Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

KINH  NHẬP LĂNG  GIÀ  

Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi 
Đời Nguyên Ngụy 
Việt dịch:  Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang 
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh 

 

---o0o---

 

Quyển thứ tư

 PHẨM THỨ BA: TẬP NHẤT THIẾT PHẬT PHÁP

 

 III- Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Như đức Thế Tôn nói, mười hai nhân duyên từ nhân sinh ra quả, chẳng nói lực tự tâm vọng tưởng phân biệt thấy mà sinh ra. Thưa đức Thế Tôn! Nếu vậy, ngoại đạo cũng nói từ nhân sinh ra quả. Thưa đức Thế Tôn! Ngoại đạo nói rằng, từ ở tự tánh, khi trời Tự Tại nhân vi trần.v.v... sinh ra tất cả pháp. Đức Như Lai cũng nói, nương vào nhân duyên mà sinh ra các pháp mà chẳng nói có pháp tự kiến lập. Thưa đức Thế Tôn! Ngoại đạo cũng nói, từ ở có không mà sinh ra các pháp. Đức Thế Tôn nói rằng, các pháp vốn không nương nhân duyên sinh, sinh rồi trở lại diệt. Đức Thế Tôn nói, từ vô minh duyên hành cho đến tới hữu (có), nương vào nhăn thức.v.v... sinh ra tất cả pháp. Như đức Thế Tôn  nói th́ cũng có các pháp không có nhân mà sinh. V́ sao vậy? V́ chẳng từ nhân sinh ra một lúc, không sinh ra trước, sau. Do nhân pháp này sinh ra pháp này. Đức Thế Tôn tự nói, nhân vào nhân hư vọng mà pháp sinh ra; pháp này chẳng phải theo thứ lớp sinh ra. Nếu vậy th́ ngoại đạo nói pháp thắng hơn mà đức Như Lai chẳng đúng. V́ sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! V́ ngoại đạo nói, nhân không nhân duyên có thể sinh ra quả. Đức Như Lai nói, nhân của pháp cũng nương vào quả, quả cũng nương vào nhân. Nếu vậy th́ nhân duyên không nhân, không quả. Thưa đức Thế Tôn! Nếu vậy th́ nhân quả đó đây đắp đổi không cùng. Đức Thế Tôn nói rằng, từ pháp này sinh ra pháp kia. Nếu vậy th́ không nhân sinh ra pháp. 

 Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Ta nay sẽ nói, nhân pháp này sinh ra pháp kia chẳng đồng với sự kiến lập nhân quả của ngoại đạo. Pháp không nhân cũng từ nhân sinh ra, c̣n ta chẳng như vậy. Ta nói, các pháp từ nhân duyên sinh, chẳng phải không nhân duyên, cũng chẳng tạp loạn, cũng không lỗi đắp đổi vô cùng. V́ sao vậy? V́ do pháp không năng thủ, khả thủ vậy. Này Đại Tuệ! Ngoại đạo chẳng biết tự tâm thấy nên chấp trước pháp năng thủ, khả thủ, chẳng biết tự tâm thấy nội ngoại pháp. Này Đại Tuệ! Các ngoại đạo kia chẳng biết cảnh giới bên trong của ḷng ḿnh nên thấy vật có, không. Vậy nên ngoại đạo có lỗi như vậy, chẳng phải lỗi của ta vậy. Ta thường nói rằng, nhân duyên ḥa hợp mà sinh ra các pháp, chẳng phải không nhân sinh ra. 

 Bồ tát Đại Tuệ lại nói: 

 - Thưa đức Thế Tôn! Có nói lời nói th́ nên có các pháp. Thưa đức Thế Tôn! Nếu không các pháp th́ nên chẳng nói lời nói. Thưa đức Thế Tôn! Vậy nên nương vào lời nói nên có các pháp. 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Cũng có không có pháp mà nói lời nói như là sừng thỏ, lông rùa, thạch nữ có con.v.v... ở trong thế gian mà có lời nói. Này Đại Tuệ! Sừng thỏ đó chẳng phải có, chẳng phải không mà nói lời nói. Này Đại Tuệ! Ông nói, do có lời nói nên có các pháp th́ nghĩa này đă bị phá. Này Đại Tuệ! Chẳng phải ngôn ngữ của tất cả đất nước Phật nói pháp. V́ sao vậy ? V́ do các ngôn ngữ chỉ là tâm người phân biệt nói. Vậy nên, này Đại Tuệ! Có đất nước Phật những nh́n chẳng chớp, miệng không lời nói gọi là nói pháp. Có đất nước Phật những vậy thị hiện tướng gọi là nói pháp. Có đất nước Phật chỉ động tướng này gọi là nói pháp. Có đất nước Phật chỉ động tướng mắt gọi là nói pháp. Có đất nước Phật chỉ cười gọi là nói nói. Có đất nước Phật chỉ ngáp gọi là nói pháp. Có đất nước Phật họ gọi là nói pháp. Có đất nước Phật, niệm gọi là nói pháp. Có đất nước Phật, thân (mạng) gọi là nói pháp. Này Đại Tuệ! Như thế giới Vô Thuấn và thế giới Chúng Hương, với đức Phổ Hiền Như Lai Ứng Chánh Biến Tri mà Đại Bồ tát ở đó quan sát, mắt chẳng tạm nháy th́ được Vô Sinh pháp nhẫn, cũng được vô lượng thắng pháp tam muội. Vậy nên, này Đại Tuệ! Ông chẳng được nói rằng, có ngôn ngữ nói nên có các pháp. Này Đại Tuệ! Như Lai cũng thấy tất cả loài chúng sinh trong các thế giới như vi trùng, muỗi, mồng, ruồi nhặng.v.v... chẳng nói ngôn ngữ mà chung làm việc của ḿnh được hoàn thành. 

 Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Như hư không sừng thỏ

 Và thạch nữ sinh con

 Không mà có ngôn ngữ

 Như vậy phân biệt suông

 Pháp nhân duyên ḥa hợp

 Ngu si phân biệt sinh

 Chẳng biết pháp như thật

 Trong ba “hữu” xoay vần. 

 Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói pháp thường th́ nương vào những pháp ǵ mà nói những lời như vậy? 

 Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Nương vào pháp mê hoặc ta nói là Thường. V́ sao vậy? Này Đại Tuệ! V́ Thánh nhân cũng thấy pháp mê hoặc của thế gian, chẳng phải là ḷng điên đảo. Này Đại Tuệ! Ví như: ngọn lửa, vừng lửa, vừng lông, thành của Càn thát bà, huyễn, mộng, trăng trong nước, h́nh tượng trong gương... Người thế gian chẳng phải trí tuệ th́ thấy có các h́nh tượng, thấy điên đảo vậy. Người có trí tuệ th́ chẳng sinh ra phân biệt mà chẳng phải chẳng thấy sự mê hoặc đó. Này Đại Tuệ! Người có trí tuệ th́ thấy đủ thứ việc mê hoặc đó, chẳng sinh ra ḷng cho là thật. V́ sao vậy? V́ ĺa khỏi pháp có, không vậy. 

 Đức Phật lại bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc ĺa khỏi có, không là sao? Nghĩa là những phàm phu ngu si thấy có đủ thứ cảnh giới như những ngă quỉ, biển cả sông Hằng, thấy nước mà chẳng thấy. Này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc này th́ chẳng được nói có, chẳng được nói không.  

 Này Đại Tuệ! C̣n chúng sinh khác th́ thấy đó chính là nước nên chẳng được nói không. Này Đại Tuệ! Việc mê hoặc cũng lại như vậy, do các Thánh nhân ĺa khỏi cái thấy điên đảo.  

 Này Đại Tuệ! Nói rằng pháp mê hoặc thường là do sự sai biệt của tưởng vậy. Này Đại Tuệ! Nhân pháp mê hoặc thấy đủ thứ tướng mà pháp mê hoặc chẳng phân biệt sự phân biệt khác. Vậy nên, này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc thường.  

 Này Đại Tuệ! Làm sao pháp mê hoặc mà gọi là Thật? Do các Thánh nhân trong pháp mê hoặc, chẳng sinh ra ḷng điên đảo, cũng chẳng sinh thật tâm. Này Đại Tuệ! Mà các Thánh nhân thấy pháp mê hoặc đó khởi lên ít tâm tưởng, chẳng sinh ra sự tướng của Thánh trí. Này Đại Tuệ! Khởi lên chút ít tưởng th́ đó gọi là phàm phu, chẳng phải gọi là Thánh nhân.  

 Này Đại Tuệ! Phân biệt pháp mê hoặc đó là điên đảo, chẳng phải là điên đảo là có thể sinh ra hai thứ tính. Những ǵ là hai? Một là, có thể sinh ra phàm phu tính. Hai là, có thể sinh ra Thánh nhân tính.  

 Này Đại Tuệ! Thánh nhân tính đó là có thể sinh ra ba thứ tính sai biệt. Đó là tính sai biệt đất nước của Thanh Văn, Bích Chi Phật và Phật.  

 Này Đại Tuệ! Pháp mao đạo phàm phu phân biệt mê hoặc là ǵ mà có thể sinh ra tính Thanh Văn thừa đó? Này Đại Tuệ! Đó gọi là chấp trước mê hoặc pháp tự tướng, đồng tướng đó th́ có thể thành tính Thanh Văn thừa. Này Đại Tuệ! Đó gọi là mê hoặc pháp có thể sinh ra, có thể thành tính Thanh Văn thừa.  

 Này Đại Tuệ! Phàm phu ngu si phân biệt mê hoặc pháp là ǵ mà có thể sinh ra tính Bích Chi Phật thừa đó? Này Đại Tuệ! Là gọi chấp trước mê hoặc pháp đó quan sát các pháp tự tướng, đồng tướng mà chẳng ưa rối rắm, ồn ào th́ có thể sinh ra tính Bích Chi Phật thừa. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Mê hoặc pháp có thể sinh ra, có thể thành tính Bích Chi Phật thừa.  

 Này Đại Tuệ! Kẻ trí liền phân biệt pháp mê hoặc đó có thể sinh ra tính Phật thừa là ǵ? Này Đại Tuệ! Là gọi sự thấy cái năng kiến, khả kiến đó chỉ là tự tâm mà chẳng phân biệt pháp có, không. Này Đại Tuệ! Như vậy quan sát  pháp mê hoặc có thể sinh ra, có thể thành tính Như Lai thừa. Này Đại Tuệ! Như vậy gọi là nghĩa của tính.  

 Này Đại Tuệ! Cái ǵ là tất cả mao đạo phàm phu? Tức là phân biệt pháp mê hoặc đó thấy đủ thứ việc, có thể sinh tính thừa sở hữu của thế gian. Do quan sát các pháp như vậy... như vậy... quyết định chẳng khác. Vậy nên, này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc đó, kẻ phàm phu ngu si hư vọng phân biệt đủ thứ pháp thể. Này Đại Tuệ! Mê hoặc pháp đó chẳng phải là thật sự, chẳng phải chẳng thật sự. V́ sao vậy? Này Đại Tuệ! V́ Thánh nhân quan sát mê hoặc pháp đó, chẳng hư vọng phân biệt. Vậy nên Thánh nhân có thể chuyển biến tâm ư, ư thức, thân tướng, ĺa khỏi phiền năo tập (tập quen). Vậy nên Thánh nhân chuyển mê hoặc pháp đó, gọi là Chân Như.  

 Này Đại Tuệ! Pháp này tên là ǵ? Này Đại Tuệ! Đây gọi là Chân Như pháp, ĺa phân biệt pháp. Này Đại Tuệ! V́ nghĩa này nên ta một lần nữa tuyên nói pháp thể Chân Như, pháp ĺa phân biệt. Trong Chân Như đó không có pháp hư vọng phân biệt kia

 Bồ tát Đại Tuệ lại bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Pháp mê hoặc kia là có hay là không? 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Pháp mê hoặc kia chấp trước đủ thứ tướng nên gọi là có. Này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc kia ở trong vọng tưởng nếu là có th́ tất cả Thánh nhân đều nên chẳng ĺa khỏi. Chấp trước pháp hư vọng có, không nên, này Đại Tuệ! Như ngoại đạo nói mười hai nhân duyên, có từ nhân sinh ra, chẳng từ nhân sinh ra. Nghĩa này cũng như vậy! 

 Ngài Đại Tuệ nói rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! Nếu pháp mê hoặc như huyễn kiến th́ pháp mê hoặc này khác với mê hoặc v́ pháp mê hoặc có thể sinh ra pháp. 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Chẳng phải pháp mê hoặc sinh ra lỗi lầm phiền năo. Này Đại Tuệ! Nếu chẳng phân biệt pháp mê hoặc th́ chẳng sinh ra các lỗi lầm.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Tất cả huyễn pháp y vào công sức người và chú thuật mà sinh ra, chẳng phải tự tâm phân biệt phiền năo mà sinh ra. Vậy nên, này Đại Tuệ! Pháp mê hoặc kia chẳng sinh ra các lỗi lầm, chỉ là người ngu si thấy mê hoặc pháp. Này Đại Tuệ! Kẻ phàm phu ngu si chấp trước việc hư vọng vi tế mà sinh ra các lỗi lầm, chẳng phải là Thánh nhân. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Thánh chẳng thấy mê hoặc

 Đời (thế gian) cũng không thật chân

 Mê hoặc tức là thật  

 Thật pháp ắt mê lầm.

 Xa ĺa các mê hoặc 

 Nếu có tướng phát sinh

 Tức đó là mê hoặc  

 Chẳng tịnh như màn ngăn. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Ông chẳng được nói huyễn là không nên tất cả các pháp cũng không như huyễn. 

 Ngài Đại Tuệ nói rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ chấp trước các pháp như tướng huyễn nên nói rằng, các pháp như huyễn. V́ chấp trước tướng các pháp điên đảo nên nói rằng, các pháp như huyễn. Thưa đức Thế Tôn! Nếu chấp trước tướng các pháp như huyễn th́ Thế Tôn chẳng được nói rằng, tất cả pháp đều như tướng huyễn. Nếu chấp trước tướng các pháp điên đảo nên nói như huyễn th́ chẳng được nói rằng, tất cả pháp như huyễn. V́ sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Sắc có đủ thứ thân tướng để thấy. Thưa đức Thế Tôn! Không có nhân khác để sắc có các tướng có thể thấy như huyễn. Vậy nên, thưa đức Thế Tôn! Chẳng được nói rằng, chấp trước các pháp, tất cả như huyễn. 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Chẳng phải gọi chấp trước đủ thứ pháp tướng th́ nói rằng, các pháp tất cả như huyễn. Này Đại Tuệ! Các pháp điên đảo diệt mau chóng như chớp nên nói như huyễn. Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp ví như ánh chớp, vừa thấy liền diệt mà phàm phu chẳng thấy. Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp cũng lại như vậy, do tất cả pháp tự tâm phân biệt đồng tướng, dị tướng, do chẳng thể quan sát nên chẳng thấy như thật, do vọng chấp sắc pháp.v.v... 

 Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ: 

 Chẳng phải thấy sắc pháp...

 Nói rằng, huyễn pháp không

 Nên chẳng trái trên dưới

 Mọi pháp, ta nói rằng

 Chẳng thấy có bản tính 

 Như huyễn, thể không sinh. 

 Bồ tát Đại Tuệ lại bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Như đức Thế Tôn nói, các pháp chẳng sinh, rồi lại nói rằng, như huyễn. Theo lời nói trước sau của Thế Tôn về tự tướng không trái sao? Do đức Như Lai nói tất cả các pháp chẳng như huyễn. 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Ta nói, tất cả pháp chẳng sinh như huyễn th́ chẳng thành ra trước sau có sự trái lỗi nhau. V́ sao vậy? V́ do tất cả phàm phu ngu si chẳng thấy pháp sinh và pháp chẳng sinh, chẳng thể hay biết tự tâm có không, ngoại pháp có không. V́ sao vậy? V́ do chẳng thể thấy pháp chẳng sinh. Này Đại Tuệ! Như vậy, ta nói các pháp trước sau không có trái nhau.  

 Này Đại Tuệ! Ta ngăn ngoại đạo kiến lập nghĩa nhân quả chẳng tương đương. Vậy nên ta nói các pháp chẳng sinh.  

 Này Đại Tuệ! Tất cả ngoại đạo quần tụ lại mà nói như vầy: “Từ ở có, không sinh ra tất cả pháp”. Chúng chẳng nói, tự tâm phân biệt, chấp trước nhân duyên mà sinh ra.  

 Này Đại Tuệ! Ta nói các pháp có cũng chẳng sinh, không cũng chẳng sinh. Vậy nên, này Đại Tuệ! Ta nói, các pháp chẳng sinh, chẳng diệt.  

 Này Đại Tuệ! Ta nói tất cả các pháp có là để hộ các đệ tử, khiến cho họ biết hai pháp. Những ǵ là hai? Một là, nhiếp lấy các thế gian. Hai là v́ hộ cho các đoạn kiến. V́ sao vậy? V́ do y theo nghiệp nên có đủ thứ thân, nhiếp lấy sự sinh ra của sáu đường. Vậy nên ta nói rằng, có các pháp nhiếp lấy thế gian.  

 Này Đại Tuệ! Ta nói, tất cả pháp như huyễn là v́ khiến cho tất cả phàm phu ngu si rốt cùng có thể ĺa khỏi tự tướng, đồng tướng. Do tâm các phàm phu ngu si chấp trước nên rơi vào tà kiến. Do chẳng thể biết, chỉ là tự tâm hư vọng thấy, khiến cho ĺa khỏi pháp chấp trước nhân duyên sinh. Vậy nên ta nói, tất cả các pháp như huyễn, như mộng không có thật thể. V́ sao vậy? V́ nếu chẳng nói như vậy th́ phàm phu ngu si chấp tâm tà kiến, lừa dối tự thân và cả thân người khác, ĺa khỏi sự thấy như thật tất cả pháp.  

 Này Đại Tuệ! Làm sao trụ ở thấy như thật? Là vào tự tâm thấy các pháp vậy. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Như ông nói các pháp

 Tất cả đều chẳng sinh

 Là bài báng nhân quả   

 Như thật thấy chẳng sinh

 Ta nói có sinh pháp 

 Nhiếp thọ các thế gian

 Thấy các pháp đồng huyễn

 Chẳng thủ các tướng kiến (thấy) 

 Lại nữa, đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Ta nay v́ các Đại Bồ tát nói về danh cú tự thân tướng để các Bồ tát khéo biết về danh cú tự thân tướng mà nương theo danh cú tự thân tướng mau chóng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Được Bồ Đề rồi, các Bồ tát v́ chúng sinh nói về danh cú tự tướng. 

 Bồ tát Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin ngài nói mau! 

 - Này Đại Tuệ! Cái ǵ là danh thân? Là nương theo những pháp ǵ để tạo tác th́ gọi là danh thân, danh sự vật nghĩa khác một (?). Này Đại Tuệ! Danh này ta nói là danh thân.  

 Này Đại Tuệ! Cái ǵ là cú thân? Gọi là việc nghĩa quyết định cứu cánh thấy nghĩa vậy. Này Đại Tuệ! Đó gọi là ta nói cú thân.  

 Này Đại Tuệ! Cái ǵ là tự (chữ) thân? Là văn tự cứu cánh.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa danh thân là nương vào những pháp ǵ phân biệt rơ danh cú, có thể biết rơ h́nh tướng của ḿnh.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, cú thân là gọi cú sự rốt ráo vậy.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, danh thân là gọi những chữ theo danh sai biệt như từ chữ A cho đến chữ HA gọi là danh thân.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, tự (chữ) thân là gọi tiếng dài ngắn, âm vận cao thấp gọi là tự thân.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, cú thân là gọi Tự thân.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, cú thân là gọi hành tích của ngơ tắt, đường đi như hành tích của người, voi, ngựa, các loài thú.v.v... được gọi là cú.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, danh tự là gọi bốn ấm không sắc nương vào danh mà nói.  

 Này Đại Tuệ! Lại nữa, danh tự tướng là gọi khả năng tỏ rơ phân biệt tướng của danh tự. Đại Tuệ! Đó gọi là danh cú tự tướng. Như vậy danh cú tự tướng, ông nên phải học và v́ người diễn nói. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Danh thân cùng cú thân

 Và tự thân sai biệt

 Phàm ngu si chấp trước 

 Như voi ch́m xuống bùn. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Trong đời vị lai, người không trí tuệ, do tâm tà kiến, chẳng biết pháp như thật nên nhân thế gian luận mà tự nói là người trí. Người có trí hỏi pháp như thật, ĺa khỏi tướng tà kiến: một khác, đều - chẳng đều mà người ngu kia nói lời như vầy: “Phải hỏi chẳng phải là chẳng phải hỏi chánh niệm. Gọi sắc pháp.v.v... thường - vô thường là một là khác. Như vậy Niết Bàn hữu vi. Các hành là một là khác. Năng kiến, sở kiến sẵn có trong tướng là một là khác. Tác giả, sở tác là một là khác. Sắc hương vị xúc trong bốn đại là một là khác. Năng kiến, sở kiến là một là khác. Viên bùn, vi trần là một là khác. Sự hiểu biết của trí giả là một là khác. Tướng thứ lớp thượng thượng, vô kư thượng thượng như vậy để đáp rằng, đức Phật nói như vậy, th́ đó là bài báng ta.  

 Này Đại Tuệ! Mà ta chẳng nói pháp như vậy là v́ ngăn chận ngoại đạo tà kiến nói. V́ sao vậy? Này Đại Tuệ! V́ ngoại đạo.v.v... nói thân tức mạng, thân khác mạng khác. Những pháp như vậy.v.v... mà ngoại đạo đă nói chính là Pháp vô kư. Này Đại Tuệ! Ngoại đạo mê đến nghĩa nhân quả, vậy nên vô kư, chẳng phải trong pháp của ta, gọi là vô kư vậy.  

 Này Đại Tuệ! Trong Phật pháp của ta ĺa khỏi tướng năng kiến khả kiến hư vọng, ḷng không phân biệt. Vậy nên trong Pháp của ta không có đặt đáp (trí đáp). Các ngoại đạo.v.v.. chấp trước khả thủ năng thủ mà chẳng biết chỉ là tự tâm thấy pháp. V́ những người đó nên ta nói rằng, có bốn thứ hỏi pháp, vô kư trị đáp chẳng phải ở trong pháp của ta.  

 Này Đại Tuệ! Các đức Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri v́ các chúng sinh, có bốn thứ lời nói để đáp.  

 Này Đại Tuệ! V́ đợi thời nên ta nói pháp như vậy. V́ các chúng sinh, có bốn thứ ngôn thuyết, trí đáp.  

 Này Đại Tuệ! V́ đợi thời nên ta nói pháp như vậy. V́ căn chưa thành thục, chẳng phải là căn thục. Vậy nên ta nói nghĩa của trị đáp. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Tất cả các pháp như ĺa khỏi tác giả và nhân chẳng sinh do không có tác giả nên ta nói, các pháp chẳng sinh - Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ - Tất cả các pháp không có thể tướng. 

 Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ sao tất cả các pháp không có thể tướng? 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! V́ tự trí quan sát tự tướng, đồng tướng của tất cả các pháp mà chẳng thấy các pháp. Vậy nên ta nói tất cả các pháp không có thể tướng thật - Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ - Tất cả các pháp cũng không có Thủ tướng (thủ = lấy. 

 Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Do nghĩa ǵ mà tất cả các pháp cũng không “thủ tướng”? 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Do tự tướng, đồng tướng không có pháp có thể lấy (khả thủ) nên ta nói không có pháp khả thủ. 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp cũng không có Xả tướng (tướng bỏ). 

 Ngài Đại Tuệ bạch rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ sao các pháp cũng không xả tướng? 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Quan sát pháp tự tướng, đồng tướng th́ không có pháp có thể bỏ. Vậy nên ta nói, tất cả pháp cũng không có xả tướng. 

 Đức Phật lại bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Các pháp chẳng diệt! 

 Ngài Đại Tuệ bạch rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ sao tất cả các pháp chẳng diệt? 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Quan sát tự tướng, đồng tướng của tất cả pháp không có thể tướng. Vậy nên ta nói, các pháp chẳng diệt. 

 Đức Phật lại bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Các pháp vô thường! 

 Ngài Đại Tuệ bạch rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ sao tất cả các pháp vô thường? 

 Đức Phật dạy rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Tất cả các pháp thường vô thường mà tưởng thường, chẳng sinh ra tướng. Vậy nên ta nói, các pháp vô thường. Lại nữa, này Đại Tuệ! Ta nói, tất cả các pháp vô thường! 

 Ngài Đại Tuệ bạch rằng: 

 - Thưa đức Thế Tôn! V́ sao tất cả các pháp vô thường? 

 Đức Phật dạy rằng:  

 - Này Đại Tuệ! Do tướng chẳng sinh, do chẳng sinh ra thể nên thường vô thường. Vậy nên ta nói, các pháp vô thường. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Kư luận có bốn thứ:

 Trực đáp, phản chất đáp

 Phân biệt đáp, trí (đặt để) đáp

Để chế ngự ngoại đạo!

 Hữu (có) và phi hữu sinh

Thế sư Tăng Khư Tỳ

 Nói rằng, đều vô kư

 Họ nói lời như trên.

 Người chánh trí quan sát

 Tự tính chẳng thể được

 Vậy nên chẳng thể nói  

 Và nói, không thể tướng. 

 Lúc bấy giờ, Thánh giả Đại Tuệ Đại Bồ tát bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Thế Tôn v́ chúng con nói về tướng sai biệt những hạnh của Tu Đà Hoàn.v.v... Để con và tất cả Đại Bồ tát.v.v... giỏi biết tướng tu hành của Tu Đà Hoàn.v.v... rồi được biết như thật về Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán.v.v... mà sẽ như vậy... như vậy... v́ chúng sinh giải nói. Chúng sinh nghe rồi sẽ vào hai tướng vô ngă, sạch hai thứ chướng, thứ lớp tiến lên thủ lấy Địa, thắng tướng của Địa, được cảnh giới tu hành chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai. Bồ tát được chỗ tu hành rồi th́ như ngọc báu Như Ư, tùy theo ư niệm của chúng sinh thọ dụng cảnh giới hành động thân miệng ư vậy. 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Hay thay! Ông hăy lắng nghe! Lắng nghe! Ta nay v́ ông giảng nói! 

 Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Con xin vâng thính thọ! 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Tu đà hoàn có ba thứ quả sai biệt! 

 Ngài Đại Tuệ hỏi: 

 - Những ǵ là ba thứ? 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Đó gọi là hạ, trung, thượng. Này Đại Tuệ! Sao gọi là hạ Tu đà hoàn? Nghĩa là bảy lần trở lại thọ sinh trong ba cơi.  

 Này Đại Tuệ! Sao gọi là trung? Nghĩa là ba lần sinh hay năm lần sinh ở ba cơi, rồi vào với Niết Bàn.  

 Này Đại Tuệ! Sao gọi là thượng? Nghĩa là một lần sinh lại ba cơi, rồi vào với Niết Bàn.  

 Này Đại Tuệ! Ba thứ Tu đà hoàn này luôn có ba thứ kết, gọi là hạ, trung, thượng.  

 Này Đại Tuệ! Cái ǵ là ba kết? Là thân kiến, nghi, giới (cấm giới) thủ. Này Đại Tuệ! Thắng tiến lên trên ba thứ kết đó th́ được quả A la hán.  

 Này Đại Tuệ! Thân kiến có hai thứ. Những ǵ là hai? Một là câu sinh (đều sinh). Hai là hư vọng phân biệt mà sinh như pháp nhân duyên phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Ví như nương theo các pháp tướng nhân duyên hư vọng phân biệt mà sinh ra thật tướng. Trong pháp nhân duyên đó chẳng phải có, chẳng phải không, do phân biệt có, không chẳng phải là thật tướng. Kẻ phàm phu ngu si chấp trước đủ thứ pháp tướng, như các loài cầm thú thấy ngọn lửa mà thủ lấy cho là nước. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Tu đà hoàn phân biệt thân kiến. V́ sao vậy? V́ do không có trí mà từ đời vô thỉ đến nay hư vọng thủ lấy tướng vậy.  

 Này Đại Tuệ! Thấy này thấy cấu bẩn, thấy con người vô ngă th́ mới có thể ĺa xa.  

 Này Đại Tuệ! Sao là Tu đà hoàn đều sinh thân kiến? Là gọi thân ḿnh, thân người khác đều thấy. Bốn ấm của hai thân kiến đó, khi sinh ra sắc ấm ở Vô sắc th́ nương vào bốn Đại và bốn trần.v.v... Nhân duyên đó, đây ḥa hợp sinh ra sắc mà Tu đà hoàn biết rồi, có thể rời khỏi tà kiến có, không, đoạn trừ thân kiến. Đoạn thân kiến rồi th́ chẳng sinh ḷng tham. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng thân kiến của Tu đà hoàn.  

 Này Đại Tuệ! Sao gọi là tướng nghi của Tu đà hoàn? Nghĩa là được chứng thiện pháp, thấy tướng rồi th́ trước tiên đoạn trừ thân kiến và tâm phân biệt nhị kiến. Vậy nên ở trong các pháp chẳng sinh ḷng nghi, lại chẳng sinh tâm đối với những người tôn kính khác, do v́ tôn tướng, v́ tịnh, bất tịnh vậy. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng nghi của Tu đà hoàn.  

 Này Đại Tuệ! Sao là tướng giới thủ của Tu đà hoàn? Nghĩa là giỏi thấy tướng khổ của chỗ thọ sinh. Vậy nên chẳng thủ lấy giới tướng. Này Đại Tuệ! Giới thủ nghĩa là các phàm phu tŕ giới tinh tấn, đủ thứ thiện hạnh, cầu cảnh giới vui, sinh trong các cơi trời. Tu đà hoàn kia chẳng thủ lấy tướng này mà thủ lấy nội chứng tự thân, hồi hướng tiến đến chỗ thắng hơn (thắng xứ), ĺa khỏi các vọng tưởng, tu giới phận vô lậu. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng Giới thủ của Tu đà hoàn. Này Đại Tuệ! Tu đà hoàn đoạn ba kết phiền năo, ĺa tham sân si. 

 Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói, mọi người nhiều tham, Tu đà hoàn ĺa khỏi những tham ǵ? 

 Đức Phật dạy rằng:  

 - Này Đại Tuệ! Tu đà hoàn ĺa việc cùng với nữ nhân ḥa hợp, chẳng v́ niềm vui hiện tại mà gieo nhân khổ vị lai, xa ĺa đánh đập, than thở, ôm ấp, liếc nh́n. Này Đại Tuệ! Tu đà hoàn chẳng sinh ḷng tham như vậy. V́ sao vậy? V́ đă được tam muội lạc hạnh. Này Đại Tuệ! Tu đà hoàn xa ĺa những sự tham như vậy.v.v... chẳng phải ĺa khỏi tham Niết Bàn.  

 Này Đại Tuệ! Sao là quả tướng của Tư đà hàm? Nghĩa là một lần đến thấy sắc tướng, hiện tiền sinh ḷng chẳng phải hư vọng phân biệt tưởng kiến, do giỏi thấy tướng thiền tu hành. Một lần trở lại thế gian, liền đoạn hết khổ, vào với Niết Bàn. Đó gọi là Tư đà hàm.  

 Này Đại Tuệ! Tướng A na hàm là ǵ? Nghĩa là ở trong sắc tướng quá khứ, hiện tại, vị lai sinh ra tâm có không, do kiến (thấy) sai khiến tâm hư vọng phân biệt, các kết chẳng sinh, chẳng lại nên gọi là A na hàm.  

 Này Đại Tuệ! Tướng A la hán là ǵ? Nghĩa là chẳng sinh ra tư duy phân biệt cái có thể tư duy, tâm phân biệt lực tam muội giải thoát, thần thông, phiền năo, khổ.v.v... Đó gọi là A la hán. 

 Bồ tát Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Nói về ba thứ A la hán th́ đây nói những La hán nào gọi là A la hán? Đức Thế Tôn v́ con nói về La hán được quyết định tịch diệt, v́ thiện căn phát nguyện Bồ Đề mà quên thiện căn, La hán v́ hóa độ nên ứng hóa La hán!

 Đức Phật dạy rằng:  

 - Này Đại Tuệ! Ta v́ ông nói về Thanh Văn La hán được quyết định tịch diệt, chớ chẳng phải La hán khác. Này Đại Tuệ! La hán khác là gọi người từng tu hành hạnh Bồ tát, lại có Ứng hóa Phật đă hóa ra La hán. Do lực phương tiện căn lành của nguyện xưa nên hiện ở các cơi Phật, sinh ra trong đại chúng, trang nghiêm đại chúng hội của chư Phật vậy. Này Đại Tuệ! Các vị ấy phân biệt quá khứ, vị lai nói đủ thứ việc, xa ĺa quả chứng, năng tư duy, sở tư duy, khả tư duy do thấy tự tâm, v́ thấy sở kiến, nói được quả tướng.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Nếu Tu đà hoàn sinh tâm như vầy: “Đây là ba kết, ta ĺa khỏi ba kết” th́, này Đại Tuệ! Đó gọi là thấy ba pháp, rơi vào thân kiến. Người đó nếu như vậy th́ chẳng ĺa khỏi ba kết.  

 Này Đại Tuệ! Vậy nên Tu đà hoàn chẳng sinh ra tâm như vậy. Lại nữa, này Đại Tuệ! Nếu muốn xa ĺa Thiền vô lượng Vô sắc giới th́ nên phải xa ĺa kiến tướng của ḷng ḿnh, xa ĺa thiểu tướng (tướng ít ?), tướng tịch diệt định Tam ma bạt đề. Này Đại Tuệ! Nếu chẳng như vậy th́ tâm Bồ tát kia thấy các pháp do chỉ có tâm. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Những Thiền bốn vô lượng (?)   

 Vô sắc Tam ma đề

 Thiểu tướng, tịch diệt định   

 Trong tất cả tâm không (có)

 Nghịch lưu (Tu đà hoàn) tu vô lậu

 Và văng lai một lần

 Văng lai và Bất hoàn

 La hán tâm mê đắm

 Tư, khả tư, năng tư 

 Xa ĺa thấy chân đế

 Chỉ là hư vọng tâm   

 Giỏi biết được giải thoát. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Có hai thứ trí. Những ǵ là hai? Một là trí quan sát. Hai là trí hư vọng phân biệt thủ tướng trụ.  

 Này Đại Tuệ! Trí quan sát là ǵ? Là những trí ǵ quan sát tất cả thể tướng của các pháp, ĺa khỏi bốn pháp th́ không pháp có thể được. Đó gọi là trí quan sát.  

 Này Đại Tuệ! Bốn pháp là ǵ? Là một, khác, đều, chẳng đều đó gọi là bốn pháp.  

 Này Đại Tuệ! Nếu ĺa khỏi bốn pháp th́ tất cả pháp chẳng thể được.  

 Này Đại Tuệ! Nếu muốn quan sát tất cả pháp th́ phải nương vào bốn pháp mà quan sát các pháp.  

 Này Đại Tuệ! Trí hư vọng phân biệt thủ lấy tướng trụ nghĩa là chấp trước tướng bốn đại hư vọng phân biệt cứng nóng, ẩm ướt, chuyển động; là chấp trước tướng kiến lập, nhân, thí dụ mà kiến lập pháp chẳng phải thật lấy làm thật. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Hư vọng phân biệt chấp trước thủ tướng trụ tŕ trí. Này Đại Tuệ! Đó gọi là hai thứ trí tướng.  

 Này Đại Tuệ! Các Đại Bồ tát rốt cùng biết hai tướng này, tiến đến tướng vô ngă của pháp, giỏi biết tướng địa hạnh của trí chân thật. Biết được rồi, Bồ tát liền được Sơ địa, được trăm tam muội, nương vào lực tam muội thấy trăm đức Phật, thấy trăm vị Bồ tát, có thể biết sự việc của trăm kiếp quá khứ, trăm kiếp vị lai, chiếu soi trăm thế giới Phật. Chiếu soi trăm thế giới Phật rồi, Bồ tát giỏi biết tướng trí thượng thượng của các Địa. Rồi do bản nguyện lực nên Bồ tát có thể phấn tấn thị hiện đủ thứ thần thông, ở trong Pháp Vân địa, nương theo mưa pháp trao cho địa vị, chứng được Như Lai Nội Cứu Cánh Pháp Thân Trí Tuệ Địa, nương theo sự chuyển biến của mười vô lượng thiện căn v́ giáo hóa chúng sinh mà ứng hóa đủ thứ, tự thân thị hiện đủ thứ ánh sáng do được niềm vui của tự thân tu hành chứng trí tam muội vậy. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Đại Bồ tát nên giỏi biết tướng bốn Đại và bốn trần. Này Đại Bồ tát Đại Tuệ nên tu hành như vậy! Sở dĩ nói thật th́ nghĩa là không có chỗ bốn đại. Quan sát bốn đại bản lai chẳng sinh ra. Quan sát vậy rồi lại tác khởi ư niệm này : Nói quan sát là chỉ tự tâm thấy, hư vọng hay biết, do thấy ngoại trần không có vật chất chỉ là tâm phân biệt danh tự mà thấy, cái gọi là ba cơi ĺa khỏi tướng bốn đại và tướng bốn trần. Thấy như vậy rồi th́ ĺa khỏi bốn thứ thấy, thấy pháp thanh tịnh, ĺa ngă và ngă sở, trụ ở trong pháp tự tướng như thật. Này Đại Tuệ! Trụ ở trong pháp tự tướng như thật nghĩa là trụ ở trong pháp tự tướng kiến lập pháp vô sinh.  

 Này Đại Tuệ! Ở trong bốn đại làm sao có bốn trần? Này Đại Tuệ! Là vọng tưởng phân biệt mềm mại, ẩm ướt, thấm nhuần mà sinh ra Thủy đại trong ngoài.  

 Này Đại Tuệ! Vọng tưởng phân biệt lực ấm áp tăng trưởng mà sinh ra Hỏa đại trong ngoài.  

 Này Đại Tuệ! Vọng tưởng phân biệt tướng chuyển động nhẹ nhàng mà sinh ra Phong đại trong ngoài.  

 Này Đại Tuệ! Vọng tưởng phân biệt tướng cứng sẵn có mà sinh ra Địa đại trong ngoài.  

 Này Đại Tuệ! Vọng tưởng phân biệt hư không chung trong ngoài mà sinh ra tướng trong ngoài. Do chấp trước tà kiến hư vọng trong ngoài mà năm ấm tụ lạc, bốn đại và bốn trần sinh ra vậy. 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Thức có thể chấp trước đủ thứ cảnh giới, ưa cầu đạo khác, chọn lấy cảnh giới kia. Này Đại Tuệ! Bốn đại có bốn (?) gọi là sắc, hương, vị, xúc. Này Đại Tuệ! Bốn đại không nhân! V́ sao vậy? V́ là h́nh tướng tự thể của đất dài ngắn chẳng sinh ra tướng của bốn đại vậy. Này Đại Tuệ! Nương theo h́nh tướng lớn nhỏ, dung mạo trên  dưới mà sinh ra các pháp, chẳng ĺa khỏi h́nh tướng lớn nhỏ, dài ngắn mà có pháp. Vậy nên, này Đại Tuệ! Ngoại đạo hư vọng phân biệt bốn đại và bốn trần. Chẳng phải ngă trong pháp như sự phân biệt này.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Ta v́ ông nói thể tướng của năm ấm. Này Đại Tuệ! Tướng năm ấm là ǵ? Là sắc, thọ, tưởng, hành thức. Này Đại Tuệ! Bốn ấm không sắc tướng là thọ, tưởng, hành, thức.  

 Này Đại Tuệ! Sắc nương vào bốn Đại sinh ra. Tướng bốn Đại đó, đây chẳng đồng.  

 Này Đại Tuệ! Pháp không sắc tướng đồng như hư không th́ làm sao được thành bốn thứ số tướng? Này Đại Tuệ! Ví như hư không ĺa khỏi số tướng mà hư vọng phân biệt, đây là hư không. Này Đại Tuệ! Số tướng của ấm ĺa khỏi các tướng, ĺa khỏi tướng có không. Kẻ phàm phu ngu si nói các số tướng, chẳng phải là thánh nhân.  

 Này Đại Tuệ! Ta nói, các tướng như huyễn, đủ thứ h́nh tướng, ĺa một, hai tướng, nương theo giả danh mà nói như h́nh tượng trong gương, trong mơ, chẳng ĺa khỏi chỗ sở y.  

 Này Đại Tuệ! Như người Thánh trí tu hành phân biệt thấy năm ấm hư vọng. Này Đại Tuệ! Đó gọi là năm ấm không có thể tướng năm ấm.  

 Này Đại Tuệ! Ông nay nên ĺa khỏi tướng hư vọng phân biệt như vậy. Ĺa khỏi như vậy rồi, v́ các Bồ tát nói pháp không tịch ĺa các pháp tướng để ngăn các tướng kiến (thấy) của ngoại đạo.  

 Này Đại Tuệ! Nói pháp tịch tịnh, được chứng tướng vô ngă thanh tịnh, vào được Viễn Hành địa. Vào Viễn Hành địa rồi th́ được vô lượng tam muội, tự tại sinh ra thân như ư, do được tam muội các pháp như huyễn, do được lực thần thông tự tại, tùy theo tất cả chúng sinh tự tại sử dụng như đại địa vậy.  

 Này Đại Tuệ! Ví như đại địa, tất cả chúng sinh tùy ư mà dùng. Này Đại Tuệ! Đại Bồ tát theo sự sử dụng của chúng sinh cũng lại như vậy.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Ngoại đạo nói có bốn thứ Niết Bàn. Những ǵ là bốn? Một là, Tự thể tướng Niết Bàn. Hai là, đủ thứ tướng có Không Niết Bàn. Ba là, Tự giác thể hữu vô Niết Bàn. Bốn là, Chư ấm tự tướng đồng tướng đoạn tướng tục thể Niết Bàn. Này Đại Tuệ! Đó gọi là bốn thứ Niết Bàn của ngoại đạo, chẳng phải điều ta nói.  

 Này Đại Tuệ! Điều ta nói là, thấy cảnh giới hư vọng, phân biệt thức diệt th́ gọi là Niết Bàn.  

 Ngài Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn có thể chẳng nói tám thứ thức sao? 

 Đức Phật bảo ngài Đại Tuệ rằng: 

 - Ta nói tám thứ thức! 

 Ngài Đại Tuệ bạch  rằng: 

 - Nếu đức Thế Tôn nói tám thứ thức th́ v́ sao chỉ nói là ư thức chuyển diệt mà chẳng nói bảy thức chuyển diệt? 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Do nương theo ư niệm kia quan sát có nên chuyển thức diệt th́ bảy thức cũng diệt.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Ư thức chấp trước thủ lấy cảnh giới sinh ra. Sinh ra rồi huân tập đủ thứ, tăng trưởng A lê gia thức, chung với ư thức, ĺa tướng ngă và ngă sở, chấp trước hư vọng rỗng không mà sinh ra phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Tướng của hai thứ thức đó không sai biệt. Do nương theo nhân của A lê gia thức quan sát tự tâm thấy cảnh mà vọng tưởng chấp trước sinh ra đủ thứ tâm giống như buộc tre đắp đổi chung lại làm nhân, như sóng biển cả, do tự tâm thấy cảnh giới gió thổi mà có sinh diệt. Vậy nên, này Đại Tuệ! Ư thức chuyển diệt th́ bảy thứ thức chuyển diệt. 

 Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Ta chẳng thủ Niết Bàn

 Cũng chẳng bỏ tác tướng

 Chuyển diệt hư vọng tâm

 Nên nói, Niết Bàn được

 Nương nhân và niệm nên

 Ư đến các cảnh giới

 Thức cùng tâm làm nhân

Là sở y của thức

 Như ḍng nước khô khan

 Th́ sóng chẳng khởi dậy

 Như ư thức diệt tan  

Các thức chẳng sinh nữa. 

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Ta đă v́ ông nói tướng hư vọng phân biệt pháp thể sai biệt. Ông và các Đại Bồ tát khéo phân biệt biết tướng pháp thể hư vọng, ĺa khỏi phân biệt pháp sở phân biệt, giỏi biết pháp tự nội thân tu hành, xa ĺa cảnh giới năng thủ, khả thủ của ngoại đạo, xa ĺa thể tưởng của đủ thứ pháp nhân duyên hư vọng phân biệt, xa ĺa rồi th́ chẳng lại phân biệt tướng hư vọng. Tướng hư vọng phân biệt pháp thể sai biệt là ǵ? Này Đại Tuệ! Tướng hư vọng phân biệt tự thể sai biệt có mười hai thứ. Những ǵ là mười hai?  

 Một là, ngôn ngữ phân biệt.

 Hai là, Khả tri phân biệt.

 Ba là, tướng phân biệt.

 Bốn là, nghĩa phân biệt.

 Năm là, thật thể phân biệt.

 Sáu là, nhân phân biệt.

 Bảy là, thấy phân biệt.

 Tám là, kiến lập phân biệt.

 Chín là, sinh phân biệt.

 Mười là, bất sinh phân biệt.

 Mười một là, ḥa hợp phân biệt.

 Mười hai là, chuyển bất chuyển phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng phân biệt tự thể tướng sai biệt pháp.  

 Này Đại Tuệ! Ngôn ngữ phân biệt nghĩa là ưa chấp trước âm thanh mỹ diệu của đủ thứ ngôn ngữ. Này Đại Tuệ! Đó gọi là ngôn ngữ phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Khả tri phân biệt nghĩa là tác khởi sự suy nghĩ này : Nên có tướng thật sự của pháp trước, Thánh nhân tu hành biết nương theo pháp đó mà sinh ra ngôn ngữ. Phân biệt như vậy, này Đại Tuệ! Th́ đó gọi là Khả tri phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Tướng phân biệt nghĩa là trong cảnh giới có thể biết, chấp đủ thứ tướng như nóng, ẩm ướt, chuyển động, cứng chắc, lấy làm thật như ngọn lửa bốc lên không mà các loài cầm thú nh́n thấy, sinh ra ư tưởng về nước. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Tướng phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Nghĩa phân biệt nghĩa là ưa thích vàng bạc.v.v... đủ thứ cảnh giới thật. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Nghĩa phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Tự thể phân biệt nghĩa là chuyên nghĩ về h́nh tướng tự thể của pháp có (hữu); pháp này như vầy... như vầy... chẳng khác; chẳng phải chánh kiến thấy phân biệt. Này Đại Tuệ! Đó gọi là Tự thể phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Nhân phân biệt nghĩa là những nhân ǵ ǵ? Những duyên ǵ ǵ? Là nhân liễu biệt có, không, tướng sinh ra tướng liễu biệt (tỏ rơ phân biệt). Này Đại Tuệ! Đó gọi là nhân phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Kiến phân biệt nghĩa là có - không, một - khác; đều - chẳng đều mà ngoại đạo tà kiến chấp trước phân biệt. Này Đại Tuệ! Đó gọi là kiến phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Kiến lập phân biệt nghĩa là thủ lấy tướng của ngă, ngă sở, nói pháp hư vọng. Này Đại Tuệ! Đó gọi là kiến lập phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Sinh phân biệt nghĩa là nương theo mọi duyên có không trong pháp mà sinh ra chấp trước tâm. Này Đại Tuệ! Đó gọi là sinh phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Chẳng sinh phân biệt nghĩa là tất cả các pháp từ xưa đến nay chẳng sinh. Do vốn không mà nương vào nhân duyên có nên không có nhân quả. Này Đại Tuệ! Đó gọi là vô sinh phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Ḥa hợp phân biệt nghĩa là những pháp ǵ ǵ ḥa hợp như sợi vàng chung lại, những pháp ǵ ǵ ḥa hợp như sợi vàng ḥa hợp. Này Đại Tuệ! Đó gọi là ḥa hợp phân biệt.  

 Này Đại Tuệ! Phược bất phược phân biệt nghĩa là nhân của trói buộc chấp trước như cái bị trói buộc. Này Đại Tuệ! Như người phương tiện thắt dây làm nút, thắt rồi trở lại mở ra. Này Đại Tuệ! Đó gọi là phược bất phược phân biệt. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng của hư vọng phân biệt pháp thể sai biệt. Tất cả phàm phu chấp trước có không nên chấp trước đủ thứ nhân duyên của pháp tướng. Vậy nên, này Đại Tuệ! Tướng phân biệt pháp thể sai biệt thấy đủ thứ pháp, chấp trước làm thật, như nương vào huyễn thấy đủ thứ việc mà phàm phu phân biệt biết khác với huyễn, cho là có pháp như vậy.  

 Này Đại Tuệ! Ta ở trong đủ thứ pháp chẳng nói ǵ khác với huyễn, cũng chẳng phải chẳng khác. V́ sao vậy? V́ nếu huyễn khác với đủ thứ pháp khác th́ chẳng nên nhân huyễn mà sinh ra đủ thứ. Nếu huyễn tức là đủ thứ pháp th́ chẳng nên thấy khác, đây là huyễn, đây là đủ thứ mà thấy sai biệt. Vậy nên ta nói, chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Vậy nên này Đại Tuệ! Ông và những Đại Bồ tát chớ phân biệt huyễn có thật hay không có thật. 

 Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Tâm nương cảnh giới buộc

 Tri giác theo cảnh sinh

 Ở chỗ thắng Tịch mịch 

 Trí tuệ b́nh đẳng sinh.

 Vọng tưởng phân biệt có

 Với duyên pháp th́ không

 Thủ hư vọng mê loạn   

 Chẳng biết lực khác sinh.

 Đủ thứ duyên sinh pháp

 Là huyễn chẳng thật chân

 Kia có đủ thứ tưởng

 Vọng phân biệt chẳng thành.

 Tưởng kia chính là lỗi   

 Đều từ ḷng buộc sinh

 Người ngu si, không trí 

 Phân biệt pháp nhân duyên.

 Các thể vọng tưởng ấy 

 Là pháp duyên khởi lên

 Vọng tưởng có đủ thứ  

 Phân biệt trong mọi duyên.

 Thế đế đệ nhất nghĩa

 Thứ ba không nhân sinh

 Vọng tưởng nói thế đế 

 Đoạn cảnh giới Thánh nhân.

 Ví như người tu hành

 Một việc thấy đủ thứ

 Pháp kia không đủ thứ 

 Tướng như vậy chia phân.

 Như mắt che đủ thứ

 Vọng tưởng thấy sắc h́nh

 Ngăn vô sắc, phi sắc

 Vô trí chọn pháp vậy.

 Ĺa bẩn như vàng ṛng 

 Như nước ĺa bùn đục

 Như mây ĺa hư không

 Chân pháp tịnh cũng vậy

 Không có vọng tưởng pháp

 Nhân duyên pháp cũng không

 Thủ có và chê không

 Quán phân biệt th́ thấy

 Vọng tưởng nếu không chân

 Pháp nhân duyên nếu thật

 Ĺa nhân pháp nên sinh

 Thật pháp sinh thật pháp.

 Nhân hư vọng gọi pháp

 Thấy các nhân duyên sinh

 Chẳng ĺa nhau danh, tưởng

 Như vậy hư vọng sinh.

 Hư vọng vốn không thật

 Th́ qua các vọng tưởng

 Nhiên hậu biết sạch trong

 Đó gọi Đệ nhất nghĩa.

 Vọng tưởng có mười hai

 Duyên pháp có sáu thứ

 Cảnh giới chứng nội thân

 Đó không có sai biệt.

 Năm pháp là thật chân

 Và ba thứ (?) cũng vậy

 Làm đây, người tu hành

 Chân Như chẳng ĺa khỏi.

 Chúng sinh và nhân duyên

 Tên phân biệt pháp đó

 Những tướng vọng tưởng đó

 Từ nhân duyên đó sinh.

 Khéo quán trí chân thật

 Không vọng tưởng, không duyên

 Đệ nhất nghĩa không vật

 Làm sao trí phân biệt?

 Nếu có pháp thật chân

 Xa ĺa khỏi có không

 Nếu có không ĺa khỏi  

 Làm sao pháp có hai?

 Phân biệt hai pháp thể  

 Pháp thể nếu có hai

 Hư vọng thấy đủ thứ

 Cảnh giới Thánh sạch trong.

 Thấy vọng tưởng đủ thứ

 Phân biệt trong nhân duyên

 Nếu có phân biệt khác 

 Th́ rơi ngoại đạo liền.

 Vọng tưởng nói vọng tưởng

 Nhân thấy ḥa hợp sinh

 Ĺa hai thứ vọng tưởng 

 Tức là pháp thật chân. 

 Bấy giờ, Đại Bồ tát Đại Tuệ lại bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin Ngài v́ con nói về tướng tu hành tự thân nội chứng Thánh trí và pháp Nhất thừa, chẳng do ở người khác, du hành tất cả các đất nước Phật, thông đạt Phật pháp! 

 Đức Phật bảo Thánh giả Đại Tuệ Bồ tát rằng: 

 - Hay thay! Hay thay! Này Đại Tuệ! Hay thay! Hăy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ v́ ông nói! 

 Ngài Đại Tuệ bạch rằng: 

 - Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Thưa vâng con xin thọ giáo! 

 Đức Phật bảo rằng: 

 - Này Đại Tuệ! Đại Bồ tát ĺa khỏi pháp danh tự A hàm, lời nói phân biệt pháp tướng của các luận sư, ở tại chỗ tịch tịnh, ngồi một ḿnh suy nghĩ, tự nội trí tuệ quan sát các pháp chẳng theo lời dạy người khác, ĺa khỏi đủ thứ tướng kiến hư vọng, phải siêng tu hành vào Thượng thường chứng trí của Như Lai địa. Này Đại Tuệ! Đó gọi là tướng tu hành tự thân nội chứng Thánh trí.  

 Này Đại Tuệ! Lại có người tu nhất thừa tướng trong ba cơi.  

 Này Đại Tuệ! Nhất thừa tướng là ǵ? Này Đại Tuệ! Như thật giác ngộ biết đạo Nhất Thừa nên ta gọi là Nhất thừa.  

 Này Đại Tuệ! Như thật giác ngộ biết tướng đạo Nhất Thừa là ǵ? Nghĩa là chẳng phân biệt cảnh giới khả thủ, năng thủ, chẳng sinh các pháp tướng như vậy trụ do chẳng phân biệt tất cả các pháp vậy. Này Đại Tuệ! Đó gọi là như thật giác ngộ biết tướng Nhất Thừa đạo.   

 Này Đại Tuệ! Như vậy giác ngộ biết tướng đạo Nhất Thừa mà tất cả ngoại đạo, Thanh Văn, Bích Chi Phật, Phạm thiên.v.v... chưa từng được biết, chỉ trừ ra ta. Này Đại Tuệ! Vậy nên ta gọi là Nhất Thừa Đạo Tướng. 

 Đại Tuệ bạch đức Phật rằng:  

 - Thưa đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn v́ nhân ǵ nói tới ba thừa, chẳng nói Nhất thừa? 

 Đức Phật dạy rằng:  

 - Này Đại Tuệ! Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể tự biết chứng đến Niết Bàn. Vậy nên ta nói, chỉ Nhất thừa đạo. Này Đại Tuệ! Do tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật theo thọ lời Phật dạy, chán ĺa thế gian, tự chẳng thể được giải thoát. Vậy nên ta nói chỉ Nhất thừa đạo.  

 Lại nữa, này Đại Tuệ! Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật chẳng ĺa trí chướng, chẳng ĺa nghiệp chướng phiền năo tập khí. Vậy nên ta nói chỉ Nhất thừa đạo. Này Đại Tuệ! Thanh Văn Duyên Giác), Bích Chi Phật chưa chứng pháp vô ngă, chưa được ĺa khỏi chẳng thể nghĩ bàn sinh biến dịch. Vậy nên ta v́ các Thanh Văn nên nói đạo Nhất Thừa. Này Đại Tuệ! Thanh Văn, Bích Chi Phật, nếu ĺa tất cả các lỗi huân tập th́ được chứng pháp vô ngă. 

 Lúc bấy giờ, ĺa khỏi các lỗi, tam muội vô lậu. Say pháp giác ngộ rồi tu hành, ra khỏi thế gian, trong cơi vô lậu. Tất cả công đức, tu hành đă được chẳng thể nghĩ bàn tự tại pháp thân. 

 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một lần nữa nói kệ rằng: 

 Thiên thừa và Phạm thừa

 Thừa Thanh Văn, Duyên Giác

 Chư Phật Như Lai thừa

 Ta nói các thừa ấy

 Do tâm có diệt, sinh

 Các thừa phi cứu cánh

 Nếu tâm đó diệt tận

 Không thừa và người thừa

 Không có thừa sai biệt 

 Ta nói là Nhất thừa.

 Dẫn đường cho sinh chúng

 Phân biệt nói các Thừa.

 Giải thoát có ba thứ

 Và hai pháp vô ngă

 Chẳng ĺa hai thứ ngăn (chướng)

Xa ĺa giải thoát chân.

 Như cây nổi trên biển  

 Thường theo sóng chuyển vần

 Ác Thanh Văn cũng vậy.

Phiêu đảng theo tướng phong (gió tướng).

 Ĺa các tùy phiền năo   

 Huân tập buộc năo phiền

 Đắm vị vui tam muội

 Cơi vô lậu trụ yên

 Không có đường cứu cánh

 Cũng lại chẳng thoái hoàn (lùi trở lại)

 Thân được các tam muội

 Bất giác kiếp không lường.

 Như người say mê man

 Rượu tan nhiên hậu tỉnh

 Được Phật thể vô thượng

Là chân pháp thân ta. 

 

 

KINH NHẬP LĂNG GIÀ

- Quyển thứ tư hết -

  

            Minh Quang posted October 31, 2005

[Home] [Up] [Kinh Nhập Lăng Già 1] [Kinh Nhập Lăng Già 2] [Kinh Nhập Lăng Già 3] [Kinh Nhập Lăng Già 4] [Kinh Nhập Lăng Già 5] [Kinh Nhập Lăng Già 6] [Kinh Nhập Lăng Già 7] [Kinh Nhập Lăng Già 8] [Kinh Nhập Lăng Già 9] [Kinh Nhập Lăng Già 10]