Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

KINH  NHẬP LĂNG  GIÀ  

Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi 
Đời Nguyên Ngụy 
Việt dịch:  Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang 
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh 

---o0o---

 

 

Quyển thứ bảy

 PHẨM THỨ TÁM: VÔ THƯỜNG

  

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói vô thường mà vô thường th́ tất cả ngoại đạo cũng nói vô thường. Thưa đức Thế Tôn! Đức Như Lai y vào danh tự, chương cú nói lời như vầy, các hạnh vô thường là pháp sinh diệt. Thưa đức Thế Tôn! Pháp này là chân thật hay là hư vọng? Thưa đức Thế Tôn! Lại có bao nhiêu thứ vô thường? 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Tất cả ngoại đạo hư vọng phân biệt nói có tám thứ vô thường. Những ǵ là tám? Một là, phát khởi việc làm mà chẳng làm. Đó gọi là vô thường.  

Sao gọi là phát khởi? Nghĩa là pháp sinh, pháp bất sinh, pháp thường, pháp vô thường gọi là phát khởi vô thường. Hai là, h́nh tướng ngưng nghỉ gọi là vô thường. Ba là, sắc.v.v... tức là vô thường. Bốn là, sắc chuyển biến nên khác khác vô thường, các pháp nối tiếp nhau tự nhiên mà diệt như sữa, cao sữa chuyển biến. Đối với tất cả pháp chẳng thấy sự chuyển biến ấy cũng chẳng thấy diệt th́ gọi là vô thường. Năm là, lại có ngoại đạo khác.v.v... th́ do không có vật nên gọi là vô thường. Sáu là, có pháp, không pháp mà đều vô thường, do tất cả pháp vốn chẳng sinh nên gọi là vô thường. Do pháp vô thường ḥa hợp trong đó vậy nên vô thường. Bảy là, lại có ngoại khác.v.v... cho rằng, vốn không sau lại có gọi là vô thường. Nghĩa là nương vào sự tương sinh tương diệt của các Đại mà chẳng thấy sự sinh ấy ĺa khỏi thể nối tiếp nhau th́ gọi là vô thường. Tám là, chẳng sinh (bất sinh) vô thường. Nghĩa là chẳng phải thường vậy nên vô thường. Thấy các pháp có - không, sinh - chẳng sinh... cho đến vi trần mà quan sát chẳng thấy pháp sinh nên nói rằng, chẳng sinh, các pháp chẳng phải sinh. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng vô sinh vô thường mà các ngoại đạo chẳng biết pháp đó sở dĩ chẳng sinh. Vậy nên họ phân biệt các pháp chẳng sinh nên nói rằng, vô thường.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Ngoại đạo phân biệt pháp vô thường nói có đối với vật. Những ngoại đạo đó tự tâm hư vọng phân biệt vô thường thường chẳng phải vô thường do có vật. V́ sao vậy? V́ tự thể chẳng diệt vậy. Tự thể chẳng diệt là thể của vô thường, thường chẳng diệt.  

Này Đại Tuệ! Nếu pháp vô thường là có vật th́ nên sinh ra các pháp do vô thường đó có thể làm nhân vậy. Này Đại Tuệ! Nếu tất cả pháp chẳng ĺa khỏi vô thường th́ các pháp có, không tất cả nên thấy. V́ sao vậy? V́ như gậy, cây, sành, đá là năng phá, khả phá đều là phá hoại hết. Thấy đủ thứ tướng khác khác, vậy nên vô thường nhân tất cả pháp vô pháp, cũng chẳng phải nhân, cũng chẳng phải quả.  

Này Đại Tuệ! Lại có các lỗi, do nhân quả kia không sai biệt mà chẳng được nói rằng, đây là vô thường mà kia là quả. Do nhân quả sai biệt nên chẳng được nói rằng, tất cả pháp thường, do tất cả pháp không nhân.  

Này Đại Tuệ! Các pháp có nhân mà các phàm phu chẳng giác, chẳng biết nhân khác chẳng thể sinh ra quả khác.  

Này Đại Tuệ! Nếu nhân khác có thể sinh ra quả khác th́ khác nhân nên sinh ra tất cả các pháp. Nếu vậy th́ lại có lỗi nên nhân quả sai biệt mà thấy sai biệt.  

Này Đại Tuệ! Nếu vô thường ấy là có vật th́ nên đồng với việc sở tác của nhân thể. Lại có lỗi nữa, ở trong một pháp tức nên đầy đủ tất cả các pháp do đồng tất cả sở tác, nhân duyên nghiệp tướng không sai biệt vậy. Lại có lỗi nữa, tự có vô thường, vô thường có vô thường thể vậy. Lại có lỗi nữa, tất cả các pháp vô thường nên thường hằng vậy. Lại có lỗi nữa, nếu vô thường ấy đồng với các pháp th́ rơi vào ba thế pháp.  

Này Đại Tuệ! Sắc quá khứ đồng với vô thường nên đă diệt, pháp vị lai chưa sinh ra do đồng với sắc vô thường nên chẳng sinh ra, hiện tại có pháp chẳng ĺa khỏi sắc. Do sắc cùng với tướng các Đại kia nương vào năm Đại, nương vào trần, vậy nên chẳng diệt, do những thứ đó chẳng ĺa nhau vậy.  

Này Đại Tuệ! Tất cả ngoại đạo chẳng diệt các Đại, ba cơi y vào Đại, y vào vi trần.v.v... Vậy nên y vào pháp đó nói rằng, sinh trụ diệt. Này Đại Tuệ! Ĺa khỏi pháp này, lại không bốn Đại, các trần.v.v... các pháp. Do ngoại đạo kia hư vọng phân biệt ĺa khỏi tất cả pháp, lại có vô thường nên ngoại đạo nói rằng, các Đại chẳng sinh chẳng diệt, do tự thể tướng thường hằng chẳng diệt vậy. Vậy nên chúng nói, phát khởi việc làm mà trung gian chẳng làm th́ gọi là vô thường. Các Đại lại có sự phát khởi các đại, không có những dị tướng đồng tướng đó chẳng sinh diệt pháp. Do thấy các pháp chẳng sinh diệt mà ở chỗ đó sinh ra trí vô thường.  

Này Đại Tuệ! Sao gọi là h́nh tướng hưu tức (ngưng nghỉ) vô thường? Nghĩa là h́nh tướng năng tạo, sở tạo thấy h́nh tướng khác như dài, ngắn, chẳng phải các Đại diệt mà thấy h́nh tướng các Đại chuyển biến. Người đó rơi vào trong pháp Tăng Khư (?).  

Này Đại Tuệ! Lại nữa, h́nh tướng vô thường nghĩa là những người nào tức là sắc th́ gọi là vô thường. Người đó thấy ở h́nh tướng vô thường mà chẳng phải các Đại chính là pháp vô thường. Nếu các Đại vô thường th́ các thế gian, tất cả chẳng được nói bàn việc đời, rơi vào bè đảng tà kiến Lô Ca Gia Đà, do nói là, tất cả pháp chỉ có danh (duy danh).  

Lại thấy các pháp tự thể tướng sinh ra. Này Đại Tuệ! Chuyển biến vô thường th́ nghĩa là thấy đủ thứ tướng khác của các sắc, chẳng phải các đại chuyển biến. Ví như thấy vàng được làm đồ trang nghiêm th́ h́nh tướng chuyển biến mà thể của vàng chẳng khác. Các pháp khác chuyển biến cũng lại như vậy. Này Đại Tuệ! Như vậy ngoại đạo hư vọng phân biệt thấy pháp vô thường. Lửa chẳng thiêu đốt các Đại, tự thể chẳng thiêu đốt, do tự thể các Đại đó sai khác.  

Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo nói, nếu lửa có thể thiêu đốt các Đại th́ các Đại đoạn diệt. Vậy nên chẳng thiêu đốt. Này Đại Tuệ! Ta nói Đại và các trần chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. V́ sao vậy? V́ ta chẳng nói cảnh giới bên ngoài có. Ta nói ba cơi chỉ là tự tâm, chẳng nói đủ thứ tướng là có. Vậy nên nói rằng, chẳng sinh chẳng diệt, chỉ là nhân duyên bốn Đại ḥa hợp, chẳng phải Đại và các trần là pháp thật có mà do tâm hư vọng phân biệt hai thứ pháp khả thủ và năng thủ. Như thật có thể biết hai thứ phân biệt. Vậy nên ĺa khỏi tướng thấy có không bên ngoài, chỉ là tự tâm phân biệt tạo tác nghiệp mà gọi là sinh mà nghiệp chẳng sinh do ĺa khỏi tâm phân biệt có không vậy.  

Này Đại Tuệ! V́ sao chẳng phải thường, chẳng phải bất thường? V́ do có những pháp thượng thượng thế gian và xuất thế gian. Vậy nên chẳng được nói rằng, là thường. V́ sao chẳng phải vô thường? V́ do có thể giác tri chỉ là tự tâm phân biệt thấy. Vậy nên chẳng phải vô thường. Nhưng mà các ngoại đạo hư vọng phân biệt, chẳng phải các Thánh nhân phân biệt vô thường.  

Này Đại Tuệ! Tổng tất cả các pháp có ba thứ. Những ǵ là ba? Một là, thế gian pháp tướng. Hai là, xuất thế gian pháp tướng. Ba là, xuất thế gian thượng thượng thắng pháp tướng. Do nương vào ngôn ngữ nói pháp đủ thứ mà các phàm phu chẳng giác, chẳng tri. 

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Xa ĺa tạo tác trước  

Và cùng h́nh tướng khác

Gọi có vật vô thường

Ngoại đạo vọng phân biệt

Các pháp không có diệt

Các Đại trụ tính ḿnh (tự tính)

Rơi vào đủ thứ kiến 

Ngoại đạo nói vô thường.

Các ngoại đạo kia nói  

Các pháp chẳng diệt, sinh

Thể tự thường các Đại

Th́ pháp nào vô thường?

Tất cả đời chỉ ḷng (duy tâm)

Mà ḷng thấy hai cảnh

Pháp khả thủ và năng

Pháp ngă, ngă sở không

Pháp ba cơi trên dưới  

Ta nói, đều là tâm

Ĺa khỏi các pháp tâm  

Lại không có thể được! 

 

 

PHẨM THỨ CHÍN: NHẬP ĐẠO

  

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Thế Tôn v́ con nói về tướng thứ lớp nhập Diệt Tận định của tất cả các Bồ tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật! Con và tất cả các Bồ tát.v.v... nếu được giỏi biết tướng thứ lớp vào Diệt Tận định và phương tiện khéo léo th́ chẳng rơi vào niềm vui tam muội Tam ma bạt đề Diệt Tận định của Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng rơi vào pháp mê hoặc của Thanh Văn, Bích Chi Phật và ngoại đạo! 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Ông hăy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ v́ ông giải nói! 

Bồ tát Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Thưa vâng! Con xin thọ giáo! 

Đức Phật dạy rằng:  

- Này Đại Tuệ! Bồ tát từ Sơ địa cho đến Lục địa vào Diệt Tận định, Thanh Văn, Bích Chi Phật cũng vào Diệt Tận định. Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát ở trong Thất địa từng niệm từng niệm vào Diệt Tận định do các Bồ tát đều có thể xa ĺa tướng có không của tất cả các pháp.  

Này Đại Tuệ! Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng thể từng niệm từng niệm vào Diệt Tận định, do Thanh Văn, Bích Chi Phật duyên vào hạnh hữu vi để vào Diệt Tận định, rơi vào tại cảnh giới khả thủ năng thủ. Vậy nên Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng thể vào Diệt Tận định từng niệm từng niệm trong Thất Địa, do Thanh Văn, Bích Chi Phật phát sinh tư tưởng kinh sợ, sợ rơi vào tướng không khác của các pháp, do hiểu các pháp với đủ thứ dị tướng: pháp có, pháp không, pháp thiện, pháp bất thiện, đồng tướng, dị tướng.... mà vào Diệt Tận định. Vậy nên Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng thể vào Diệt Tận định từng niệm từng niệm trong Thất địa, do không có trí phương tiện khéo léo vậy.  

Này Đại Tuệ! Đại Bồ tát Thất Địa chuyển diệt tâm ư, ư thức của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Này Đại Tuệ! Từ Sơ địa cho đến Lục địa Đại Bồ tát thấy ở ba cơi chỉ là tâm ư, ư thức của tự tâm, ĺa khỏi pháp ngă và ngă sở, chỉ là tự tâm phân biệt chẳng rơi vào đủ thứ các tướng của pháp bên ngoài, chỉ là nội tâm ngu si của phàm phu rơi vào nhị biên, thấy ở pháp khả thủ, năng thủ. Do không biết mà chẳng giác tri từ đời vô thỉ đến nay, thân miệng và ư vọng tưởng phiền năo, hí luận huân tập mà sinh ra các pháp.  

Này Đại Tuệ! Ở trong Bát địa, tất cả Bồ tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật vào Niết Bàn tưởng. Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát thừa Phật lực tự tâm tam muội của ḿnh, chẳng vào tam muội Lạc môn, rơi vào Niết Bàn mà trụ. Do chẳng đủ đầy Như Lai địa nên nếu Bồ tát đó trụ ở tam muội phận th́ ngưng nghỉ độ thoát tất cả chúng sinh, đoạn tuyệt giống Như Lai, diệt tan nhà của Như Lai. V́ thị hiện các cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai, vậy nên chẳng vào Niết Bàn.  

Này Đại Tuệ! Thanh Văn, Bích Chi Phật rơi vào pháp Tam muội Lạc môn. Vậy nên Thanh Văn, Bích Chi Phật sinh ra Niết Bàn tưởng.  

Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát từ Sơ địa lại cho đến Thất địa đủ phương tiện khéo léo, quan sát tưởng của tâm ư, ư thức, xa ĺa tướng sở thủ của ngă và ngă sở, quan sát ngă không, pháp không, quan sát đồng tướng, dị tướng, giỏi giải nghĩa phương tiện khéo léo vô ngại mà tự tại vào pháp Bồ Đề phận của các Địa.  

Này Đại Tuệ! Ta, nếu chẳng nói pháp đồng tướng dị tướng của các Đại Bồ tát th́ tất cả các Bồ tát chẳng biết như thật thứ lớp các Địa, sợ rơi vào pháp ngoại đạo tà kiến.v.v... Ta theo thứ lớp nói về tướng của các Địa.  

Này Đại Tuệ! Nếu người theo thứ lớp mà vào các Địa th́ chẳng rơi vào đạo khác. Ta nói tướng các Địa theo thứ lớp th́ chỉ tự tâm thấy thứ lớp các Địa và đủ thứ hành tướng trong ba cơi mà các phàm phu chẳng giác chẳng tri. Do các phàm phu chẳng giác tri, vậy nên ta và tất cả các đức Phật nói đến tướng các Địa theo thứ lớp và kiến lập đủ thứ hành tướng của ba cơi.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Thanh Văn, Bích Chi Phật ở trong Đệ Bát Địa Bồ tát ưa đắm trước Tịch Diệt tam muội lạc môn say sưa nên chẳng thể giỏi biết chỉ tự tâm kiến (thấy) mà rơi vào tự tướng đồng tướng huân tập chướng ngại, rơi vào lỗi thấy nhân vô ngă, pháp vô ngă vậy. Do tâm phân biệt gọi là Niết Bàn mà chẳng thể biết các pháp tịch tịnh.  

Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát, do thấy Tịch Tịnh tam muội Lạc môn, nhớ nghĩ tâm bản nguyện đại từ bi độ các chúng sinh, biết mười hạnh trí vô tận như thật. Vậy nên chẳng vào Niết Bàn ngay.  

Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát xa ĺa tâm hư vọng phân biệt, xa ĺa cảnh giới năng thủ khả thủ gọi là vào Niết Bàn. Do trí như thật biết tất cả các pháp chỉ là tự tâm, vậy nên chẳng sinh ra tâm phân biệt. Vậy nên Bồ tát chẳng thủ lấy tâm ư, ư thức, chẳng chấp trước tướng ngoại pháp thật có mà chẳng phải chẳng v́ Phật pháp tu hành, nương theo căn bản trí đắp đổi tu hành, v́ ở tự thân cầu Phật Như Lai chứng Địa trí vậy.  

Này Đại Tuệ! Như người ngủ mơ đi qua nước biển cả, khởi phương tiện lớn muốn đưa thân ḿnh qua. Chưa qua khỏi giữa chừng bỗng nhiên thức dậy, tác khởi sự suy nghĩ này: “Đây là thật hay là hư vọng?”. Người đó lại nghĩ suy: “Tướng như vậy chẳng phải thật, chẳng phải hư mà chỉ là ta vốn hư vọng phân biệt, cảnh giới chẳng thật, huân tập nhân nên thấy đủ thứ sắc, h́nh tướng điên đảo, chẳng ĺa có không, ư thức huân tập nên ở trong mơ nh́n thấy.  

Này Đại Tuệ! Đại Bồ tát cũng lại như vậy, ở trong Bát địa, thấy tâm phân biệt, thấy tâm, tâm, tâm số pháp v́ đến chưa được thượng thượng Phật pháp. Người tu hành th́ khiến cho được vậy. Đại Bồ tát tu hành thắng pháp gọi là Niết Bàn, chẳng phải diệt tất cả pháp gọi là Niết Bàn. Đại Bồ tát xa ĺa tâm ư, ư thức, tướng phân biệt nên được Vô sinh pháp nhẫn. Này Đại Tuệ! Trong Đệ nhất nghĩa cũng không thứ lớp, không thứ lớp hạnh, các pháp tịch tịnh cũng như hư không. 

Bồ tát Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói, Thanh Văn, Bích Chi Phật vào cửa vui Tịch Tịnh của Đệ Bát Địa Bồ tát. Đức Như Lai lại nói, Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng biết chỉ là tự tâm phân biệt. Ngài lại nói, các Thanh Văn được “nhân vô ngă” mà chẳng được “pháp vô ngă” rỗng không. Nếu nói như vậy th́ Thanh Văn, Bích Chi Phật c̣n chưa thể chứng được pháp Sơ địa, huống ǵ là vào cửa vui Tịch Diệt của Bát địa? 

Đức Phật dạy rằng:  

- Này Đại Tuệ! Ta nay v́ ông phân biệt tuyên nói! Này Đại Tuệ! Thanh Văn có ba thứ. Nói rằng người vào cửa Tịch Diệt của Bát Địa th́ đây là người trước đă tu hạnh Bồ tát mà rơi vào Thanh Văn địa, rồi trở lại y vào bản tâm tu hạnh Bồ tát để đồng vào cửa vui Tịch Diệt của Bát địa, chẳng phải là Tăng thượng mạn Tịch Diệt Thanh Văn do hạng Thanh Văn đó chẳng thể vào hạnh Bồ tát, chưa từng giác tri ba cơi chỉ là tâm, chưa từng tu hành các pháp Bồ tát, chưa từng tu hành các Ba la mật, hạnh Thập địa. Vậy nên quyết định là Tịch Diệt Thanh Văn chẳng thể chứng được cửa vui Tịch Diệt sở hành của Bồ tát đó. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Chỉ tâm không sở hữu

Phật địa và các hành

Phật khứ, lai, hiện tại

Ba đời nói như trên.

Thất địa là tâm địa

Không sở hữu Bát địa

Nhị địa gọi là hành

Địa khác gọi ngă địa.

Tịnh và chứng nội thân 

Đây gọi là ngă địa

Chỗ Tự Tại thắng hơn  

Trời A ca ni sấc

Chiếu sáng như lửa hừng  

Phát ra ánh sáng diệu

Đủ thứ đẹp thích hơn

Hóa làm ở ba cơi

Sắc ba cơi hiện lên

Hoặc có tại Quang Hóa

Chỗ đó nói các thừa

Tự Tại địa của ta

Thập địa là Sơ địa (?)  

Sơ địa là Bát địa (?)

Cữu địa là Thất địa  

Thất địa là Bát địa

Nhị địa là Tam địa

Tứ địa là Ngũ địa

Tam địa là Lục địa

Tịch Diệt có chỗ nào?

Quyết định các Thanh Văn

Chẳng hành Bồ tát hạnh

Đồng vào Đệ Bát địa

Là vốn Bồ tát hạnh. 

 

 

PHẨM THỨ MƯỜI: HỎI ĐỨC NHƯ LAI THƯỜNG, VÔ THƯỜNG

 

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Như Lai Ứng Chánh Biến Tri là thường hay vô thường vậy? 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Này Đại Tuệ! Như Lai Ứng Chánh Biến Tri chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. V́ sao vậy? V́ nhị biên là có lỗi vậy. Này Đại Tuệ! Nhị biên có, không nên có lỗi lầm! Này Đại Tuệ! Nếu nói Như Lai là thường pháp th́ đồng với nhân của thường. Này Đại Tuệ! Do các ngoại đạo nói rằng, vi trần... các nhân thương chẳng phải là tác pháp.  

Này Đại Tuệ! Vậy nên chẳng được nói Như Lai thường. Do chẳng phải là tác pháp mà nói rằng thường nên, này Đại Tuệ! Cũng chẳng được nói Như Lai vô thường. Nói vô thường th́ tức là đồng với sự tác pháp của hữu vi. Năm ấm là pháp khả kiến, năng kiến không th́ năm ấm diệt. Năm ấm diệt th́ các đức Phật Như Lai cũng nên đồng diệt mà Phật Như Lai chẳng phải pháp đoạn tuyệt.  

Này Đại Tuệ! Phàm là tác pháp th́ đều là vô thường, như cái b́nh, cái áo, cái xe, cái nhà và tấm vải, chiếc chiếu.v.v... đều là tác pháp, vậy nên vô thường. Này Đại Tuệ! Nếu nói tất cả đều vô thường th́ các đức Phật Như Lai nên chính là tác pháp mà Phật Như Lai chẳng phải là tác pháp, do không lại nói có thắng nhân. Vậy nên ta nói rằng, Như Lai chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Như Lai chẳng phải thường. V́ sao vậy? V́ tính của hư không cũng không tu hành các công đức vậy. Này Đại Tuệ! Ví như hư không chẳng phải thường chẳng phải vô thường. V́ sao vậy? V́ do ĺa khỏi thường và vô thường, do chẳng rơi vào một - khác, đều - chẳng đều, có - không, chẳng phải có, chẳng phải không, thường - vô thường, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Vậy nên ĺa khỏi tất cả các lỗi, chẳng thể được nói.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Cũng chẳng được nói Như Lai là thường. V́ sao vậy? V́ nếu nói là thường th́ đồng với sừng của thỏ, ngựa, lạc đà, lừa, rùa, rắn, nhặng, cá.v.v... Vậy nên chẳng được nói rằng, Như Lai thường.

Lại nữa, này Đại Tuệ! Cũng chẳng được nói Như Lai là thường, sợ rơi vào “bất sinh thường”. Vậy nên chẳng được nói Như Lai Thế Tôn thường.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Lại có pháp khác, y vào pháp đó nên được nói Như Lai Thế Tôn là thường. V́ sao vậy? V́ y vào pháp Nội Chứng Trí chứng thường. Vậy nên được nói Như Lai là thường. Này Đại Tuệ! Pháp Nối Chứng Trí của các đức Phật Như Lai là thường hằng thanh lương chẳng biến đổi.  

Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri hoặc ra đời hay không ra đời, pháp tính vẫn thường! Như vậy pháp thể thường. Như vậy pháp quĩ (phép tắc) thường. Như vậy do pháp tính đó mà tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật.v.v... cũng chẳng từng nghe, cũng chẳng từng thấy, như vậy pháp thể chẳng phải trong hư không nên đạo phàm phu chẳng giác, chẳng tri.  

Này Đại Tuệ! Nội Chứng Trí của chư Phật Như Lai là nương vào đó mà được tên gọi. Này Đại Tuệ! Do nương vào trí tuệ như thật tu hành nên được gọi là Phật, chẳng phải do tâm ư, ư thức, vô minh, năm ấm.... huân tập mà được tên gọi.  

Này Đại Tuệ! Tất cả ba cơi chẳng thật mà do vọng tưởng phân biệt hí luận nên được tên gọi. Này Đại Tuệ! Cái chẳng thật mà phân biệt hai thứ pháp được gọi là thường cùng vô thường. Nhưng mà Phật Như Lai chẳng rơi vào hai pháp, chẳng rơi vào hai biên năng thủ, khả thủ. Như Lai tịch tịnh, hai pháp chẳng sinh. Vậy nên, này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri th́ chẳng được nói là thường cùng vô thường. Này Đại Tuệ! Phàm lời nói mà được nói rằng, thường cùng vô thường th́ xa ĺa cho hết tất cả phân biệt, chẳng được nói chọn lấy pháp thường, pháp vô thường. Vậy nên ta ngăn tất cả phàm phu, chẳng được phân biệt thường cùng vô thường. Do được pháp chân thật tịch tịnh nên được hết phân biệt, chẳng sinh ra phân biệt. 

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Ĺa khỏi thường, vô thường

Phi thường, phi vô thường

Nếu thấy Phật như vậy

Đường ác chẳng vào trong.

Nếu nói thường, vô thường

Những công đức hư vọng

Kẻ vô trí biệt phân

Ngăn nói thường, vô thường

Người lập pháp sở hữu

Đều có những lỗi lầm.

Nếu hay thấy chỉ tâm

Đó chẳng đọa các lỗi. 

 

 

PHẨM THỨ MƯỜI MỘT: PHẬT TÍNH

  

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát lại thỉnh đức Phật rằng: 

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri v́ con nói! Xin đấng Thiện Thệ v́ con nói về tướng sinh diệt của ấm, giới, nhập! Thưa đức Thế Tôn! Nếu vô ngă th́ ai sinh? Ai diệt? Thưa đức Thế Tôn! Tất cả phàm phu y vào sinh, diệt mà trụ, chẳng thấy khổ hết. Vậy nên chẳng biết tướng Niết Bàn. 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Ông nay hăy lắng nghe! Ta sẽ v́ ông nói! 

Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Thưa vâng, con xin thọ giáo! 

Đức Phật bảo rằng: 

- Này Đại Tuệ! Như Lai tạng là nhân thiện hay chẳng thiện có thể cùng sáu đường tạo tác nhân duyên sinh tử. Ví như con nhà nghề làm ra đủ thứ tài khéo léo, chúng sinh y vào Như Lai tạng, năm đường sinh tử. Này Đại Tuệ! Mà Như Lai tạng ĺa khỏi ngă và ngă sở, các ngoại đạo.v.v... chẳng biết, chẳng giác. Vậy nên nhân duyên sinh tử của ba cơi chẳng cắt đứt.  

Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo.v.v... vọng kể có ngă nên chẳng thể như thật thấy Như Lai tạng, do các ngoại đạo từ đời vô thỉ đến nay hư vọng chấp trước đủ thứ hí luận, các huân tập vậy.  

Này Đại Tuệ! A lê gia thức th́ gọi là Như Lai tạng mà cùng với bảy thức vô minh gồm chung, như sóng biển lớn, thường chẳng đoạn tuyệt, thân đều sinh, ĺa khỏi lỗi vô thường, ĺa khỏi lỗi của ngă, tự tính thanh tịnh. C̣n bảy thức th́ tâm ư, ư thức.v.v... từng niệm từng niệm chẳng trụ, chính là pháp sinh diệt. Bảy thức do cái nhân hư vọng đó sinh ra, chẳng thể như thật phân biệt các pháp, xem xét h́nh tướng cao thấp, dài ngắn, chấp trước danh tướng, có thể khiến cho tự tâm thấy sắc tướng, có thể được khổ lạc, có thể ĺa khỏi nhân của giải thoát, nhân danh tướng sinh ra tùy phiền năo tham. Nương vào ư niệm đó, nhân vào các căn diệt hết, chẳng theo thứ lớp sinh ra, c̣n tự ư phân biệt chẳng sinh ra khổ lạc thọ. Vậy nên, vào Thiểu tưởng Diệt Tận định, vào Tam ma bạt đề Tứ Thiền Thật Đế Giải thoát mà người tu hành sinh ra giải thoát tưởng, do chẳng biết chuyển diệt hư vọng tưởng.  

Này Đại Tuệ! Như Lai Tạng thức chẳng ở tại trong A lê gia thức. Vậy nên, bảy thứ thức có sinh, có diệt. Như Lai Tạng thức chẳng sinh chẳng diệt. V́ sao vậy? V́ bảy thứ thức kia y vào ư niệm quan sát các cảnh giới mà sinh ra. Cảnh giới bảy thức này, tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, ngoại đạo tu hành th́ chẳng thể giác tri, chẳng biết như thật nhân vô ngă, do thủ lấy pháp đồng tướng biệt tướng, do thấy pháp ấm, giới, nhập.v.v...  

Này Đại Tuệ! Như Lai Tạng thấy như thật thể tướng của năm pháp, pháp vô ngă nên chẳng sinh, biết như thật các địa thứ lớp đắp đổi ḥa hợp, c̣n ngoại đạo th́ chẳng chánh kiến nên chẳng thể quan sát.  

Này Đại Tuệ! Bồ tát trụ ở Bất Động Địa th́ bấy giờ được mười thứ cửa tam muội.v.v... là thượng thủ, được vô lượng vô biên tam muội. Y vào tam muội Phật trụ tŕ mà quan sát chẳng thể nghĩ bàn pháp của chư Phật và sức bản nguyện của ḿnh, ngăn chặn hộ tŕ cảnh giới thật tế tam muội môn. Ngăn chặn rồi th́ vào cảnh giới Tự nội thân Thánh trí chứng pháp Chân Thật, chẳng đồng với cảnh giới quan sát tu hành của Thanh Văn, Bích Chi Phật và ngoại đạo.  

Bấy giờ, qua khỏi mười thứ Thánh đạo đó th́ vào đến trí thân, sanh thân và ư của Như Lai, ĺa khỏi các tâm công dụng tam muội. Vậy nên, này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát muốn chứng Thắng pháp Như Lai Tạng A lê gia thức th́ nên phải tu hành khiến cho thanh tịnh.  

Này Đại Tuệ! Nếu Như Lai Tạng A lê gia thức gọi là không (có) th́ ĺa khỏi A lê gia thức không sinh không diệt. Tất cả phàm phu và các Thánh nhân y vào A lê gia thức đó nên có sinh có diệt. Do nương vào A lê gia thức nên những người tu hành vào Tự nội thân Thánh hạnh sở chứng, hiện hạnh pháp lạc mà chẳng ngưng nghỉ.  

Này Đại Tuệ! Các cảnh giới Như Lai tâm, A lê gia thức, Như Lai tạng này th́ tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, ngoại đạo.v.v... chẳng thể phân biệt. V́ sao vậy? V́ do Như Lai Tạng là tướng thanh tịnh mà khách trần phiền năo th́ cấu bẩn bất tịnh.  

Này Đại Tuệ! Ta nương vào ư nghĩa này, nương vào Thắng Man phu nhân, nương vào các Đại Bồ tát khác, những người trí tuệ thậm thâm mà nói Như Lai Tạng A lê gia thức, chung với bảy thứ thức sinh ra gọi là tướng chuyển diệt, v́ các Thanh Văn, Bích Chi Phật.v.v... hiện bày pháp vô ngă. Đáp lại Thắng Man nói rằng, Như Lai Tạng chính là cảnh giới Như Lai.  

Này Đại Tuệ! Cảnh giới Như Lai Tạng A lê gia thức, ta nay cùng ông và các Bồ tát, những người trí tuệ thậm thâm có thể phân biệt rơ hai thứ pháp này. C̣n những Thanh Văn, Bích Chi Phật và ngoại đạo.v.v... những người chấp trước danh tự th́ chẳng thể biết rơ hai pháp này. Này Đại Tuệ! Vậy nên ông và các Đại Bồ tát phải học pháp này. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Thậm thâm Như Lai Tạng

Cùng bảy thức đều sinh

Thủ(lấy) hai pháp th́ sinh

Chẳng sinh như thật biết

Như ḷng hiện bóng gương

Vô thỉ đă huân tập

Như thật xét kỹ càng

Các cảnh đều trống không

Như (kẻ) si nh́n chỉ nguyệt (nh́n ngón tay chỉ trăng)

Xem tay, chẳng xem trăng

Kẻ chấp trước danh tự

Chẳng thấy Ngă thật chân

Tâm như con nghề khéo

Ư như kẻ gian manh (giảo hoạt)

Ư thức và năm thức 

Cảnh giới hư vọng thủ (lấy)

Ḥa hợp con nhà nghề 

Lừa dối kẻ phàm phu. 

 

 

PHẨM THỨ MƯỜI HAI: NĂM PHÁP MÔN

 

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát lại thỉnh đức Phật rằng: 

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri v́ con giải nói! Xin đấng Thiện Thệ v́ con nói về năm thể tướng của pháp và hành tướng sai biệt của hai vô ngă! Con và các Bồ tát.v.v... nếu được giỏi biết năm thể tướng của pháp và tướng sai biệt của hai thứ vô ngă th́ tu hành pháp này, theo thứ lớp vào đến tất cả các Địa, tu hành pháp này có thể vào trong tất cả pháp của chư Phật. Đă vào pháp của chư Phật th́ thậm chí có thể vào được Tự Thân nội chứng Trí địa của Như Lai. 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Ông nay hăy lắng nghe! Ta sẽ v́ ông giải nói! 

Bồ tát Đại Tuệ nói rằng: 

- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Thưa vâng! Con xin thọ giáo! 

Đức Phật dạy rằng:  

- Này Đại Tuệ! Ta v́ ông nói thể tướng của năm pháp và hành tướng sai biệt của hai thứ ngă.  

Này Đại Tuệ! Những ǵ là năm pháp? Một là, Danh. Hai là, Tướng. Ba là, Phân biệt. Bốn là, Chánh trí. Năm là, Chân như. Nội thân tu hành chứng thánh nhân trí, ĺa khỏi đoạn kiến và thường kiến, hiện như thật tu hành th́ vào Tam Muội Lạc Tam Ma Bạt Đề hạnh môn vậy.  

Này Đại Tuệ! Tất cả phàm phu chẳng giác chẳng tri thể tướng năm pháp và hai thứ vô ngă mà chỉ do tự tâm thấy ngoại vật nên sinh ra tâm phân biệt, chẳng phải gọi là Thánh nhân. 

Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Sao là phàm phu sinh tâm phân biệt, chẳng phải Thánh nhân vậy? 

Đức Phật dạy: 

- Này Đại Tuệ! Tất cả phàm phu chấp trước danh tướng thuận theo sinh pháp. Thuận theo sinh pháp rồi th́ thấy đủ thứ tướng, rơi vào trong tâm tà kiến, ngă và ngă sở, chấp trước đầy đủ tất cả pháp tướng. Chấp trước rồi th́ vào đến chỗ vô minh hắc ám chướng ngại. Vào chỗ chướng ngại rồi th́ khởi lên ḷng tham. Khởi lên ḷng tham rồi mà có thể tạo tác nghiệp tham sân si. Tạo hành nghiệp rồi th́ chẳng thể tự dừng như con tằm làm tổ kén, do tâm phân biệt mà tự trói buộc lấy thân, rơi vào biển cả hiểm nạn tại sáu đường, như con lăn (cái ṛng rọc) xoay chuyển mà chẳng tự hay biết, do vô trí nên chẳng biết tất cả các pháp như huyễn, chẳng biết vô ngă và ngă sở, các pháp chẳng phải là thật mà từ vọng tưởng phân biệt sinh ra, mà chẳng biết ĺa khỏi khả kiến, năng kiến, mà chẳng biết ĺa khỏi tướng sinh, trụ, diệt, chẳng biết tự tâm hư vọng mà sinh ra. Gọi là biết thuận theo trời Tự Tại, thời gian, vi trần, ngă sinh ra.  

Này Đại Tuệ! Cái ǵ là danh? Là nhăn thức thấy sắc trước.v.v.... các pháp tướng như thanh tướng, nhĩ tướng, tỵ tướng, thiệc tướng, thân tướng. Này Đại Tuệ! Những tướng như vậy.v.v... ta nói danh là tướng của danh.    

Này Đại Tuệ! Phân biệt là ǵ? Do nương vào những pháp ǵ gọi là thủ lấy tướng? Phân biệt rơ pháp này như vậy... như vậy... rốt ráo chẳng khác, như là con voi, con ngựa, chiếc xe, bước đi, nhân dân.v.v... phân biệt đủ thứ tướng. Đó gọi là Phân biệt.  

Này Đại Tuệ! Chánh trí là ǵ? Quan sát danh, tướng mà quan sát rồi th́ chẳng thấy thật pháp, do chúng cùng chung nhân đắp đổi sinh ra nên nh́n thấy. Đắp đổi chung sinh ra th́ các thức chẳng lại khởi lên mà tướng thức phân biệt  chẳng đoạn, chẳng thường. Vậy nên chẳng rơi vào đất của tất cả ngoại đạo, Thanh Văn, Bích Chi Phật. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Chánh trí.

Lại nữa, này Đại Tuệ! Đại Bồ tát y vào Chánh trí, chẳng thủ lấy pháp danh tướng lấy làm có, chẳng thủ lấy tướng chẳng thấy lấy làm không. V́ sao vậy? V́ do ĺa khỏi tà kiến có không, do chẳng thấy danh tướng chính là nghĩa của Chánh trí. Vậy nên ta nói tên là Chân như.  

Này Đại Tuệ! Bồ tát trụ ở pháp Chân như th́ được vào cảnh giới Vô Tướng Tịch Tịnh mà vào rồi th́ được vào Hoan Hỷ địa đầu tiên của Đại Bồ tát. Khi Bồ tát được Hoan Hỷ địa đầu tiên th́ chứng được “Bách Kim Cương tam muội minh môn”, ĺa bỏ tất cả quả nghiệp của hai mươi lăm cơi hữu, qua khỏi các Thanh Văn, Bích Chi Phật địa, trụ ở cảnh giới chân như, nhà của Như Lai, như thật tu hành, biết năm pháp tướng như huyễn như mộng, như thật quan sát tất cả các pháp, khởi lên “Tự nội thân chứng Thánh trí tu hành”. Như vậy đắp đổi ĺa xa địa giác quán sở lạc của thế gian hư vọng, theo thứ lớp cho đến Pháp Vân địa. Vào Pháp Vân địa rồi, thứ đến vào lực tam muội tự tại thần thông, những hoa trang nghiêm Như Lai địa. Vào Như Lai địa rồi, v́ giáo hóa chúng sinh nên hiện đủ thứ ánh sáng ứng với thân trang nghiêm, như trăng trong nước. Y vào câu vô tận mà khéo trói buộc cái được trói buộc, tùy theo niềm tin của chúng sinh mà v́ họ nói pháp, ĺa khỏi thân tâm ư và ư thức vậy. Này Đại Tuệ! Bồ tát vào Chân như rồi, được vô lượng vô biên pháp như vậy... như vậy... trong Phật địa. 

Ngài Đại Tuệ lại bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn v́ năm pháp vào ba pháp, v́ ba pháp vào trong năm pháp (?), v́ tự thể tướng mỗi mỗi đều sai biệt! 

Đức Phật bảo rằng: 

- Này Đại Tuệ! Ba pháp vào trong năm pháp! Này Đại Tuệ! Chẳng phải chỉ ba pháp vào trong năm pháp mà tám thứ thức, hai thứ vô ngă cùng vào năm pháp.  

Này Đại Tuệ! Làm sao ba pháp vào trong năm pháp? Này Đại Tuệ! Danh tướng là phân biệt pháp tướng. Này Đại Tuệ! Y vào hai pháp phân biệt đó sinh ra tâm, tâm số pháp cùng một lúc, chẳng phải trước sau như mặt trời cùng ánh sáng xuất hiện một lúc mà có đủ thứ tướng phân biệt. Này Đại Tuệ! Đó gọi là ba tướng y vào lực nhân duyên sinh ra vậy. Này Đại Tuệ! Chánh trí Chân như gọi là tướng Đệ Nhất Nghĩa đế nương vào pháp bất diệt vậy.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Chấp trước tự tâm thấy pháp phân biệt; sai biệt có tám thứ do phân biệt các tướng. Do là thật nên ĺa khỏi ngă, ngă sở vào pháp sinh diệt, bấy giờ chứng được hai pháp vô ngă.  

Này Đại Tuệ! Pháp môn của năm pháp vào các Phật địa, pháp tướng các địa cũng vào trong năm pháp môn, pháp của tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật cũng vào trong năm pháp môn, pháp Như lai nội thân chứng Thánh Trí cũng vào trong năm pháp môn.  

Lại nữa, này Đại Tuệ! Năm pháp tướng gọi là Phân biệt Chân Như Chánh Trí. Này Đại Tuệ! Sao gọi là tướng? Tướng là thấy h́nh tướng, trạng mạo của sắc thắng hơn hay chẳng bằng. Đó gọi là tướng.  

Này Đại Tuệ! Y vào pháp tướng đó dấy khởi tướng phân biệt: Đây là cái b́nh, đây là con trâu, con ngựa, con dê.v.v... pháp này như vậy... như vậy... chẳng khác. Này Đại Tuệ! Đó gọi là danh. Này Đại Tuệ! Y vào pháp đó mà thành lập danh, thị hiện tướng đó rơ ràng riêng biệt. Vậy nên lập ra đủ thứ danh tự, trâu, dê, ngựa.v.v... đó. Đó gọi là phân biệt tâm, tâm số pháp.  

Này Đại Tuệ! Quan sát từ danh, tướng cho đến vi trần thường chẳng thấy được một pháp tướng, các pháp chẳng thật mà do tâm hư vọng sinh ra phân biệt vậy.  

Này Đại Tuệ! Nói Chân như tức là gọi chẳng trống rỗng (bất hư), quyết định hết rốt ráo tự tính tự thể, chánh kiến tướng Chân như! Ta và các Bồ tát và các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri nói danh khác mà nghĩa là một. Này Đại Tuệ! Như vậy.v.v.. thuận theo Chánh trí, chẳng đoạn chẳng thường, không phân biệt, chẳng hành xử phân biệt, thuận theo Tự thân nội chứng Thánh trí, ĺa khỏi những bè đảng ác kiến, chẳng Chánh trí của tất cả ngoại đạo, Thanh Văn, Bích Chi Phật.v.v...  

Này Đại Tuệ! Đối với năm pháp th́ ba pháp tướng, tám thứ thức, hai thứ vô ngă, tất cả Phật pháp đều vào trong năm pháp. Này Đại Tuệ! Ông và các Đại Bồ tát v́ cầu Thắng trí th́ nên phải tu học. Này Đại Tuệ! Ông biết rằng, năm pháp chẳng tùy theo lời dạy của kẻ khác.  

Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Tự thể tướng năm pháp

Và tám thứ thức cùng

Hai thứ pháp vô ngă

Nhiếp lấy các Đại thừa.

Danh, tướng và phân biệt

Thể tướng ba pháp kia

Chân như và Chánh trí

Là tướng Đệ nhất nghĩa. 

 

 

PHẨM THỨ MƯỜI BA: HẰNG HÀ SA

  

Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Thế Tôn y vào danh tự nói, chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại nhiều như cát sông Hằng. Thưa đức Thế Tôn! Đức Phật nói như vậy là nương  vào lời nói trong miệng của Như Lai, con thuận theo chọn lấy, v́ lại có nghĩa! Nguyện xin ngài v́ con giải nói! 

Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

- Này Đại Tuệ! Như lời nói danh tự, chương cú của ta th́ chớ thủ lấy như vậy. Này Đại Tuệ! Các đức Phật ba đời chẳng phải cát sông của sông Hằng.v.v... V́ sao vậy? V́ lời nói thí dụ quá hơn thế gian th́ chẳng phải như thí dụ. V́ sao vậy? V́ do có tương tợ và chẳng tương tợ vậy.  

Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri chẳng định nói thí dụ tương tợ, chẳng tương tợ quá hơn thế gian. V́ sao vậy? Này Đại Tuệ! V́ ta nói thí dụ chỉ là phần ít thôi vậy. Này Đại Tuệ! Lời nói thí dụ ta và các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri chỉ nói lên một ít nghĩa. V́ sao vậy? V́ phàm phu ngu si, các ngoại đạo.v.v... chấp trước các pháp, thường tăng trưởng tà kiến, thuận theo thế gian, luân hồi sinh tử. V́ những người đó chán nghe sinh ra kinh sợ mà lại nghe các đức Phật như cát sông Hằng th́ liền đối với đạo Thánh Vô Thượng của Như Lai sinh ra tư tưởng dễ được, cầu pháp xuất thế.   Này Đại Tuệ! Vậy nên ta nói các đức Phật Như Lai như cát sông Hằng. V́ sao vậy? V́ trong những Kinh khác của ta nói, đức Phật ra đời như hoa Ưu Đàm. Chúng sinh nghe rồi nói rằng, đạo Phật khó được mà chẳng tu hành tinh tấn. Vậy nên ta nói, các đức Phật Như Lai như cát sông của sông Hằng.  

Này Đại Tuệ! Ta nói, các đức Phật ra đời như hoa Ưu Đàm, này Đại Tuệ! Mà hoa Ưu Đàm ở trong thế gian, không có người từng thấy, rồi sẽ cũng chẳng thấy. Này Đại Tuệ! Ta nói như vậy chẳng phải y vào pháp sở đắc của tự thân mà nói. Vậy nên nói rằng, như hoa Ưu Đàm, các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy.  

Này Đại Tuệ! Ta y vào Nội thân chứng pháp mà nói pháp. Vậy nên nói thí dụ quá hơn thế gian, do các phàm phu, chúng sinh vô tín chẳng thể tin lời thí dụ của ta. V́ sao vậy? V́ nói về cảnh giới tự nội thân Thánh trí mà không thí dụ th́ có thể nói được, c̣n xa ĺa tâm ư và ư thức, qua khỏi các kiến địa, pháp Chân như của các đức Phật Như Lai th́ chẳng thể nói được. Vậy nên ta nói đủ thứ thí dụ.  

Này Đại Tuệ! Ta nói, các đức Phật như cát sông của sông Hằng th́ tức là thí dụ một phần ít. Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai b́nh đẳng, chẳng phải chẳng b́nh đẳng, do chẳng phải phân biệt phân biệt vậy.  

Này Đại Tuệ! Ví như cát sẵn có trong sông Hằng Hà bị cá, ba ba, rùa, rồng, trâu, dê, voi ngựa... các loài thú dặm đạp mà cát sông đó chẳng sinh phân biệt, chẳng sân, chẳng giận, cũng chẳng sinh ḷng: “đó năo loạn ta”, không phân biệt nên tịnh (sạch), ĺa các cấu bẩn.  

Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri cũng lại như vậy, Nội Thân chứng đắc Thánh trí, đủ đầy các lực, thần thông tự tại công đức như cát sông Hằng. Tất cả tà luận ngoại đạo, những thầy cá Ba Ba ngu si dùng tâm sân nhuế hủy nhục, mắng chửi Như Lai mà Như Lai chẳng động, chẳng sinh ra phân biệt. Do lực bản nguyện nên ban cho chúng sinh tất cả các niềm vui Tam muội Tam ma bạt đề, khiến cho họ thỏa măn đầy đủ, chẳng phân biệt phân biệt.  

Này Đại Tuệ! Vậy nên ta nói, các đức Phật Như Lai như cát sông Hằng Hà ngang bằng. Đẳng là b́nh đẳng không có tướng khác do ĺa khỏi tấm thân yêu thích vậy. Này Đại Tuệ! Ví như cát của sông Hằng Hà chẳng ĺa khỏi tướng của đất. Này Đại Tuệ! Đại địa lửa đốt cháy, lửa chẳng khác đất, lửa chẳng đốt cháy đất. Địa đại có thể tương tục của lửa.  

Này Đại Tuệ! Kẻ phàm phu ngu si rơi vào trí điên đảo, tự tâm phân biệt nói rằng, đất bị đốt cháy mà đất chẳng cháy, do chẳng ĺa khỏi đất mà lại được có thân lửa bốn đại vậy.  

Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, thể pháp thân của các đức Phật Như Lai như cát của sông Hằng Hà ngang bằng, chẳng diệt, chẳng mất. Này Đại Tuệ! Ví như cát sông Hằng Hà vô lượng vô biên. Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, xuất hiện ở thế gian, phóng ra vô lượng ánh sáng, khắp cùng tất cả đại hội của chư Phật, v́ giáo hóa chúng sinh khiến cho họ giác tri vậy.  

Này Đại Tuệ! Như cát sông Hằng Hà lại chẳng sinh ra tướng, như vi trần kia cứ giữ thể tướng vi trần như vậy mà trụ. Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, ở trong thế gian chẳng sinh chẳng diệt, các đức Phật Như Lai cắt đứt cái nhân hữu vậy.  

Này Đại Tuệ! Như cát sông Hằng Hà, nếu ra khỏi sông th́ cũng chẳng thể thấy vào ở trong sông, cũng chẳng thể thấy, cũng chẳng khởi tâm: Ta ra vào sông.  

Này Đại Tuệ! Lực trí tuệ của các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, độ các chúng sinh cũng chẳng tận diệt, cũng chẳng tăng trưởng. V́ sao vậy? V́ các pháp không thân vậy.  

Này Đại Tuệ! Tất cả loài có thân đều là pháp vô thường ma diệt, chẳng phải pháp vô thân. Các đức Phật Như Lai chỉ là pháp thân.  

Này Đại Tuệ! Ví như có người muốn được váng sữa dầu mà lại ép cát sâng Hằng th́ nhất định chẳng thể được, không có váng sữa, dầu vậy.  

Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai v́ khổ năo của các chúng sinh đă đè ép sân chẳng thể được, chẳng xả tướng pháp giới của ḿnh, chẳng xả tướng pháp vị của ḿnh, chẳng xả bản nguyện cho chúng sinh vui, do được đầy đủ đại từ đại bi, rằng: Ta nếu chẳng khiến cho tất cả chúng sinh vào Niết Bàn th́ thân ta cũng chẳng vào với Niết Bàn.  

Này Đại Tuệ! Như cát sông Hằng Hà theo ḍng nước mà chảy th́ nhất định chẳng ngược ḍng. Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai v́ các chúng sinh nói pháp cũng vậy, thuận theo Niết Bàn th́ chẳng phải nghịch lưu.  

Này Đại Tuệ! Vậy nên ta nói, cát sông Hằng Hà thuận theo ḍng th́ chẳng phải là bỏ đi nghĩa. Nếu Phật Như Lai có bỏ đi nghĩa th́ các đức Phật Như Lai nên vô thường và diệt.  

Này Đại Tuệ! Bản tế của thế gian c̣n chẳng thể biết mà chẳng thể biết th́ ta làm sao nương vào mà nói, bỏ đi nghĩa (khử nghĩa). Vậy nên Như Lai chẳng phải là khử nghĩa. Này Đại Tuệ! Khử nghĩa th́ gọi là đoạn nghĩa (cắt đứt nghĩa), kẻ phàm phu ngu si chẳng giác chẳng tri. 

Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

- Thưa đức Thế Tôn! Thưa đức Thế Tôn, nếu chúng sinh ở tại thế gian, xoay vần đi lại bản tế chẳng thể biết th́ làm sao mà đức Như Lai được giải thoát? Lại c̣n khiến cho chúng sinh được giải thoát? 

Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

- Này Đại Tuệ! Nói giải thoát là ĺa khỏi tâm phân biệt huân tập tất cả hí luận phiền năo từ vô thỉ, có thể biết như thật chỉ là tự tâm thấy tâm hồi chuyển phân biệt bên ngoài. Vậy nên, ta nói tên là Giải thoát.  

Này Đại Tuệ! Nói giải thoát th́ chẳng phải là Diệt pháp. Vậy nên nay ông hỏi ta, nếu chẳng biết bản tế làm sao được giải thoát th́ câu hỏi này chẳng thành!  

Này Đại Tuệ! Nói bản tế th́ tức là tâm phân biệt, một thể mà khác tên. Này Đại Tuệ! Ĺa khỏi tâm phân biệt lại không chúng sinh, tức là sự phân biệt này gọi là chúng sinh.  

Này Đại Tuệ! Trí tuệ chân thật quan sát nội ngoại pháp, không pháp khả tri năng tri vậy. Này Đại Tuệ! Do tất cả pháp bản lai tịch tịnh.  

Này Đại Tuệ! Chẳng như thật biết, chỉ là tự tâm thấy, hư vọng phân biệt nên sinh ra tâm phân biệt. Như thật biết th́ chẳng sinh ra phân biệt. 

Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

Quan sát đến chư Phật

Ví như cát sông Hằng

Chẳng diệt cũng chẳng sinh  

Người đó hay thấy Phật.

Xa ĺa các cấu trần

Như cát ḍng sông Hằng

Thuận theo ḍng chẳng biến(đổi) 

Cũng như vậy pháp thân.

  

KINH NHẬP LĂNG GIÀ

- Quyển thứ bảy hết -

  

            Minh Quang posted October 31, 2005

[Home] [Up] [Kinh Nhập Lăng Già 1] [Kinh Nhập Lăng Già 2] [Kinh Nhập Lăng Già 3] [Kinh Nhập Lăng Già 4] [Kinh Nhập Lăng Già 5] [Kinh Nhập Lăng Già 6] [Kinh Nhập Lăng Già 7] [Kinh Nhập Lăng Già 8] [Kinh Nhập Lăng Già 9] [Kinh Nhập Lăng Già 10]