền hướng về đó chí tâm đảnh lễ trong ḷng khát khao mong mỏi được thấy Phật nên chuyên tinh tưởng nhớ đến ngài như thế. Lại nữa cũng nên quán sát sắc tướng như thế nghĩ tưởng là hư không, sau đó thành tựu được hư không tưởng rồi an trụ trong chánh tư duy như vậy, kế đó sẽ được thấy Phật với thân thể ngài sáng ngời như lưu ly trong trắng, h́nh tướng đoan chánh như cây cột thuần vàng. 

Lại nữa nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có người bỗng nhiên phải rời quê nhà để đến xứ khác, dù ở xứ người nhưng ḷng hằng mong nhớ đến quê hương nơi chôn nhau cắt rún. Như những ǵ được thấy, nghe, nghĩ nhớ, biết được như vậy tưởng nhớ quá lâu ngày nên trong giấc chiêm bao mơ thấy rơ ràng tự thân ở quê xưa, dạo chơi những chỗ như đă từng thấy từng nghe in hệt như trước không khác. 

Nầy Hiền Hộ! Cũng như thế đó Bồ tát tại gia hay xuất gia được nghe kẻ khác nói về danh hiệu Đức Phật, tùy theo nơi ngài ngự hướng về đó chí tâm đảnh lễ mong muốn được thấy ngài, giữ chánh niệm không để xao động. Tương ứng với niệm sẽ được thấy Phật, h́nh tượng, hoặc thân như lưu ly hay thân thuần sắc vàng. 

Nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có vị tỳ kheo tu pháp quán bất tịnh nh́n thây mới chết màu da vừa đổi hoặc hóa ra xanh, vàng, đen, đỏ rồi tới lúc śnh chương lên, thối rả máu mủ tuôn chảy dầm dề, cầm thú chim chóc tới rỉa thịt ăn c̣n trơ lại xương trắng sắc như màu ngọc. Quán như thế măi cho đến khi xương tan ră ra mà xương thịt kia không từ đâu đến cũng không đi về đâu, từ tâm hiển hiện trở lại thấy tự tâm. Cũng không như thế, Bồ tát muốn thành tựu tam muội chư Phật hiện tiền nên tùy theo nơi Phật ngự trước tiên hết hướng về nơi đó tưởng nhớ mong mỏi thấy Phật, theo hướng tưởng nhớ tức được thấy Như Lai. Tại sao vậy? V́ có ba nhơn duyên được thấy Phật A Di Đà: một là nhờ nơi năng lực tam muội nầy, hai là nhờ Phật gia hộ, ba là do tự thiện căn thuần thục, Hoàn măn ba nhơn duyên nầy nên thấy được Phật rơ ràng phân minh. 

Nầy Hiền Hộ! Như người trai tráng vóc dạng cân đối vẻ mặt cương nghị muốn nh́n vẻ mặt ḿnh đẹp hay xấu mới lấy thau đựng đầy nước hay dầu xanh hoặc lấy thủy tinh hay gương, dùng bốn vật nầy để soi bóng ḿnh, vẻ mặt đẹp hay xấu ảnh hiện lên rơ ràng. Hiền Hộ! Chuyện nầy có ư ǵ? H́nh bóng của kẻ đó ở trong dầu, nước, thủy tinh, gương là vốn sẳn có trước phải không? 

Hiền Hộ đáp: 

Thưa không phải.

Vốn là không?

Thưa không phải.

Nó nằm ở trong?

Thưa không phải.

Vậy th́ h́nh bóng ấy ở bên ngoài? 

Thưa không, bạch Thế Tôn! Chỉ do dầu, nước thủy tinh, gương các vật nầy trong sáng không bợn nên h́nh bóng của hắn ảnh hiện lên, nhưng h́nh bóng nầy không phải từ bốn vật đó sanh ra cũng không phải từ chỗ khác đến, cũng không phải tự nhiên có không phải do ai làm ai, nên biết h́nh bóng nầy không từ đâu đến cũng không đi về đâu, vô sanh vô diệt không có nơi căn cứ. 

Phật đáp: 

Đúng như thế! Đúng như thế! Đúng như lời ông vừa trả lời do các vật thanh tịnh sáng chói nên bóng dáng tự hiện không cần nhiều công. Bồ tát cũng vậy nhứt tâm tưởng nhớ sẽ thấy các Như Lai thấy rồi an trụ trong tam muội, trong khi an trụ mới hỏi các ư nghĩa với đức Như Lai được ngài giải thích rành rẽ, ḷng vui mừng mới nghĩ: Phật nầy từ đâu đến và thân ta lại từ đâu ra? Quán sát kỹ Như Lai không từ đâu đến cũng không về đâu, thân ta cũng vậy vốn không xuất xứ làm ǵ có trở lại. Kế đó cũng nên nghĩ: Tam giới duy tâm nên hiện hữu tại sao theo Tâm nghĩ nhớ lại thấy Tâm? Nay ta từ Tâm thấy Phật, Tâm ta làm Phật, Tâm ta là Phật, Tâm không biết Tâm, Tâm không thấy Tâm, Tâm có tưởng niệm tức thành sanh tử, Tâm không tưởng niệm tức là Niết Bàn, các pháp không chơn thật chỉ do tư tưởng duyên khởi, đối tượng bị nghĩ liền diệt chủ thể năng tưởng cũng không. Hiền Hộ! Ông nên biết các Bồ tát nhơn tam muội nầy chứng được trí giác đại. 

 

 

Phẩm Thứ Ba: Tam Muội Hành 

 

Thế Tôn lại bảo Hiền Hộ: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu đại Bồ tát nào hoàn măn được bốn pháp sẽ đắc tam muội Hiện tiền nầy. Bốn pháp đó gồm có: một là tín tâm không hư hoại, hai là không phá vở sự tinh tấn, ba là trí huệ siêu việt, bốn là gần gũi với thiện tri thức. 

Nầy Hiền Hộ! Lại có bốn pháp khác Bồ tát nào hoàn măn cũng sẽ thành tựu tam muội Hiện tiền: một là không có tư tưởng chúng sanh dù trong một khoảng khắc, hai là thức trọn ba tháng không ngủ dù là tạm thời đôi chút, ba là kinh hành trọn ba tháng trừ khi tiểu tiện, bốn là trong lúc ăn bố thí đúng pháp không mong danh lợi cũng chẳng đoái hoài đến sự trả ân. Bốn pháp nầy nếu Bồ tát nào hoàn măn được sẽ đắc tam muội Hiện tiền. 

Nầy Hiền Hộ! Lại có bốn pháp nữa Bồ tát nào thực hành hoàn toàn sẽ đặng thành tựu tam muội Hiện tiền. Một là khuyên người nh́n ngắm Phật, hai là dạy dẻ khác nên nghe pháp, ba là tâm không ganh tỵ, bốn là khuyên người phát tâm Bồ đề. 

Nầy Hiền Hộ! Lại có bốn pháp, Bồ tát cần phải tu tập để thành tựu tam muội Hiện tiền. Một là tạo h́nh tượng Phật, khuyên người thực hành hạnh cúng dường, hai là in chép kinh điển truyền bá ra để người đọc tụng, ba là giáo hoá kẻ khinh khi chánh pháp làm cho họ phát tâm tin nhận, bốn là ǵn giữ chánh pháp để pháp được tồn tại vững bền. 

Khi đó Thế Tôn nói bài kệ để lập lại nghĩa trên: 

Các ông nên trụ trong Phật pháp

Thường tin vững chắc chớ thối chuyển

Tinh tấn siêng niệm trừ mê ngủ

Ba tháng không ngồi chỉ kinh hành.

Lúc ăn lại thí cho kẻ khác

Giảng nói pháp vô tỷ của Phật

Không cầu danh tiếng và lợi dưỡng

Nhờ không đắm trước nên chứng thiền.

Các Phật khi xưa và tương lai

Hiện tại siêu việt trong loài người

Các ông nhứt tâm cung kính lễ

Và nên siêng năng cần cúng dường

Các ông cúng dường các Phật đó

Nên dùng hoa, hương đốt, hương bột

Dâng hiến thức ngon khởi tịnh tâm

Chứng tam muội nầy sẽ không khó.

Trước tháp chư Phật trổi âm nhạc

Loa, trống, chiêng, bảng các tiếng hay

Ḷng lại vui mừng khôn tả xiết

Chắc chắn thành tựu tam muội nầy.

Khuyên tạo tượng Phật thân vô tỷ

Tô điểm màu đẹp đủ tướng tốt

Sắc vàng sáng chói không bợn vết

Chứng tam muội nầy sẽ không khó.

Liên tục thường niệm, tu pháp thí

Giữ giới trong sạch và học rộng

Siêng năng tinh chuyên trừ biếng lười

Đắc tam muội nầy chẳng bao lâu.

Không mang tâm độc đối kẻ khác

Cũng bỏ dục vọng theo thế gian

Luôn vận từ bi nhớ tất cả

Tam muội nào xa, tại nhăn tiền.

Đối với pháp sư thường vui vẻ

Tôn kính ngang hàng đức Như Lai

Đừng sanh khinh chê cùng keo kiết

Tâm vui cúng dường bỏ ganh tỵ.

Vô lượng chư Phật cùng ca ngợi

Người thường siêng tu tự sẽ được

Thế Tôn trịnh trọng nói pháp nầy

Cho kẻ đă tu pháp tam muội.  

 

 

Phẩm Thứ Tư: Thấy Phật  

 

Đức Thế Tôn lại bảo với Bồ tát Hiền Hộ: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu Bồ tát muốn thành tựu tam muội, đối với vị thầy dạy cho pháp nầy nên sanh ư tưởng coi như chư Phật, sanh tâm tôn trọng chớ nên kiêu ngạo khinh khi cho đến cũng không có ḷng tranh cải chống đối không tùy thuận theo, sau đó mới chuyên tinh tu học một cách siêng năng về môn tam muội nầy chắc chắn sẽ chứng được. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có người đối với vị pháp sư nói pháp hay vị tỳ kheo sanh tâm bất thiện hoặc là tâm chống đối, tâm tranh cải, tâm lăng nhục các tâm bất tịnh như vậy cho đến không tưởng như là Phật, Bồ tát có các tâm niệm như thế là tu hành hư dối rốt cuộc không thế nào chứng được tam muội vi diệu nầy nếu có ai nói chứng được thật là hoàn toàn vô căn cứ. 

Nầy Hiền Hộ! Thí như khoảng hư không trong sáng không có một áng mây mù kẻ có mắt sáng vào đêm tối nh́n lên sẽ thấy vô lượng v́ sao, vị trí, phương hướng, h́nh thể các ngôi sao đều khác biệt thật rơ ràng hết sức. Cũng giống như thế, nầy Hiền Hộ! Đại Bồ tát tư duy quán sát pháp tánh hư không do tưởng nên thành được thấy các đức Như Lai việc nầy cũng vậy. Nhưng Bồ tát lúc quán Phương Đông thấy nhiều trăm Phật, ngàn Phật, trăm ngàn Phật ức Phật, ức trăm ngàn Phật, ức trăm ngàn na do tha Phật không cần tác ư tự nhiên hiển hiện trước mắt. Bồ tát lúc quán phương Đông như thế xong, kế đến quán qua phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, phương trên phương dưới, các thế giới ở các phương như trên đều thấy nhiều Phật thấy nhiều trăm Phật, ngàn Phật, trăm ngàn Phật ức Phật, ức trăm ngàn Phật, ức trăm ngàn na do tha Phật không nhờ vào sức dụng công, tự nhiên hiển hiện trước mắt. 

Lại nầy Hiền Hộ! Như thế giới của đức Phật A Di Đà mà các Bồ tát được văng sanh về, vào ngày ban đầu các vị quán phương Đông thấy nhiều Phật, thấy nhiều trăm Phật... thấy trăm ngàn ức na do tha Phật rồi. Ngày thứ hai quán sát phương Nam kế lần lượt quán hết cả mười phương như thế. Nầy Hiền Hộ! Nếu đại Bồ tát thành tựu tam muội Bồ tát niệm chư Phật hiện tiền. Bồ tát như thế ở ngay thế giới ḿnh quán sát mười phương được thấy nhiều các đức Phật, thấy trăm ngàn Phật... cho đến thấy trăm ngàn ức na do tha Phật. 

Lại nầy Hiền Hộ! Như các đức Như Lai thành tựu Phật nhăn vừa thấy như vậy đối với tất cả nơi đều biết như vậy đều nhận như vậy. Nầy Hiền Hộ! Nếu đại Bồ tát cũng đă thành tựu môn tam muội Bồ tát niệm tất cả chư Phật hiện tiền rồi tự nhiên hoàn măn các hạnh bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ ba la mật cho đến các công đức của Bồ tát. 

Khi đó Thế Tôn muốn lập lại lời trên nên nói bài kệ: 

Dường như trong đêm sạch mây mờ

Kẻ có mắt sáng nh́n khoảng không

Thấy các ánh sao quá trăm ngàn

Đến ngày c̣n nhớ không quên mất!

Bồ tát đắc định Hiện tiền rồi

Thấy nhiều vô lượng ức ngàn Phật

Lại xuất khởi từ tam muội nầy

Để v́ đại chúng giảng pháp diệu.

Như Phật nhăn ta được thanh tịnh

Thấy cả thế gian không chướng ngại

Các Phật tử mắt Bồ tát nầy

Nhờ định có cái nh́n siêu việt

Do tưởng vô tướng nhớ Như Lai

Mà thấy mười phương các đức Phật.

Phá trừ phiền năo cùng các tưởng

Ông nghe công đức Bồ tát nầy

Nếu nghe pháp đây tâm mát mẻ

Thể nhập không tịch ḷng không sợ

Như ta hiện giờ giảng nói pháp

Và làm chúng sanh chứng bồ đề.

Như thế các Bồ tát an lạc

Thấy nhiều vô lượng Phật Thế Tôn

Bồ tát như vậy vào tư duy

Cũng thấy trăm ngàn đức điều ngự

Tỳ kheo được vậy chỉ A Nan

Vừa nghe ta dạy liền hiểu được

Bồ tát đắc tam muội như thế

Nghe tất cả pháp ghi nhớ hết

Thành tựu tín, tam muội viên măn

Xả bỏ hết thảy lời thế gian

Thường dùng từ tâm dạy dỗ người

Cần phải đi đến nơi tịch tịnh.  

 

Quyển Thứ Hai

 Phẩm Thứ Năm: Chánh Tín

 

 

Đức Thế Tôn lại bảo Hiền Hộ: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có đại Bồ tát nào cầu báu vật tam muội như thế, nên cần siêng năng hăng hái tu học tự nhiên sẽ được nhập tam muội nầy. 

Hiền Hộ! Thí như có người đi trên chiếc thuyền lớn vào bể cả tha hồ chở đầy những báu vật hy hữu, vượt qua hết những nỗi khó khăn to tát giờ đây kề cận bên bờ, bỗng đâu thuyền bị vỡ ch́m mang theo hết những châu báu. Ngay khi đó các người ở Diêm Phù Đề nầy hô hoảng lên ḷng cực kỳ khổ sở v́ sự kiện mất châu báo vô giá như thế. Nầy Hiền Hộ! Cũng giống như vậy, như có kẻ thiện nam thiện nữ nào tai nghe được báu tam muội nầy lại không in chép đọc tụng, thọ tŕ, lại cũng không nghĩ sẽ thực hành như pháp. Nầy Hiền Hộ! Ngay lúc đó tất cả trời thần ở cả thế gian cũng nên kêu to lên như vậy sanh sự sót thương vô hạn và nói rằng: Các chúng sanh nầy rất đáng thương xót, tại sao ngay ở báu vật tam muội siêu việt của chư Phật Thế Tôn, được các ngài ca ngợi, các ngài ấn chứng, các ngài dạy dỗ, công đức tối thượng mà các ngài đă thành tựu viên măn không c̣n thiếu sót, hàng Bồ tát nghe được rồi hết ḷng siêng năng tu học, tại sao kẻ đặng nghe trở lại bỏ rơi không ra công in chép, không thích đọc tụng, không thể thọ tŕ, không giải thích được nghĩa lư cũng không có khả năng suy tưởng sống trong pháp nầy! Hạng chúng sanh biếng nhát như thế tương lai sẽ chịu sự thiệt hại lớn lao

Nầy Hiền Hộ! Thí dụ như có người cầm khúc chiên đàn đỏ tía đưa cho kẻ ngu si xem, hắn ta v́ ngu si nên nghĩ tưởng khúc chiên đàn là vật dơ bẩn. Khi ấy chủ nhân mua chiên đàn là kẻ trí bảo hắn rằng: Ông đừng nên đối với khúc chiên đàn nầy lại nghĩ cho là vật dơ bẩn. Tại sao? V́ chiên đàn nầy rất tinh sạch hương thơm đệ nhứt, giờ đây ông do duyên cớ ǵ lại nghĩ ngược cho là dơ bẩn? Nếu như ông không tin hăy thử ngửi coi là thối hay thơm và ông cũng nên mở to mắt ra để xem sắc vân của chiên đàn là xấu hay đẹp, tṛn trịa hay ghồ ghề? Kẻ ngu si dù được nghe người trí nói thế bằng đủ mọi cách nhưng v́ do ngu si hắn trở lại sanh ḷng ghen ghét lấy tay bịt mũi không thèm ngửi, che mắt lại không thèm nh́n. 

Cũng giống như vậy đó Hiền Hộ! Trong đời tương lai sẽ có hạng tỳ kheo hung ác oán ghét kinh nầy, hạng nầy không biết tu tập thân, giới, tâm, huệ, ngu si vô trí như con dê trắng ngây ngô khờ khạo. Kẻ hung ác nầy v́ do kém phước nên dù có nghe kinh điển vi diệu Chánh niệm chư Phật hiện tiền tam muội như vậy cũng không cần in chép, không đọc tụng được, cũng không có khả năng thọ tŕ, không thể suy tưởng không có năng lực nói cho kẻ khác hiểu biết lại cũng không sanh tâm tùy hỷ rộng răi, làm thế nào để được tu hành như lời Phật dạy. Lại có khi họ nghĩ rằng: Kinh điển nầy không phải Phật dạy mà kẻ ác tự trứ tác văn chương rồi nói dối là kinh Phật. 

Nầy Hiền Hộ! Ông nên biết hạng như trên đă vĩnh viển bỏ rơi báu vật tối thượng vi diệu như kẻ ngu si kia thấy gỗ chiên đàn lại tự che mắt bịt mũi không cần ngửi nh́n. Như có kẻ tỳ kheo tín căn sâu dày huệ nhăn sáng suốt đă từng gần gũi cúng dường pháp, tu hành như lời các ngài dạy, vun trồng nhiều căn lành, tỳ kheo nầy nghe được tam muội Bồ tát niệm như Phật hiện tiền liền vâng lănh đọc tụng, suy gẫm nghĩa lư thực hành tam muội, đắc được tam muội nầy rồi dạo chơi các thế giới Phật, khắp giảng nói cho kẻ khác nghe giải thích các ư nghĩa sâu xa, thường nguyện như thế nầy: Sẽ làm cho kinh điển dạy về môn tam muội Bồ tát niệm Phật được truyền bá rộng răi trong đời và hằng tồn tại ở thế gian. 

Phật bảo Hiền Hộ: 

Ta lại nói cho ông nghe: Lúc ta đang đối trước tất cả thế gian Phạm thiên, Ma vương, Sa môn, Bà la môn và các trời người a tu la v.v... dạy về môn tam muội vi diệu nầy nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe rồi tùy hỷ đọc tụng thọ tŕ niệm Phật tam muội suy gẫm tin hiểu phát lời như vầy: "Đây chơn thật là lời Phật nói", nên biết người nầy đă tom góp phước đức rất nhiều không thễ nghĩ lường được. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có thiện nam thiện nữ nào dùng các thứ châu báo đầy cả tam thiên đại thiên thế giới dùng để cúng dường tất cả đức Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng giác được công đức dù to tát nhưng sánh với công đức người tŕ kinh nầy trăm, ngàn, muôn phần không được một, cho đến không được một phần trong vô lượng, vô biên a tăng kỳ. 

Khi đó Thế Tôn nói lên bài kệ để lập lại nghĩa trên: 

Kẻ ngu mê u tối

Buông lung, căn chưa thuần

Bị bạn ác phá hoại

Không có tâm chánh tín

Phá giới tạo các tội

Chấp say đắm ngă mạn

Họ đều nói kinh nầy

Không phải lời Phật nói.

Kẻ nào đối kinh nầy

Nghe rồi sanh vui vẻ,

Kẻ nầy không nghi nan

Không nói là ngụy tạo.

Như kẻ giới thanh tịnh

Kính pháp sanh tôn trọng

Báu vật đầy tam thiên

Đem cúng dường chư Phật

Để cầu đại bồ đề

Phước đó khó thể nói

Nếu có các tỳ kheo

Nghe Phật ca ngợi định

Vừa nghe sanh tin nhận

Phước đức hơn kẻ trên.

Nầy Hiền Hộ! Có hạng Bồ tát hoặc tại gia hay xuất gia nghe được môn tam muội nầy không sợ hăi hủy báng, nghe rồi vui theo sanh tăm kính tin quyết định chơn thật không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, chịu đọc tụng thọ tŕ suy gẫm ư nghĩa. Nầy Hiền Hộ! Các hạng người như trên đức Thế Tôn đă thấy biết hiễu hết về họ cả hết rồi. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu ai có khả năng đọc tụng thọ tŕ tưởng nhớ môn tam muội nầy họ không bao giờ làm việc ác, không phá vỡ tịnh giới, không hủy hoại chánh tín, không theo bọn tà kiến. Hiền Hộ! Thiện nam và thiện nữ nầy phân biệt một cách hoàn hảo, thành tựu đức suy tư, hoàn toàn có tín tâm đối với pháp nầy lại có khả năng thọ tŕ ǵn giữ. Hiền Hộ! Ông nên biết rằng kẻ nầy đă từng trải qua trăm ngàn vô lượng vô biên các đức Như Lai đời quá khứ tu hành cúng dường vun trồng căn lành mới có năng lực vừa nghe môn tam muội niệm Phật hiện tiền, nghe rồi phát ḷng tin nhận tâm mở mang ư hiểu biết cho đây là chơn thật không c̣n nghi hoặc, đă được nghe xong lại ưa thích in chép đọc tụng thọ tŕ cho đến đem ư nghĩa sâu rộng ra giảng cho người khác biết. Tại sao lại làm như thế? Nầy Hiền Hộ! Là v́ các thiện nam và thiện nữ nầy đă từng đích thân nghe các Đức Như Lai đời quá khứ nói về môn tam muội nầy rồi đọc tụng thọ tŕ. V́ lư do nầy, sau khi Đức Như Lai nhập diệt khoảng cuối năm trăm năm sau lúc chánh pháp sắp hoại diệt lại c̣n nghe được môn tam muội nầy, nghe rồi lại sanh tâm tin nhận không có sợ hăi kinh hoàng thối lui, ḷng c̣n vui mừng khấp khởi ra công đọc tụng thọ tŕ suy gẫm ư nghĩa lại đem nói cho kẻ khác nghe cho đến trọn cả ngày đêm thực hành môn tam muội nầy.  

Hiền Hộ! Nếu có ai nghe về môn tam muội nầy không sợ hăi, không thối lui, không hủy báng, nghe rồi lại vui theo, chịu suy gẫm kỹ lưỡng, nhập pháp nầy là chơn thật, tâm mở mang trí hiểu biết rồi chỉ tạm thời ca ngợi cho người khác nghe, cũng đă thu hoạch phước đức vượt bực không thể tính đếm được, c̣n nói ǵ đến việc có thể đọc tụng thọ tŕ siêng năng tưởng nhớ để thực hành nói cho kẻ khác nghe, trọn cả ngày đêm tu môn tam muội Niệm Phật. Hiền Hộ! Ông phải biết thiện nam thiện nữ nầy nhơn việc trên đă thu hoạch được vô lượng vô số công đức vĩ đại trụ bực bất thối chuyển, tùy theo tâm nguyện đều được thành tựu. Nầy Hiền Hộ! Sự kiện đă rơ ràng như vậy giờ đây ta lại nói thêm thí dụ để ư nghĩa càng rơ hơn.

Thí dụ như có người đem tất cả đất đai trong cả tam thiên đại thiên thế giới đều nghiền nát ra bụi rồi lại đem tất cả cây cỏ lá nhánh đủ cỡ lớn nhỏ cũng nghiền nát ra bụi. Lúc đó người nầy mới lấy một hạt bụi trong đống bụi hết sức đại kia ra chia chẻ như thế số bằng đống bụi trên, mỗi hạt bụi đều chia chẻ như thế cả lần lần cho đến hết số đống bụi trên. Nầy Hiền Hộ! Theo ư ông nghĩ thế nào? Số bụi kia nhiều hay ít?  

Hiền Hộ đáp:

Hết sức nhiều, bạch Thế Tôn.

Phật lại tiếp:

Nầy Hiền Hộ! Nếu có thiện nam thiện nữ nào đem số châu báu bằng như số bụi trên ra bố thí, ư ông lại nghĩ ra sao? Phước đức kẻ thiện nam thiện nữ nầy thu hoạch được sẽ nhiều không?

Hiền Hộ thưa:

Bạch Thế Tôn! Thật hết sức nhiều! Kẻ thiện nam thiện nữ nầy do hạnh bố thí trên đă thu hoạch phước đức nhiều vô lượng vô số.  

Phật lại bảo:

Nầy Hiền Hộ! Ta lại nói thêm cho ông nghe: Như kẻ thiện nam thiện nữ bố thí bảy báu bằng đống bụi trên được phước như thế và kẻ thiện nam thiện nữ nghe môn tam muội Niệm Phật hiện tiền tạm thời sanh tin nhận, phân tích rơ ràng nh́n nhận pháp nầy chơn thật, tâm ư mở mang bằng ḷng đọc tụng thọ tŕ cho đến tạm thời nói cho kẻ khác nghe tu hoạch được phước đức. Đem so sánh cả hai đàng lại th́ phước đức kẻ dưới thật là vô lượng vô biên không thể tính đếm so sánh suy lường được, vượt bực kẻ trên rất nhiều.  

Nầy Hiền Hộ! Kẻ thiện nam thiện nữ nào nghe được môn tam muội sanh tâm tin nhận.... v́ nói cho kẻ khác nghe như thế thu hoạch phước đức vô lượng vô biên, huống ǵ kẻ thiện nam thiện nữ đối với kinh điển dạy về môn tam muội nầy sanh tâm tin nhận như chỗ được nghe thấy, thọ tŕ theo đức tin, diễn nói trên sự kinh nghiệm, thọ tŕ và thực hành theo như lời nói.

Khi ấy đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên nên nói bài kệ:

Nếu ai chất báu đầy tam thiên

Thành tâm hành hạnh bố thí độ

Ta bảo phước nầy dù rất nhiều

Nhưng không bằng nghe kinh công đức

Bồ tát mong cầu chứa phước đức

Tin hiểu thọ tŕ lại suy tưởng

Diễn giảng tu hành: Niệm tam muội

Phước thu hoạch được hơn trên nhiều.

Nghiền ba ngàn cơi ra bụi cả

Lại chia hạt bụi bằng số trên

Đem báu bằng như số bụi đó

Thành tâm bố thí mức cứu cánh

Các Phật ca ngợi tam muội kinh

Chỉ đem một kệ dạy kẻ khác

Ta nói công đức của người nầy

Vượt lên phước thí trên rất nhiều

Nếu nói đầy đủ cho người nghe

Cho đến chỉ nói một chút ít

Suy gẫm tăng trưởng các căn lành

Lại hưởng lâu dài vô lượng phước.

Tất cả chúng sanh đều làm Phật

Tịnh huệ rốt cuộc chứng chơn như

Giả sử trong số ức nhiều kiếp

Kể phước kệ nầy khó cùng tận.

Các Phật lần lượt nhập diệt hết.

Nhiều ức số kiếp thường nói ra

Cũng không làm sao hết bờ phước

Của người duyên theo kệ kinh nầy.

Tất cả thế giới có trong đời

Bốn phương, trên, dưới và bốn góc

Chất chứa dẫy đầy các báu lạ

V́ cầu phước báo đem dâng Phật

Công đức kẻ nầy khó lường được

Tính ra số bằng các thế giới.

Lại kẻ nghe được tam muội nầy

Khéo léo giảng nói, phước hơn trên.

Kẻ nào không nghi nơi kinh nầy

Với các pháp khác cũng rơ thấu

Chắc chắn dứt hẳn vào đường ác

Lại nhập thắng tịch tam muội thiền.

Kẻ nầy nếu thường cúng dường ta

Chắc hưởng nhiều phước khó suy lường

Tăng trưởng đa văn chứng bồ đề

Do nghĩ nhớ Phật khen định nầy

Nay ta bảo ông lời thành thật

Nên siêng năng nhớ đừng buông lung

Nhứt tâm ca ngợi, ḷng hăng hái.

Tự nhiên mau chứng bồ đề nầy

Lại v́ cúng dường trăm số Phật

Có thể lănh thọ tam ma đề

Dù ở vào đời cực ác độc

Tự sẽ mau chứng định vi diệu

Hoặc có thấy ta và tỳ kheo

Và ông Bồ tát Hiền Hộ đây,

Bồ tát như vậy thích đa văn

Quyết định sẽ đắc tam muội nầy

Hoặc ai nghe được thánh tam muội

Nói cho kẻ khác hay biên chép

Là đà la ni, Thế Tôn khen

Sẽ chứng tất cả Phật Bồ đề.

Nếu người hằng tưởng tam muội nầy

Tất cả chư Phật cùng ca ngợi

Sẽ đắc vô sanh và đa văn

Các Phật lần lượt dạy dỗ pháp.

 

 

Phẩm Thứ Sáu: Quán Sát

 

 

Đức Thế Tôn lại bảo Bồ tát Hiền Hộ: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu các đại Bồ tát nào muốn suy gẫm tam muội nầy, nên suy gẫm thế nầy: Như đức Thế Tôn của ta giờ dây đang ở trong chúng hội trời người giảng nói pháp trọng yếu. Nầy Hiền Hộ Bồ tát nhứt tâm suy tưởng các đức Phật Như Lai ngồi trên ṭa sư tử đang giảng nói chánh pháp đủ tất cả tướng tốt hết sức đẹp đẽ đoan nghiêm kẻ ngắm không nhàm. Quán sát các tướng đại nhân, mỗi một tướng nên phải chí tâm quán kỹ tức sẽ thấy rơ các đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh đẳng giác, đă được thấy các ngài rồi, trước nên tự hỏi tại sao không thấy được đảnh tướng? Vừa tự hỏi xong lại lần lượt quán các tướng cho rơ ràng. Quán như thế và nghĩ rằng tướng của đức Phật Như Lai vi diệu hiếm có. Nguyện cho con đời vị lai sẽ được thành tựu đầy đủ thân tướng vi diệu. 

Nguyện cho con trong đời vị lai cũng được ǵn giữ cấm giới một cách trong sạch, oai nghi không thiếu. 

Nguyệt cho con trong đời vị lai được hoàn măn môn tam muội như vậy. 

Nguyện cho con đời vị lai thành tựu trí huệ giải thoát, giải thoát tri kiến như vậy. 

Nguyện cho con trong đời vị lai thành tựu viên măn các thân tướng như thế liền đắc thành trí giác vô thượng, sau khi thành Phật cũng sẽ ở trong chúng hội trời người như thế giảng nói diệu pháp như đây. 

Bồ tát quán sát đầy đủ các đức Phật Như Lai cho đến khi thành tựu nhứt thiết trí rồi, lại nên suy gẫm trong đó ai là ta? Ai là của ta (ngă sở hữu)? Các Phật đắc Bồ đề, là thân đắc? Hay là tâm đắc? Nếu thân đắc, thân ngây ngô vô giác vô tri giống như cây cỏ, gạch, vách, bóng trong gương. C̣n bồ đề không sắc không h́nh, không phải bóng, không phải tướng trạng, không thể thấy biết, không thể chạm hiểu. Tại sao lại dùng thân ngây ngô vô giác vô tri, không thấy, không biết, không phân biệt, không tác ư để đắc Bồ đề nầy? Bồ đề như vậy đă không h́nh sắc không tướng trạng bóng dáng, không thể thấy biết, không thể chạm hiểu, ai lại hành chứng trong đó? 

Nếu như tâm đắc, tâm là vô sắc, không thể thấy được, Tâm là vô tướng không thể biết được, Tâm như thế đồng như ảo hóa, nhưng Bồ đề cũng vậy vô sắc không thể thấy, vô tướng không thể biết, vô lậu vô vi cũng đồng như ảo hóa, tại sao lại chứng được? Thế nào giác tri? Mà lại nói rằng thân tâm đắc bồ đề ư? Đại Bồ tát lúc quán sát như thế rơ ràng phân minh là thân tướng không đắc bồ đề cũng biết rằng tâm không đắc Bồ đề. Tại sao thế? V́ các pháp không có chuyện dùng sắc chứng sắc, dùng tâm chứng tâm. Nhưng sự kiện nầy ở trong ngôn thuyết dù biết tất cả là vô sắc, vô h́nh, vô tướng, vô lậu, không thể nh́n thấy không có chứng biết cũng không phải không chứng biết. Tại sao? V́ do tất cả thân Như Lai không thuộc hữu lậu, thân các ngài vô lậu, tâm cũng vô lậu. V́ các Như Lai tâm vô lậu nên sắc cũng vô lậu, lại nữa các đức Như Lai sắc vô lậu nên thọ, hành, thức cũng vô lậu. Lại nữa giới của các đức Như Lai cũng vô lậu, tam muội, trí huệ cũng vô lậu... cho đến giải thoát, giải thoát tri kiến cũng vô lậu như thế cho đến những lời lẽ của các đức Như Lai nói, đă nói, đương nói, sẽ nói và tất cả pháp được nói cũng đều vô lậu cả. 

Hiền Hộ! Các Phật pháp như thế chỉ có người trí mới thông đạt được c̣n kẻ ngu không thể hiểu biết. Bồ tát lúc quán sát như thế biết tất cả pháp đều không thể được. Tại sao không thể được? V́ nó là năng chứng? Không thể được. Thế nào chứng? Lại không thể được. Duyên ǵ chứng. Cũng không thể được. Quán sát như thế thể nhập vào tịch diệt định phân biệt các pháp cũng không phân biệt các pháp. Tại sao thế? Là v́ các pháp không có. 

Nầy Hiền Hộ! Như lửa chưa hiện khởi hoặc có người nói rằng: Ta hôm nay trước tiên làm tắt lửa nầy. 

Nầy Hiền Hộ! Ư ông nghĩ thế nào? Lời kẻ nầy nói là thành thật chăng? 

Hiền Hộ đáp: 

Bạch Thế Tôn! Không thành thật. 

Phật bảo: 

Cũng giống như vậy, các pháp từ xưa đến nay hoàn toàn vô đắc, tại sao hôm nay lại có người nói lời rằng: Ta có thể chứng biết tất cả pháp, ta có thể thông suốt tất cả pháp, ta có thể giác ngộ tất cả pháp, ta có thể độ thoát tất cả chúng sanh đang ở trong sanh tử. Lời nói như thế không phải là chơn chánh. Tại sao ta nói như vậy? Là v́ trong pháp giới vốn không có các pháp cũng không có chúng sanh. Tại sao lại nói rằng độ? Và độ cũng chỉ là nhơn duyên trong thế đế. 

Phật bảo Hiền Hộ tiếp: 

Thế nên các thiện nam thiện nữ nào nếu muốn thành tựu trí giác vô thượng cho đến trí giác Duyên giác, Thinh văn cần nên phải quán sát tất cả pháp như vậy. Lúc quán sát sẽ nhập vào tịch định không có phân biệt không phải không phân biệt. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Tất cả pháp vốn không thật hữu, nếu định phân biệt tức là kẹt vào một bên, vượt lên trên ngoài lănh vực suy lường, ngoài lănh vực phân biệt, chỗ không chứng biết, chỗ không kinh doanh, chỗ không tập hợp, chỗ không nghĩ nhớ, chỗ không phát khởi. Nầy Hiền Hộ! Đó gọi là trung đạo. 

Lại nầy Hiền Hộ! Trong chơn thật đệ nhứt nghĩa nếu c̣n kẹt một bên hay rơi vào chặng giữa đều không thể được. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Tất cả pháp dường như hư không bổn lai tịch diệt, không phải hư vô không phải thường hằng, không có tích tụ, không có nơi dừng lại, không chỗ nương tựa, không tướng, vô vi, không có toán số. Nầy Hiền Hộ! Nó vốn không thể đếm tính được, tại sao lại có toán số? V́ không đếm, nằm trong số đếm, nên không kẹt vào con số cho đến không có danh tự lời lẽ trí tính toán. 

Nầy Hiền Hộ! Đại Bồ tát lúc quán sát các đức Như Lai như vậy không có chấp trước. Tại sao vậy? 

Là v́ tất cả pháp vốn không chấp trước bởi nó không có nơi chỗ để chấp trước, cũng không có cội rễ để đoạn trừ. 

Hiền Hộ! Đại Bồ tát nầy nên suy nghĩ Tam muội Chư Phật hiện tiền như vậy, nếu thấy các đức Như Lai rồi không nên chấp giữ, không nên vịn theo. Tại sao? Nầy Hiền Hộ! Tất cả các pháp vốn không thể nắm giữ dường như hư không, thể tánh tịch diệt. 

Nầy Hiền Hộ! Như đem chùy vàng đặt trong lửa đỏ nấu cho chảy ra lúc chảy nóng đến cùng cực, lại như viên sắt đỏ vừa từ ḷ gấp ra cháy đỏ nóng ran, kẻ có trí đâu thèm bốc tới. Tại sao? Bởi v́ vàng chảy ra nước và ḥn sắt đều nóng bốc vào chắc chắn cháy tay. 

Cũng ư đó nầy Hiền Hộ! Bồ tát lúc quán Phật không nên vin lấy chấp giữ việc đó cũng giống như vậy. 

Thế nên Bồ tát lúc quán sắc Phật không nên sanh tâm đắm trước, cho đến quán thọ, tưởng, hành thức cũng không được đắm trước. 

Lại nữa lúc Bồ tát quán về giới, định, trí, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến cũng không nên đắm trước. 

Tại sao như vậy? V́ hể c̣n chấp trước giữ lấy là không bao giờ có thể thoát ly sự khổ sanh tử, bởi sự khổ cũng do nguyên nhơn ḷng chấp trước. 

Thế nên Bồ tát lúc quán sát Như Lai như thế không sanh ư tưởng chấp trước. Dù không chấp trước nhưng lại phải siêng năng cầu mong công đức thắng diệu như Chư Phật Thế Tôn. Đó là: Phật trí, Như Lai trí, trí vĩ đại, trí tự nhiên, trí tự tại, trí không thể nghĩ lường, trí khó tính kể, trí không ǵ ngang sánh được, trí nhứt thiết trí. Nếu muốn cầu thể nhập những trí như thế suy gẫm quán sát tam muội niệm chư Phật hiện tiền. 

Khi đó muốn cho thêm rơ nghĩa nầy, đức Thế Tôn lập lại bằng bài kệ: 

Ví như gương sáng và dầu trong

Phụ nữ trang sức soi bóng ḿnh

Kẻ ngu nh́n bóng lại đam mê

Nơi nơi đeo đuổi cho thỏa ḷng.

Ái tưởng điên đảo nơi cái Không

Không biết là pháp hư vọng sanh

Nếu có Bồ tát nghĩ như vầy:

"Bồ đề cam lồ trong tương lai

Ta cứu chúng sanh khỏi các khổ"

Gọi người vô trí tâm trước ngă.

Trong đệ nhứt nghĩa không chúng sanh

Thế gian chỉ có sanh lăo tử

Các pháp không tướng trăng đáy nước

Há có Bồ đề mà t́m cầu!

H́nh tượng khác ǵ bóng trong gương

Như ảo như hóa như hư không

Phàm phu suy tưởng bị trói buộc

Hạng nầy bị buộc không vô thật.

Nếu có kẻ trí hàng Bồ tát

Biết đời điên đảo nên thấy chơn

Thông đạt không người, ai chịu khổ?

Vị nầy tương lai thành Phật đạo.

Vô ư phân biệt Phật Bồ đề

Tâm kia bổn lai tự sáng trong

Không thấy sanh tử bùn nhơ đục

Vị nầy chứng thật bậc tối thắng.

Tất cả sắc pháp đều vô lậu

Không thể phân biệt, vọng cũng không

Diệt trừ các dục tâm giải thoát

Kẻ biết như thế, chứng tam muội

Trước niệm các Phật thân vô tướng

Sau nghe các pháp vốn thanh tịnh,

Suy gẫm như vậy, niệm không thừa

Chứng tam muội nầy có khó đâu!

Thường nghĩ không tướng để quán sát

Liền diệt được cả những vi tế

Đối tất cả sắc không phân biệt

Mắt dù có thấy, tâm không lụy,

Nếu lấy không thấy, là chứng định

Tất cả kẻ mù cũng chứng sao?

Cũng không dùng thấy, không không thấy

Điều nầy ngoại đạo đều mê mờ.

Thường ly tướng trạng mà suy gẫm

Thấy tâm thanh tịnh của các Phật

Nhận như thế rồi quán tất cả

Kẻ đó mau đắc tam muội nầy.

Nếu muốn quán sát tất cả Phật

Nên tưởng ngài ngồi giảng diệu pháp

Như ta hiện giờ nói pháp nầy.

Kẻ nào thích pháp nh́n thân ta

Đừng nên suy gẫm những ǵ khác

Chỉ nên nghĩ Phật dạy pháp diệu,

Chuyên nhớ như vậy đừng thấy khác

V́ cầu học rộng và nghe nhiều

Nhứt tâm quán ta dạy định nầy,

Ghi nhớ lại hết lời Phật nói.

Không lời diễn đạt, không sánh được.

Nếu muốn tâm vui và thân an

Cầu Phật công đức khó suy lường

Cho đến chứng đắc diệu Bồ đề

Nên cần tu học tam muội nầy.

Muốn cho trong sạch biển học sâu

V́ chúng sanh nên thường siêng cầu,

Kẻ nầy nên mau bỏ dục trần

Cần tu tam muội thù thắng nầy.

 

 

Phẩm Thứ Bảy: Giới Hạnh Đầy Đủ

 

 Hiền Hộ Bồ tát lại bạch Phật: 

Thưa Thế Tôn! Ngài rất là hy hữu đă có được tam muội siêu việt như thế. Nếu như có các vị Bồ tát bỏ gia đ́nh đi xuất gia tâm rất ưa thích giảng nói về tam muội nầy cũng như quán sát nó. Bạch ngài! Các vị nầy nên nương theo pháp nào để có khả năng giảng nói và quán sát? 

Phật dạy: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát bỏ gia đ́nh đi xuất gia, hết ḷng ưa thích và mong muốn quán sát tam muội nầy, hàng Bồ tát xuất gia đó trước tiên hết phải ghi nhớ các giới như vầy: giữ ǵn giới hạnh cho trong sạch, giới hạnh không thiếu sót, không ô nhiễm, không nhơ bẩn, không đắm trước, không xao động, không bị chê trách, giới hạnh được bậc trí ca ngợi, giới hạnh được bậc thánh kính mến. 

Nầy Hiền Hộ! Hàng Bồ tát xuất gia làm như thế nào để được giới hạnh trong sạch? Cho đến làm sao được giới hạnh bậc thánh kính mến? 

Nầy Hiền Hộ! Hàng Bồ tát xuất gia nên y cứ theo Ba la đề mộc xoa thành tựu các oai nghi tế hạnh cho đến viên măn các giới hạnh vi tế nhiều như bụi. Đối với các giới hạnh nên nghĩ đến sự thành tựu cao xa không chấp trước, lúc được nghe pháp không, vô tướng, vô nguyện tâm không sợ hăi không mê mờ. Hiền Hộ! Do nhơn duyên đó hàng Bồ tát xuất gia thành tựu được giới hạnh không đắm trước, giới hạnh được bậc thánh kính mến. 

Khi ấy Bồ tát Hiền Hộ lại bạch Phật: 

Thưa Thế Tôn! Hàng Bồ tát xuất gia do duyên cớ ǵ lại có giới hạnh không trong sạch, thiếu sót, nhiễm trước, ô uế, ỷ lại, giới hạnh bị kẻ chê trách, bậc thánh ghét bỏ? 

Phật dạy: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu Bồ tát xuất gia nào c̣n giữ lấy đắm trước nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà thọ tŕ cấm giới tu tập Phạm hạnh. Đă tu rồi c̣n có quan niệm: Hiện nay ta giữ giới, tu khổ hạnh, tu học như thế nầy, Phạm hạnh như kia, mong rằng đời vị lai ta sẽ được sanh lên cơi trời hay ở nhân gian một cách tự tại hưởng quả đầy đủ. 

Hiền Hộ! V́ lư do nầy nên Bồ tát xuất gia thành tựu giới hạnh không trong sạch... cho đến giới bị bậc thánh ghét bỏ. V́ họ cầu có, muốn hưởng quả báo và mong thác sanh nơi an nhàn. 

Nầy Hiền Hộ! Hàng xuất gia Bồ tát muốn tuyên nói và suy gẫm môn tam muội nầy trước tiên hết phải thành tựu giới hạnh trong sạch.... cho đến giới được bậc thánh kính mến, luôn luôn ghi nhớ thực hành Bố thí Ba la mật đó là những sự bố thí cao cả, bố thí pháp, bố thí siêu việt, bố thí vi diệu, bố thí tịnh diệu, bố thí vô thượng, thường siêng năng hăng hái không bỏ rơi trách nhiệm to tát dù là chỉ tạm nghỉ thôi.... Hằng nhứt tâm ǵn giữ chánh niệm. Đức tin trong sạch không vướng vít danh tiếng lợi dưỡng thế gian, không mang ḷng ganh tỵ. Thường hành khất thực, đúng như pháp xin ăn để nuôi thân h́nh, không nhận thỉnh riêng, ḷng nhàm chán thế gian thích cảnh a lan nhă, tôn sùng ḍng thánh, vâng giữ hạnh đầu đà dứt bặt chuyện phiếm chỉ luận việc siêu thoát cơi đời. Yên lặng ở giữa đám đông ít lời lẽ thường tôn kính kẻ khác không dám khinh chê, bất cứ lúc nào cũng cảm thấy tự thẹn với ḿnh hổ ngươi đối với kẻ khác. Kẻ gia ân cho ḿnh ḷng hằng nhớ báo đáp, với kẻ thiện tri thức mong muốn được thân cận, với bậc sư tôn th́ tùy thuận hầu hạ. Nếu gặp được kinh điển sâu xa sẽ hết ḷng nghe nhận, tâm hằng không có niệm mỏi mệt, đối với vị pháp sư xem như đấng cha lành hay bậc thiện tri thức cho đến coi như đức Như Lai, v́ do người dạy pháp vi diệu nầy làm cho ḿnh được thành tựu trí giác vĩ đại tăng tưởng tâm mến thích kính trọng. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát đi đến nghe bậc Thinh Văn nói về kinh điển sâu xa như đây, lại đối với bậc pháp sư nầy không sanh tâm kính mến, tôn trọng, không nghĩ là bậc cha lành thiện tri thức, giáo sư hay chư Phật nên không thể thân cận cúng dường hầu hạ người đă dạy ḿnh kinh nầy. Hiền Hộ! Ông phải biết hạng Bồ tát nầy sẽ không đủ năng lực để tin nhận, biên chép phổ biến ra, tuyên giảng về kinh nầy để nhờ đó chánh pháp được tồn tại. 

Lại nầy Hiền Hộ! Nếu có Bồ tát nào được nghe hàng Thinh văn nói về kinh điển vi diệu như vậy sanh tâm tôn trọng coi vị pháp sư đó như là Phật gần gũi cung kính cúng dường hầu hạ. Bồ tát như vậy dù chưa tu học kinh nầy cũng tức là đă tu tập, chưa giải nói ra tức đă giải nói, có đủ năng lực làm cho diệu pháp tồn tại lâu dài trên cơi đời, không bị hủy hoại hay tiêu diệt. Tại sao thế? Là v́ do có thể kính mến tôn trọng chánh pháp nên kinh nầy mới được tồn tại lâu dài trên thế gian. Nầy Hiền Hộ! Do nhơn duyên nầy giờ đây ta dạy ông: Người nào đối với vị pháp sư sanh tâm ưa mến, kính trọng, tôn quư, coi như thiện tri thức, bậc thầy, thậm chí có khi tưởng như chư Phật nên hết ḷng hầu hạ cúng dường cung kính, người như vậy mới gọi là thực hành theo hạnh của ta, vâng lời ta dạy bảo. 

Lại nầy Hiền Hộ! Hàng Bồ tát xuất gia quyết định muốn và suy gẫm tam muội nầy nên thường ở a lan nhă xa lánh đám đông, làng xóm bè đảng, chỗ tham cầu, không cất chứa lúa gạo món ăn, không tham đắm nơi y phục vật thức, không nhận lănh tài sản vàng bạc. Không ham mê hằng nghĩ đến việc xả thân, xa ĺa ḷng tham đắm, thường tu pháp tử quán, luôn hổ thẹn không tạo điều ác ǵn giữ chánh pháp. Không c̣n nghe hoặc, luôn xa ĺa không nắm giữ các tướng. Tu từ tâm không mang oán hiềm phát khởi t́nh thương cao cả, không giận hờn tâm b́nh thản hằng vui vẻ xí xóa nào có ưa ghét ǵ đến chúng sanh. Thường đi kinh hành phá trừ mê ngủ. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu Bồ tát xuất gia thực hành được pháp như thế sẽ có năng lực tu học, giải nói, suy gẫm về môn tam muội Niệm Chư Phật hiện tiền nầy. 

Khi ấy Bồ tát Hiền Hộ bạch Phật: 

Thưa Thế Tôn! Thật là hy hữu! Đức Như lai, Ứng cúng, Đẳng chánh giác dạy ra kinh điển thật hết sức sâu xa vi diệu siêu việt không thể suy lường được, nhưng các Bồ tát ở đời vị lai biếng nhát ỷ lại dù nghe được kinh điển nầy lại sanh sợ hăi kinh nghi thối lui không phát tâm ưa thích vui mừng. Lúc đó cũng có các Bồ tát siêng năng tinh chuyên ghi nhớ ưa thích pháp nầy giữ vững cùng khuyên người thọ tŕ, nếu được nghe pháp sư dạy cho pháp nầy dù phải xả thân nơi chánh pháp cũng không tiếc, không đắm trước danh tiếng không mong cầu lợi dưỡng, nghe nhận được pháp môn vi diệu như thế thường đọc tụng, ghi nhớ, suy gẫm nghĩa lư, thực hành như lời dạy, trong đời các Phật vị lai sẽ chỉ v́ để thành tựu các công đức vĩ đại nên ḷng luôn siêng năng hăng hái. 

Lại có thiện nam thiện nữ đă từng cúng dường các đức Phật đời quá khứ vun trồng nhiều căn lành, hạng nầy rất hăng hái, mong muốn nghe pháp môn vi diệu nên phát ra đại thệ: 

Dù phải khô kiệt da thịt, nát nghiến xương tủy, đốt cháy thân tâm, khổ hạnh liên tục nhưng con cũng không hề tạm thời biếng nhát mỏi mệt, do v́ hằng mong thành tựu được kinh điển vi diệu nên siêng năng hăng hái phi thường chỉ muốn để thu phục các Bồ tát làm cho họ nghe nhận kinh điển nầy liền sanh đức tin, tâm vui vẻ. 

Khi ấy Thế Tôn khen Bồ tát Hiền Hộ: 

Hay lắm! Hay lắm! Nầy Hiền Hộ! Đúng như vậy! Đúng như lời ông nói! Ta hết sức vui vẻ công nhận, tất cả ba đời chư Phật Thế Tôn số nhiều như cát sông Hằng cũng đều công nhận thế. 

Hiền Hộ lại thưa: 

Bạch Thế Tôn! Nếu như có Bồ tát tại gia c̣n ở thế gian nghe được môn tam muội nầy muốn được quán tưởng, nói cho kẻ khác nghe hoặc trọn một ngày đêm thực hành, người nầy ǵn giữ bao nhiêu pháp hành để thành tựu được tam muội và có năng lực dạy bảo kẻ khác. 

Phật dạy: 

Nầy Hiền Hộ! Hàng Bồ tát gia c̣n ở trong thế gian lại mong muốn tu tập môn tam muội niệm Phật hiện tiền nầy hoặc trọn một ngày đêm hay đôi giờ, nay ta nói cho ông nghe: Hàng tại gia nầy c̣n ở trong thế gian cần nên có đức tin chơn chánh, không keo kiệt hằng bố thí giúp đở hoặc ít nhiều hay cho tất cả không mong cầu quả báo, nên quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, không thờ trời cũng không lễ bái, không có ḷng ganh tỵ lại hằng vui theo, sanh sống theo như Phật pháp giữ ḿnh cho trong sạch, không mê gái không đắm say thê thiếp, không nhiễm thế tục, không bo bo ôm ấp tài săn châu báo, hằng ưa thích hạnh xuất gia cạo bỏ râu tóc, thường ở chốn già lam tu bồ đề không nghĩ đến thừa nào khác, gặp bậc tỳ bởn giữ niềm cung kính. Được vị pháp sư nói cho nghe tam muội nầy, đối với vị đó sanh ḷng kính mến tôn trọng xem như là bậc thiện tri thức, giáo sư, thậm chí như Phật, đem dâng cúng những ǵ người cần thiết, hằng nghĩ đến ân đă dạy cho ḿnh diệu pháp nầy nên luôn t́m cách đáp trả. 

Nầy Hiền Hộ! Bồ tát tại gia lúc c̣n ở thế gian ông nên dạy họ thực hành các pháp như trên sau đó mới chỉ cho họ môn tam muội nầy, cách suy gẫm và tu tập như thế. 

 

Phẩm Thứ Tám: Thọ Kư

  

Khi ấy Bồ tát Hiền Hộ thưa: 

Bạch Thế Tôn! Ngài rất là hy hữu đă v́ hàng Bồ tát tại gia, xuất gia đức tin thuần thục hâm mộ diệu pháp dạy cho họ pháp vô thượng, để họ an trụ trong vô lượng pháp hành sau đó họ sẽ được quán sát và giảng giải tam muội nầy. 

Bạch Thế Tôn! Sau khi ngài diệt độ môn tam muội nầy c̣n phổ biến trong cơi Diêm phù đề không? 

Phật dạy: 

Sau khi ta diệt độ khoảng bốn chục năm kinh tam muội nầy c̣n phổ biến trong cơi Diêm phù đề. Qua năm trăm năm sau lúc chánh pháp diệt, tỳ kheo tạo điều ác, lúc chánh pháp bị phỉ báng, lúc chánh pháp bị phá hoại, lúc ít người giữ giới hạnh, hạng phá giới tăng trưởng, lúc các nước đánh nhau. Vào khoảng trong ṿng trăm năm nầy có chúng sanh nào thiện căn bền vững khi xưa đă từng gần gũi chư Phật cúng dường tu hành gieo hạt giống lành, nhờ vậy hàng trượng phu nầy được kinh điển như thế đem ra lưu hành và do đó kinh được phổ biến trở lại trong thế giới Diêm phù đề. Đây là nhờ oai thần của Phật nên khiến cho họ sau khi ta diệt độ được nghe kinh nầy rồi sanh vui mừng biên chép phổ biến, thọ tŕ đọc tụng, suy gẫm ư nghĩa, dạy bảo kẻ khác, thực hành như lời dạy. 

Khi đó Bồ tát Hiền Hộ và chàng Ly Xa Bảo Đức vừa nghe Như Lai nói chánh pháp diệt thương khóc nước mắt rơi xuống như mưa mới cùng rời chỗ ngồi đứng dậy, sửa sang y phục ngay ngắn trịch áo bày vai mặt, gối mặt quỳ chấm đất cung kính thưa rằng: 

Trong ṿng trăm năm sau năm trăm năm đức Như Lai nhập Niết Bàn là lúc chánh pháp diệt, lúc các sa môn điên đảo, chánh pháp bị phỉ báng, phá hoại, kẻ giữ giới ít oi phá giới lại tăng, bậc hộ pháp hiếm hoi, kẻ sống phi pháp lại nhiều, chúng sanh chịu ly loạn, các nước đánh nhau, khi ấy chúng con sẽ đọc tụng thọ tŕ suy gẫm nghĩa lư kinh điển tam muội vi diệu nầy, lại c̣n đem giảng nói cho kẻ khác nghe. Tại sao chúng con hành động như vậy? Là v́ tâm chúng con không nhàm chán, không tri túc đối với kinh điển Như Lai dạy bảo, v́ chúng con có khả năng nghe nhận, biên chép phổ biến, đọc tụng thọ tŕ, suy gẫm nghĩa lư tu hành và giảng nói cho kẻ khác. 

Khi ấy có các cư sĩ thuộc giới thương gia tên là Dà Ha Cấp Đa và Na La Đạt Đa Ma Nạp v.v... xót thương chánh pháp diệt nước mặt rơi đầm đ́a cũng cùng đứng dậy thưa: 

Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện bảo vệ kinh điển Như Lai nói và kẻ thọ tŕ kinh điển làm cho được tăng trưởng. Chúng con sẽ ǵn giữ kinh điển vi diệu do Như Lai dạy được lưu hành phổ biến và tồn tại lâu dài trên đời. Do v́ kinh điển nầy đă từng trong vô lượng số kiếp đem lại nhiều quả trí giác vô thượng cho chúng sanh. 

Bạch Thế Tôn! Chúng con được nghe pháp hy hữu xin nguyện hết ḷng thọ tŕ suy gẫm ư nghĩa, đem dạy lại cho người để pháp được phổ biến. 

Bạch Thế Tôn! Với pháp sâu xa tất cả thế gian khó có người tin, con sẽ v́ chúng sanh trước tiên gây thiện căn cho họ sau đó sẽ giảng giải ư nghĩa. 

Khi đó trong chúng có năm trăm tỳ kheo tỳ kheo ni cư sĩ nam cư sĩ nữ nghe đức Như Lai nói chánh pháp hoại diệt trong thời gian sắp đến ḷng cảm thấy đau nhói nước mắt tuôn rơi, đều đứng dậy sửa sang y phục trịch áo bày vai mặt, gối mặt quỳ chấm đất cung kính chấp tay thưa: 

Bạch Thế Tôn! Chúng con xin nguyện thọ tŕ chánh pháp của Như Lai. C̣n các bậc đại sĩ thiện trượng phu vào lúc nầy đă làm bậc y chỉ cho chúng con, đă che chở dạy dỗ làm chúng con hiểu được ư nghĩa chơn thật của kinh điển sâu xa mà Như Lai đă dạy và nhờ đó chúng con thực hành như Pháp. Cúi xin Thế Tôn ngài hăy thọ kư rơ ràng cho các thiện trượng phu và chúng con. V́ con và các ngài đó đủ có năng lực ǵn giữ chánh pháp và người thọ tŕ. 

Đức Thế Tôn liền mỉm cười từ miệng toát ra ánh sáng màu vàng ṛng soi khắp mười phương các thế giới Phật, và ánh sáng trở về chỗ Phật, xoay quanh Như Lai ba ṿng theo chiều mặt xoay lên đến đỉnh đầu th́ biến mất. 

Tôn giả A Nan thầm nghĩ lúc Thế Tôn cười chắc có việc ǵ lạ ta nên hỏi ngài ǵ cớ ǵ Ngài cười. 

Nghĩ vậy xong, ngài đứng dậy sửa sang y phục lại, trịch áo bày vai mặt, gối mật chấm đất chấp tay hướng về Phật dùng kệ thưa: 

Tâm ngài trong sáng hạnh không nhơ

Có đại oai đức, thần thông lớn

Cao cả đáng tôn trọng cơi đời

Hiển hiện khác ǵ ánh trăng trong.

Thánh trí vô ngại, tâm giải thoát

Tiếng Ca Lăng tối thượng cơi trời

Tất cả dị luận không xao động

Nay bỗng mỉm cười do duyên ǵ?

Thông đạt chánh chơn v́ con nói

Đấng lưỡng túc đem nhiều lợi ích

Nên nghe âm thinh vi diệu nầy

Con sẽ hết ḷng vui hớn hở.

Chẳng lẽ Thế Tôn luống cười khan?

Khi Phật phóng quang có người lành

Thưa ai hôm nay được lợi lớn?

Ai trong phút nầy được chứng chơn?

Ai hiện giờ đây được quán đảnh?

Ai phút bây giờ lên ngôi Phật?

Ai hiện tại đem lợi cho đời?

Ai sẽ nói hết kho Phật pháp?

Ai hằng thường trụ trong Phật trí

Mà đức Thế Tôn hiện duyên cười?

Phật liền dùng kệ đáp lại: 

A Nan! Ông thấy Hiền Hộ không?

Cùng năm trăm người ông giáo hóa

Thân tâm vui vẻ lời thành thật

Bọn họ tương lai được pháp nầy.

Bọn họ nhứt tâm nh́n ngóng ta

Bất cứ lúc nào cũng như vậy.

Đối trước nơi ta phát đại nguyện,

Họ sẽ tương lai đạt đạo nầy.

Lại có tám chúng đứng dậy thưa

Trong đó năm trăm là thượng thủ

Họ sẽ ở vào đời pháp hoại

V́ cả thế gian nói pháp nầy.

Ta cũng bảo ông biết như vầy:

Họ là kẻ có trí vô ngại

Nào từng chỉ ở đời một Phật

Đứng dậy chấp tay kính Thế Tôn,

Ta quán khi xưa vô lượng đời

Trải qua tám muôn các đức Phật

Tám người đă từng đứng dậy thưa

Lại cũng hộ tŕ diệu pháp nầy

Trước đó tám muôn ức do tha

Cũng gặp vô số Phật như thế

Tâm được giải thoát, tiếng đồn xa.

Lúc đó hạng nầy đă thọ tŕ

Nay lại ở trong diệu pháp ta

Làm thượng thủ hạng giữ lợi ích

Bọn họ sau khi ta diệt độ

Đem xá lợi ra để cúng dường.

Khéo giữ các Phật sự của ta

Đặt trong rương hộp khắp mười phương

Xây tháp giữa đồng hay trên núi

Dặn ḍ trời rồng và kim điểu:

Các ông nương tựa kinh pháp nầy

Mạng dứt sẽ đều lên cơi trời

Sau đó trở lại chốn nhân gian

Thường sanh vào nhà họ sang trọng

Khéo ǵn việc Bồ đề của ta

Lại phát đại nguyện theo bổn tâm,

Hoặc v́ chánh pháp đến nước người

Để t́m cầu kinh sâu như thế

Đắc rồi lại truyền trao kẻ khác

Do tâm vui vẻ không ganh tỵ.

Cầu pháp tinh thành không biếng nhát

Khinh tài nhẹ mạng há yêu thân!

Hàng phục tất cả ngoại đạo luận

Hằng đem chánh pháp ban cho họ.

Lúc đó không ai thọ tŕ kinh

Cũng không đọc tụng, dạy kẻ khác.

Chỉ có năm trăm đấng hiền nầy

Và tám đại Bồ tát như thế

Tương lai miền Bắc truyền diệu pháp

Phổ biến kinh điển rất sâu xa.

Như thế tỳ kheo và ni chúng

Các cư sĩ nam cư sĩ nữ.

Trí khéo, không hiểm, lên pháp sư

Sẽ thành bậc chánh giác đức lớn.

Kẻ nầy từ đây đến khi chết

Không bao giờ sa vào đường ác

Trong các đời sanh được may mắn

Gặp gỡ Bồ đề việc hy hữu

Đă xa ĺa hẳn các đường ác

Lại tránh không gặp các nạn tai

Công đức khó biết được ngằn mé

Hưởng phước như thế nhiều vô cùng

Sẽ gặp được Phật Di Lặc

Tâm hằng tương xứng với Phật nầy

Cúng Phật cung kính lợi chúng sanh

Chỉ v́ mong cầu trí Bồ đề

Vào khoảng mạt thế lúc pháp diệt

Họ cũng lại thường giữ ǵn pháp

Có thể ở vào khoảng Hiền kiếp

Làm cho thế gian khắp sáng soi

Bảo vệ kinh nầy cùng mọi nơi,

Trụ chỗ không sợ giữa ba đời

Tương lai số ức các đức Phật

Khó thể tính lường và nghĩ suy

Đều cúng dường hết, rộng tu hành

Hằng giữ ǵn các thắng Phật sự

Nay đây Hiền Hộ đại Bồ tát

Và ông Bảo đức, báu trong chúng

Thương chủ Cấp Đa Dà Ma Da

Sẽ được gặp Phật nhiều hằng sa

Nghe và lănh thọ kinh vô lượng

Nếu có chúng sanh được nghe tên

Hoặc lúc tỉnh táo hay ngủ nghỉ

Hạng nầy được trời người tôn kính

Nếu có chúng sanh vừa nghe tên

Liền sanh kính tin và tùy hỷ

Tất cả thành Phật không nghi ngờ

Huống ǵ cúng dường với các Phật

Họ được thọ kư khó nghĩ lường

Sống lâu, pháp trụ cũng vô lượng

Lợi ích rộng lớn không cùng tận

Công đức trí huệ cũng khó biết.

A Nan nếu người tŕ kinh nầy

Biên chép đọc tụng và ghi nhớ

Ông nên quyết định sanh kính mến

Không nên xa họ năm trăm dặm,

A Nan! Nếu người tŕnh kinh nầy

Tự siêng năng mong cầu bền vững

Giữ giới trong sạch, bỏ ngủ nghỉ

Chắc chắn đắc được diệu tam muội

Trong luật ta dạy về Mộc Xoa

Các hạng tỳ kheo ở Lan nhă

Thường hành đầu đà không xả bỏ

Đắc được tam muội rất chắc chắn.

Tất cả thỉnh riêng đều từ chối

Dù là vị ngon cũng bỏ qua

Coi thầy như Phật tâm cung kính

Ai nói họ không chứng tam muội?

Trước hết rơ cả tham sân si

Xả bỏ ngă mạn và ganh tỵ

T́nh không nhơ bợn niệm vô vi

Đọc tụng suy gẫm tam muội nầy

Nếu có Bồ tát c̣n tại gia

Tâm hằng bền vững việc xuất gia

Thọ tŕ đọc tụng thành nghiệp miệng

Tâm hằng nhớ học tam muội nầy,

Luôn giữ ǵn năm căn bản giới

Cũng thường thọ tŕ bát quan trai

Hằng xả tài sản cúng chùa tháp

Đọc tụng quán sát môn tam muội,

Không có mê say hàng thê thiếp

Không đắm nữ sắc và tài sản,

Giữ hạnh cư sĩ hằng hổ thẹn

Chỉ một ḷng nhớ tam muội nầy.

Không khởi tâm hại các kẻ khác

Chỉ nghỉ suy bỏ các chơi giỡn

Không kẹt nơi nào, tâm an nhẫn

Chỉ nhớ một môn tam muội nầy.

Chớ nên ôm giữ các tài vật

Hoa hương phấn thoa và ṿng hoa

Không đắm nơi nào, hằng an nhẫn

Tam muội như thế luôn giữ ǵn.

Nếu tỳ kheo ni cầu kinh nầy

Nên phải quy kính, bỏ ganh tỵ

Bỏ đùa, cống cao và ngă mạn

Chứng được bồ đề nào khó ǵ.

Nên phải siêng năng trừ mê ngủ

Tất cả mong cầu đều bỏ ĺa

Tâm mến pháp, nuôi mạng trong sạch

Chỉ đọc tụng kinh tam muội nầy,

Hằng không hợp tác với tham dục

Không nổi sân hận dày ṿ người

Không đem dây ma trói chúng sanh

Chỉ một ḷng tŕ môn tam muội

Không do nịnh hót mà hành động

Không ham áo đẹp và hương xoa

Không nói hai lưỡi chia cách người

Chỉ biết môn tam muội phải tŕ.

Tiếng sắc gái trai nào bợn tâm

Tịch tịnh hết rối mối nghĩ bậy

Kính thầy nào khác đức Phật đà

Và chỉ thọ tŕ niệm tam muội.

Sanh ra xa ĺa các đường ác

Trong biển Phật pháp nào tin suông

Phá trừ các chướng trong ba cơi

Mong muốn lănh thọ tam ma đề.

 

 

Quyển Thứ Ba  

Phẩm Thứ Chín: Công Đức Thọ Tŕ

  

Khi ấy Bồ tát Hiền Hộ, chàng thanh niên Ly Xa Bảo Đức, thiện thương chủ phú hộ Da Ha Cấp Đa, Na La Đạt Ma Nạp, Thủy Tiên cùng với năm trăm đồ chúng nghe lời Phật dạy đều lấy làm vui mừng liền đem năm trăm y phục tuyệt đẹp dâng lên Thế Tôn và cúng dường ngài nhiều phẩm vật khác. 

Đức Thế Tôn mới bảo A Nan: 

Nầy A Nan! Hiền Hộ Bồ tát lúc nào cũng thường làm bậc thầy của năm trăm đồ chúng dạy cho họ các ư nghĩa trọng yếu của các pháp, giáo hóa vỗ về làm cho họ vui vẻ. Do có vui nên bọn họ sanh tâm tùy thuận, chơn thật, trong sạch ly dục phá trừ các phiền năo không bị nó bao bọc trói buộc 

Liền đó năm trăm người nhứt tâm chấp tay cung kính làm lễ Phật và lui ngồi một bên. 

Hiền Hộ mới thưa: 

Bạch Thế Tôn! Đại Bồ tát cần đủ mấy pháp mới có khả năng đắc môn niệm Phật tam muội nầy? 

Phật dạy: 

Nầy Hiền Hộ! Nếu đại Bồ tát có đủ bốn pháp như sau sẽ đắc được tam muội. Một là không đắm say lư thuyết của tất cả ngoại đạo, hai là không ưa tất cả việc ái dục, ba là thường không bỏ rơi công đức đầu đà, bốn là luôn nhàm chán ba cơi các chỗ thọ sanh do phiền năo. Bồ tát thành tựu bốn pháp nầy sẽ đắc tam muội. 

Nầy Hiền Hộ! Nếu thiện nam thiện nữ đọc tụng thọ tŕ kinh tam muội nầy, hoặc có lúc đem ra giảng nói cho kẻ khác hiện tiền liền được năm thứ công đức: một là không bị tất cả các độc tổn hại, hai là không bị tổn thương bởi binh khí gậy gộc, ba là không bị tai nạn nước: chết ch́m v.v... bốn là không bị lửa dữ đốt cháy, năm là không bị ác vương, huyện quan có dịp làm hại. 

Tại sao được như thế? Là v́ nhờ sức từ tâm của tam muội. 

Nầy Hiền Hộ! Giả sử thế gian lâm vào kiếp hoại cả thế giới ch́m đắm trong biển lửa, trời đất cháy đỏ rực, nếu như có kẻ thọ tŕ kinh nầy hoặc trai hay gái dù có bị rơi vào lửa đỏ nhưng nhờ oai thần của tam muội, lửa đỏ liền tắt, không bao giờ có chuyện không tắt. 

Hiền Hộ! Kẻ thiện nam thiện nữ lúc thọ tŕ kinh nầy không bao giờ bị ác vương, ác huyện quan, trộm cướp, sư tử, cọp, sói, rắn độc làm hại. Lúc họ tu hành kinh nầy cũng không hề bị dạ xoa, la sát, ngạ quỷ, cưu bàn trà, tỳ xá xà cho đến tất cả loài phi nhân cản trở phá hoại được. Kẻ thiện nam thiện nữ lúc đọc tụng kinh nầy, lúc suy gẫm ư nghĩa, lúc giảng nói cho người, lúc nhập vào tam muội, lúc hành phạm hạnh cũng không xảy ra việc mất y mất bát cho đến các việc chướng ngại, trừ ra do dư báo đời trước xoay chuyển không được. Kẻ thọ tŕ kinh tam muội nầy cũng không mắc bịnh mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm, các hoạn nạn khác cho đến tai nạn nguy kịch táng mạng, chướng ngại phạm hạnh. Kẻ thiện nam thiện nữ được nghe, thấy, biết đầy đủ về kinh tam muội như thế nếu như họ không gặp được Phật, không ǵn giữ chánh pháp lại phá hoà hiệp tăng trái nghịch với Phật Bồ đề, thật là việc không bao giờ có thể xảy ra! 

Nầy Hiền Hộ! Kẻ thiện nam thiện nữ thọ tŕ kinh nầy được tất cả trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhân phi nhân, bốn đại thiên vương, Đao lợi thiên vương, phạm thiên vương cho đến các đức Phật Thế Tôn đều hết ḷng ca ngợi. 

Lại nầy Hiền Hộ! Thiện nam thiện nữ thọ tŕ kinh nầy luôn luôn được sự mến kính của tất cả trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhân, phi nhân, bốn đại thiên vương, Đao lợi thiên vương, đại phạm thiên vương, các hàng bồ tát cho đến tất cả chư Phật Thế Tôn. 

Lại nữa kẻ thiện nam thiện nữ nhờ sức của kinh nên luôn luôn được sự bảo vệ của tất cả trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, nhân, phi nhân, bốn đại thiên vương, Đạo lợi thiên vương, đại phạm thiên vương, tất cả hàng Bồ tát Phật Thế Tôn. 

Các bậc Bồ tát cho đến chư Phật Thế Tôn trong ngày đêm hoặc trong giấc mộng, các ngài hiển hiện h́nh tượng tự xưng danh hiệu rồi xoa đầu an ủi người tŕ kinh tam muội nầy và khen ngợi cùng khuyến khích họ. 

Lại nữa kẻ thiện nam thiện nữ dù chưa từng nghe đến các kinh điển khác ngoài kinh này nhưng nhờ sức oai thần tam muội nên khiến xui tự nhiên có người đến nói hay nằm mơ nghe được, nghe rồi ghi nhớ rành rẽ không quên. 

Nầy Hiền Hộ! Ta nói về công đức của kẻ thiện nam thiện nữ chỉ tạm thời thọ tŕ kinh tam muội vi diệu nầy dù trải qua nhiều kiếp cũng chưa hết được, huống chi kẻ đă nghe được tam muội nầy rồi y theo lời dạy tu hành, sống như chánh pháp. 

Sau đó Thế Tôn nói lên bài kệ để lập lại nghĩa trên: 

Nếu người có khả năng giải thích

Tam muội tịch tịnh của chư Phật

Giả sử ta nay nói công đức

Khác nào hạt cát giữa sông Hằng.

Nếu v́ kẻ khác nói tam muội

Nước không nhận ch́m, lửa không cháy

Không bị thương tổn bởi dao gậy

Ác vương, ác quan không hại được

Nếu hay đọc tụng tam muội kinh

Nào sợ tất cả việc khủng bố

Oai lực kinh nầy diệt trừ hết

Ngay cả nộc độc của đại xà.

Kẻ thọ tŕ được kinh điển nầy

Cũng không sợ sệt các kẻ ác

Dạ xoa, la sát và các rồng

Bọn nầy đâu có dịp làm hại.

Nếu ai giải nói tam muội nầy

Họ không mắc bịnh và nạn tai

Sanh ra báo nhăn không hề mờ

Lời nói êm ái, biện luận hay.

Nếu người thực nghiệm thiền thâm diệu

Thân thể mạnh mẽ không bịnh hoạn

Cả đời xa hẳn các ác sắc

Nào có lo phải sa địa ngục.

Nếu ai đọc tụng kinh tam muội

Được trời, long thần đều bảo vệ

Da xoa, la sát kẻ oán thù

Vừa đến đă hoảng cùng bỏ chạy.

Nếu ai nói kinh cho kẻ khác

Trời, rồng, dạ xoa ḷng mừng vui

Các trời tối ngày luôn ca tụng

Chư Phật Thế Tôn thương như con.

Nếu v́ kẻ khác đọc kinh nầy

Không có nghi nan tất cả pháp

Được dung nhan đẹp khó ai b́

Há lại thối giảm Bồ đề đạo

Nếu người đem dạy cho kẻ khác

Dù gặp vua ác, dân ly loạn

Vào năm khô hạn, lúa gạo thiếu

Không bao giờ đói, hoặc bị hại.

Nếu người giải nói tam muội nầy

Thu hoạch công đức khó suy lường

Dù có loài ma hại chúng sanh

Cũng khó đụng đến lông hay tóc

Ta đă nói về kẻ tŕ kinh

Các nạn, sợ hăi và phiền năo

Không có bao giờ tổn hại được

Chỉ trừ nghiệp trước cố định rồi.

Nếu ai bảo vệ được kinh nầy

Chính họ là trưởng tử của Phật

Ta đă ca ngợi họ lâu rồi

Đời tương lai cũng sẽ khen ngợi.

Nếu ai ǵn giữ pháp thế nầy

Tự nên luôn sanh ḷng hoan hỷ

Đều nên phổ biến chớ bỏ rơi

Lời Phật hôm nay dạy như vậy.

 

 

 Minh Quang posted October 30, 2005


[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]