Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

勸發菩提心文

KHUYẾN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM VĂN

Đại Sư Thật Hiền Soạn

 

 

Nguyên văn:

古杭梵天寺沙門實賢撰

Âm Hán Việt:

Cổ Hàng Phạm Thiên Tự Sa môn Thật Hiền soạn

Dịch:

Sa môn Thật Hiền chùa Phạm Thiên Cổ Hàng soạn

 

 

Tự phần (Phần Tựa)

 Nguyên văn:

不肖,愚下凡夫僧實賢。泣血稽顙,哀告現前大眾,及當世淨信男女等。惟願慈悲,少加聽察。嘗聞入道要門,發心為首;修行急務,立願居先。願立則眾生可度;心發則佛道堪成。苟不發廣大心,立堅固願,則縱經塵劫,依然還在輪迴;雖有修行,總是徒勞辛苦。故華嚴經云:忘失菩提心,修諸善法,是名魔業。忘失尚爾,況未發乎?故知欲學如來乘,必先具發菩薩願,不可緩也。

Âm Hán Việt:

Bất tiếu, ngu hạ phàm phu tăng Thật Hiền, khấp huyết khể tảng, ai cáo hiện tiền đại chúng, cập đương thế tịnh tín nam nữ đẳng. Duy nguyện từ bi, thiểu gia thính sát. Thường văn nhập đạo yếu môn, phát tâm vi thủ; tu hành cấp vụ, lập nguyện cư tiên. Nguyện lập tắc chúng sanh khả độ, tâm phát tắc Phật đạo kham thành. Cẩu bất phát quảng đại tâm, lập kiên cố nguyện, tắc túng kinh trần kiếp, y nhiên hoàn tại luân hồi; tuy hữu tu hành, tổng thị đồ lao tân khổ. Cố Hoa Nghiêm kinh vân: "Vong thất Bồ đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp". Vong thất thượng nhĩ, huống vị phát hồ! Cố tri dục học Như Lai thừa, tất tiên cụ phát Bồ Tát nguyện, bất khả hoăn dă.

Dịch:

Thật Hiền tôi là kẻ phàm phu Tăng bất tiếu ngu hèn, khóc ra lệ máu cúi đầu kính lạy, đau buồn khẩn thiết thưa với chư đại chúng hiện tiền, cùng với chư thiện nam tín nữ có đức tin trong sạch trong hiện đời. Cúi mong quư vị thương xót, lưu ư một chút mà nghe và xét cho.

Từng nghe, cửa chính yếu để vào đạo th́ sự phát tâm làm đầu, việc khẩn cấp tu hành th́ sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập th́ có thể độ chúng sanh, tâm phát th́ Phật đạo có thể thành. Nếu không phát tâm rộng lớn, không lập cái nguyện vững bền kiên cố, th́ dù trải qua nhiều kiếp như số vi trần, cũng vẫn y nhiên ở trong ṿng luân hồi. Dù có tu hành cũng chỉ là uổng công lao nhọc, khổ sở một cách vô ích. Nên kinh Hoa nghiêm nói: "Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu các pháp lành, gọi đó là nghiệp ma". Quên mất mà c̣n như thế, huống chi chưa phát ư? Cho nên muốn học Như lai thừa th́ trước phải phát Bồ tát nguyện, không thể chậm trễ vậy.

 

 

Nguyên văn:

然心願差別,其相乃多;若不指陳,如何趨向?今為大眾略而言之,相有其八。所謂邪、正、真、偽、大、小、偏、圓是也。云何名為邪、正、真、偽、大、小、偏、圓耶?世有行人,一向修行,不究自心,但知外務,或求利養,或好名聞,或貪現世欲樂,或望未來果報,如是發心,名之為邪。既不求利養名聞,又不貪欲樂果報,惟為生死,為菩提,如是發心,名之為正。

Âm Hán Việt:

Nhiên tâm nguyện sai biệt, kỳ tướng năi đa, nhược bất chỉ trần, như hà xu hướng? Kim vị đại chúng lược nhi ngôn chi, tướng hữu kỳ bát. Sở vị tà, chánh chân, ngụy, đại, tiểu, thiên,viên thị dă. Vân hà danh vi tà, chánh, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên, viên da? Thế hữu hành nhân, nhất hướng tu hành, bất cứu tự tâm, đăn tri ngoại vụ, hoặc cầu lợi dưỡng, hoặc hiếu danh văn, hoặc tham hiện thế dục lạc, hoặc vọng vị lai quả báo. Như thị phát tâm, danh chi vi tà. Kư bất cầu lợi dưỡng danh văn, hựu bất tham dục lạc quả báo, duy vị sanh tử, vị Bồ đề, như thị phát tâm, danh chi vi chánh.

Dịch:

Nhưng tâm nguyện vốn có nhiều tướng trạng khác nhau, nếu không chỉ ra th́ làm sao biết mà xu hướng đến. Nay xin v́ đại chúng mà tŕnh bày sơ lược . Sự phát tâm lập nguyện gồm tám tướng là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên. Như thế nào là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên? Đời có kẻ tu hành mà từ trước đến nay chỉ một bề hành theo sự tướng, không biết tham cứu tự tâm, chỉ lo những việc ở ngoài, hoặc mong cầu lợi dưỡng, hoặc ưa thích hư danh, hoặc ham dục lạc hiện đời, hoặc mong cầu phước báo mai sau, phát tâm như vậy gọi là tà. Đă không mong cầu hư danh lợi dưỡng, lại không ham quả báu dục lạc đời sau, chỉ v́ mong liễu thoát sinh tử, v́ chứng đắc Bồ đề, phát tâm như vậy gọi là chánh.

 

 

Nguyên văn:

念念上求佛道,心心下化眾生,聞佛道長遠,不生退怯,觀眾生難度,不生厭倦,如登萬仞之山,必窮其頂;如上九層之塔,必造其巔,如是發心,名之為真。有罪不懺,有過不除,內濁外清,始勤終怠,雖有好心,多為名利之所夾雜;雖有善法,復為罪業之所染污,如是發心,名之為偽。眾生界盡,我願方盡,菩提道成,我願方成。如是發心,名之為大。觀三界如牢獄,視生死如怨家,但期自度,不欲度人,如是發心,名之為小。

Âm Hán Việt:

Niệm niệm thượng cầu Phật đạo, tâm tâm hạ hóa chúng sanh, văn Phật đạo trường viễn, bất sanh thối khiếp, quán chúng sanh nan độ, bất sanh yếm quyện, như đăng vạn nhẫn chi sơn, tất cùng kỳ đảnh, như thướng cửu tằng chi tháp, tất tháo kỳ điên. Như thị phát tâm, danh chi vi chân.

Hữu tội bất sám, hữu quá bất trừ, nội trược ngoại thanh, thủy cần chung đăi, tuy hữu hảo tâm, đa vị danh lợi chi sở giáp tạp, tuy hữu thiện pháp, phục vi tội nghiệp chi sở nhiễm ô. Như thị phát tâm, danh chi vi ngụy. Chúng sanh giới tận, ngă nguyện phương tận, Bồ đề đạo thành, ngă nguyện phương thành. Như thị phát tâm, danh chi vi đại. Quán tam giới như lao ngục, thị sanh tử như oán gia, đăn kỳ tự độ, bất dục độ nhân, như thị phát tâm, danh chi vi tiểu.

Dịch:

Niệm niệm trên cầu Phật đạo, tâm tâm dưới độ chúng sanh, nghe con đường thành Phật lâu xa cũng không sanh tâm thối chí khiếp sợ, thấy chúng sanh khó độ mà không chán nản mệt mỏi, như leo núi cao vạn trượng cũng quyết trèo lên tận đỉnh, như lên tháp lớn chín tầng cũng cố lên đến tột nóc, phát tâm như vậy gọi là chân. Có tội không sám hối, có lỗi không trừ bỏ, trong trược ngoài thanh, trước siêng năng sau biếng lười, dù có tâm tốt phần lớn cũng bị danh lợi xen lẫn, dù tu thiện pháp phần nhiều cũng bị nghiệp tội làm ô nhiễm, phát tâm như vậy gọi là ngụy. Chúng sanh độ hết nguyện ta mới hết, đạo Bồ đề thành nguyện ta mới thành, phát tâm như vậy gọi là đại. Xét xem ba cơi như lao ngục, nh́n sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không muốn độ người, phát tâm như vậy gọi là tiểu.

 

 

Nguyên văn:

若於心外見有眾生,及以佛道,願度願成,功勛不忘,知見不泯,如是發心,名之為偏。若知自性是眾生,故願度脫,自性是佛道,故願成就,不見一法,離心別有,以虛空之心,發虛空之願,行虛空之行,證虛空之果,亦無虛空之相可得,如是發心,名之為圓。知此八種差別,則知審察;知審察,則知去取;知去取,則可發心。云何審察?謂我所發心,於此八中,為邪為正,為真為偽,為大為小,為偏為圓。云何去取?所謂去邪去偽,去小去偏,取正取真,取大取圓。如此發心,方得名為真正發菩提心也。

Âm Hán Việt:

Nhược ư tâm ngoại kiến hữu chúng sanh, cập dĩ Phật đạo, nguyện độ nguyện thành, công huân bất vong, tri kiến bất mẫn, như thị phát tâm, danh chi vi thiên. Nhược tri tự tánh thị chúng sanh, cố nguyện độ thoát, tự tánh thị Phật đạo, cố nguyện thành tựu, bất kiến nhất pháp, ly tâm biệt hữu, dĩ hư không chi tâm, phát hư không chi nguyện, hành hư không chi hạnh, chứng hư không chi quả, diệc vô hư không chi tướng khả đắc, như thị phát tâm, danh chi vi viên.

Tri thử bát chủng sai biệt, tắc tri thẩm sát, tri thẩm sát, tắc tri khứ thủ, tri khứ thủ, tắc khả phát tâm. Vân hà thẩm sát? Vị ngă sở phát tâm, ư thử bát trung, vi tà vi chánh, vi chân vi ngụy, vi đại vi tiểu, vi thiên vi viên. Vân hà khứ thủ? Sở vị khứ tà khứ ngụy, khứ tiểu khứ thiên, thủ chánh thủ chân, thủ đại thủ viên. Như thử phát tâm, phương đắc danh vi chân chánh phát Bồ đề tâm dă.

Dịch:

Nếu ngoài tâm thấy có chúng sanh ḿnh nguyện độ, có Phật đạo nguyện thành, công phu không xả, thấy biết không tiêu mất, phát tâm như vậy gọi là thiên. Nếu biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện viên thành, không thấy một pháp nào ĺa tâm mà riêng có, lấy cái tâm hư không phát cái nguyện như hư không, làm cái hạnh như hư không, chứng cái quả hư không, cũng không có cái tướng hư không có thể đắc được, phát tâm như vậy gọi là viên.

Biết tám tướng trạng khác nhau trên đây là biết quán xét kỹ càng, biết quán xét kỹ càng th́ biết lấy bỏ, biết lấy bỏ th́ có thể phát tâm. Quán xét như thế nào? Là xem sự phát tâm của ta, trong tám tướng trạng trên đây, là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy bỏ như thế nào? Là bỏ tà, bỏ ngụy, bỏ tiểu, bỏ thiên, lấy chánh, lấy chân, lấy đại, lấy viên. Phát tâm như vậy mới được gọi là chân chánh phát Tâm Bồ đề.

 

 

 

Chánh tông phần (Phần Chánh tông)

 

Nguyên văn:

此菩提心,諸善中王,必有因緣,方得發起。今言因緣,略有十種。何等為十?一者念佛重恩故;二者念父母恩故;三者念師長恩故;四者念施主恩故,五者念眾生恩故,六者念生死苦故,七者尊重己靈故,八者懺悔業障故,九者求生淨土故,十者為念正法得久住故。

Âm Hán Việt:

Thử Bồ đề tâm, chư thiện trung vương, tất hữu nhân duyên, phương đắc phát khởi. Kim ngôn nhân duyên, lược hữu thập chủng. Hà đẳng vi thập? Nhất giả niệm Phật trọng ân cố, nhị giả niệm phụ mẫu ân cố, tam giả niệm sư trưởng ân cố, tứ giả niệm thí chủ ân cố, ngũ giả niệm chúng sanh ân cố, lục giả niệm sanh tử khổ cố, thất giả tôn trọng kỷ linh cố, bát giả sám hối nghiệp chướng cố, cửu giả cầu sanh Tịnh độ cố, thập giả vị niệm chánh pháp đắc cửu trụ cố.

Dịch:

Tâm Bồ đề này là vua trong các pháp lành, phải có nhân duyên mới phát khởi được. Nhân duyên ấy, nay nói tóm lược th́ có mười thứ là : 1 là nhớ ơn sâu nặng của Đức Phật, 2 nhớ ơn cha mẹ, 3 nhớ ơn sư trưởng, 4 nhớ ơn thí chủ, 5 nhớ ơn chúng sanh, 6 nhớ khổ sanh tử, 7 v́ tôn trọng linh tánh của ḿnh, 8 sám hối nghiệp chướng, 9 cầu sanh Tịnh độ, 10 v́ mong muốn làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.

 

I. NIỆM PHẬT TRỌNG ÂN

 

Nguyên văn:

云何念佛重恩?謂我釋迦如來最初發心,為我等故,行菩薩道,經無量劫,備受諸苦。我造業時,佛則哀憐,方便教化;而我愚癡,不知信受。我墮地獄,佛復悲痛,欲代我苦;而我業重,不能救拔。我生人道,佛以方便,令種善根;世世生生,隨逐於我,心無暫捨。佛初出世,我尚沈淪;今得人身,佛已滅度。何罪而生末法?何福而預出家?何障而不見金身?何幸而躬逢舍利?如是思惟,向使不種善根,何以得聞佛法!不聞佛法,焉知常受佛恩!此恩此德,丘山難喻。自非發廣大心,行菩薩道,建立佛法,救度眾生,縱使粉骨碎身,豈能酬答?是為發菩提心第一因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm Phật trọng ân? Vị ngă Thích Ca Như Lai tối sơ phát tâm, vị ngă đẳng cố, hành Bồ Tát đạo, kinh vô lượng kiếp, bị thọ chư khổ. Ngă tạo nghiệp thời, Phật tắc ai lân, phương tiện giáo hóa, nhi ngă ngu si, bất tri tín thọ. Ngă đọa địa ngục, Phật phục bi thống, dục đại ngă khổ, nhi ngă nghiệp trọng, bất năng cứu bạt. Ngă sanh nhân đạo, Phật dĩ phương tiện, linh chủng thiện căn. Thế thế sanh sanh, tùy trục ư ngă, tâm vô tạm xả. Phật sơ xuất thế, ngă thượng trầm luân, kim đắc nhân thân, Phật dĩ diệt độ. Hà tội nhi sanh mạt pháp? Hà phước nhi dự xuất gia? Hà chướng nhi bất kiến kim thân? Hà hạnh nhi cung phùng Xá lợi? Như thị tư duy, hướng sử bất chủng thiện căn, hà dĩ đắc văn Phật pháp! Bất văn Phật pháp, yên tri thường thọ Phật ân! Thử ân thử đức, khâu sơn nan dụ! Tự phi phát quảng đại tâm, hành Bồ Tát đạo, kiến lập Phật pháp, cứu độ chúng sanh, túng sử phấn cốt toái thân, khởi năng thù đáp! Thị vi phát Bồ đề tâm đệ nhất nhân duyên dă.

Dịch:

Thế nào là nhớ ơn nặng của Phật? Đức Phật Thích Ca Như Lai của ta, lúc mới phát tâm, đă v́ chúng ta mà tu Bồ tát đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ các thứ khổ cực. Khi ta tạo nghiệp, Đức Phật xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu si, không chịu tin theo. Ta đọa địa ngục, Phật càng thương xót, muốn thay ta chịu lấy khổ sở, nhưng v́ nghiệp ta quá nặng, không thể cứu vớt. Ta sinh làm người, Phật dùng phương tiện khiến cho ta gieo trồng căn lành.

Đời đời kiếp kiếp, Phật luôn theo ta, ḷng không tạm bỏ chốc lát. Khi Phật xuất thế ta c̣n trầm luân, nay được thân người Phật đă diệt độ. Tội lỗi ǵ mà sinh vào thời mạt pháp, phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia, nghiệp chướng ǵ mà không thấy được thân vàng của Phật, may mắn nào lại được cung nghinh xá lợi của Ngài. Suy nghĩ như vậy mới thấy, nếu đời quá khứ không gieo trồng căn lành th́ làm sao được nghe Phật pháp, không nghe Phật pháp th́ làm sao được biết thường thọ ân đức của Phật. Ân đức này, núi non cũng khó sánh bằng. Nếu không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, xây dựng hộ tŕ Phật pháp, cứu độ chúng sanh, th́ dù cho tan xương nát thịt cũng không thể đền đáp được. Đó là nhân duyên thứ nhất của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

II. NIỆM PHỤ MẪU ÂN

 

Nguyên văn:

云何念父母恩?哀哀父母,生我劬勞,十月三年,懷胎乳哺;推幹去溼,咽苦吐甘,才得成人,指望紹繼門風,供承祭祀。今我等既已出家,濫稱釋子,忝號沙門。甘旨不供,祭掃不給。生不能養其口體,死不能導其神靈。於世間則為大損,於出世又無實益,兩途既失,重罪難逃。如是思惟,惟有百劫千生,常行佛道,十方三世,普度眾生。則不惟一生父母,乃至生生父母,俱蒙拔濟。不惟一人父母,乃至人人父母,盡可超升。是為發菩提心第二因緣也。

Vân hà niệm phụ mẫu ân? Ai ai phụ mẫu, sanh ngă cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ; thôi can khứ thấp, yến khổ thổ cam, tài đắc thành nhân, chỉ vọng thiệu kế môn phong, cung thừa tế tự. Kim ngă đẳng kư dĩ xuất gia, lạm xưng Thích tử, thiểm hiệu Sa môn. Cam chỉ bất cung, tế tảo bất cấp, sanh bất năng dưỡng kỳ khẩu thể, tử bất năng đạo kỳ thần linh. Ư thế gian tắc vi đại tổn, ư xuất thế hựu vô thật ích, lưỡng đồ kư thất, trọng tội nan đào. Như thị tư duy, duy hữu bách kiếp thiên sanh, thường hành Phật đạo, thập phương tam thế, phổ độ chúng sanh. Tắc bất duy nhất sanh phụ mẫu, năi chí sanh sanh phụ mẫu, câu mông bạt tế. Bất duy nhất nhân phụ mẫu, năi chí nhân nhân phụ mẫu, tận khả siêu thăng. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ nhị nhân duyên dă.

Dịch:

Thế nào là nhớ ơn cha mẹ? Thương thay cha mẹ sinh ta khó nhọc, mười tháng mang thai ba năm bú mớm, nhường khô nằm ướt, nuốt đắng nhả ngọt, mới được nên người. Mong ta tiếp nối gia phong, lo phần tế tự. Mà nay ta đă xuất gia, lạm xưng Thích tử, nhục hiệu Sa môn, đồ ngon vật ngọt đă không phụng dưỡng, cúng tế chạp tảo càng không chu tất. Cha mẹ c̣n sống, ta đă không thể nuôi dưỡng, khi cha mẹ qua đời, ta lại không thể hướng dẫn thần thức. Đối với phương diện thế gian là sự có lỗi lớn, đối với phương tiện xuất thế lại không có ích chi. Hai đường đều lỗi th́ tội nặng khó thoát. Suy nghĩ như thế, chỉ có có cách trong trăm đời ngàn kiếp thường hành Phật đạo, mười phương ba đời khắp độ chúng sanh. Được như thế th́ không phải chỉ cha mẹ một đời, mà song thân nhiều đời nhiều kiếp đều được độ thoát; không phải chỉ cha mẹ một người, mà song thân tất cả mọi người cùng được siêu thăng. Đó là nhân duyên thứ hai của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

III. NIỆM SƯ TRƯỞNG ÂN

 

Nguyên văn:

云何念師長恩?父母雖能生育我身,若無世間師長,則不知禮義;若無出世師長,則不解佛法。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm sư trưởng ân? Phụ mẫu tuy năng sanh dục ngă thân, nhược vô thế gian sư trưởng, tắc bất tri lễ nghĩa; nhược vô xuất thế sư trưởng, tắc bất giải Phật pháp.

Dịch:

Thế nào là nhớ ơn sư trưởng? Cha mẹ tuy sinh dưỡng sắc thân ta, nhưng nếu không có sư trưởng thế gian th́ không hiểu biết lễ nghĩa; không có sư trưởng xuất thế th́ không hiểu Phật pháp.

 

 

Nguyên văn:

不知禮義,則同於異類;不解佛法,則何異俗人。今我等粗知禮義,略解佛法,袈裟被體,戒品沾身,此之重恩,從師長得。若求小果,僅能自利;今為大乘,普願利人。則世出世間二種師長,俱蒙利益。是為發菩提心第三因緣也。

Âm Hán Việt:

Bất tri lễ nghĩa, tắc đồng ư dị loại. Bất giải Phật pháp, tắc hà dị tục nhân. Kim ngă đẳng thô tri lễ nghĩa, lược giải Phật pháp, ca sa bị thể, giới phẩm triêm thân, thử chi trọng ân, tùng sư trưởng đắc. Nhược cầu tiểu quả, cẩn năng tự lợi, kim vị đại thừa, phổ nguyện lợi nhân. Tắc thế, xuất thế gian nhị chủng sư trưởng, câu mông lợi ích. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ tam nhân duyên dă.

Dịch:

Không hiểu biết lễ nghĩa th́ chẳng khác ǵ cầm thú, Phật pháp không hiểu th́ cũng như người phàm tục. Nay ta được biết chút ít về lễ nghĩa, được hiểu sơ lược về Phật pháp, ca sa trang nghiêm đắp thân, giới pháp nhuận thấm thân ḿnh, được như thế là nhờ ân đức sâu nặng của sư trưởng. Nếu chỉ cầu quả nhỏ th́ chỉ có lợi riêng cho bản thân ḿnh mà thôi. Nay phải phát tâm đại thừa, phổ nguyện lợi ích hết thảy chúng sanh. Như thế th́ sư trưởng thế gian và sư trưởng xuất thế đều được lợi ích. Đó là nhân duyên thứ ba của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

IV. NIỆM THÍ CHỦ ÂN

 

Nguyên văn:

云何念施主恩?謂我等今者日用所資,並非己有。二時粥飯,四季衣裳,疾病所需,身口所費,此皆出自他力,將為我用。彼則竭力躬耕,尚難糊口;我則安坐受食,猶不稱心。彼則紡織不已,猶自艱難;我則安服有餘,寧知愛惜。彼則蓽門蓬戶,擾攘終身;我則廣宇閑庭,優悠卒歲。以彼勞而供我逸,於心安乎?將他利而潤己身,於理順乎?自非悲智雙運,福慧二嚴,檀信沾恩,眾生受賜,則粒米寸絲,酬償有分,惡報難逃。是為發菩提心第四因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm thí chủ ân? Vị ngă đẳng kim giả nhật dụng sở tư, tịnh phi kỷ hữu. Nhị thời chúc phạn, tứ quư y thường, tật bệnh sở nhu, thân khẩu sở phí, thử giai xuất tự tha lực, tương vi ngă dụng. Bỉ tắc kiệt lực cung canh, thượng nan hồ khẩu, ngă tắc an tọa thọ thực, do bất xứng tâm. Bỉ tắc phưởng chức bất dĩ, do tự gian nan, ngă ư an phục hữu dư, ninh tri ái tích. Bỉ tắc tất môn bồng hộ, nhiễu nhương chung thân, ngă tắc quảng vũ nhàn đ́nh, ưu du tuất tuế. Dĩ bỉ lao nhi cung ngă dật, ư tâm an hồ? Tương tha lợi nhi nhuận kỷ thân, ư lư thuận hồ? Tự phi bi trí song vận, phước huệ nhị nghiêm, đàn tín triêm ân, chúng sanh thọ tứ, tắc lạp mễ thốn ti, thù thường hữu phận, ác báo nan đào. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ tứ nhân duyên dă.

Dịch:

Nhớ ơn thí chủ là thế nào? Chúng ta ngày nay, mọi thứ cần dùng hàng ngày đâu phải của ḿnh. Cơm cháo hai buổi, quần áo bốn mùa, tật bịnh cần dùng, thân miệng tiêu xài, đều xuất từ sức lực của kẻ khác mà đem đến cho ta sử dụng. Người nhọc sức cày cấy, c̣n khó nuôi miệng, ta ngồi không mà ăn, vẫn chưa vừa ư. Kẻ dệt đan măi hoài mà vẫn gian nan cực khổ, c̣n ta an nhàn y phục thừa thăi, há không thương tiếc? Họ nhà tranh cửa lá, cực nhọc suốt đời, c̣n ta pḥng lớn sân rộng, thong thả cả năm. Đem cái cực nhọc của họ cung phụng cái an nhàn cho ta, làm sao an ḷng. Đem cái lợi ích của người để cung cấp sự no ấm cho thân xác ḿnh, có hợp lư chăng? Do đó, phải vận dụng cả hai thứ bi trí, trang nghiêm cả hai mặt phước huệ, để thí chủ nhờ ơn, chúng sanh được phước, nếu không th́ dù chỉ là một hạt gạo, một tấc vải, vẫn phải có phần trả nợ. Đó là nhân duyên thứ tư của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

V. NIỆM CHÚNG SINH ÂN

 

Nguyên văn:

云何念眾生恩?謂我與眾生,從曠劫來,世世生生,互為父母,彼此有恩。今雖隔世昏迷,互不相識。以理推之,豈無報效。今之披毛戴角,安知非昔為其子乎?今之蝡動蜎飛,安知不曾為我父乎?每見幼離父母,長而容貌都忘;何況宿世親緣,今則張王難記。彼其號呼於地獄之下,宛轉於餓鬼之中,苦痛誰知,饑虛安訴。我雖不見不聞,彼必求拯求濟。非經不能陳此事,非佛不能道此言。彼邪見人,何足以知此。是故菩薩觀於螻蟻,皆是過去父母,未來諸佛。常思利益,念報其恩。是為發菩提心第五因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm chúng sanh ân? Vị ngă dữ chúng sanh, tùng khoáng kiếp lai, thế thế sanh sanh, hỗ vi phụ mẫu, bỉ thử hữu ân. Kim tuy cách thế hôn mê, hỗ bất tương thức. Dĩ lư thôi chi, khởi vô báo hiệu! Kim chi phi mao đái giác, an tri phi tích vi kỳ tử hồ? Kim chi nhuyễn động quyên phi, an tri bất tằng vi ngă phụ hồ! Mỗi kiến ấu ly phụ mẫu, trưởng nhi dung mạo đô vong, hà huống túc thế thân duyên, kim tắc Trương Vương nan kư. Bỉ kỳ hào hô ư địa ngục chi hạ, uyển chuyển ư ngạ quỷ chi trung, khổ thống thùy tri, cơ hư an tố. Ngă tuy bất kiến bất văn, bỉ tất cầu chửng cầu tế. Phi kinh bất năng trần thử sự, phi Phật bất năng đạo thử ngôn. Bỉ tà kiến nhân, hà túc dĩ tri thử. Thị cố Bồ Tát quán ư lâu nghị, giai thị quá khứ phụ mẫu, vị lai chư Phật. Thường tư lợi ích, niệm báo kỳ ân. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ ngũ nhân duyên dă.

Dịch:

Thế nào là nhớ ơn chúng sanh? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp thay đổi làm cha mẹ, kia đây đều có ơn với nhau. Nay tuy cách đời hôn mê, không nhớ biết nhau, nhưng lấy lư mà suy ra th́ làm sao không đem sức báo đáp! Ngày nay đội lông mang sừng, nhưng biết đâu kiếp trước ta không phải là con cái của chúng. Hiện tại là các loài ḅ bay máy chạy, nhưng biết đâu quá khứ chúng đă không phải là cha của ta. Thường thường nh́n thấy thơ ấu mà ĺa xa cha mẹ th́ lớn lên đă quên hết h́nh dáng song thân, huống chi cha mẹ con cái đời trước, kiếp trước là họ Trương hay là họ Vương, ngày nay khó mà nhớ rơ. Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngư trong ngạ quỉ, thống khổ ai biết, đói khát kêu ai. Tuy ta không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu độ. Ngoài Kinh ra nơi đâu bày tỏ được việc này, không Phật chẳng ai chỉ rơ cảnh ấy. C̣n kẻ tà kiến làm sao có đủ sức mà biết được. Cho nên Bồ tát quán sát sâu kiến thấy toàn là cha mẹ quá khứ và chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng. Đó là nhân duyên thứ năm của sự phát Tâm Bồ đề.

 

VI. NIỆM SANH TỬ KHỔ

 

Nguyên văn:

云何念生死苦?謂我與眾生,從曠劫來,常在生死,未得解脫。人間天上,此界他方,出沒萬端,升沈片刻,俄焉而天,俄焉而人,俄焉而地獄、畜生、餓鬼。黑門朝出而暮還,鐵窟暫離而又入。登刀山也,則舉體無完膚;攀劍樹也,則方寸皆割裂。熱鐵不除饑,吞之則肝腸盡爛,烊銅難療渴,飲之則骨肉都糜。利鋸解之,則斷而復續;巧風吹之,則死已還生;猛火城中,忍聽叫嗥之慘;煎熬盤裏,但聞苦痛之聲;冰凍始凝,則狀似青蓮蕊結;血肉既裂,則身如紅藕華開。一夜死生,地下每經萬遍;一朝苦痛,人間已過百年。頻煩獄卒疲勞,誰信閻翁教誡!受時知苦,雖悔恨以何追;脫已還忘,其作業也如故。鞭驢出血,誰知吾母之悲;牽豕就屠,焉識乃翁之痛。

Âm Hán Việt:

Vân hà niệm sanh tử khổ? Vị ngă dữ chúng sanh, tùng khoáng kiếp lai, thường tại sanh tử, vị đắc giải thoát. Nhân gian thiên thượng, thử giới tha phương, xuất một vạn đoan, thăng trầm phiến khắc, nga yên nhi thiên, nga yên nhi nhân, nga yên nhi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ; hắc môn triêu xuất nhi mộ hoàn, thiết quật tạm ly nhi hựu nhập. Đăng đao sơn dă, tắc cử thể vô hoàn phu. Phan kiếm thọ dă, tắc phương thốn giai cát liệt. Nhiệt thiết bất trừ cơ, thôn chi tắc can trường tận lạn, dương đồng nan liệu khát, ẩm chi tắc cốt nhục đô mi. Lợi cứ giải chi, tắc đoạn nhi phục tục; xảo phong xuy chi, tắc tử dĩ hoàn sanh; mănh hỏa thành trung, nhẫn thính khiếu hào chi thảm; tiên ngao bàn lư, đăn văn khổ thống chi thanh; băng đống thủy ngưng, tắc trạng tự thanh liên nhụy kết; huyết nhục kư liệt, tắc thân như hồng ngẫu hoa khai. Nhất dạ tử sanh, địa hạ mỗi kinh vạn biến; nhất triêu khổ thống, nhân gian dĩ quá bách niên. Tần phiền ngục tốt b́ lao, thùy tín Diêm ông giáo giới! Thọ thời tri khổ, tuy hối hận dĩ hà truy; thoát dĩ hoàn vong, kỳ tác nghiệp dă như cố. Tiên lư xuất huyết, thùy tri ngô mẫu chi bi; khiên thỉ tựu đồ, yên thức năi ông chi thống.

Dịch:

Thế nào là nhớ khổ sinh tử? Ta cùng với chúng sanh, từ vô lượng kiếp đến nay, cứ ở măi trong ṿng luân hồi sinh tử, chưa được giải thoát. Khi sanh trong loài người, lúc ở trên thiên cảnh, khi ở thế giới này, lúc ở phương khác, ra vào đủ cách, lên xuống liền liền. Thoáng chốc làm trời, thoáng chốc làm người, thoáng chốc sanh vào cơi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Cửa đen sáng ra chiều về, hang sắt mới tạm ĺa khỏi lại bước vào. Lên núi đao th́ thân thể không c̣n mảnh da nguyên vẹn, vào rừng kiếm th́ tim gan cũng bị cắt xả. Sắt nóng không hết đói, mà nuốt vào th́ ruột gan cháy nát, đồng sôi đâu khỏi khát, mà uống vào th́ xương tan thịt nát. Cưa bén cắt thân, cắt đứt ra là liền lại, gió lạ thổi vào th́ chết rồi lại sống ngay. Trong thành lửa dữ chỉ nghe tiếng thét gào thảm thiết, trên bàn chưng nướng toàn nghe âm thanh đau khổ thống thiết. Băng tuyết đông lại th́ như sen xanh kết nhụy, máu thịt ră ra th́ như sen đỏ mới nở. Ở trong địa ngục, một đêm chết sống thường đến cả vạn lần, một buổi thống khổ mà như trăm năm ở nhân gian. Măi hoài làm cho ngục tốt mệt nhọc, nhưng có ai chịu nghe lời Diêm vương khuyên bảo. Khi thọ quả báo mới biết đau khổ, dẫu hối hận cũng đâu có kịp; lúc thoát khỏi cảnh khổ th́ lại quên ngay, vẫn tạo nghiệp y như cũ. Đánh con lừa đến đổ máu, đâu biết đó là cái bi thảm của mẹ ḿnh; lôi con heo đến ḷ thịt, nào hay chính là cái đau thương của cha ta.

  

Nguyên văn:

心無常主,類商賈而處處奔馳;身無定形,似房屋而頻頻遷徙。大千塵點,難窮往返之身;四海波濤,孰計別離之淚。峨峨積骨,過彼崇山;莽莽橫屍,多於大地。向使不聞佛語,此事誰見誰聞!未睹佛經,此理焉知焉覺!其或依前貪戀,仍舊癡迷;只恐萬劫千生,一錯百錯。人身難得而易失,良時易往而難追。道路冥冥,別離長久;三途惡報,還自受之。痛不可言,誰當相代?興言及此,能不寒心?是故宜應斷生死流,出愛欲海;自他兼濟,彼岸同登。曠劫殊勛,在此一舉。是為發菩提心第六因緣也。

Âm Hán Việt:

Tâm vô thường chủ, loại thương cổ nhi xứ xứ bôn tŕ, thân vô định h́nh, tự pḥng ốc nhi tần tần thiên tỷ. Đại thiên trần điểm, nan cùng văng phản chi thân, tứ hải ba đào, thục kế biệt ly chi lệ. Nga nga tích cốt, quá bỉ sùng sơn. Măng măng hoành thi, đa ư đại địa. Hướng sử bất văn Phật ngữ, thử sự thùy kiến thùy văn! Vị đổ Phật kinh, thử lư yên tri yên giác! Kỳ hoặc y tiền tham luyến, nhưng cựu si mê; chỉ khủng vạn kiếp thiên sanh, nhất thác bách thác. Nhân thân nan đắc nhi dị thất, lương thời dị văng nhi nan truy. Đạo lộ minh minh, biệt ly trường cửu, tam đồ ác báo, hoàn tự thọ chi. Thống bất khả ngôn, thùy đương tương đại? Hưng ngôn cập thử, năng bất hàn tâm? Thị cố nghi ưng đoạn sanh tử lưu, xuất ái dục hải; tự tha kiêm tế, bỉ ngạn đồng đăng. Khoáng kiếp thù huân, tại thử nhất cử. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ lục nhân duyên dă.

Dịch:

Tâm không phải thường trụ nên giống như thương khách bôn ba giong ruổi mọi nơi, thân không có h́nh dáng cố định nên khác nào pḥng ốc thường dời đổi. Bụi nhỏ của cả đại thiên thế giới cũng khó sánh thân luân hồi, nước đầy trong bốn biển vẫn không bằng lệ biệt ly. Xương mà chất th́ hơn núi cao, thây nằm ngang dọc th́ nhiều hơn đại địa. Giả sử không được nghe lời Phật th́ việc ấy ai thấy ai nghe, chưa được đọc văn Kinh th́ lư này ai hay ai biết. Vậy mà có kẻ vẫn tham luyến như xưa, si mê như cũ, chỉ e rằng muôn kiếp ngàn đời một lần sai lầm là trăm lần sai lầm. Thân người khó được mà dễ mất, giờ tốt dễ trôi mà khó kéo. Rồi đường hướng mịt mờ, biệt ly dài dặc, ác báo tam đồ tự ḿnh phải chịu, thống khổ không nói hết được, mà ai chịu thay. Tŕnh bày đến đây, há chẳng lo sợ sao! Cho nên hăy dứt nguồn sinh tử, vượt bể ái dục, ḿnh người cùng siêu thoát, đồng lên bờ giác. Từ vô lượng kiếp cho đến nay quan trọng là ở chỗ này. Đó là nhân duyên thứ sáu của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

VII. TÔN TRỌNG KỶ LINH

 

Nguyên văn:

云何尊重己靈?謂我現前一心,直下與釋迦如來無二無別。云何世尊無量劫來,早成正覺;而我等,昏迷顛倒,尚做凡夫?又佛世尊,則具有無量神通、智慧、功德莊嚴;而我等,則但有無量業繫、煩惱、生死纏縛?心性是一,迷悟天淵。靜言思之,豈不可恥!譬如無價寶珠,沒在淤泥,視同瓦礫,不加愛重,是故宜應以無量善法,對治煩惱。修德有功,則性德方顯;如珠被濯,懸在高幢,洞達光明,映蔽一切。可謂不孤佛化,不負己靈。是為發菩提心第七因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà tôn trọng kỷ linh? Vị ngă hiện tiền nhất tâm, trực hạ dữ Thích ca Như Lai vô nhị vô biệt. Vân hà Thế Tôn vô lượng kiếp lai, tảo thành Chánh giác, nhi ngă đẳng, hôn mê điên đảo, thượng tố phàm phu? Hựu Phật Thế Tôn, tắc cụ hữu vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm; nhi ngă đẳng, tắc đăn hữu vô lượng nghiệp hệ, phiền năo, sanh tử triền phược? Tâm tánh thị nhất, mê ngộ thiên uyên. Tĩnh ngôn tư chi, khởi bất khả sỉ! Thí như vô giá bảo châu, một tại ứ nê, thị đồng ngơa lịch, bất gia ái trọng, thị cố nghi ưng dĩ vô lượng thiện pháp, đối trị phiền năo. Tu đức hữu công, tắc tánh đức phương hiển; như châu bị trạc, huyền tại cao tràng, đỗng đạt quang minh, ánh tế nhất thiết. Khả vị bất cô Phật hóa, bất phụ kỷ linh. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ thất nhân duyên dă.

Dịch:

Thế nào là trọng linh tánh của ḿnh? Tâm hiện tiền của chúng ta cùng với đức Thích Ca Như Lai không hai không khác. Vậy mà tại sao Thế Tôn từ vô lượng kiếp đă sớm thành chánh giác, c̣n chúng ta th́ vẫn c̣n là phàm phu hôn mê điên đảo. Lại nữa Đức Phật Thế Tôn th́ có vô lượng thần thông, trí huệ, công đức trang nghiêm, c̣n chúng ta chỉ có vô biên nghiệp chướng phiền năo, sinh tử buộc ràng. Tâm tánh là một mà v́ mê ngộ nên cách xa một trời một vực. Lặng đi mà nghĩ mới thấy hổ thẹn. Ví như ngọc báu vô giá vùi xuống bùn dơ mà xem như ngói gạch, không chút thương tiếc quí trọng. V́ thế hăy dùng vô lượng thiện pháp mà đối trị vô biên phiền năo. Tu đức có công, th́ tánh đức mới lộ. Bấy giờ th́ như ngọc báu được rửa, treo trên phướn cao, ánh sáng rực rỡ, chói lấp tất cả. Thế mới gọi là không uổng công Đức Phật giáo hóa, không phụ tánh linh của ḿnh. Đó là nhân duyên thứ bảy của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

VIII. SÁM HỐI NGHIỆP CHƯỚNG

 

Nguyên văn:

云何懺悔業障?經言:犯一吉羅,如四天王壽五百歲墮泥犁中。吉羅小罪,尚獲此報,何況重罪,其報難言。今我等日用之中,一舉一動,恒違戒律;一餐一水,頻犯尸羅。一日所犯亦應無量,何況終身歷劫?所起之罪,更不可言矣!且以五戒言之,十人九犯,少露多藏。五戒名為優婆塞戒,尚不具足,何況沙彌、比丘、菩薩等戒,又不必言矣!

Âm Hán Việt:

Vân hà sám hối nghiệp chướng? Kinh ngôn: "Phạm nhất kiết la, như Tứ thiên vương thọ ngũ bách tuế đọa nê lê trung". Kiết la tiểu tội, thượng hoạch thử báo, hà huống trọng tội, kỳ báo nan ngôn. Kim ngă đẳng nhật dụng chi trung, nhất cử nhất động, hằng vi giới luật, nhất xan nhất thủy, tần phạm thi la. Nhất nhật sở phạm diệc ưng vô lượng, hà huống chung thân lịch kiếp? Sở khởi chi tội, cánh bất khả ngôn hỹ! Thả dĩ ngũ giới ngôn chi, thập nhân cửu phạm, thiểu lộ đa tàng. Ngũ giới danh vi Ưu bà tắc giới, thượng bất cụ túc, hà huống Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát đẳng giới, hựu bất tất ngôn hỹ!

Dịch:

Thế nào là sám hối nghiệp chướng? Kinh dạy: "Phạm một tội kiết la cũng phải đọa địa ngục bằng năm trăm tuổi thọ của bốn Thiên vương. Kiết la là tội nhỏ mà c̣n bị quả báo đến thế, huống chi tội nặng, quả báo thật khó tả. Nay chúng ta, mỗi cử chỉ động tác hằng ngày, hằng trái với giới luật, lúc ăn lúc uống thường phạm vào thi la. Một ngày tội lỗi đă phạm, cũng đă vô lượng, huống chi trọn đời nhiều kiếp, tội lỗi đă phạm khó mà nói hết. Cứ lấy ngũ giới mà xét, th́ mười người đă có đến chín người phạm, phát lộ th́ ít mà che giấu lại nhiều. Ngũ giới là giới của Ưu bà tắc mà c̣n không giữ ǵn đầy đủ, huống chi các giới Sa di, Tỳ kheo, Bồ tát, th́ không cần nói đến vậy.

 

 

Nguyên văn:

問其名,則曰我比丘也!問其實,則尚不足為優婆塞也。豈不可愧哉!當知佛戒不受則已,受則不可毀犯。不犯則已,犯則終必墮落。若非自愍愍他,自傷傷他,身口併切,聲淚俱下。普與眾生求哀懺悔,則千生萬劫惡報難逃。是為發菩提心第八因緣也。

Âm Hán Việt:

Vấn kỳ danh, tắc viết: "Ngă Tỷ kheo dă!" Vấn kỳ thật, tắc thượng bất túc vi Ưu bà tắc dă. Khởi bất khả quư tai! Đương tri Phật giới bất thọ tắc dĩ, thọ tắc bất khả hủy phạm. Bất phạm tắc dĩ, phạm tắc chung tất đọa lạc. Nhược phi tự mẫn mẫn tha, tự thương thương tha, thân khẩu tịnh thiết, thanh lệ câu hạ, phổ dữ chúng sanh cầu ai sám hối, tắc thiên sanh vạn kiếp ác báo nan đào. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ bát nhân duyên dă.

Dịch:

Hỏi cái tên th́ nói "Tôi là Tỳ kheo", hỏi cái thật th́ hăy c̣n chưa đủ làm Ưu bà tắc, như thế mà không xấu hổ sao! Phải biết, giới luật của Phật không thọ th́ thôi, thọ th́ không được hủy phạm, v́ không phạm th́ thôi, phạm th́ cuối cùng nhất định bị đọa lạc. Trừ phi cảm thương thân ḿnh, thân người, lại xót xa cho ḿnh và kẻ khác, thân và khẩu cùng tha thiết, lệ rơi theo tiếng, khắp cùng với chúng sanh khẩn cầu sám hối, nếu chẳng thế th́ quả báo ác ngàn đời muôn kiếp cũng khó tránh khỏi. Đó là nhân duyên thứ tám của sự phát Tâm Bồ đề.

 

 

IX. CẦU SANH TỊNH ĐỘ

 

Nguyên văn:

云何求生淨土?謂在此土修行,其進道也難;彼土往生,其成佛也易。易,故一生可致;難,故累劫未成。是以往聖前賢,人人趨向;千經萬論,處處指歸。末世修行,無越於此。然經稱:少善不生,多福乃致。言多福,則莫若執持名號;言多善,則莫若發廣大心。是以暫持聖號,勝於布施百年。一發大心,超過修行歷劫。蓋念佛本期作佛,大心不發,則雖念奚為;發心原為修行,淨土不生,則雖發易退。是則下菩提種,耕以念佛之犁,道果自然增長;乘大願船,入於淨土之海,西方決定往生。是為發菩提心第九因緣也。

Âm Hán Việt:

Vân hà cầu sanh Tịnh độ? Vị tại thử độ tu hành, kỳ tấn đạo dă nan. Bỉ độ văng sanh, kỳ thành Phật dă dị. Dị, cố nhất sanh khả trí; nan, cố lụy kiếp vị thành. Thị dĩ văng thánh tiền hiền, nhân nhân xu hướng, thiên kinh vạn luận, xứ xứ chỉ quy. Mạt thế tu hành, vô việt ư thử. Nhiên kinh xưng: "Thiểu thiện bất sanh, đa phước năi trí". Ngôn đa phước, tắc mạc nhược chấp tŕ danh hiệu; ngôn đa thiện, tắc mạc nhược phát quảng đại tâm. Thị dĩ tạm tŕ thánh hiệu, thắng ư bố thí bách niên. Nhất phát đại tâm, siêu quá tu hành lịch kiếp. Cái niệm Phật bổn kỳ tác Phật, đại tâm bất phát, tắc tuy niệm hề vi; phát tâm nguyên vị tu hành, Tịnh độ bất sanh, tắc tuy phát dị thối. Thị tắc hạ Bồ đề chủng, canh dĩ niệm Phật chi lê, đạo quả tự nhiên tăng trưởng; thừa đại nguyện thuyền, nhập ư Tịnh độ chi hải, Tây phương quyết định văng sanh. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ cửu nhân duyên dă.

Dịch:

Thế nào là cầu sinh Tịnh độ? Ở cơi này tu hành th́ sự tiến đạo rất khó khăn, văng sinh cơi kia th́ sự thành Phật cũng rất dễ dàng. Dễ dàng nên một đời đă có thể đạt đến, khó nên nhiều kiếp vẫn chưa thành tựu. Do đó mà thánh ngày xưa, hiền ngày trước, người người xu hướng; kinh cả ngàn, luận cả vạn, chỗ chỗ chỉ qui. Sự tu hành trong thời kỳ mạt pháp này, không có pháp nào vượt qua pháp môn này. Nhưng kinh đă nói: " Căn lành nhỏ th́ khó được văng sanh, phước đức nhiều mới chắc chắn đến được". Nói phước đức nhiều th́ không chi bằng sự chấp tŕ danh hiệu, nói căn lành lớn th́ không chi bằng sự phát tâm quảng đại. V́ thế tạm tŕ danh hiệu Phật hơn cả trăm năm bố thí, một niệm phát tâm Bồ đề rộng lớn vượt hơn cả sự tu hành trong nhiều kiếp. V́ niệm Phật vốn mong thành Phật, vậy tâm lớn không phát th́ niệm Phật để làm chi; c̣n phát tâm vốn để tu hành, vậy Tịnh độ không sanh th́ có phát cũng dễ thối chuyển. Cho nên gieo hạt giống Bồ đề, cày bằng lưỡi cày niệm Phật, th́ đạo quả tự nhiên lớn lên; ngồi chiếc thuyền đại nguyện, vào trong bể cả Tịnh độ, th́ Tây phương Cực Lạc quyết định văng sanh. Đó là nhân duyên thứ chín của sự phát Tâm Bồ đề.

 

X. LINH CHÁNH PHÁP CỬU TRỤ

 

Nguyên văn:

云何令正法久住?謂我世尊,無量劫來,為我等故,修菩提道。難行能行,難忍能忍,因圓果滿,遂致成佛。既成佛已,化緣周訖,入於涅槃,正法像法,皆已滅盡,僅存末法,有教無人。邪正不分,是非莫辨,競爭人我,盡逐利名。舉目滔滔,天下皆是。不知佛是何人?法是何義?僧是何名?衰殘至此,殆不忍言!每一思及,不覺淚下。我為佛子,不能報恩,內無益於己,外無益於人;生無益於時,死無益於後。天雖高,不能覆我;地雖厚,不能載我。極重罪人,非我而誰?

Âm Hán Việt:

Vân hà linh chánh pháp cửu trụ? Vị ngă Thế Tôn, vô lượng kiếp lai, vị ngă đẳng cố, tu Bồ đề đạo. Nan hành năng hành, nan nhẫn năng nhẫn, nhân viên quả măn, toại trí thành Phật. Kư thành Phật dĩ, hóa duyên châu cật, nhập ư Niết bàn. Chánh pháp tượng pháp, giai dĩ diệt tận, cẩn tồn mạt pháp, hữu giáo vô nhân. Tà chánh bất phân, thị phi mạc biện, cạnh tranh nhân ngă, tận trục lợi danh, cử mục thao thao, thiên hạ giai thị. Bất tri Phật thị hà nhân? Pháp thị hà nghĩa? Tăng thị hà danh? Suy tàn chí thử, đăi bất nhẫn ngôn! Mỗi nhất tư cập, bất giác lệ hạ. Ngă vi Phật tử, bất năng báo ân, nội vô ích ư kỷ, ngoại vô ích ư nhân, sanh vô ích ư thời, tử vô ích ư hậu. Thiên tuy cao, bất năng phú ngă; địa tuy hậu, bất năng tải ngă. Cực trọng tội nhân, phi ngă nhi thùy?

Dịch:

Thế nào là làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài? Đức Thế Tôn của ta, từ vô lượng kiếp đến nay, v́ chúng ta mà tu đạo Bồ đề, Ngài đă làm việc khó làm, nhẫn sự khó nhẫn, nhân tṛn, quả măn, mới được thành Phật. Sau khi thành Phật, giáo hóa tṛn đầy, nhập vào Niết bàn. Nay th́ thời kỳ Chánh pháp tượng pháp đă diệt tận, chỉ c̣n tồn tại thời kỳ mạt pháp. Giáo pháp c̣n đó mà không người hành tŕ, tà chánh không phân, đúng sai lẫn lộn, tranh giành nhân ngă, măi chạy theo danh lợi. Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa ǵ, Tăng là người chi. Suy tàn đến thế, bất nhẫn thốt ra lời. Mỗi khi nghĩ đến, bất giác rơi lệ. Ta là con Phật mà ta không thể báo đáp ân đức của ngài. Trong vô ích cho ḿnh, ngoài vô ích cho người, sống vô ích đương thời, chết vô ích mai sau. Trời tuy cao cũng không che nổi ta, đất tuy dày cũng khó chở ta. Tội nhân cực trọng, không phải ta th́ là ai?

 

 

Nguyên văn:

由是痛不可忍,計無所出;頓忘鄙陋,忽發大心。雖不能挽回末運於此時,決當圖護持正法於來世。是故偕諸善友,同到道場;述為懺摩,建茲法會。發四十八之大願,願願度生;期百千劫之深心,心心作佛。從於今日,盡未來際,畢此一形,誓歸安養,既登九品,回入娑婆。俾得佛日重輝,法門再闡。僧海澄清於此界,人民被化於東方,劫運為之更延,正法得以久住。此則區區真實苦心。是為發菩提心第十因緣也。

Âm Hán Việt:

Do thị thống bất khả nhẫn, kế vô sở xuất; đốn vong bỉ lậu, hốt phát đại tâm. Tuy bất năng văn hồi mạt vận ư thử thời, quyết đương đồ hộ tŕ chánh pháp ư lai thế. Thị cố giai chư thiện hữu, đồng đáo đạo tràng; thuật vi sám ma, kiến tư pháp hội. Phát tứ thập bát chi đại nguyện, nguyện nguyện độ sanh; kỳ bách thiên kiếp chi thâm tâm, tâm tâm tác Phật. Tùng ư kim nhật, tận vị lai tế, tất thử nhất h́nh, thệ quy An dưỡng, kư đăng cửu phẩm, hồi nhập Ta bà. Tỷ đắc Phật nhật trùng huy, pháp môn tái xiển, tăng hải trừng thanh ư thử giới, nhân dân bị hóa ư Đông phương, kiếp vận vi chi cánh diên, chánh Pháp đắc dĩ cửu trụ. Thử tắc khu khu chân thật khổ tâm. Thị vi phát Bồ đề tâm đệ thập nhân duyên dă.

Dịch:

V́ thế mà đau ḷng không thể nhẫn nổi, nhưng suy nghĩ th́ lại không thấy có cách nào khác hơn, nên quên ngay tư cách quê mùa, liền phát tâm rộng lớn. Tuy không thể văn hồi mạt vận ngay lúc này, nhưng quyết có thể hộ tŕ chánh pháp trong mai sau. V́ thế nên cùng với chư thiện hữu, cùng đến đạo tràng, soạn thuật sám pháp, lập pháp hội này, phát bốn mươi tám điều đại nguyện, nguyện nguyện hóa độ chúng sanh, mong thâm tâm suốt trăm ngàn đời kiếp, tâm tâm thành Phật, từ ngày hôm nay cho đến cùng tận đời vị lai, hết một đời này nguyện sanh Cực Lạc, lên chín phẩm xong th́ trở lại Ta bà. Khiến cho mặt trời Phật pháp rạng soi, pháp môn rộng mở, để tăng giới được trong lặng ở cơi này, dân chúng được tiếp hóa ngay cơi phương Đông, vận Chánh pháp nhờ đó mà kéo dài thêm nữa, Phật pháp do đó được tồn tại lâu dài. Đây là tấm ḷng khổ tâm chân thành, tha thiết nhỏ mọn của tôi. Đó là nhân duyên thứ mười của sự phát Tâm Bồ đề.

 

Lưu Thông Phần (Phần Lưu Thông)

Nguyên văn:

如是十緣備識,八法周知。則趨向有門,開發有地。相與得此人身,居於華夏。六根無恙,四大輕安,具有信心,幸無魔障。況今我等,又得出家,又受具戒,又遇道場,又聞佛法,又瞻舍利,又修懺法,又值善友,又具勝緣。不於今日發此大心,更待何日?惟願大眾,愍我愚誠;憐我苦志,同立此願,同發此心。未發者今發,已發者增長,已增長者今令相續。勿畏難而退怯,勿視易而輕浮,勿欲速而不久長,勿懈怠而無勇猛,勿委靡而不振起,勿因循而更期待,勿因愚鈍而一向無心,勿以根淺而自鄙無分。譬諸種樹,種久則根淺而日深;又如磨刀,磨久則刀鈍而成利。豈可因淺勿種,任其自枯;因鈍弗磨,置之無用?

Âm Hán Việt:

Như thị thập duyên bị thức, bát pháp châu tri, tắc xu hướng hữu môn, khai phát hữu địa. Tương dữ đắc thử nhân thân, cư ư Hoa Hạ. Lục căn vô dạng, tứ đại khinh an, cụ hữu tín tâm, hạnh vô ma chướng. Huống kim ngă đẳng, hựu đắc xuất gia, hựu thọ cụ giới, hựu ngộ đạo tràng, hựu văn Phật pháp, hựu chiêm xá lợi, hựu tu sám pháp, hựu trị thiện hữu, hựu cụ thắng duyên. Bất ư kim nhật phát thử đại tâm, cánh đăi hà nhật? Duy nguyện đại chúng, mẫn ngă ngu thành; lân ngă khổ chí, đồng lập thử nguyện, đồng phát thị tâm. Vị phát giả kim phát, dĩ phát giả tăng trưởng, dĩ tăng trưởng giả kim linh tương tục. Vật úy nan nhi thối khiếp, vật thị dị nhi khinh phù, vật dục tốc nhi bất cửu trường, vật giải đăi nhi vô dũng mănh, vật ủy mĩ nhi bất chấn khởi, vật nhân tuần nhi cánh kỳ đăi, vật nhân ngu độn nhi nhất hướng vô tâm, vật dĩ căn thiển nhi tự bỉ vô phận. Thí chư chủng thọ, chủng cửu tắc căn thiển nhi nhật thâm; hựu như ma đao, ma cửu tắc đao độn nhi thành lợi. Khởi khả nhân thiển vật chủng, nhậm kỳ tự khô; nhân độn phất ma, trí chi vô dụng?


Dịch: 

Như trên vậy mười nhân duyên đă hiểu rơ, tám tướng trạng đă biết, th́ xu hướng có lối, phát tâm có chỗ. Chúng ta nay được thân người, ở xứ Hoa Hạ, sáu căn khỏe mạnh đầy đủ, tứ đại nhẹ nhàng an lạc, tín tâm đầy đủ, may mắn lại không có chướng. Huống chi chúng ta ngày nay c̣n được xuất gia, được thọ cụ túc giới, được gặp đạo tràng, được nghe Phật pháp, được chiêm bái xá lợi, được tu tập sám pháp, được gặp bạn lành, được nhân duyên thù thắng tốt đẹp. Nếu ngày nay không phát tâm rộng lớn, th́ c̣n chờ đến ngày nào.
Cúi xin đại chúng thương cho tâm thành ngu muội của tôi, xót cho chí nguyện khổ sở của tôi, mà cùng lập nguyện ấy, đồng phát tâm này. Nếu chưa phát th́ nay phát, phát rồi th́ tăng trưởng, tăng trưởng rồi th́ tương tục không gián đoạn. Chớ sợ gian nan mà khiếp sợ thối lui, đừng cho dễ mà khinh thường, hời hợt, đừng ham mau mà chẳng lâu bền, đừng biếng nhác giải đăi mà thiếu dũng mănh, đừng uể oải mà không phấn khởi, đừng chần chờ mà kỳ hẹn măi, đừng v́ tối dốt mà cứ măi vô tâm, đừng v́ căn cơ cạn cợt mà tự khinh không có phần. Như trồng cây, trồng lâu th́ rễ cạn ngày càng sâu; như mài dao, mài măi th́ dao đùi cũng thành sắc bén; chẳng nên v́ rễ cạn mà không trồng, mặc cây khô héo, v́ dao đùi mà không mài, để dao vô dụng.

Nguyên văn:

又若以修行為苦,則不知懈怠尤苦。修行則勤勞暫時,安樂永劫;懈怠則偷安一世,受苦多生。況乎以淨土為舟航,則何愁退轉?又得無生為忍力,則何慮艱難?當知地獄罪人,尚發菩提於往劫;豈可人倫佛子,不立大願於今生。無始昏迷,往者既不可諫;而今覺悟,將來猶尚可追。然迷而未悟,固可哀憐;苟知而不行,尤為痛惜。若懼地獄之苦,則精進自生;若念無常之速,則懈怠不起。又須以佛法為鞭策,善友為提攜,造次弗離,終身依賴,則無退失之虞矣!勿言一念輕微,勿謂虛願無益。心真則事實,願廣則行深。虛空非大,心王為大;金剛非堅,願力最堅。大眾誠能不棄我語,則菩提眷屬從此聯姻。蓮社宗盟,自今締好,所願同生淨土,同見彌陀,同化眾生,同成正覺。則安知未來三十二相,百福莊嚴!不從今日發心立願而始也。願與大眾共勉之!幸甚幸甚!

Âm Hán Việt:

Hựu nhược dĩ tu hành vi khổ, tắc bất tri giải đăi vưu khổ. Tu hành tắc cần lao tạm thời, an lạc vĩnh kiếp; giải đăi tắc thâu an nhất thế, thọ khổ đa sanh. Huống hồ dĩ Tịnh độ vi chu hàng, tắc hà sầu thối chuyển? Hựu đắc vô sanh vi nhẫn lực, tắc hà lự gian nan? Đương tri địa ngục tội nhân, thượng phát Bồ đề ư văng kiếp; khởi khả nhân luân Phật tử, bất lập đại nguyện ư kim sanh. Vô thủy hôn mê, văng giả kư bất khả gián; nhi kim giác ngộ, tương lai do thượng khả truy. Nhiên mê nhi vị ngộ, cố khả ai lân; cẩu tri nhi bất hành, vưu vi thống tích. Nhược cụ địa ngục chi khổ, tắc tinh tấn tự sanh; nhược niệm vô thường chi tốc, tắc giải đăi bất khởi. Hựu tu dĩ Phật pháp vi tiên sách, thiện hữu vi đề huề. Tháo thứ phất ly, chung thân y lại, tắc vô thối thất chi ngu hỹ! Vật ngôn nhất niệm khinh vi, vật vị hư nguyện vô ích. Tâm chân tắc sự thật, nguyện quảng tắc hạnh thâm. Hư không phi đại, tâm vương vi đại; kim cương phi kiên, nguyện lực tối kiên. Đại chúng thành năng bất khí ngă ngữ, tắc Bồ đề quyến thuộc tùng thử liên nhân. Liên xă tông minh, tự kim đế hảo, sở nguyện đồng sanh Tịnh độ, đồng kiến Di Đà, đồng hóa chúng sanh, đồng thành Chánh giác. Tắc an tri vị lai tam thập nhị tướng, bách phước trang nghiêm! Bất tùng kim nhật phát tâm lập nguyện nhi thủy dă. Nguyện dữ đại chúng cộng miễn chi! Hạnh thậm hạnh thậm!


Dịch: 


Lại nữa, nếu cho tu hành là cực khổ mà không biết biếng nhác lại c̣n khổ hơn. Tu th́ khó nhọc tạm thời mà an vui vĩnh kiếp, c̣n biếng nhác th́ một đời tạm nhàn nhưng lắm kiếp chịu sự khổ đau. Huống chi lấy pháp môn Tịnh độ làm thuyền tàu th́ lo ǵ thối chuyển, lại được vô sanh làm sức nhẫn th́ sợ ǵ khó khăn. Nên biết, kẻ tội nhân trong cơi địa ngục mà c̣n phát Tâm Bồ đề từ bao kiếp trước, huống chi đă làm người, lại làm con Phật, mà không lập đại nguyện ngay trong đời này. Từ vô thỉ đến nay hôn mê mờ mịt, việc ǵ đă qua rồi đă không thể cản ngăn, mà ngày nay tỉnh ngộ, những việc trong tương lai c̣n có thể theo. Mê mà chưa ngộ, cố nhiên đáng thương; c̣n biết mà không làm, mới càng đáng tiếc. Nếu sợ cái khổ địa ngục th́ sự tinh tấn tự sinh, nhớ cái vô thường tấn tốc th́ tính biếng nhác không khởi. Lại nữa cần lấy Phật pháp làm roi dục, lấy thiện hữu làm tay dắt, trong khoảnh khắc cũng không tách rời, suốt cả một đời vẫn cố nương theo, th́ không lo lắng c̣n có sự thối chuyển nữa. Chớ bảo một niệm phát nguyện là nhỏ nhặt, đừng cho nguyện suông là vô ích. Tâm chân th́ sự thật, nguyện rộng th́ hạnh sâu. Hư không chẳng rộng lớn, tâm vương mới lớn. Kim cương đâu có cứng chắc, nguyện lực mới chắc. Đại chúng nếu không chê bỏ lời tôi, th́ quyến thuộc Bồ đề từ đây kết hợp, bạn hữu Liên xă từ đây kết giao, sở nguyện đồng sanh Tịnh độ, đồng thấy Di đà, đồng hóa chúng sanh, đồng thành Chánh giác. Như vậy th́ biết đâu ba mươi hai tướng tốt và trăm phước trang nghiêm sau này chẳng bắt đầu từ sự phát tâm lập nguyện trong ngày hôm nay. Nguyện cùng đại chúng chung nhau nỗ lực, như thế thật vô cùng may mắn!

 

Phụ Lục: Đại sư Tỉnh Am

Nguyên văn:

蓮社十一祖 清梵天

省庵法師

師,諱實賢,字思齊,號省庵。常熟時氏子,世儒業。幼出家,嚴習毗尼。尋入講筵,明性相之學。參“念佛者是誰”話,四閱月,忽然開悟曰:“我夢覺矣!”自是機鋒迅利,才辯縱橫,晝覽藏經,晚持佛號。燃指於阿育王山,佛前發四十八大願,感舍利放光。作《勸發菩提心文》,激勵四衆,誦諸多爲涕下。於雍正十二年四月十四日,面西寂然,送者麇至。忽開目曰:“吾去即來,生死事大,各自淨心,念佛可矣!”合掌連稱佛名而逝。

贊曰:

悲心廣大
菩提心文
四十八願

願力宏深
行解真實
瑞應超倫
蓮宗一脈

賴以常存

或說偈曰:

見賢思齊精進修  
業儒讀書勝大坵
從佛專研毗尼法
 
參禪徹悟誰自由
大哉菩提激勵發
 
至矣誓願天地悠
舍利放光照千古
 
尊者恩澤萬劫留

Âm Hán Việt:

Liên Xă thập nhất Tổ Thanh Phạm Thiên

Tỉnh Am Pháp sư

Sư, húy Thật Hiền, tự Tư Tề, hiệu Tỉnh Am. Thường Thục Thời thị tử, thế Nho nghiệp. Ấu xuất gia, nghiêm tập Tỳ ni. Tầm nhập giảng diên, minh tánh tướng chi học. Tham "niệm Phật giả thị thùy" thoại, tứ duyệt nguyệt, hốt nhiên khai ngộ viết: "Ngă mộng giác hỹ!" Tự thị cơ phong tấn lợi, tài biện tung hoành, trú lăm tạng kinh, văn tŕ Phật hiệu. Nhiên chỉ ư A Dục Vương sơn, Phật tiền phát tứ thập bát đại nguyện, cảm xá lợi phóng quang. Tác "Khuyến phát Bồ đề tâm văn", khích lệ tứ chúng, tụng giả đa vi thế hạ. Ư Ung Chánh thập nhị niên tứ nguyệt thập tứ nhật, diện tây tịch nhiên, tống giả quần chí. Hốt khai mục viết: "Ngô khứ tức lai, sanh tử sự đại, các tự tịnh tâm, niệm Phật khả hỹ!" Hợp chưởng liên xưng Phật danh nhi thệ.

Tán viết:

Bi tâm quảng đại
Bồ đề tâm văn
Tứ thập bát nguyện
Nguyện lực hoằng thâm
Hành giải chân thật
Thụy ứng siêu luân
Liên tông nhất mạch
Lại dĩ thường tồn

Hoặc thuyết kệ viết:

Kiến hiền tư tề tinh tiến tu
Nghiệp Nho độc thư thắng đại khưu
Tùng Phật chuyên nghiên tỳ ni pháp
Tham thiền triệt ngộ thùy tự do
Đại tai Bồ đề khích lệ phát
Chí hỹ thệ nguyện thiên địa du
Xá lợi phóng quang chiếu thiên cổ
Tôn giả ân trạch vạn kiếp lưu

 

Dịch:

Thật Hiền Đại sư tự Tư Tề, hiệu Tĩnh Am, người đời Thanh, con nhà họ Thời ở Thường Thục. Xuất gia từ thuở bé, sau khi xuất gia, nghiêm tŕ giới luật, giảng kinh thuyết pháp, nghiên cứu pháp môn tánh tướng. Bốn tháng tham cứu câu "Niệm Phật Là Ai", hoát nhiên khai ngộ, và nói: "Tôi đă tỉnh giấc mơ!" Từ đó cơ phong lanh lẹ sắc bén, biện tài tung hoành, ngày duyệt Tam tạng kinh, đêm chuyên tŕ Phật hiệu. Ngài đốt ngón tay ở tháp A Dục Vương, rồi trước Phật phát bốn mươi tám điều đại nguyện, lúc ấy cảm ứng xá lợi phóng hào quang rực rỡ. Ngài làm bài văn "Khuyên phát tâm Bồ đề", khích lệ tứ chúng, nhiều người đọc bài văn này đều rơi lệ.

Ngày mười bốn tháng tư, niên hiệu Ung Chánh thứ mười hai, Đại sư hướng về Tây ngồi viên tịch. Hàng đạo tục các nơi nghe tin hội về đưa tiễn rất đông. Đại sư bỗng mở mắt nói: "Tôi đi không bao lâu sẽ trở lại, sanh tử là việc lớn, mỗi người nên tự thanh tịnh tâm, niệm Phật th́ có thể giải quyết được việc sanh tử!" Dặn ḍ xong, chắp tay niệm danh hiệu Phật rồi thị tịch.

Bài tán rằng:

Tâm từ rộng lớn,
Làm bài văn "Khuyến phát Tâm Bồ đề "
Bốn tám nguyện lớn,

Nguyện lực rộng sâu
Hành nguyện chân thật,

Điềm lành cảm ứng vô biên
Liên tông mạng mạch,

Nhờ Ngài trường tồn.

Hoặc nói kệ rằng:

Kiến hiền tư tề tinh tấn tu hành
Nghiệp Nho đọc sách như núi đồi
Học Phật tu hành nghiêm tŕ giới luật
Tham thiền triệt ngộ ai tự do
Lớn thay khuyên phát tâm Bồ đề

Cao thay lời thệ nguyện như trời đất
Xá lợi phóng quang chiếu soi thiên cổ
Tôn giả ân đức lưu ngàn đời.

 

from www.chuavanphat.org

posted May 5, 2005

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]