Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

 

KINH

DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

Đời Diêu-Tần Ngài Tam-Tạng Pháp-Sư: Cưu-Ma-La-Thập dịch chữ Phạm ra chữ Hán.

Tỷ-khưu: Thích-Tuệ-Hải dịch chữ Hán ra chữ Việt

 

KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

QUYỂN THỨ SÁU

 

                  Phẩm Tùy Hỷ Công Đức thứ Mười Tám

                  Phẩm Pháp Sư Công Đức thứ Mười Chín

                  Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát thứ Hai Mươi

                  Phẩm Như Lai Thần Lực thứ Hai Mươi Mốt

                  Phẩm Chúc Lũy thứ Hai Mươi Hai

                  Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự thứ Hai Mươi Ba

 

PHẨM “TÙY-HỶ CÔNG-ĐỨC” THỨ MƯỜI TÁM

 

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 7 tháng 6 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

 

 

Bấy giờ đại Bồ-tát Di-Lặc bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào nghe kinh Pháp-Hoa này mà tùy-hỷ, th́ được bao nhiêu phúc-đức?” Liền nói kệ rằng:

Sau Thế-Tôn diệt-độ

Các người nghe kinh này

Nếu lại hay tùy-hỷ

Được bao nhiêu phúc-đức?

Khi ấy Đức Thế-Tôn bảo Bồ-tát Di-Lặc rằng: “Ông A-Dật-Đa! Sau khi Như-Lai diệt-độ, nếu có hàng Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, và những người trí-giả; dù lớn dù nhỏ được nghe kinh này mà tùy-hỷ rồi từ pháp hội đi đến chỗ khác. Dù ở trong pḥng tăng, hay ở chốn thanh vắng; ở nơi thành ấp, đường xá, xóm làng, ruộng nương theo đúng như chỗ được nghe, lại v́ cha mẹ, tông thân, thiện hữu quen biết, tùy theo sức ḿnh mà diễn nói. Những người kia nghe rồi tùy-hỷ, lại đi chuyển bảo cho người khác, người khác nghe rồi tùy-hỷ, lại đi chuyển bảo cho người khác nữa, cứ lần lượt như thế cho đến người thứ năm mươi.

Ông A-Dật-Đa! Công-đức tùy-hỷ của người thiện-nam, thiện-nữ thứ năm mươi mà ta nói đây, ông nên lắng nghe cho rơ! Nếu có bốn loài sáu ngả chúng-sinh ở trong bốn trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ thế-giới, dù loài sinh ra trứng, loài sinh ra thai, loài sinh ở nơi ẩm ướt, hay loài hóa sinh; dù loài có h́nh, loài không có h́nh, loài có tưởng, loài không có tưởng, loài không phải có tưởng, loài không phải không có tưởng; loài không chân, loài hai chân, loài bốn chân, loài nhiều chân… tất cả những loài chúng-sinh ấy, nếu có người cầu phúc, mà tùy theo chỗ chúng ưa thích mong muốn, đều cung cấp cho, mỗi một chúng-sinh ở khắp cơi Diêm-phù-đề vàng, bạc, ngọc lưu-iy, xa-cừ, mă-năo, san-hô, hổ-phách, các châu bảo tốt, và voi, ngựa, xe cộ bằng bảy báu, cung điện, lầu gác...

Vị đại thí-chủ bố-thí như thế đủ tám mươi năm, rồi tự nghĩ rằng: “Ta đă bố-thí cho chúng-sinh những thứ chúng ưa thích, mong muốn. Song những chúng-sinh này, đều đă già yếu, tuổi ngoài tám mươi, tóc bạc mặt nhăn, chẳng c̣n bao lâu sẽ chết. Ta nên đem giáo pháp của Phật mà dạy dỗ cho họ. Người đó liền tập họp các chúng-sinh này lại, tuyên bày giáo pháp, chỉ bảo dậy dỗ cho họ những điều lợi-ích yên vui. Nhất tề đều được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, hết mọi hữu lậu. Ở trong thuyền-định sâu xa, đều được tự tại đầy đủ tám pháp giải-thoát, ư ông thế nào? Người đại thí-chủ ấy được công-đức nhiều chăng?”

Bồ-tát Di-Lặc bạch rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! Người đó được công-đức rất nhiều vô-lượng.vô-biên. Nếu người thí-chủ ấy, chỉ bố-thí cho hết thẩy chúng-sinh những món mà chúng ưa thích, công-đức c̣n nhiều vô-lượng, huống hay lại làm cho chúng được quả A-la-hán”.

Đức Phật bảo Bồ-tát Di-Lặc: “Nay ta rành rẽ bảo .ông, người đó đem tất cả những đồ vui cho bốn trăm muôn ngh́n ức a-tăng-kỳ thế-giới chúng-sinh trong sáu ngả; lại khiến cho chúng được quả A-la-hán, mà chỗ được công-đức kia không bằng công-đức của người thứ năm mươi, nghe một bài kệ kinh Pháp-Hoa này, mà tùy-hỷ th́ trăm phần, ngh́n phần, trăm ngh́n muôn ức phần, người đó không bằng một phần, nhẫn đến tính đếm thí-dụ, cũng không thể biết được.

Ông A-Dật-Đa! Người thứ năm mươi cứ như thế lần lượt nghe kinh Pháp-Hoa, công-đức tùy-hỷ c̣n nhiều vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ, huống lại là người ở trong pháp hội ngay lúc ban đầu nghe pháp tùy-hỷ, th́ phúc-đức đó lại nhiều hơn vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ, không thể lấy ǵ so sánh được.

Lại nữa, ông A-Dật-Đa! Nếu có người nào đi đến pḥng tăng, dù ngồi, dù đứng nghe theo kinh này trong khoảng giây lát, nhờ công-đức ấy, khi chuyển thân sinh, đă được voi, ngựa, xe cộ, kiệu, cáng, châu báu tốt đẹp bậc nhất, và lại được ở trên cung trời. Nếu lại có người ngồi nơi giảng pháp, có người khác tới nghe, lại khuyên cho ngồi nghe, hay nhường chỗ cho ngồi, th́ công-đức của người ấy đến khi chuyển thân sẽ được ṭa ngồi của vua Đế-Thích, ṭa ngồi của vua Phạm-vương, hay ṭa ngồi của vua Chuyển-luân thánh-vương.

Ông A-Dật-Đa! Nếu lại có người bảo người khác rằng: Có kinh tên “Pháp-Hoa” ta nên cùng đi nghe. Người ấy tiền nhận lời đi nghe nhẫn đến thời-gian giây lát. Công-đức người ấy khi chuyển thân được cùng với Đà-la-ni Bồ-tát sinh chung một nơi, lợi căn sáng suốt, trăm ngh́n muôn đời, không bị câm ngọng, hơi miệng không hôi, lưỡi thường không bệnh, răng không đen cáu, không vàng, không thưa, cũng không sứt rụng, không so le, không sâu gẫy. Môi không sứt thiếu cũng không trề xuống, không bị sún, cũng không thô kệch, không lở loét, không sứt hư, cũng không cong lệch, không dầy, không lớn, cũng không đen nám, không có những tướng đáng chê. Mũi không tẹt dẹp, cũng không cong gẫy. Sắc mặt không đen, cũng không choắt dài, không cong gẫy, không có hết thẩy những tướng chẳng ưa. Môi, lưỡi, răng, nanh thẩy đều nghiêm đẹp. Mũi cao và thẳng, diện mạo tṛn đầy, mi cao và dài; trán rộng bằng thẳng, nhân tướng đầy đủ, đời đời sinh ra, gặp Phật nghe Pháp, và tin theo những lời dạy bảo.

Ông A-Dật-Đa! Ông hăy xem đó, khuyên một người đi nghe pháp c̣n được công-đức như thế, huống chi dốc ḷng nghe, nói, đọc tụng, ở trong đại-chúng phân biệt rơ ràng, theo đúng lư-thuyết tu-hành”.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Nếu người ở pháp hội

Được nghe kinh điển này

Nhẫn đến một bài kệ

Tùy-hỷ v́ người nói

Như thế dạy dần đần

Đến người thứ năm mươi.

Người sau cùng được phúc

Nay sẽ phân biệt nói:

Như có đại thí-chủ

Cung cấp vô-lượng người

Đầy đủ tám mươi năm

Tùy theo như ư muốn.

Thấy họ tướng già yếu

Tóc bạc, mặt nhăn da

Răng thưa, h́nh ốm yếu

Nghĩ chẳng lâu sẽ chết.

Nay ta nên dậy cho

Họ chứng được đạo quả.

Liền v́ phương-tiện nói

Pháp chân-thực Niết-bàn

Cơi đời không bền chắc

Như bọt nước, ánh lửa

Các người đều phải nên

Mau sinh ḷng chán bỏ.

Những người nghe pháp ẩy

Đều được A-la-hán

Đầy đủ sáu thần-thông

Ba minh, tám giải-thoát.

Người năm mươi sau cùng

Nghe bài kệ tùy-hỷ

Người đó phúc hơn kia

Không thể đem thí-dụ.

Như thế dần dà nghe

Phúc ấy c̣n vô-lượng

Huống chi ở pháp hội

Tùy-hỷ nghe từ đầu

Nếu khuyên được một người

Dẫn đến nghe Pháp-Hoa

Nói kinh này mầu-nhiệm

Ngh́n muôn ức khó gặp.

Liền nhận lời đi nghe

Nhẫn đến nghe giây lát

Phúc báo của người này

Nay sẽ phân biệt nói:

Đời đời miệng không bệnh

Răng không thưa, vàng, đen

Môi không dầy, quắt, thiếu

Không có tướng đáng chê.

Lưỡi không khô, đen, ngắn

Mũi cao, đẹp và ngay

Trán rộng và bằng thẳng.

Mặt, mắt đều đoan-nghiêm

Được người thấy ưa mến

Hơi miệng không hôi thối

Thơm như hoa ưu-đàm

Thường từ miệng tỏa ra.

Nếu có đến pḥng tăng

Muốn nghe kinh Pháp-Hoa

Nghe chốc lát vui mừng

Nay sẽ nói phúc đó:

Sau sinh trong trời, người

Được voi, ngựa, xe tốt

Kiệu, cáng bằng ngọc báu

Ở cung-điện cơi trời.

Nếu ở nơi giảng Pháp

Khuyên người ngồi nghe kinh

Nhờ phúc duyên này được

Ṭa Thích-phạm, Chuyển-luân.

Huống người dốc ḷng nghe

Giải nói rơ nghĩa thú

Đúng lư thuyết tu-hành

Phúc ấy không lường được.

 


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

 

PHẨM “PHÁP-SƯ CÔNG-ĐỨC” THỨ MƯỜI CHÍN

 

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 14 tháng 6 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

 

Bấy giờ Đức Phật bảo đại Bồ-tát Thường-Tinh-Tiến rằng: Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào, thụ-tŕ kinh Pháp-Hoa này, dù là đọc tụng, giải nói, viết chép, người ấy sẽ được tám trăm công-đức nơi Mắt, một ngh́n hai trăm công-đức nơi Tai, tám trăm công-đức nơi Mũi, một ngh́n hai trăm công-đức nơi Lưỡi, tám trăm công-đức nơi Thân, một ngh́n hai trăm công-đức nơi Ư. Đem những công-đức ấy để trang-nghiêm sáu căn đều được thanh-tịnh. Người thiện-nam, thiện-nữ ẩy, nhục nhăn thanh-tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cả trong ngoài cơi tam thiên đại thiên, có những núi, rừng, sông, bể; dưới đến địa-ngục A-tỳ, trên đến cơi trời Hữu-đỉnh, và thấy hết thẩy chúng-sinh cùng nghiệp nhân-duyên quả báo nơi sinh, trong đó đều thấy, đều biết.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Nếu ở trong đại-chúng

Đem ḷng không sợ sệt

Nói kinh Pháp-Hoa này

Ông nghe công-đức ấy.

Người này được tám trăm

Công-đức mắt thù-thắng.

Dùng công-đức trang-nghiêm

Nơi mắt rất thanh-tịnh.

Mắt cha mẹ sinh ra

Đều thấy ba ngh́n cơi

Trong ngoài núi Di-Lâu

Núi Tu-Di, Thiết-Vi

Và các rừng, núi khác

Nước biển lớn, sông ng̣i

Dưới đến ngục A-tỳ

Trên đến trời Hữu-đỉnh

Các chúng-sinh trong đó

Hết thẩy đều trông thấy

Tuy chưa được thiên nhăn

Sức nhục nhăn như vậy.

Lại nữa, ông Thường-Tinh-Tiến! Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào, thụ-tŕ kinh này, dù đọc, dù tụng, giải nói, viết chép, được một ngh́n hai trăm công-đức nơi Tai. Dùng tai thanh-tịnh ấy, nghe khắp cả ba ngh́n đại thiên thế-giới, dưới đến ngục A-tỳ, trên đến cơi trời Hữu-đỉnh. Trong ngoài cơi đó, hết thẩy lời lẽ âm-thanh: Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trâu, tiếng xe, tiếng kêu khóc, tiếng buồn than, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng lệnh, tiếng cười, tiếng nói, tiếng con trai, tiếng con gái, tiếng đồng-tử, tiếng đồng-nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng vui, tiếng khổ, tiếng phàm phu, tiếng thánh nhân, tiếng đáng mừng, tiếng không đáng mừng, tiếng Trời, tiếng Rồng, tiếng Dạ-xoa, tiếng Càn-thát-bà, tiếng A-tu-la, tiếng Ca-lâu-la, tiếng Khẩn-na-la, tiếng Ma-hầu-la-già, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng địa-ngục, tiếng súc-sinh, tiếng ngạ-quỷ, tiếng Tỷ-khưu, tiếng Tỷ-khưu-ni, tiếng Thanh-văn, tiếng Duyên-giác, tiếng Bồ-tát, tiếng Phật... nói tóm lại, hết thẩy các thứ tiếng ở trong ngoài cơi tam thiên đại thiên thế-giới. Tuy chưa được thiên nhĩ, nhưng dùng tai thường thanh-tịnh của cha mẹ sinh ra, thẩy đều nghe biết... Những thứ tiếng như thế, đều phân biệt được cả, mà không hoại mất nhĩ căn.

Bấy giờ, Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Tai cha mẹ sinh ra

Thanh-tịnh không nhơ bẩn

Dùng Tai thường này nghe

Tiếng tam thiên thế-giới:

Tiếng voi, ngựa, xe, trâu

Tiếng chuông, linh, trống, ốc

Tiếng cầm-sắt, không-hầu

Cùng tiếng tiêu, tiếng địch

Tiếng hát hay trong trẻo

Nghe mà không đắm đuối

Tiếng vô số giống người

Nghe đều hay hiểu rơ.

Lại nghe tiếng chư thiên

Giọng ca rất thanh thoát

Và nghe tiếng gái, trai

Tiếng đồng-nam, đồng-nữ.

Trong núi, sông, hang hiểm

Tiếng Ca-lăng-tần-già

Cộng-mệnh các giống chim

Đều nghe rơ giọng tiếng.

Những đau khổ địa-ngục

Các thứ tiếng thảm thê

Ngạ-quỷ đói ngặt nghèo

Tiếng t́m cầu ăn, uống.

Các loại A-tu-la

Ở nơi bên bể lớn

Những lúc chúng nói năng

Phát ra giọng tiếng lớn

Người thuyết pháp như thế

An trụ ở nơi đây

Xa nghe những tiếng ấy

Mà không hoại căn tai

Trong mười phương thế-giới

Cầm, thú kêu gọi nhau

Người nói kinh pháp này

Trong đây đều nghe hết.

Trên các cơi Phạm-thiên

Cơi Quang-âm, Biến-tịnh.

Nhẫn đến trời Hữu-đỉnh

Những giọng tiếng nói năng

Pháp-sư ở cơi này

Hết thẩy đều nghe biết.

Tất cả chúng Tỷ-khưu

Và hàng Tỷ-khưu-ni

Dù đọc, tụng kinh điển

Hay nói cho người nghe

Pháp-sư ở cơi này

Thẩy đều nghe biết hết.

Lại có các Bồ-tát

Đọc, tụng kinh Pháp-Hoa

Hoặc nói cho người nghe

Soạn tập giải nghĩa kinh

Những âm thanh như thế

Thẩy đều nghe được cả.

Chư Phật Đại-Thánh-Tôn

Dậy dỗ cho chúng-sinh

Ở trong các đại-hội

Diễn nói pháp nhiệm-mầu

Người tŕ Pháp-Hoa này

Thẩy đều nghe được hết.

Cơi tam thiên đại thiên

Các giọng tiếng trong ngoài

Dưới từ ngục A-tỳ

Trên đến trời Hữu-đỉnh

Đều nghe giọng tiếng kia

Mà căn tai không mất.

V́ tai kia sáng suốt

Đều hay phân biệt rành

Người tŕ Pháp-Hoa này

Tuy chưa được thiên nhĩ

Chỉ dùng tai thường sinh

Công-đức đă như thế.

Lại nữa, ông Thường-Tinh-Tiến! Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào, thụ-tŕ kinh này, dù đọc, dù tụng, giải nói, viết chép, thành-tựu được tám trăm công đức nơi Mũi. Dùng căn mũi thanh-tịnh, ngửi được hết thẩy mùi hương, ở khắp trên dưới, trong ngoài cơi tam thiên đại thiên thế-giới: mùi hương của hoa Tu-mạn-na, mùi hương của hoa Xà-đề, mùi hương của hoa Mạt-lợi, mùi hương của hoa Thiềm-bặc, mùi hương của hoa Ba-la-la, mùi hương của hoa sen đỏ, mùi hương của hoa sen xanh, mùi hương của hoa sen trắng, mùi thơm của cây có hoa, mùi hương của cây có quả, mùi hương của gỗ chiên-đàn, mùi hương trầm-thủy, mùi hương Đa-ma-la-bạt, mùi hương Đa-già-la, và ngh́n muôn thứ hương thơm ḥa lẫn , dù hương bột, hương xoa… người tŕ kinh ở cơi này, đều hay phân biệt tất cả.

Hơn nữa, biết rơ từng mùi hương của các chúng-sinh: mùi hương của voi, mùi hương của ngựa, mùi hương của trâu, dê… mùi hương con trai, mùi hương con gái, mùi hương đồng-nam, mùi hương đồng-nữ, mùi hương cỏ cây, rừng rậm. Dù gần, dù xa hễ có hơi hương thẩy đều nghe biết, phân biệt chẳng lầm.

Người tŕ kinh này, tuy ở nơi đây cũng đều thấy mùi hương ở trên các cơi trời: hương cây Ba-lợi-chất-đa-la, cây Câu-bệ-đà-la và hương hoa Mạn-đà-la, hương ma-ha Mạn-đà-la, hương Mạn-thù-sa, hương ma-ha Mạn-thù-sa, hương chiên-đàn, hương trầm-thủy, hết thẩy hương bột, hương các tạp hoa. Những thứ hương trời như thể đều ḥa hợp lại, tỏa ra mùi hương thẩy đều nghe biết.

Lại thấy mùi hương nơi ḿnh các cơi trời, mùi hương của vua Thích-Đề-Hoàn-Nhân, khi vui chơi đùa giỡn năm dục ở trên thắng cung-điện, dù là mùi hương khi ở trên diệu pháp đường, v́ các vị trời Đao-Lợi nói pháp, hoặc là mùi hương khi dạo chơi các chốn hoa viên, và những mùi hương nơi thân nam, nữ các cơi trời khác, thẩy đều xa nghe. Như thế dần dà đến cơi Phạm-thế. Trên đến mùi hương nơi thân các vị trời cơi Hữu-đỉnh, cũng đều nghe biết. Lại nghe thấy mùi hương ở các cơi trời thiêu đốt, và mùi hương của Thanh-văn, mùi hương của Bích-chi-phật, mùi hương của Bồ-tát, mùi hương nơi ḿnh Phật, cũng đều xa nghe mà biết được nơi chốn ở. Tuy nghe được hương này, song nơi tỹ-căn không hư không lẫn. Nếu muốn phân biệt, v́ người diễn nói, thời sự nhớ niệm không có lầm lẫn.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Người ấy mũi trong sạch

Ở trong thế-giới này

Dù vật thơm hay hôi

Hết thẩy đều nghe biết

Tu-mạn-la, xà-đề

Đa-ma-la, chiên-đàn

Hương trầm-thủy, hương quế

Hết thẩy mùi hoa quả

Và mùi hương chúng-sinh

Hương nam tử, nữ nhân

Người nói pháp ở xa

Nghe hương biết nơi ở.

Vua Đại-Thế Chuyển-luân

Tiểu Chuyển-luân và con

Các quần-thần thị-vệ

Nghe hương biết nơi ở

Đeo ngọc báu trong ḿnh

Giấu của báu trong đất

Bảo nữ vua Chuyển-luân

Nghe hương biết nơi ở.

Các thứ để nghiêm ḿnh

Y phục, cùng chuỗi ngọc

Các thứ hương xoa ḿnh

Nghe hương biết người ấy.

Chư thiên đi hay ngồi

Dạo chơi và thần biến

Tŕ kinh Pháp-Hoa này

Nghe hương đều biết được.

Các cây hoa quả chắc

Và mùi thơm dầu, sữa

Người tŕ kinh pháp này

Đều biết được nơi chốn.

Những nơi núi hiểm sâu

Cây chiên-đàn hoa nở

Chúng-sinh ở trong ấy

Nghe hương đều hay biết.

Núi Thiết-vi, bể lớn

Các chúng-sinh trong đất

Người tŕ kinh nghe hương

Đều biết nơi chốn ở.

A-tu-la, trai, gái

Và họ hàng của chúng

Khi đua tranh chơi đùa

Nghe hương đều hay biết.

Đồng rộng nơi hiểm nghèo

Voi, sư-tử hổ, lang

Ḅ rừng và trâu nước…

Nghe hương biết nơi ở…

Nếu người mang thai nghén

Chưa biết là trai, gái

Vô căn hay phi nhân

Nghe hương đều hay biết.

V́ nhờ sức nghe hương

Biết người mới thai nghén

Thành-tựu không thành-tựu

An vui sinh con phúc.

V́ nhờ sức nghe hương

Biết chỗ trai, gái nghĩ

Ḷng nhiễm dục, giận hờn

Cũng biết người tu thiện.

Giấu các đồ trong đất

Châu báu cùng bạc vàng ...

Đồ đồng nơi chứa đựng

Nghe hương đều hay biết.

Hết thẩy các chuỗi ngọc

Không mấy ai biết giá

Nghe hương biết đắt, rẻ.

Xuất xứ ở nơi nào

Các thứ hoa cơi trời

Mạn-đà, Mạn-thù-sa

Cây Ba-lợi-chất-đa

Nghe hương đều biết được.

Các cung-điện trên trời

Thượng, trung, hạ sai khác

Các hoa báu trang-nghiêm

Nghe hương đều biết được.

Thắng điện vườn rừng trời

Các nhà diệu-pháp-đường

Ở trong đó vui chơi

Nghe hương đều hay biết.

Dù chư thiên nghe pháp

Hoặc khi hưởng năm dục

Lui, tới, đi, ngồi, nằm

Nghe hương đều hay biết.

Chỗ thiên-nữ mặc y

Trang sức hương hoa đẹp

Lúc dạo chơi ṿng quanh

Nghe hương đều hay biết.

Như thế dần dần lên

Đến cơi trời Phạm-thế

Khi nhập thuyền, xuất thuyền

Nghe hương đều biết được

Cơi Quang-âm, Biến-tịnh

Cho đến trời Hữu-đỉnh

Từ sơ sinh đến chết

Nghe hương đều hay biết.

Các hàng chúng Tỷ-khưu

Với pháp thường tinh-tiến

Dù ngồi hay kinh-hành

Và đọc tụng kinh điển

Hoặc ở dưới rừng cây

Tinh chuyên ngồi thuyền-định

Người tŕ kinh nghe hương

Đều biết được xứ sở.

Bồ-tát chí bền chắc

Ngồi thuyền hay đọc tụng

Hoặc v́ người nói pháp

Nghe hương đều biết được.

Nơi chốn Thế-Tôn ở

Được hết thẩy cung-kính

Thương chúng mà nói pháp

Nghe hương đều biết được.

Chúng-sinh ở trước Phật

Nghe kinh đều vui mừng

Theo đúng pháp tu-hành

Nghe hương có thể biết.

Tuy chưa thành Bồ-tát

Mũi sinh pháp vô-lậu

Mà người tŕ kinh này

Được tướng mũi đó trước.

 

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

 

Lại nữa, ông Thường-Tinh-Tiến! Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào thụ-tŕ kinh này, dù là đọc, tụng, giải nói, viết chép, được một ngh́n hai trăm công đức của lưỡi: những thứ dù tốt dù xấu, ngon hay không ngon, những vật đắng cay, ở nơi căn lưỡi, đều biến thành vị ngon, như nước cam-lộ cơi trời, thẩy đều thơm ngon. Nếu dùng căn lưỡi ấy ở trong đại-chúng có diễn nói lời nào đều phát ra những tiếng thâm-diệu, đều khiến người nghe có thể nhập tâm và vui mừng khoái lạc.

Hơn nữa, các vị thiên-tử, thiên-nữ và  các cơi trời Thích-phạm, khi nghe âm thanh thâm-diệu này, có diễn nói ngôn luận chỗ nào, th́ hết thẩy lần lượt đến nghe, và các bộ long, Long-nữ, Dạ-xoa, Dạ-xoa nữ, Càn-thát-bà, Cán-thát-bà nữ, A-tu-la, A-tu-la nữ, Ca-lâu-la, Ca-lâu-la nữ, Khẩn-na-la, Khẩn-na-la nữ, Ma-hầu-la-già, Ma-hầu-la-già nữ, v́ muốn nghe pháp, đều đến thân cận, cung-kính cúng-dàng. Các vị Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, những bậc quốc vương, vương tử, quần-thần quyến-thuộc; vua tiểu Chuyển-luân, vua đại Chuyển-luân, thất bảo ngh́n con, họ hàng trong ngoài, ở nơi cung-điện, đều đến nghe pháp.

V́ các vị Bồ-tát này nói pháp khéo léo cho nên hàng Bà-la-môn, cư-sĩ nhân dân trong nước, ai nấy đều trọn đời theo hầu dâng cúng. Lại có các hàng Thanh-văn, hàng Bích-chi-phật, các vị Bồ-tát; chư Phật thường muốn được thấy người ấy. Người ấy ở phương hướng nào, chư Phật đều hướng về nơi ấy nói pháp. Người ấy đều hay thụ-tŕ hết thẩy giáo pháp của Phật; lại hay nói ra giọng pháp mầu-nhiệm sâu xa.

Khí ấy Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Người ấy lưỡi thanh-tịnh

Hưởng thụ vị thơm ngon

Có ăn uống món ǵ

Thẩy đều thành cam-lộ

Dùng tiếng hay thâm tịnh

Ở trong chúng nói pháp

Dùng các duyên thí-dụ

Dẫn dắt ḷng chúng-sinh.

Người nghe đều hoan-hỷ

Đặt đồ cúng-dàng tốt

Các trời rồng, dạ-xoa

Càn-thát, a-tu-la…

Đều đem ḷng cung-kính

Cùng nhau lại nghe pháp

Người nói kinh pháp này

Nếu muốn dùng tiếng hay

Đầy dẫy tam thiên giới

Liền đều theo ư muốn

Đại, tiểu Chuyển luân-vương

Và ngh́n con quyến-thuộc

Chắp tay ḷng cung-kính

Thường đến lĩnh nghe pháp

Các trời, rồng, dạ-xoa

La-sát, tỳ-xá-xà

Cũng đem ḷng hoan-hỷ

Thường ưa tới cúng-dàng.

Vua Phạm-thiên, ma-vương

Tự-tại, Đại tự-tại

Các thiên chúng như thế

Thường đến nơi người ẩy.

Chư Phật và đệ-tử

Nghe giọng nói pháp kia

Thường nhớ mà ǵn giữ

Hoặc v́ đó hiện thân.

Lại nữa, ông Thường-Tinh-Tiến! Nếu có người thiện-nam, thiện-nữ nào thụ-tŕ kinh này, dù đọc, dù tụng, giải nói, viết chép được tám trăm công-đức nơi thân, ḿnh được trong sạch như ngọc lưu-ly, chúng-sinh ưa thấy, v́ thân thanh-tịnh đó, nên chúng-sinh ở cơi tam thiên đại thiên thế-giới, lúc sống lúc chết, trên, dưới, xấu tốt, sinh vào ở nơi lành, dữ đều hiện ra trong đó. Và núi Thiết-vi, núi đại Thiết-vi, núi Di-lâu, núi đại Di-lâu cùng các núi khác, chúng-sinh ở trong ẩy hết đều hiện ra. Dưới đến địa-ngục A-tỳ, trên đến cơi trời Hữu-đỉnh. Những vật sở hữu và các chúng-sinh đều hiện ra trong đó. Nếu là Thanh-văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát, chư Phật nói pháp, đều ở trong thân hiện ra h́nh thể, sắc, tướng.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Nếu người tŕ Pháp-Hoa

Nơi thân rất thanh-tịnh

Như ngọc tịnh lưu-ly

Chúng-sinh đều ưa thấy.

Lại như gương sạch sáng

Đều thấy các h́nh bóng

Bồ-tát nơi tịnh thân

Đều thấy vật hiện hữu.

Đặc biệt ḿnh thẩy rơ

Người khác không thấy được.

Trong cơi tam thiên giới

Hết thẩy các quần-manh

Trời, người, a-tu-la

Địa-ngục, quỷ, súc-sinh

Những hiện tượng như thế

Đều thấy trong nơi thân.

Các cung-điện cơi trời…

Nhẫn đến trời Hữu-đỉnh

Núi Thiết-vi, Di-lâu

Các sông ng̣i, bể lớn...

Đều hiện ở trong ḿnh.

Chư Phật và Thanh-văn

Các Phật-tử Bồ-Tát…

Ở riêng, ở với chúng

Nói pháp đều hiện rơ.

Tuy chưa được vô lậu

Thân tịnh diệu pháp tính

Dùng thể thường thanh-tịnh

Hết thẩy trong đó hiện.

Lại nữa. ông Thường-Tinh-Tiến! Nếu có người thiện-nam, thíện-nữ nào, sau khi Như-Lai diệt-độ, thụ-tŕ kinh này, dù đọc, dù tụng, giải nói, viết chép, được một ngh́n hai trăm công-đức nơi ư. Dùng ư căn thanh-tịnh ấy, nhẫn đến nghe một câu kinh, một bài kệ, thông suốt vô-lượng vô-biên nghĩa. Hiểu nghĩa đó rồi, lại hay diễn nói một câu, một bài kệ; dù là một tháng, bốn tháng, nhẫn đến một năm. Những pháp nói ra tùy theo từng nghĩa thú, đều hợp với tướng chân thật, không trái ngược nhau. Dù nói sách vở thế gian, lời lẽ trị đời, nghề nghiệp giúp sống, đều thuận với chính pháp. Chúng-sinh ở nơi sáu ngă trong tam thiên đại thiên thế-giới, dù tâm tưởng hành, hay tâm tác động, tâm hí luận, thẩy đều biết rơ.

Tuy chưa được vô-lậu trí-tuệ, mà ư căn thanh-tịnh như thế. Người ấy có suy nghĩ lường tính điều ǵ, đều là Phật pháp, đều là chân thật, và cũng là lời trước kia Phật đă nói ra ở trong các kinh.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Người này ư thanh-tịnh

Sáng suốt không vẩn nhơ

Dùng ư căn tốt ấy

Biết pháp thượng, trung, hạ

Nhẫn đến nghe một kệ

Thông đạt vô-lượng nghĩa

Lần lượt như pháp nói

Một, bốn tháng, một năm.

Trong ngoài thế-giới này

Hết thẩy các chúng-sinh

Hoặc trời, rồng và người

Dạ-xoa, các quỷ thần…

Đều ở trong sáu ngả

Nghĩ tưởng bao nhiêu điều

Phúc báo tŕ Pháp-Hoa

Đồng thời đều hay biết.

Mười phương vô số Phật

Tướng trăm phúc trang-nghiêm

V́ chúng-sinh nói pháp

Đều nghe hay thụ-tŕ

Suy nghĩ vô-lượng nghĩa

Nói pháp cũng khôn lường

Trước sau không nhầm lẫn

V́ tŕ kinh Pháp-Hoa

Đều biết mọi pháp tướng

Theo nghĩa biết thứ tự

Suốt danh tự ngôn ngữ

Theo chỗ hiểu diễn nói

Người ấy nói chỗ nào

Đều là Phật pháp trước

V́ diễn nói pháp này

Trong chúng không sợ sệt

Người tŕ kinh Pháp-Hoa

Ư căn tịnh dường ấy.

Dù chưa được vô-lậu

Nhưng được tướng đó trước.

Người ấy tŕ kinh này

An-trụ nơi hy-hữu.

V́ hết thẩy chúng-sinh

Vui mừng mà kính mến

Hay dùng ngh́n muôn ức

Lời lẽ thật khéo léo

Phân biệt nói các pháp

Nhờ tŕ kinh Pháp-Hoa.

 


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

 

PHẨM “THƯỜNG-BẤT-KHINH BỒ-TÁT” THỨ HAI MƯƠI

 

Khi bấy giờ Phật bảo đại Bồ-tát Đắc-Đại-Thế rằng: “Ông nay nên biết. Nếu có Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tŕ kinh Pháp-Hoa, mà nếu có người nào dùng lời ác khẩu chê bai, phỉ báng, thời người đó phải chịu quả báo rất lớn, như trước đă nói. C̣n người tŕ kinh sẽ được công-đức cũng như trước đă nói: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ư đều được thanh-tịnh.

Ông Đắc-Đại-Thế! Về đời xa xưa, quá vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ kiếp, không thể kể xiết, có Đức Phật hiệu là Uy-Âm-Vương Như-Lai, Ứng-cúng, Chính-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên nhân-sư, Phật, Thế-Tôn. Kiếp tên là Ly-Suy, nước tên là Đại-Thành. Đức Phật Uy-Âm-Vương ở trong đời kia, v́ cơi trời, cơi người, a-tu-la... mà nói pháp. V́ người cầu Thanh-văn mà nói pháp Tứ-đế, độ cho thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, đến chỗ cứu-kính Niết-bàn, v́ người cầu quả Bích-chi-phật, mà nói pháp Thập-nhị-nhân-Duyên, v́ các Bồ-tát, nhân vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác, mà nói sáu pháp Ba-la-mật đến chỗ rốt ráo trí-tuệ của Phật.

Ông Đắc-Đại-Thế! Đức Phật Uy-Âm-Vương thọ bốn mươi muôn ức na-do-tha Hằng-hà sa kiếp, chính pháp ở đời kiếp số nhiều như vi-trần của một cơi Diêm-phù-đề, tượng pháp ở đời cũng nhiều như số vi-trần của bốn châu thiên-hạ. Đức Phật ấy làm lợi-ích cho chúng-sinh, rồi sau mới vào diệt-độ. Sau khi chính pháp và tượng pháp diệt tận, ở cơi này lại có Đức Phật ra đời cũng hiệu là Uy-Âm-Vương Như-Lai, Ứng-cúng, Chính-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên nhân-sư, Phật, Thế-Tôn. Cứ tuần tự như thế có hai muôn ức Đức Phật, đều đồng một hiệu.

Đức Uy-Âm-Vương Như-Lai đầu tiên diệt-độ rồi, sau khi chính pháp đă diệt, trong đời tượng pháp, các vị Tỷ-khưu tăng-thượng-mạn có thế lực lớn Khi ấy có một Bồ-tát Tỷ-khưu tên là Thường-Bất-Khinh.

Ông Đại-Đắc-Thế! Tại sao lại gọi là Thường-Bất-Khinh? V́ giới Tỷ-khưu này hễ thấy ở chốn nào, dù là Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di th́ đều lễ bái khen ngợi mà nói rằng: “Tôi rất thâm kính các Ngài, không dám khinh mạn. Sở dĩ v́ sao? V́ các Ngài đều là người tu đạo Bồ-tát, sẽ được thành Phật”. Mà vị Tỷ-khưu này không chuyên đọc tụng kinh-điển, chỉ chăm làm việc lễ bái; dĩ chí thấy hàng tứ chúng ở đằng xa cũng cố đi đến lễ bái, khen ngợi mà nói rằng: “Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ được thành Phật”.

Trong chúng bấy giờ, có người sinh ḷng giận dữ bất tịnh, dùng lời độc dữ mắng nhiếc nói rằng: “Ông là vô-trí Tỷ-khưu, từ đâu đến đây? Dám nói tôi không khinh các Ngài, mà thụ-kư cho bọn ta sẽ được thành Phật. Bọn ta không cần ông thụ-kư hăo như thế”. Trải qua nhiều năm như vậy, thường bị mắng nhiếc, mà không hề sinh ḷng giận dữ. Thường nói rằng: “Các Ngài sẽ thành Phật”.

Khi nói như thế th́ bị mọi người dùng gậy gộc, ngói, đá mà đánh ném cho. Ông liền chạy tránh đứng xa nhưng vẫn lớn tiếng xướng rằng: “Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ thành Phật”. V́ ông thường nói như thế, nên hàng tăng-thượng-mạn Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di gọi ông là “Thường-Bất-Khinh”.

Vị Tỷ-khưu này khi sắp mất, ở trong hư-không nghe đủ hai mươi ngh́n muôn ức bài kệ kinh Pháp-Hoa, trước kia Đức Phật Uy-Âm-Vương đă nói, nghe rồi đều hay thụ-tŕ, liền được Nhăn căn thanh-tịnh, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ư căn thanh-tịnh như trên. Được sáu căn thanh-tịnh rồi, thọ mệnh lại tăng thêm hai trăm muôn ức na-do-tha tuổi, lại v́ người khác rộng nói kinh Pháp-Hoa này.

Bấy giờ hàng tứ chúng tăng-thượng-mạn Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di khinh rẻ vị Tỷ-khưu ấy, mà đặt tên là “"Thường-Bất-Khinh”, nay thấy được sức đại-thần-thông, sức biện-thuyết giỏi, sức thiện-tịch lớn; khi nghe vị đó nói rồi, đều tin phục tùy tùng.

Vị Bồ-tát này, lại giáo-hóa cho ngh́n muôn ức chúng, đều khiến cho trụ vào đạo vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác. Sau khi mất đi được gặp hai ngh́n ức Đức Phật, đều hiệu là Nhật-Nguyệt Đăng-Minh, ở trong pháp hội đó nói kinh Pháp-Hoa. V́ nhân-duyên ấy, lại gặp hai ngh́n ức Đức Phật đều hiệu là: Vân-Tự-Tại Đăng-Vương. ở trong các pháp của các Đức Phật này, thụ-tŕ, đọc tụng, v́ các hàng tứ chúng diễn nói kinh-điển, cho nên thường được Nhăn căn thanh-tịnh, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ư mọi căn thanh-tịnh như thế, ở trong tứ chúng nói pháp mà ḷng không sợ sệt.

Ông Đắc-Đại-Thế! Vị đại Bồ-tát Thường-Bất-Khinh đây, cúng-dàng bao nhiêu chư Phật như thế, và cung-kính, tôn trọng, khen ngợi, trồng mọi căn lành. Về sau lại gặp ngh́n muôn ức Đức Phật, cũng ở trong các chốn Phật pháp, nói kinh-điển này; khi công-đức thành-tựu, sẽ được thành Phật.

Ông Đắc-Đại-Thế! Ư ông thế nào? Bồ-tát Thường-Bất-Khinh bấy giờ đâu phải ai xa lạ? Chính là thân ta vậy. Nếu đời trước ta không thụ-tŕ, đọc tụng kinh này, hoặc nói cho người khác nghe, th́ không thể chóng được đạo quả vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác. V́ trước kia ta ở chốn Đức Phật, thụ-tŕ đọc tụng kinh này, lại nói cho người khác nghe; cho nên chóng được đạo quả vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác.

Ông Đắc-Đại-Thế! Khi ấy hàng bốn chúng Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di đem ḷng giận dữ, khinh rẻ ta, v́ thế mà hai trăm ức kiếp, thường không gặp Phật, không nghe chính pháp, không thấy chư tăng; ngh́n kiếp ở trong địa-ngục a-tỳ, chịu khổ năo lớn. Chịu hết tội đó rồi, lại gặp Bồ-tát Thường-Bất-Khinh, giáo-hóa cho đạo vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác.

Ông Đắc-Đại-Thế! Ư ông thế nào? Bốn chúng khi ấy thường khinh rẻ Bồ-tát đó, đâu phải ai xa lạ, nay ở trong hội này: Bạt-Đà Bà-La… năm trăm vị Bồ-tát, Sư-Tử-Nguyệt… năm trăm vị Tỷ-khưu-ni, Tư-Phật năm trăm giới Ưu-bà-tắc, đều là người không thoái chuyển ở trong đạo vô-thương Chính-đẳng Chính-gịác.

Ông Đắc-Đại-Thế nên biết rằng kinh Pháp-Hoa này, lợi-ích rất lớn, hay làm cho các đại Bồ-tát đến đạo vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác. V́ vậy các vị đại Bồ-tát sau khi Như-Lai diệt-độ, thường nên thụ-tŕ, đọc tụng, giải nói, viết chép kinh này”.

Khi ấy Đức Thể-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Quá khứ có Phật

Hiệu Uy-Âm-Vương

Thần-trí vô-lượng

Dẫn dắt hết thẩy

Trời, người, long, thần

Cùng nhau cúng-dàng.

Sau Phật này diệt

Khi pháp sắp hết

Có một Bồ-tát

Tên Thường-Bất-Khinh.

Tứ chúng khi ấy

Tham đắm các pháp

Bồ-tát Bất-Khinh

Đều đi đến nơi

Mà bảo họ rằng:

Tôi không khinh ông

Các ông hành đạo

Sẽ đều thành Phật.

Mọi người nghe rồi

Khinh chê mắng nhiếc

Bồ-tát Bất-Khinh

Đều hay nhẫn chịu.

Tội đó hết rồi

Tới lúc sắp mất

Được nghe kinh này

Sáu căn thanh-tịnh.

Nhờ sức thần-thông

Thêm nhiều tuổi thọ

Lại v́ mọi người

Rộng nói kinh này,

Những người chấp pháp

Đều nhờ Bồ-tát

Giáo-hóa thành-tựu

Khiến trụ Phật đạo.

Ngài Bất-Khinh mất

Gặp vô số Phật

V́ nói kinh này

Được phúc vô-lượng

Dần đủ công-đức

Thành Phật mau chóng.

Bất-Khinh khi ấy

Chính là thân ta

Bốn chúng bẩy giờ

Những người chấp pháp

Nghe Bất-Khinh nói

Ông sẽ thành Phật

V́ nhân-duyên ấy

Gặp vô số Phật

Trong pháp hội này

Năm trăm Bồ-tát

Và bốn bộ chúng

Thanh-tín, sĩ-nữ...

Nay ở trước ta

Nghe nói kinh pháp.

Về đời trước ta

Khuyên những người này

Nghe theo kinh ấy

Là pháp bậc nhất.

Mở bảo dậy người

Cho ở Niết-bàn.

Đời đời vâng theo

Kinh-điển như thế

Ức ức muôn kiếp

Rất khó nghĩ bàn.

Chư Phật Thế-Tôn

Khi nói kinh này.

V́ thế hành-giả

Sau khi Phật diệt

Được nghe kinh này

Chớ sinh nghi hoặc

Phải nên một ḷng

Rộng nói kinh này

Gặp Phật đời đời

Chóng thành Phật đạo.

 


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

 

PHẨM “NHƯ-LAI THẦN-LỰC” THỨ HAI MƯƠI MỐT

 

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 28 tháng 6 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

 

Khi bấy giờ các vị đại Bồ-tát nhiều như số vi-trần trong ngh́n thế-giới từ nơi đất hiện ra, đều ở trước Phật, một ḷng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thể-Tôn mà bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! Sau khi Phật diệt-độ, ở các cơi nước Đức Thế-Tôn phân thân ra, và những nơi diệt-độ sẽ rộng nói kinh này. Sở dĩ v́ sao? V́ chúng con tự muốn được đại pháp chân tịnh ấy, để thụ-tŕ, đọc tụng, giải nói, viết chép, cúng-dàng”.

Bấy giờ Đức Thế-Tôn ở trước Ngài Văn-Thù Sư-Lợi... và vô-lượng trăm ngh́n muôn ức các đại Bồ-tát cựu-trụ ở cơi Sa-bà, cùng các hàng Tỷ-khưu, Tỷ-khưu-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu bà-di, trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân... hết thẩy đại-chúng. Hiện sức thần-thông lớn phô bày tướng lưỡi dài, rộng lên đến cơi trời Phạm-thế, tất cả các lỗ chân lông phóng ra vô-lượng vô số hào-quang đầy đủ mầu sắc, chiếu khắp cả mười phương thế-giới. Các Đức Phật ngồi trên ṭa sư-tử, ở dưới các hàng cây báu, cũng lại như thế, hiện bày tướng lưỡi dài, rộng, tỏa ra vô-lượng hào quang.

Khi ấy Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni và các Đức Phật ngồi ở dưới hàng cây báu, hiện ra sức thần-thông, đầy đủ một trăm ngh́n năm, sau mới thu nhiếp tướng lưỡi lại. Đồng thời tằng hắng, và gẩy móng tay; hai âm-thanh đó , đến khắp các thế-giới của chư Phật ở mười phương, trái đất sáu điệu đều rung động. Trong đó chúng-sinh: trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân… nhờ sức thần của Phật, đều thấy vô-lượng vô-biên trăm ngh́n muôn ức chư Phật ở trên ṭa sư-tử, dưới các cây báu, ở thế-giới Sa-bà, và Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, cùng Đức Đa-Bảo Như-Lai ngồi ṭa sư-tử ở trong tháp báu.

Lại thấy vô-lượng vô-biên trăm ngh́n muôn ức vị đại Bồ-tát, và các hàng tứ chúng cung-kính vây quanh Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Ai nấy đă thấy thế rồi, đều vui mừng được chưa từng có. Ngay khi ấy các vị trời ở trong hư-không xướng lên rằng: “Quá đây vô-lượng vô-biên trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ thế-giới, có nước tên là Sa-bà, Đức Phật ở trong nước đó hiệu là Thích-Ca Mâu-Ni, hiện nay đang v́ các vị đại Bồ-tát nói kinh Đại-thừa tên là “Diệu-Pháp Liên-Hoa Giáo Bồ-Tát Pháp, Phật Sở Hộ-Niệm”. Các ông nên đem ḷng tùy-hỷ sâu xa, và cũng nên lễ bái, cúng-dàng Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni”.

Những chúng-sinh nước ấy, nghe thấy tiếng nói trong hư-không, đều chắp tay hướng về thế-giới Sa-bà niệm rằng: “Nam-Mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Nam-Mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật”, dùng các thứ hương hoa, chuỗi ngọc, phan, lọng, và các đồ trang-nghiêm nơi ḿnh, các vật quư giá châu báu, đều cùng ở xa tung rải vào cơi Sa-bà. Những vật tung rải ấy, từ mười phương tới, ví như đám mây tụ lại, biến thành màn báu, phủ trên các Đức Phật ở khắp cơi này. Lúc đó mười phương thế-giới thông suốt như một cơi Phật không bị ngăn ngại.

Bấy giờ Phật bảo đại-chúng các bậc Thượng-hạnh Bồ-tát rằng: Thần-thông của chư Phật vô-lượng vô-biên bất khả tư-nghị như thế, dù ta dùng thần-lực hàng vô-lượng vô-biên trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, dù phải chúc lũy để nói công-đức của kinh này, c̣n không thể hết được. Nói tóm lại, hết thẩy các pháp sở hữu của Như-Lai; hết thẩy sức thần tự-tại của Như-Lai; hết thẩy tạng pháp bí-yếu của Như-Lai; hết thẩy các việc rất sâu xa của Như-Lai, đều tuyên nói rơ rệt ở trong kinh này. Bởi vậy các ông, sau khi Như-Lai diệt-độ, phải nên một ḷng vâng giữ, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lư-thuyết tu hành.

Bất cứ tại quốc-độ nào, nếu có người thụ-tŕ, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lư-thuyết tu-hành. Nếu quyển kinh này để ở nơi nào, dù ở trong vườn, hay ở trong rừng, ở nơi dưới cây, ở trong pḥng tăng, ở nhà bạch-y, ở nơi điện-đường, hay ở nơi hang đồng vắng, trong đó đều nên dựng tháp cúng-dàng.

Tại v́ sao? Nên biết nơi đó, tức là đạo-tràng, chư Phật đều ở nơi đó, được đạo vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác; chư Phật đều ở nơi đó chuyển bánh xe pháp; chư Phật đều ở nơi đó mà vào Niết-bàn.

Khi ấy Đức Thế-Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên, liền nói kệ rằng:

Phật là đấng cứu thế

Trụ nơi đại thần-thông

V muốn chúng-sinh vui

Hiện vô-lượng thần-lực.

Tướng lưỡi đến Phạm-thiên

Ḿnh tỏa sáng vô số

V́ người cầu Phật đạo

Hiện việc hy-hữu này.

Tiếng chư Phật hắng rặng

Và tiếng gẩy móng tay

Nghe suốt cả mười phương

Trái đất đều rung động.

Sau khi Phật diệt-độ

Người hay tŕ kinh này

Chư Phật đều vui mừng

Hiên vô-lượng thần-lực.

V chúc lũy kinh này

Khen người tŕ kinh tốt

Ở trong vô-lượng kiếp

C̣n không thể nói hết.

Công-đức của người ấy

Vô-biên không cùng tận.

Như mười phương hư-không

Không thể biết bờ bến.

Người hay tŕ kinh này

Tức là đă thấy ta

Cũng thấy Phật Đa-Bảo

Và chư Phật phân thân.

Lại thấy ta ngày nay

Giáo-hóa các Bồ-tát

Người hay tŕ kinh này

Khiến ta và phân thân

Phật Đa-Bảo diệt-độ

Hết thẩy đều hoan-hỷ

Mười phương Phật hiện-tại

Và quá-khứ, vị-lai

Cũng thấy, cũng cúng-dàng

Cũng khiến cho hoan-hỷ

Chư Phật ngồi đạo-tràng

Chứng được pháp bí-yếu

Người hay tŕ kinh này

Không lâu cũng sẽ được.

Người hay tŕ kinh này

Với nghĩa của các pháp

Danh tự và lời lẽ

Nói không thể cùng tận.

Như gió ở trong không

Hết thẩy không ngăn ngại.

Sau Như-Lai diệt-độ

Biết chỗ kinh Phật nói

Thứ tự và nhân-duyên

Theo nghĩa nói như thực.

Như ánh sáng nhật, nguyệt

Hay trừ mọi tối tăm

Người đó làm cho đời

Chúng-sinh hết tối tăm

Dạy vô-lượng Bồ-tát

Rốt ráo trụ Nhất-thừa.

Cho nên người có trí

Nghe công-đức lợi này

Sau khi ta diệt-độ

Nên vâng theo kinh này

Người ấy trong Phật đạo

Quyết-định không c̣n ngờ.

 


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

 

PHẨM “CHÚC-LŨY” THỨ HAI MƯƠI HAI

 

 

Bấy giờ Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni từ nơi ṭa pháp đứng dậy, thị hiện sức thần-thông lớn, dùng tay hữu xoa đầu vô-lượng các vị đại Bồ-tát mà nói rằng: “Ta ở trong vô-lượng trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, tu-tập pháp vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác khó được ấy, nay đem phó-chúc cho các ông; các ông phải nên một ḷng lưu bá pháp này khiến cho phần lợi-ích rộng thêm”.

Ba lần xoa đầu các vị đại Bồ-tát như thế mà nói rằng: “Ta ở trong vô-lượng trăm ngh́n muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, tu-tập pháp vô-thượng Chính-đẳng Chmh-giác khó được ấy, nay đem phó-chúc cho các ông; các ông phải nên thụ-tŕ, đọc tụng, tuyên nói pháp này rộng ra, khiến cho hết thẩy chúng-sinh đều được nghe biết”.

V́ sao? V́ Đức Như-Lai có đức từ-bi rộng lớn, không có những tính bủn sỉn, không có sợ sệt Hay đem cho chúng-sinh trí-tuệ của Phật, trí-tuệ của Như-Lai, trí-tuệ tự nhiên. Như-Lai là bậc đại thí-chủ của hết thẩy chúng-sinh, các ông cũng nên theo học tu-tập các pháp của Như-Lai, chớ nên sinh ḷng sẻn tiếc. Về đời mai sau, nếu có người thíện-nam, thiện-nữ nào, tin theo trí-tuệ của Như-Lai, phải nên v́ diễn nói kinh Pháp-Hoa này, khiến cho họ được nghe, được biết, làm cho người ấy được trí-tuệ của Phật. Nếu có chúng-sinh nào, không chịu tin theo th́ phải nên ở trong pháp sâu xa khác của Như-Lai mà chỉ bảo cho họ những điều lợi-ích yên vui, nếu các ông làm được như thế, là đă báo đền ân đức của chư Phật”

Khi ấy các vị đại Bồ-tát nghe lời Phật dạy thế rồi toàn thân đều tràn đầy sung sướng, cung-kính thêm lên, uốn ḿnh cúi đầu chắp tay hướng về Đức Phật, đồng thanh bạch rằng: “Như lời Đức Thế-Tôn dạy, chúng con xin vâng làm đầy đủ, cúi xin Đức Thế-Tôn đừng bận tâm”, các vị đại Bồ-tát ba lần bạch như thế, đều đồng thanh bạch rằng: “Như lời Đức Thế-Tôn dạy, chúng con xin vâng làm đầy đủ, cúi xin Đức Thế-Tôn đừng bận tâm”.

Bấy giờ Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni khiến các Đức Phật phân thân ở khắp mười phương, đều trở về ở nước của ḿnh nói rằng: “Chư Phật đều tùy theo xứ sở an-trụ”. Tháp của Đức Phật Đa-Bảo lại hoàn toàn như cũ.

Khi ấy Phật nói như thế rồi th́ vô-lượng các Đức Phật phân thân ở khắp mười phương, đều ngồi trên ṭa sư-tử, ở dưới hàng cây báu. Đức Phật Đa-Bảo cùng vô-lượng vô-biên a-tăng-kỳ bậc thượng-hạnh đại-chúng Bồ-tát... Ngài Xá-Lợi-Phất... cùng hàng Thanh-văn, bốn chúng và hết thẩy thế-gian, trời, người, a-tu-la… được nghe lời Phật dạy, đều rất vui mừng.

 


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

 

PHẨM “DƯỢC-VƯƠNG BỒ-TÁT BẢN-SỰ” THỨ HAI MƯƠI BA

 

Nghe ĐH Minh-Quang Nguyễn Lê Đức giảng tại Chùa Hải-Đức hồi 11 giờ sáng ngày 5 tháng 7 năm 2009. Bấm chuột phải để hạ tải.

 

Khi ấy Bồ-tát Tú-Vương-Hoa bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế-Tôn! V́ sao Bồ-tát Dược-Vương lại dạo đi ở cơi sa-bà? Bạch Đức Thế-Tôn! Bồ-tát Dược-Vương đây có bao nhiêu trăm ngh́n muôn ức na-do-tha hạnh khổ khó làm? Thật quư hóa thay! Bạch Đức Thế-Tôn! Xin Ngài nói cho chút ít, để cho các cơi đời, rồng, thần dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, nhân và phi nhân, hết thẩy các vị Bồ-tát ở các nước khác tới, cùng.với hàng Thanh-văn khi được nghe rồi, đều rất vui mừng”.

Bấy giờ Phật bảo Bồ-tát Tú-Vương-Hoa rằng: “Về đời quá-khứ vô-lượng Hằng-hà sa kiếp xưa kia, có Đức Phật hiệu là Nhật-Nguyệt-Tịnh Minh-Đức Như-Lai, Ứng-cúng, Chính-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên nhân-sư, Phật, Thế-Tôn. Ngài có tám mươi ức vị đại Bồ-tát, bảy mươi hai Hằng-hà sa chúng đại Thanh-văn. Đức Phật ấy thọ bốn mươi hai ngh́n kiếp, Bồ-tát thọ mệnh cũng đồng như Phật.

Nước ấy không có nữ nhân, địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, a-tu-la… và các khổ nạn. Đất bằng phẳng như bàn tay, do ngọc lưu-ly làm thành. Cây báu đẹp đẽ, màn báu phủ trên, hoa phan bằng báu tủa xuống; b́nh báu, ḷ hương tràn đầy cả nước. Bẩy thứ ngọc báu làm đài; mỗi cây lại có một đài, cây cách xa đài bằng một đường tên. Những cây báu này đều có các vị Bồ-tát, các hàng Thanh-văn, ngồi ở bên dưới. Trên các đài báu, đều có trăm ức chư thiên ḥa tấu nhạc trời, để làm công việc cúng-dàng khen ngợi Đức Phật.

Khi ấy Đức Phật ở nước này v́ Bồ-tát Nhất-Thiết Chúng-Sinh Hỷ-Kiến, và các hàng Bồ-tát, Thanh-văn nói kinh Pháp-Hoa. Bồ-tát Nhất-Thiết Chúng-Sinh Hỷ-Kiến đây ưa làm hạnh khổ, ở trong giáo pháp của Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức tinh-tiến tu hành, một ḷng mong cầu Phật đạo; đầy đủ một muôn hai ngh́n năm rồi, được “hiện-nhất-thiết sắc-thân tam-muội”.

Khi được tam-muội này rồi, ḷng rất vui mừng liền nghĩ rằng: “Ta được hiện-nhất-thiết sắc-thân tam-muội, đều là nhờ năng lực được nghe kinh Pháp-Hoa này, ta nên cúng-dàng Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức và kinh Pháp-Hoa”. Ngay khi ấy, liền vào chính-định ở trong hư không, mưa xuống hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la, bột gỗ kiên-hẳc chiên-đàn, đầy trong hư-không mây tỏa xuống. Lại mưa hương Hải-thử-ngạn chiên-đàn, hương lục-thù này, giá trị như thế-giới sa-bà, để cúng-dàng Phật.

Làm việc cúng-dàng ấy rồi, từ nơi chính-định trở dậy mà tự nghĩ rằng: “Ta tuy dùng sức thần-thông cúng-dàng nơi Phật, nhưng không bằng dùng thân này để cúng-dàng”. Liền uống các thứ dầu thơm: chiên-đàn, huân-lục, đâu-lâu-bà, tất-lực-ca, trầm-thủy, giao-hương… Lại uống các thứ dầu thơm của hoa thiềm-bặc; đầy đủ một ngh́n hai trăm năm rồi, dầu thơm xoa ḿnh, tắm gội các thứ dầu thơm, dùng áo báu cơi trời tự choàng vào ḿnh, rồi ở trước Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức dùng sức thần-thông tự đốt cháy ḿnh; ánh sáng chiếu khắp tám ngh́n ức Hằng-hà sa thế-giới.

Chư Phật ở trong cơi đó đều tán thán rằng: “Quư hóa thay! Quư hóa thay! Thiện-nam-tử thật là người chân tinh-tiến! Như thế mới là như pháp cúng-dàng Như-Lai bằng cách chân thật. Nếu có người dùng hoa hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan lọng, tơ lụa cơi trời và hương thử-ngạn chiên-đàn cúng-dàng bằng hết thẩy thứ vật báu cũng không bằng được. Ví dù có người đem bố-thí cả quốc thành, vợ con cũng không bằng được.

Này thiện-nam-tử! Đó là bố-thí bậc nhất ở trong các món thí, là tối tôn hơn hết. V́ người đó dùng pháp mà cúng-dàng các Đức Như-Lai”.

Nói như thế rồi, thẩy đều im lặng. Tức thời thân Bồ-tát, lửa liền bốc cháy một ngh́n hai trăm năm. Qua đó về sau, nơi ḿnh Bồ-tát mới tự cháy hết.

Bồ-tát Nhất-Thiểt Chúng-Sinh Hỷ-Kiến làm việc cúng-dàng như thế rồi, sau khi mệnh chung, lại sinh trở lại vào trong nước Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức; ở cung nhà vua Tịnh-Đức, ngồi kết-già-phu, bỗng nhiên hóa sinh. Liền v́ thân phụ mà nói kệ rằng:

Đại vương nay nên biết

Tôi kinh hành chốn kia

Tức là được hết thẩy

Hiện các thân chính-định

Siêng làm rất tinh-tiến

Bỏ thân đáng quư này

Cúng-dàng Đức Thế-Tôn

V́ cầu tuệ vô-thượng.

Nói kệ đó rồi, thưa với vua cha rằng: “Nay Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức vẫn c̣n hiện tại, trước kia tôi đă cúng-dàng Phật rồi, được giải Nhất-thiết Chúng-sinh Ngữ-ngôn Đà-la-ny. Lại được nghe kinh Pháp-Hoa, tám trăm ngh́n muôn ức na-do-tha yên-ca-la, tần-bà-la, a-súc-bà… bài kệ.

Thưa đại-vương! Nay tôi sẽ lại cúng-dàng Đức Phật này”. Thưa rồi, liền ngồi trên đài thất bảo, bay lên hư-không cao bằng bẩy cây đa-la, đi đến chốn Phật, đầu mặt lễ dưới chân, chắp tay dùng kệ khen Phật rằng:

Dung-nhan rất đẹp lạ!

Ánh sáng chiếu mười phương

Con xưa từng cúng-dàng

Nay lại về thân cận.

Khi ấy Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-Kiến nói kệ đó rồi, mà bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế-Tôn! Đức Thế-Tôn nay vẫn c̣n tại thế?

Bấy giờ Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức bảo Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến rằng: “Này thiện-nam-tử! Giờ ta vào Niết-bàn đă đến, giờ diệt tận đă tới, ông nên sắp đặt giường ṭa, ngay trong đêm nay ta sẽ vào Niết-bàn”. Ngài lại bảo Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến: “Này thiện-nam-tử! Ta đem giáo pháp của Phật giao phó cho ông, và các Bồ-tát đại đệ-tử; cùng pháp vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác, các thứ cây báu, đài báu, các chư thiên cung cấp hầu hạ, và ba ngh́n đại thiên thế-giới thất bảo, đều đem giao phó cho ông. Sau khi ta diệt-độ, có các xá-lợi cũng giao phó cho ông. Ông nên làm cho lan rộng khắp nơi, đặt đồ cúng-dàng và nên  xây dựng bao nhiêu muôn ngh́n tháp báu”.

Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức bảo Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến như thế rồi, về khoảng cuối đêm liền vào Niết-bàn.

Khi ấy Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-Kiến thấy Phật diệt-độ, th́ ḷng thương cảm buồn rầu luyến-mộ nơi Phật. Liền dùng hương hải-thử-ngạn chiên-đàn làm giàn hỏa thiêu để cúng-dàng thân Phật. Sau khi lửa tắt rồi, thu lấy xá-lợi, đựng trong tám vạn bốn ngh́n b́nh báu, để xây tám vạn bốn ngh́n tháp cao ba thế-giới, biểu sát trang-nghiêm, và treo các phan, lọng, linh báu tủa xuống.

Bấy giờ Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến lại tự nghĩ rằng: “Ta tuy đă làm việc cúng-dàng như thế, nhưng tâm vẫn thấy chưa đủ, nay ta lại nên cúng-dàng xá-lợi”. Liền bảo các vị Bồ-tát đại đệ-tử và trời, rồng, dạ-xoa… hết thẩy đại-chúng rằng: “Các ông nên một ḷng nhớ nghĩ! Nay tôi làm việc cúng-dàng xá-lợi Đức Phật Nhật-Nguyệt-Tịnh-Minh-Đức”. Bảo như thế rồi, liền ở trước tám vạn bốn ngh́n tháp đốt cánh tay trăm phúc trang-nghiêm, đủ bẩy muôn hai ngh́n năm để cúng-dàng Phật, khiến cho vô số người cầu Thanh-văn , vô-lượng a-tăng-kỳ người phát tâm vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác, đều được hiện nhất-thiết sắc thân tam-muội.

Khi ấy các Bồ-tát, trời, người, a-tu-la... cùng hết thẩy đều thấy Ngài không có cánh tay, th́ buồn thương sầu khổ mà nói rằng: “Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến đây là thầy chúng ta, là người dậy dỗ chúng ta mà nay Ngài đốt cánh tay, thân thể không c̣n đầy đủ”.

Lúc ấy Bồ-tát Nhất-thiểt Chúng-sinh Hỷ-kiến ở trong chúng lập thệ nguyện rằng: “Tôi bỏ hai cánh tay này, ắt sẽ được thân sắc vàng đẹp của Phật. Nếu thực không dối th́ khiến hai cánh tay tôi lại được hoàn như cũ”. Ngài phát ra lời thề ấy rồi, bỗng nhiên lại được b́nh phục. Do phúc-đức trí-tuệ thuần hậu ấy mà cảm cách được. Ngay khi ấy cơi tam thiên đại thiên thế-giới sáu điệu rung động, trời mưa hoa báu, và hết thẩy trời, người, được điều chưa từng có.

Phật bảo Bồ-tát Tú-Vương-Hoa rằng: Ư ông thế nào? Bồ-tát Nhất-thiết Chúng-sinh Hỷ-kiến đâu phải ai xa lạ, chính nay là Bồ-tát Dược-Vương vậy. V́ Bồ-tát ấy thường xả thân bố-thí số nhiều vô-lượng trăm ngh́n muôn ức na-do-tha như thế.

Ông Tú-Vương-Hoa! Nếu có người nào phát tâm muốn cầu đạo vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác có thể đốt một ngón tay, một ngón chân để cúng-dàng Phật và tháp thờ Phật, th́ công-đức người ấy hơn người đem quốc thành, vợ con và ba ngh́n đại thiên quốc-độ, núi, rừng, sông, ng̣i, cùng các vật báu quư giá mà cúng-dàng. Nếu lại có người dùng bẩy báu ở khắp cả ba ngh́n đại thiên thế-giới cúng-dàng nơi Phật, và các vị đại Bồ-tát, hàng Bích-chi-phật, bậc A-la-hán, công-đức người ấy được hưởng không bằng công-đức người thụ-tŕ kinh Pháp-Hoa, dĩ chí một bài kệ bốn câu, công-đức đó mới là nhiều.

Ông Tú-Vương-Hoa! Ví như tất cả các ḍng nước: sông, ng̣i ... bể là lớn hơn hết; kinh Pháp-Hoa này cũng lại thế; Đức Như-Lai nói ở trong các kinh, th́ kinh này rất là mầu-nhiệm sâu lớn. Lại như trong các thứ núi: núi đất, núi đá, núi Thiết-vi nhỏ, núi Thiết-ví lớn, cùng mười núi báu, th́ núi Tu-di là bậc nhất. Kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế, đối với trong các kinh là trên hơn hết.

Lại như trong các ngôi sao, mặt trăng là bậc nhất, kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế; đối với trong ngh́n muôn ức các kinh pháp, rất là sáng suốt. Lại như mặt trời hay diệt trừ mọi sự tối tăm, kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế; hay phá tan hết thẩy những màn tối tăm bất thiện. Lại như trong các hàng tiểu-vương, vua Chuyển-luân thánh-vương rất là bậc nhất. Kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế; đối với trong các kinh rất là tôn quư. Lại như vua Đế-Thích là vua cơi trời tam thập tam thiên, kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế, là vua trong các kinh khác.

Lại như vua Đại-Phạm-thiên là cha của hết thẩy chúng-sinh. Kinh Pháp-Hoa cũng lại như thế; là cha lành của hết thẩy hiền thánh, học và vô học, cùng những người phát tâm bồ-đề. Lại như trong hết thẩy phàm-phu: bậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán; Bích-chi-phật là bậc nhất. Kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế; hết thẩy những lời Như-Lai nói ra , hoặc Bồ-tát nói ra; hoặc Thanh-văn nói ra, ở trong các kinh rất là bậc nhất. Lại như những người hay thụ-tŕ kinh-điển này, cũng lại như thế. Đối với trong tất cả chúng-sinh cũng là bậc nhất. Hết thẩy trong hàng Thanh-văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát là bậc nhất; kinh này cũng lại như thế, đối với trong hết thẩy kinh pháp rất ư là bậc nhất. Chư Phật là vua trong các Pháp, kinh này cũng lại như thế, là vua trong các kinh.

Ông Tú-Vương-Hoa! Kinh này hay cứu cho hết thẩy chúng-sinh; kinh này hay khiến cho hết thẩy chúng-sinh khỏi các khổ năo, kinh này hay làm cho hết thẩy chúng-sinh được lợi-ích lớn; đầy đủ như sở nguyện. Như ao nước trong mát, làm cho mọi người khát nước được uống đầy đủ, như người rét được lửa, như người ở trần được quần áo, như người lái buôn được chủ, như con được gặp cha mẹ, như người qua sông gặp thuyền, như người bệnh hoạn gặp được thuốc hay, như tối được đèn, như người nghèo được của báu, như người dân được vua, như khách buôn được biển, như đuốc sáng trừ tối tăm, kinh Pháp-Hoa này cũng lại như thế, hay khiến cho chúng-sinh ĺa hết mọi khổ, hết mọi bệnh tật đau đớn, hay cởi mở mọi sự ràng buộc của khổ sinh tử.

Nếu ai được nghe kinh Pháp-Hoa này, dù ḿnh viết chép, hay bảo người viết chép, công-đức người ấy dùng trí-tuệ của Phật lường tính nhiều ít cũng không thể biết được bờ bến. Nếu người viết chép kinh này, mà dùng hương hoa, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan lọng, y phục, các thứ đèn đuốc: đèn nến, đèn dầu, các đèn dầu thơm, đèn dầu chiêm-bặc, đèn dầu tu-mạn-na, đèn dầu ba-la-la, đèn dầu bà-lợi-sư-ca, đèn dầu na-bà-ma-lợi để cúng-dàng, người đó sẽ được vô-lượng công-đức.

Ông Tú-Vương-Hoa! Nếu có người nào nghe phẩm Dược-Vương Bồ-tát Bản-sự này, cũng được công-đức vô-lượng vô biên như thế. Nếu người nữ nhân được nghe phẩm Dược-Vương Bồ-tát Bản-sự này, mà hay thụ-tŕ, th́ sau khi hết báo thân đàn bà này, không phải thụ sinh trở lại nữa. Sau khi Như-Lai diệt-độ năm trăm năm sau; nếu có người đàn bà nào nghe kinh điển này, theo đúng lư-thuyết tu-hành, khi ở cơi này mất đi, liền được sinh sang thế-giới cực-lạc của Đức Phật A-Di-Đà. Các đại Bồ-tát vây quanh nơi ở, sinh trên ṭa báu trong nơi hoa sen. Không c̣n bị mọi tham dục năo hại; cũng không c̣n bị giận dữ, ngu si năo hại; và cũng không c̣n bị kiêu mạn, ghen ghét, những thứ nhơ nhớp năo hại. Được thần-thông vô-sinh pháp nhẫn của Bồ-tát. Được pháp nhẫn đó rồi, nhăn-căn thanh-tịnh. Dùng nhăn-căn thanh-tịnh ấy, thấy bẩy trăm muôn hai mươi ngh́n ức na-do-tha Hằng-hà sa chư Phật Như-Lai.

Khi ấy chư Phật ở phương xa đều cùng khen rằng: “Quư hóa thay! Quư hóa thay! Thiện-nam-tử! Ông ở trong pháp hội của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni, hay thụ-tŕ, đọc tụng, suy nghĩ kinh này, và nói cho người khác nghe, sẽ được vô-lượng vô-biên công-đức. Lửa không thể cháy được, nước không thể trôi được. Công-đức của ông ngh́n Đức Phật cùng nói, cũng không thể hết được. Ông nay đă hay phá mọi giặc ma, hoại quân sinh-tử, và các oán-địch khác, thẩy đều dẹp hết.

Này Thiện-nam-tử! Trăm ngh́n Đức Phật dùng sức thần-thông, cùng giúp đỡ ông, ở trong hết thẩy thế-gian, trời, người ... không ai bằng ông. Chỉ trừ Đức Như-Lai, c̣n các hàng Thanh-văn, Bích-chi-phật, nhẫn đến thuyền-định, trí-tuệ của các Bồ-tát cũng không có ai bằng ông.

Ông Tú-Vương-Hoa! Bồ-tát ấy thành-tựu sức trí-tuệ công-đức như thế. Nếu có người nào, nghe phẩm Dược-Vương Bồ-tát Bản-sự này mà tùy-hỷ khen hay, người đó trong đời hiện-tại nơi miệng thường tỏa ra mùi thơm của hoa sen xanh, các lỗ chân lông nơi ḿnh thường tỏa mùi hương ngưu-đầu chiên-đàn. Được các công-đức như trên đă nói.

Ông Tú-Vương-Hoa! V́ thế ta đem phẩm Dược-Vương Bồ-tát Bản-sự này, chúc-lũy cho ông. Sau khi ta diệt-độ năm trăm năm, ông phải tuyên nói rộng khắp cơi Diêm-phù-đề, đừng để cho đoạn-tuyệt; đừng để cho những kẻ ác ma, dân ma, trời, rồng, dạ-xoa, cưu-bàn-trà… được tự tiện quấy rối.

Ông Tú-Vương-Hoa! Ông nên dùng sức thần-thông mà giữ ǵn kinh này, v́ kinh này là phương thuốc cứu chữa người bệnh cơi Diêm-Phù-đề. Nếu người có bệnh được nghe kinh này, th́ bệnh liền tan biến, chẳng già chẳng chết.

Ông Tú-Vương-Hoa! Nếu ông thấy có ai thụ-tŕ kinh này, nên lấy hoa sen xanh chứa đầy hương bột rải ra dâng cúng người đó. Rải rồi nghĩ rằng: “Người này không bao lâu nữa, ắt sẽ lấy cỏ làm ṭa ngồi nơi đạo-tràng, phá các quân ma, sẽ thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn, độ cho hết thẩy chúng-sinh thoát bể sinh, già, bệnh, chết. V́ vậy người cầu Phật đạo, nếu thấy có người nào thụ-tŕ kinh điển này, phải nên sinh ḷng cung tính như thế”.

Khi Phật nói phẩm Bản-sự của Bồ-tát Dược-Vương, có tám vạn bốn ngh́n vị Bồ-tát được pháp giải Nhất-thiết chúng-sinh ngôn-ngữ Đà-la-ny. Đức Đa-Bảo Như-Lai ở trong bảo-tháp khen ngợi Bồ-tát Tú-Vương-Hoa rằng: “Quư hóa thay! Ông Tú-Vương-Hoa! Công-đức của ông thành-tựu không thể nghĩ bàn, mới có thể hỏi Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni những việc vô-lượng lợi-ích cho hết thẩy chúng sinh như thế”.


KINH DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA

Quyển Thứ Sáu

                          

Tạm tŕ, tùy-hỷ, trong sạch mọi căn, vụt quên “Nhân, pháp” thể thường c̣n, thần-lực khắp càn-khôn trao phó ân-cần, hy-sinh tính mệnh báo đáp hồng-ân.

Nam-Mô Pháp-Hoa Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần)

 

Bồ-tát Di-Lặc so lường kinh nhân, sáu căn thanh-tịnh hiện thể thiên chân. Bồ-tát Bất-Khinh thể thường c̣n, v́ pháp đốt ḿnh, cúng-dàng Phật Tịnh Minh-Tôn.

Nam-Mô Tú-Vương-Hoa Bồ-Tát. (3 lần)

 

 

 

 [Up] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 1 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 2 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 3 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 4 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 5 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 6 - Tuệ Hải dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, quyển 7 - Tuệ Hải dịch]

            Minh Quang typed & posted November 12, 2008

 

[Home] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]