Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Kinh] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

KINH  ĐẠI  THỪA  NHẬP  LĂNG  GIÀ  

THÍCH NỮ TRÍ HẢI 

phụng dịch theo bản đời Đường của Ngài Thiệt Xoa Nan Đà.

 

 

 

QUYỂN NĂM

CHƯƠNG III:  VÔ THƯỜNG

 

Bấy giờ Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật: 

Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn giảng cho con tính tự giác của Như lai (Tathàgata), Ứng chính đẳng giác, khiến con cùng các Bồ tát đại hữu t́nh hiểu rành rẽ rồi tự giác ngộ, giúp người giác ngộ. 

Phật dạy: 

Đại huệ! Như ông hỏi, ta sẽ nói cho ông. 

Đại huệ nói: 

Vâng, bạch Thế Tôn! Đấng Như lai, ứng cúng chính đẳng giác là được tạo thành hay không được tạo thành, là quả hay nhân, là tướng (predicating) hay là sở tướng (predicated), là thuyết hay sở thuyết (an expression or what is expressed), là giác (knowledge) hay sở giác (that which is knowable...) tất cả những điều ấy, Như lai đều như thế hay đều không như thế? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Đấng Như lai ứng chính đẳng giác không phải tác (created) cũng không phải phi tác, không phải quả không phải nhân, không phải tướng không phải sở tướng, không phải thuyết không phải sở thuyết, không phải giác không phải sở giác. V́ sao? V́ những điều như thế đều bị mắc vào lỗi nhị nguyên. Này Đại huệ! Nếu Như lai là được tạo thành (tác) tức là vô thường, nếu vô thường th́ hết thảy pháp được tạo tác đều là Như lai cả, điều ấy ta cùng chư Phật không chấp nhận. Nếu Như lai không được tạo tác tức là không có thể tính, th́ hóa ra tất cả những phương tiện tu hành (để chứng quả) thành không, vô ích, giống như sừng thỏ, con của thạch nữ, v́ không do nhân tạo thành. Nếu không phải nhân không phải quả tức không có không không; nếu không có không không tức vượt ngoài tứ cú. Nói tứ cú nghĩa là chỉ thuận theo thế gian mà có ngôn thuyết. Nếu vượt ngoài tứ cú, chỉ có ngôn thuyết mà thôi th́ khác nào con của thạch nữ. Đại huệ! Con của thạch nữ chỉ có ngôn thuyết không ở trong tứ cú, v́ không ở trong tứ cú nên không thể suy lường. Những người có trí tuệ nên biết như vậy đối với nghĩa của tất cả những lập luận về Như lai. Này Đại huệ! Như lai có nói "các pháp là vô ngă" (niràtmànah sarvadharmàh), v́ trong các pháp không có tính ngă nên nói là vô ngă, chứ không phải là không có tự tính các pháp. Nên biết những cú nghĩa về Như lai cũng thế. Này Đại huệ! Thí như trâu không có tính ngựa, ngựa không có tính trâu, chứ không phải là không có tự tính. Hết thảy các pháp cũng vậy; không có tự tướng, không có mà có (phi phi hữu tức hữu ?), không phải là chỗ phàm phu có thể biết. V́ sao không biết? V́ phân biệt vậy. Hết thảy pháp không sinh, hết thảy pháp không tự tính, tất cũng như vậy. Này Đại huệ! Như lai và uẩn không khác, không không khác. Nếu không khác tức vô thường, v́ các uẩn là được tạo. Nếu khác th́ như hai sừng trâu có chỗ khác và cũng có chỗ không khác vậy. V́ hai sừng trông giống nhau nên không khác, cái ngắn cái dài nên có khác. Như sừng bên phải khác sừng bên trái, sừng trái khác sừng phải, ngắn dài không đồng sắc tướng cũng khác, nhưng cũng không khác. 

Uẩn, giới xứ v.v.. cũng vậy, hết thảy pháp đều như vậy. Đại huệ! Như lai ấy là y chỗ giải thoát mà nói, Như lai và giải thoát không khác cũng không không khác. Nếu khác, th́ Như lai tức tương ưng với sắc tướng, mà tương ưng sắc tướng tức là vô thường. Nếu không khác, th́ lẽ ra không thấy các sai biệt trong những người tu hành nhưng thật th́ có sai biệt, nên không phải là không khác. 

Trí và sở tri (cái biết và pháp được biết) cũng thế, không khác cũng không không khác. Nếu không khác không không khác tức là không phải thường cũng không phải vô thường, không phải tác, không sở tác, không phải hữu vi cũng không phải vô vi, không phải giác không phải sở giác, không phải tướng không phải sở tướng, không phải uẩn không phải khác uẩn, không phải thuyết không phải sở thuyết, không phải một không phải khác, không phải cùng nhau không phải không cùng nhau. V́ nghĩa ấy nên siêu việt hết thảy suy lường. V́ siêu việt suy lường nên chỉ có trên danh tự, v́ chỉ có trên danh tự nên không có sinh, v́ không có sinh nên không có diệt, v́ không có diệt nên như hư không. Này Đại huệ! Hư không không phải tác (nhân) cũng không phải sở tác (quả). V́ không phải nhân không phải quả nên xa ĺa phan duyên (Niràlambya), v́ xa ĺa phan duyên nên vượt ra ngoài hết thảy những pháp hí luận. Vượt ngoài hết thảy pháp hí luận ấy là Như lai. Như lai chính là thể Chính đẳng giác. Chính đẳng giác ấy là viễn ly tất cả căn, cảnh giới." 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài tụng: 

Vượt ngoài căn suy lường 

Không phải quả hay nhân 

Tướng hay là sở tướng 

Tất cả đều xa ĺa 

Uẩn, duyên, cùng chính giác 

Một, khác, không ai thấy 

Đă không có ai thấy 

Sao c̣n sinh phân biệt 

Không phải tác, sở tác 

Không nhân, không không nhân 

Không uẩn, không ĺa uẩn 

Cũng không ĺa các vật 

Không phải có pháp thể 

Như phân biệt kia thấy 

Lại không phải là không 

Các pháp tính như vậy 

Đối có thành ra không 

Đối với "không" nên có 

Không đă không thể giữ 

Có cũng không nên nói 

Không rơ ngă vô ngă 

Chỉ chấp nơi danh từ 

Kẻ kia ch́m nhị biên 

Hoại ḿnh, hoại thế gian 

Nếu hay thấy pháp này 

Liền ĺa hết các lỗi 

Đó gọi là chính quán 

Không hủy báng Đạo sư. 

Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật: 

Bạch Thế tôn! Như trong kinh Phật dạy đức Như lai không phải chịu sự sinh, diệt, và Thế tôn lại dạy Bất sinh bất diệt ấy cũng là một tên gọi khác để chỉ Như lai. Bạch Thế tôn! Xin Thế tôn chỉ dạy. Cái lẽ bất sinh bất diệt ấy tức là vô pháp (non-entity), sao lại nói đấy là tên khác của Như lai. Như Thế tôn dạy : "Hết thảy pháp không sinh không diệt", nên biết đó tức là sa vào các kiến chấp hữu, vô. Nếu pháp không sinh tức không thể giữ, không có một chút pháp nào cả th́ ai là Như lai? Xin Thế tôn giảng rơ. 

Phật dạy: 

- Hăy lắng nghe, ta sẽ nói. Này Đại huệ! Ta nói Như lai không phải là vô pháp, lại không phải là thâu nhận (nhiếp thủ) các pháp bất sinh bất diệt, cũng không đối đăi nhân duyên (để xuất hiện), cũng không phải là vô nghĩa. Ta nói vô sinh tức là một tên khác cho "pháp thân do ư sinh" (manomayadharmakàya) của Như lai. Hết thảy ngoại đạo Thanh văn Duyên giác, Bồ tát thất địa không rơ nghĩa ấy. Đại huệ! Thí như Đế thích (sakra), đất, hư không, cho đến chân tay, tùy theo mỗi vật, mỗi thứ đều có nhiều tên. Không phải v́ có nhiều tên mà thành ra có nhiều thể, hay thành vô thể. Đại huệ! Ta cũng như thế, ở nơi thế giới Ta bà này, có ba a tăng kỳ trăm ngàn danh hiệu, những kẻ phàm ngu tuy nghe tuy nói mà không biết đấy là tên khác của Như lai. Trong số ấy có người hoặc nhận ta là Như lai, có người cho ta là bậc Vô sư (Svayambhù), hay đấng Đạo sư (Nàyaka), hay đấng Thắng đạo (Vinàyaka), Phổ đạo (Parinàyaka), hay Phật, hay Ngưu vương hay Phạm vương (Brahman), hay Tùy hữu (Visnu), hay Tự tại (Isvara), hay đấng Thắng giả (Pradhàna), hay đấng Ca tỳ la (Kapila), hay đấng Chân thật biên (Bhùtàn-ta), đấng Vô tận (Ariskta?), đấng Đoan tướng (Nemina?); hoặc có kẻ cho ta như là thần gió, thần lửa, hay đấng Câu tỳ la, hay mặt trăng, hay mặt trời, hay như v́ vua, hay như tiên nhân, hay như đấng Thức ca (suka) hay như Nhân đà la (Indra), như sao, như sức mạnh lớn, như nước, như cái vô diệt, như cái không sinh, như Tính không, như Chân như (Tathatà), như Đế (satyatà), Thật tính (Bhùtatà), Thật tế (Shùtakoti), Pháp giới (Dharmadhàtu), Niết bàn, thường trụ, B́nh đẳng, Vô nhị, Vô tướng, Tịch diệt, Cụ tướng, Nhân duyên, Phật tính, Giáo đạo, Giải thoát, Đạo lộ, Nhất thế trí, Đấng Tối thắng (Jina), đấng Ư thành thân... hết thảy những tên như thế, đầy ba a tăng kỳ trăm ngàn danh hiệu, không tăng không giảm. Trong thế giới này cùng các thế giới khác, có những kẻ biết ta như trăng trong nước không vào không ra, nhưng hạng phàm ngu tâm bị ch́m đắm nơi nhị biên không thể hiểu thấu, mà cũng tôn trọng cúng dường thừa sự, không khéo giải danh tự cú nghĩa, chấp ngôn giáo, mê muội đối với lẽ chân thật, cho rằng vô sinh vô diệt tức là không thể tính, mà không biết đấy là một danh hiệu khác của Phật như Nhân đà la, Đế kiệt la v.v.. V́ tin nơi ngôn giáo, mê muội chân thật, ở hết thảy pháp đều y theo lời (bhùta) mà nắm ư nghĩa (atrha), nên những kẻ phàm ngu kia nói: "Nghĩa chính là lời, nghĩa và lời không khác. V́ sao? V́ nghĩa không có thể tính (nên không thể khác với lời. Suz. 166). Kẻ ấy không hiểu rơ tự tính của ngôn âm; cho rằng ngôn tức là nghĩa, không có thể tính riêng biệt cho nghĩa. Đại huệ! Kẻ kia ngu si không biết rằng ngôn thuyết th́ có sinh diệt, c̣n nghĩa th́ không sinh diệt. Đại huệ! Hết thảy ngôn thuyết đều sa vào văn tự, c̣n nghĩa th́ không (sa vào), v́ ĺa có và không, không sinh, không thể tính. Đại huệ! Như lai không nói pháp sa vào văn tự, v́ hữu và vô của văn tự đều bất khả đắc. Đại huệ! Nếu có người nói những pháp sa vào văn tự, ấy là pháp hư dối. V́ sao? V́ tự tính của các pháp ĺa văn tự. Cho nên, này Đại huệ! Trong kinh ta nói : "Ta cùng chư Phật và Bồ tát không nói một chữ không đáp một tiếng nào. V́ sao? V́ hết thảy pháp ĺa văn tự. Nhưng không phải là ta không thuận theo nghĩa mà phân biệt nói. Đại huệ! Nếu không nói th́ giáo pháp phải đứt đoạn, giáo pháp đoạn đứt th́ không có thanh văn, duyên giác, bồ tát, chư phật. Nếu tất cả đều không th́ ai nói pháp và nói cho ai? Bởi thế, Đại huệ này, Bồ tát đại hữu t́nh không nên chấp trước nơi văn tự, mà phải tùy nghi thuyết pháp. Ta cùng chư phật đều tùy những thứ phiền năo, ưa muốn và hiểu biết không đồng của chúng sinh mà khai diễn cho chúng, khiến chúng biết các pháp đều do tâm hiện, không có cảnh ngoài, xả bỏ hai phân biệt, chuyển hóa tâm, ư thức; chứ không phải v́ chúng mà nói pháp do thánh trí tự chứng (Su. có thêm một đoạn). Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh nên theo nghĩa, chớ theo văn tự, theo văn tự th́ đọa vào ác kiến; chấp trước chủ trương của ḿnh mà khởi ngôn thuyết, không thể hiểu rơ các pháp tướng văn từ chương cú, đă tự hại c̣n hại người, không thể khiến tâm người giải ngộ. Nếu khéo biết rơ hết thảy pháp tướng, văn từ cú nghĩa đều thông, th́ có thể khiến tự ḿnh thọ cái vui vô tướng, mà c̣n giúp người an trú đại thừa. Nếu khiến được người an trú đại thừa th́ liền được hết thảy chư Phật Thanh văn Duyên giác cùng chư Bồ tát thâu nhận. Nếu được chư Phật, thanh văn... thâu nhận th́ có thể thâu nhận hết thảy chúng sinh, có thể thâu nhận hết thảy chính pháp. Nếu nhiếp thọ được hết thảy chính pháp th́ không làm đứt đoạn hạt giống Phật (Budhavamsa). Nếu không đoạn giống Phật th́ được chỗ thù thắng tốt đẹp. Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh sinh chỗ tốt đẹp thù thắng, muốn chúng sinh an trú Đại thừa, dùng mười lực tự tại hiện các h́nh tướng, tùy căn cơ của họ mà nói pháp chân thật. Chân thật pháp ấy là không hai, không phân biệt, không đến không đi, hết thảy hí luận đều bặt dứt. Cho nên, này Đại huệ! Thiện nam, thiện nữ không nên y lời mà chấp nghĩa. V́ sao? V́ pháp chân thật ĺa văn tự. Đại huệ! Thí dụ có người dùng ngón tay chỉ sự vật, đứa bé con chỉ nh́n ngón tay không nh́n vật. Kẻ phàm phu ngu si cũng vậy, theo nơi ngón tay ngôn thuyết mà sinh chấp trước, thậm chí đến chết cũng không xả bỏ được ngón tay văn tự để nắm đệ nhất nghĩa. Đại huệ! Thí như con nít mới sinh đáng phải ăn đồ chín; có người không biết rành cách nấu chín, mà cho nó ăn đồ sống tất phát cuồng loạn. Bất sinh bất diệt cũng thế, không tu phương tiện tất là không tốt. V́ thế hăy nên khéo tu phương tiện, chớ theo ngôn thuyết như nh́n đầu ngón tay. Đại huệ! Nghĩa chân thật vốn vi diệu tịch tịnh, ấy là nhân của Niết bàn. Ngôn thuyết th́ cùng với vọng tưởng mà khiến người trôi lăn trong sinh tử. Đại huệ! Thật nghĩa là do nghe nhiều mà được, nghe nhiều là rành nghĩa không phải rành lời. Người rành nghĩa không theo ác kiến ngoại đạo, tự ḿnh không theo, cũng khiến người không theo. Ấy gọi là nghe nhiều nơi nghĩa, kẻ muốn cầu nghĩa nên gần gũi hạng người này và xa ĺa những kẻ chấp trước văn tự. 

Đại huệ bồ tát đại hữu t́nh nương thần lực Phật mà bạch: 

Bạch Thế tôn! Như lai diễn nói bất sinh bất diệt không có ǵ là kỳ lạ đặc biệt. V́ sao? Hết thảy ngoại đạo cũng nói đấng "Tạo tác tác giả" không sinh không diệt; Thế tôn cũng nói hư không Niết bàn cùng phi sát diệt (Amatisamkhyànirodha) là bất sinh bất diệt. Ngoại đạo nói đấng tác giả làm nhân duyên sinh ra thế gian, Thế tôn cũng nói vô minh ái nghiệp sinh ra các thế gian. Cả hai thuyết đều nói nhân duyên sinh, chỉ khác trên danh từ. V́ nhân duyên của các vật bên ngoài cũng thế. Cho nên thuyết của Phật và của ngoại đạo không có sai biệt. Ngoại đạo nói : "Vi trần, thắng diệu (pradhàna) Tự tại (Isvara), Sinh chủ (Prajàpati) v.v.. 9 thứ (Navadravya) như vậy là bất sinh bất diệt. Thế tôn cũng nói hết thảy pháp không sinh không diệt; có hay không đều bất khả đắc. Bạch Thế tôn! Các đại chủng không hoại, v́ tự tính của chúng không sinh không diệt, lan khắp các cơi mà vẫn không mất tự tính. Bạch Thế tôn! Tuy phân biệt th́ có biến đổi chút ít, song hết thảy những điều Như lai dạy không có ǵ là ngoại đạo không đă nói rồi. Cho nên Phật pháp cũng giống như ngoại đạo. Nếu không giống th́ xin Phật diễn bày cho con thuyết của Phật hơn ngoại đạo ở chỗ nào. Nếu không có sai biệt th́ ngoại đạo tức là Phật; v́ họ cũng nói bất sinh bất diệt vậy. Thế tôn thường dạy trong một thế giới không có nhiều Phật, nhưng theo đây th́ có. 

Phật dạy: 

Đại huệ! Chỗ ta nói không sinh không diệt không đồng với bất sinh bất diệt của ngoại đạo, cũng không đồng với luận của họ về sinh và vô thường (dịch theo Sz.) V́ sao? Thuyết của ngoại đạo là có thật tính không sinh không biến đổi. Ta không sa vào hữu, vô như vậy. Pháp ta nói không hữu không vô, ĺa sinh ĺa diệt. Sao là phi vô? V́ như thấy các h́nh sắc huyễn mộng. Sao gọi là phi hữu? V́ tự tính của sắc tướng không phải có, nhưng nó đồng thời vừa được thấy vừa không được thấy, vừa được nắm giữ vừa không được nắm giữ. Cho nên ta nói hết thảy pháp không phải có không phải không. Nếu biết rơ tất cả chỉ do tự tâm thấy, th́ liền an trú tự tính, không sinh phân biệt, các việc tạo tác ở thế gian sẽ đều chấm dứt. Phân biệt ấy là việc của phàm phu, không phải hiền thánh. Đại huệ! Vọng tâm phân biệt cảnh giới không thật, như người huyễn cùng người huyễn buôn bán ra vào trong thành Càn thát bà, tâm mê phân biệt cho là có thật. Những chuyện kẻ phàm ngu thấy như sinh bất sinh, hữu vi vô vi cũng thế, như người huyễn sinh, người huyễn diệt. Người huyễn thật ra không sinh không diệt. Các pháp cũng vậy, ĺa sinh diệt. Này Đại huệ! Kẻ phàm phu hư vọng khởi quan niệm sinh diệt, thánh nhân không vậy. Nói hư vọng nghĩa là không như pháp tính, khởi kiến chấp điên đảo. Điên đảo kiến là chấp pháp có thể tính, không thấy được chỗ vắng lặng. V́ không thấy vắng lặng nên không thể xa ĺa hư vọng phân biệt. Cho nên, này Đại huệ! Cái thấy vô tướng là thù thắng, không phải cái thấy có tướng. Tướng là nhân của sinh, nếu không có tướng tất không có phân biệt. Không sinh không diệt ấy là Niết bàn. Đại huệ! Nói Niết bàn ấy nghĩa là thấy chỗ "như thật" xa ĺa các pháp tâm và tâm sở phân biệt, được thánh trí nội chứng của Như lai. Ta nói đấy là Niết bàn tịch tịnh. 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài tụng: 

Để trừ chấp có sinh 

Thành lập nghĩa không sinh 

Ta nói luận vô nhân 

Kẻ ngu không hiểu được 

Hết thảy pháp không sinh 

Cũng không là vô pháp 

Như Càn thành, huyễn mộng 

Tuy có mà không nhân 

Không, vô sinh, vô tính 

Có ǵ mà ta nói? 

Ĺa các duyên ḥa hợp 

Kẻ trí không hay thấy 

V́ thế nên ta nói 

Không vô sinh vô tính 

Mỗi mỗi duyên ḥa hợp 

Chỉ hiện chứ không có 

Phân tích không ḥa hợp 

Không như ngoại đạo thấy 

Như mộng và tóc rũ? (thùy phát) 

Huyễn sự cùng Càn thành 

Không nhân mà vọng thấy 

Thế sự cũng như vậy 

Chiết phục luận hữu nhân 

Bày rơ lư vô sinh 

Nghĩa vô sinh nếu c̣n 

Pháp nhăn thường không diệt 

Ta nói luận vô nhân 

Ngoại đạo đều sợ hăi 

Làm sao, và nhân đâu 

Lại v́ sao mà sinh 

Ḥa hiệp ở chỗ nào 

Mà lập vô nhân luận? 

Quán sát pháp hữu vi 

Không nhân không vô nhân 

Nên luận sinh diệt kia 

Do đó mà bị phá 

V́ vô nên không sinh 

Hay v́ đổi các duyên? 

Hay có tên không nghĩa 

Nguyện Phật v́ con nói 

Vô pháp không bất sinh 

Cũng không phải chờ duyên 

Không phải tên của vật 

Cũng không tên, không nghĩa 

Không thuộc của ngoại đạo 

Thanh văn cùng Duyên giác 

Cùng Bồ tát thập trụ 

Ấy là vô sinh tướng 

Xa ĺa các nhân duyên 

không có người năng tác 

Chỉ do tâm kiến lập 

Ta nói là vô sinh 

Các pháp không nhân sinh 

Không không cũng không có 

Ĺa năng sở, phân biệt 

Ta nói là vô sinh 

Ngoài tâm không có ǵ 

Lại ĺa nơi hai tính 

Y tha và vọng kế 

(paratantra, parikalpita) 

Như thế chuyển sở y 

Đấy ta nói vô sinh 

Ngoại vật có cùng không 

Tâm không sở thủ ǵ 

Tất cả kiến đều đoạn 

Ta gọi là vô sinh 

Cú nghĩa "không, vô tính" 

Nghĩa nó đều như vậy 

Không v́ không nói không 

Vô sinh nên nói không 

Nhân duyên cùng tụ hội 

Cho nên có sinh diệt 

Nếu nhân duyên phân tán 

Sinh diệt tất không có 

Nếu ĺa các nhân duyên 

Th́ tuyệt không có pháp 

Tính một cùng tính khác 

Do phàm ngu phân biệt 

(Vô hữu bất sinh pháp) 

Hữu, vô không sinh pháp 

Câu, phi cũng như vậy 

Chỉ trừ khi duyên hợp 

Trong ấy thấy khởi diệt 

Theo tục giả ngôn thuyết 

Nói ṿng móc nhân duyên 

Nếu ĺa ṿng nhân duyên 

Nghĩa "sinh" (samkalà) bất khả đắc 

Ta nói chỉ ṿng câu 

Không sinh nói bất sinh 

Ĺa các lỗi ngoại đạo 

Phàm ngu không thể hiểu 

Ĺa ṿng xích nhân duyên 

Mà riêng có pháp sinh 

Ấy là luận vô nhân 

Phá hoại nghĩa câu tỏa 

Như đèn hay chiếu vật 

Ṿng xích nếu như thế 

Đấy tức ĺa ṿng xích 

Mà riêng có các pháp 

Vô sinh tức vô tính 

Thể tính như hư không 

Ĺa duyên sinh t́m pháp 

Là kẻ ngu phân biệt 

Lại có loại vô sinh 

Do bậc thánh chứng được 

Sinh kia không phải sinh 

Ấy là vô sinh nhẫn 

Nếu biết cả thế gian 

Đều chỉ là ṿng xích 

Và không ǵ khác hơn 

Kẻ ấy tâm được định. 

Vô minh cùng ái nghiệp 

Là kềm tỏa bên trong 

Các đại, bùn, bánh xe 

Là câu tỏa bên ngoài. 

Nếu nói có pháp khác 

Cũng do nhân duyên sinh 

Ngoài nghĩa ṿng xích này 

Đây không phải giáo lư. 

Sinh pháp nếu phi hữu 

Ai nhận ra nhân duyên? 

V́ các pháp sinh nhau 

Nên gọi là nhân duyên 

Tính cứng, ướt, ấm, động 

Do phàm ngu phân biệt 

Chỉ có duyên, không pháp 

Nên nói vô tự tính 

Như lương y trị bệnh 

Nguyên tắc không sai khác 

Nhưng v́ bệnh không đồng 

Liều thuốc có khác nhau 

Ta v́ các chúng sinh 

Diệt trừ bệnh phiền năo 

Biết căn cơ mạnh yếu 

Diễn nói các pháp môn 

Phiền năo không phải khác 

Mà sinh ra các pháp 

Chỉ có một đại thừa 

Bát chính đạo trong mát. 

Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh bạch Phật: 

Bạch Thế tôn hết thảy ngoại đạo vọng nói vô thường; Thế tôn cũng nói các hành là vô thường, là pháp phải chịu sinh diệt. Thuyết ấy con không hiểu là tà hay chính? Vô thường có mấy thứ? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Ngoại đạo nói có 7 thứ vô thường, không phải pháp của ta. Bảy thứ ấy là: 1. Có người cho rằng có sinh khởi rồi xả bỏ, gọi là vô thường, v́ sinh rồi bất sinh nên nói là tính vô thường. 2. Lại có kẻ nói h́nh biến hoại là vô thường. 3. Có kẻ nói sắc là vô thường. 4. Có kẻ nói cái biến dị của sắc là vô thường. Hết thảy các pháp nối nhau không dứt, khiến cái thể tự nhiên biến đổi và diệt; như trước là sữa sau biến thành gia ua, sự biến dịch ấy tuy không thấy được song nó chính là yếu tố hủy diệt nằm ngay trong mọi sự vật. 5. Có kẻ nói các vật có ra là vô thường. 6. Có kẻ cho hữu phi hữu (existence, non-existence) là vô thường. 7. Có kẻ nói bất sinh là vô thường ở khắp trong mọi pháp. Trong số những quan diểm ấy, hữu phi hữu vô thường (Bhàvàbhàvànityatà), nghĩa là các tướng năng tạo sở tạo đều hoại diệt, c̣n tự tính của đại chủng th́ bản lai không khởi. Bất sinh vô thường (Anutpàdànityatà) là các pháp thường, vô thường v.v.. đều không có. Như thế hết thảy đều không có ǵ sinh; cho đến phân tách thành vi trần cũng không thấy ǵ. V́ không sinh khởi nên nói là vô sinh. Đây gọi là "bất sinh vô thường". Nếu không hiểu nghĩa ấy tức sa vào nghĩa "sinh vô thường" của ngoại đạo, nghĩa là ở chỗ không phải thường không phải vô thường mà tự sinh ra phân biệt. Nghĩa ấy thế nào? Nghĩa là có một vật gọi là vô thường tự nó không bị hoại diệt, nhưng có thể hoại các pháp. Nếu không có cái vô thường hoại hết các pháp, th́ rốt cuộc pháp sẽ bất diệt, thành không có (vô hữu) (như chiếc gậy hay ḥn đá, hay như một cái búa đập nát mọi vật khác mà tự nó th́ không hoại, ở đây cũng vậy). Đại huệ! (đây là nghĩa của ngoại đạo nhưng) vô thường và hết thảy các pháp ta thấy trước mắt th́ không thấy đâu là sai biệt năng tác sở tác, để nói được rằng đây là vô thường, c̣n đây là cái bị vô thường nó hoại diệt. Vậy thành ra năng tác sở tác đều thường cả mới phải, v́ không thấy cái nhân khiến cho các pháp thành ra phi hữu. Đại huệ! Về các pháp bị hoại diệt thật ra có nhân, nhưng phiền một nỗi là không phải chỗ phàm ngu hiểu được. Đại huệ, nhân khác không thể sinh ra quả khác, nếu sinh được, th́ hết thảy các pháp đều sinh lẫn nhau, pháp này pháp kia năng sinh sở sinh đều không khác nhau ǵ cả. Nhưng hiện thấy có khác. Làm sao dị nhân sinh dị quả? Đại huệ! Nếu có một pháp (objective existence) gọi là vô thường th́ cũng đồng với cái sở tác (kết quả) và thành ra tự nó cũng vô thường, v́ vô thường cho nên các pháp vô thường đây đều là thường cả. Đại huệ! Nếu tính vô thường ở trong các pháp, th́ đáng cùng các pháp sa vào ba giai đoạn quá khứ, hiện tai, vị lai, cùng với sắc quá khứ mà diệt, cùng vị lai không sinh, hiện tại cùng hoại. 

Các ngoại đạo cho rằng thể tính của bốn đại là không hoại, tức là bốn đại khác với sắc do bốn đại tạo, v́ ĺa khác với không khác; tự tính của nó cũng không hoại diệt. Đại huệ! Những pháp năng tạo, sở tạo trong ba cơi không có ǵ là không phải tướng sinh, trụ, diệt, làm sao có riêng một tính vô thường có thể sinh ra các vật mà tự nó không diệt? Thuyết cho rằng đầu tạo sau diệt nên gọi là vô thường (pràrambhavinivttryanityatà) cũng không vững, v́ các đại chủng khác nhau không thể tạo lẫn nhau; không phải mỗi đại tự tạo, v́ không có cái khác ở trong nó; cũng không cùng tạo v́ trái nhau. Cho nên biết không phải "thủy - tạo vô thường" H́nh trạng hoại vô thường (tribhavacittamàtra) ấy là không phải hoại năng tạo cùng sở tạo nhưng h́nh trạng hoại. Nghĩa ấy thế nào? Ấy là chẻ tách "sắc" cho tới vi trần, chỉ diệt cái h́nh trạng dài ngắn v.v.. đă thấy. Chứ không diệt cái sắc thế năng tạo sở tạo. Kiến này sa vào số luận (Sàmkhyavadà) "Sắc tức là vô thường" (Rùpam evànityam) ấy có nghĩa h́nh trạng là vô thường, không phải tính tứ đại là vô thường. Nếu tính đại chủng cũng vô thường th́ tất là không có thế giới. Không có thế giới nên biết ấy là sa vào kiến chấp của Thế luận thấy hết thảy pháp do tự tướng sinh chỉ có trên ngôn thuyết. Chuyển biến vô thường (Vikàràityatà) ấy là sắc chủng (rùpa) (hay h́nh thức) biến đổi chứ không phải đại chủng (tứ đại) biến đổi. Thí như lấy vàng làm các món trang sức, các món này có biến đổi nhưng vàng th́ không. Đây cũng vậy. Đại huệ! Các kiến ngoại đạo như thế hư vọng phân biệt về vô thường. Họ nói như vầy: "Lửa không thể đốt cháy tự tướng của nó, mà chỉ phân tán ra. Nếu nó có thể thiêu đốt được, tức th́ năng tạo sở tạo đều đoạn diệt." Đại huệ! Ta nói các pháp không "thường" không "vô thường". V́ sao? V́ không chấp pháp ngoài, v́ ba cơi chỉ là tâm (Tribhavacittamàtra), v́ không nói tới các tướng, v́ các sai biệt của đại chủng tính đều không sinh không diệt, không có năng tạo sở tạo, v́ năng thủ sở thủ đều do phân biệt khởi, v́ biết hai tính thủ (năng sở) đúng như thật, v́ hiểu rơ duy tâm hiện, v́ ĺa hai kiến chấp hữu vô của ngoại đạo, ĺa kiến hữu vô nên không phân biệt năng tạo sở tạo. Đại huệ! Các pháp thế gian, xuất thế gian, và xuất thế gian thượng thượng chỉ là tự tâm, không thường, không vô thường; không hiểu rơ như thế sẽ sa vào hai biên kiến ngoại đạo. Đại huệ! Ngoại đạo không rơ biết ba pháp ấy do phân biệt nên khởi ngôn thuyết chấp trước tính vô thường. Đại huệ! Cảnh giới ngữ ngôn phân biệt của ba pháp này không phải chỗ phàm phu biết được. 

Thế tôn lại nói bài tụng: 

Trước tạo rồi sau xả 

H́nh trạng có chuyển biến 

Các sắc vật vô thường 

Ngoại đạo vọng phân biệt 

Các pháp không hoại diệt 

Tự tính đại thường trú 

Các kiến chấp ngoại đạo 

Nói thế là vô thường 

Các chúng ngoại đạo kia 

Đều nói : "Không sinh diệt" 

"Các tính đại tự thường 

Cái ǵ là vô thường?" 

Năng thủ và sở thủ 

Hết thảy đều là tâm 

Hai thứ do tâm hiện 

Không có ngă, ngă sở 

Các pháp như Phạm thiên 

Ta nói chỉ là tâm 

Nếu ĺa xa nơi tâm 

Hết thảy không có được. 

 

 

 

CHƯƠNG IV

HIỆN CHỨNG 

 

Bấy giờ Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật: 

Bạch Thế tôn! Xin v́ con nói tướng "Nhập diệt thứ đệ tương tục" (Nirodhakramànusamdhilaksana) của hết thảy Thanh văn Duyên giác, khiến con cùng các Bồ tát đại hữu t́nh khéo biết tướng ấy khỏi bị mê hoặc bởi lạc thú "diệt tận định" (nirodhasukkasamàpatti), không sa vào lầm lẫn của nhị thừa, ngoại đạo. 

Phật dạy: 

Hăy lắng nghe, lắng nghe. Ta sẽ nói cho ông rơ. Này Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh đến địa thứ 6, cùng Thanh văn Duyên giác nhập diệt định, Bồ tát địa thứ 7 niệm niệm thường nhập v́ đă ĺa bỏ quan niệm về tự tính của các pháp. Nhị thừa th́ không thế. Nhị thừa c̣n hữu tác (something effect-producing), đọa năng thủ sở thủ; không đạt đến tướng vô sai biệt của các pháp; (họ chỉ nhờ) hiểu rơ tự tướng cọng tướng của pháp thiện, bất thiện mà vào diệt định, nên không hiện tiền thường nhập. Đại huệ! Bồ tát ở Bát địa, Thanh văn, Duyên giác, đă diệt các tưởng phân biệt của tâm, ư, ư thức. Từ sơ địa cho đến lục địa, họ quán sát hết thảy ba cơi đều chỉ do tâm, ư, ư thức tự phân biệt khởi, ĺa ngă, ngă sở, không thấy các tướng ngoài. Kẻ phàm ngu không biết được v́ lầm lỗi huân tập từ vô thỉ đến nay. Từ nơi tự tâm biến ra tướng năng thủ sở thủ rồi sinh chấp trước. Đại huệ! Tam muội của bát địa Bồ tát đạt được cũng như Niết bàn của thanh văn Duyên giác, nhưng nhờ Phật lực gia tŕ nên Bồ tát ở trong tam muội không nhập Niết bàn, nếu không có sự gia tŕ ấy th́ Bồ tát không hóa độ chúng sinh, không hoàn thành Như lai địa, lại c̣n đoạn dứt giống Phật. Bởi thế nên Phật v́ Bồ tát mà nói các công đức lớn không thể nghĩ bàn của Như lai, khiến họ rốt cuộc không nhập Niết bàn, Thanh văn Duyên giác tham đắm pháp lạc tam muội, ở trong đó sinh tưởng là Niết bàn. Đại huệ! Bồ tát thất địa khéo quán sát tâm, ư, ư thức, các chấp ngă, ngă sở, vô ngă của nhân, pháp, các tự tướng cọng tướng, sinh diệt, được chắc chắn rành rẽ về tứ vô ngại biện (catuhpratisamvid), ở trong tam muội mà được tự tại, dần vào các "địa" đầy đủ các Bồ đề phần. Đại huệ! Ta sợ các Bồ tát không hiểu rơ tự tướng, cọng tướng, không biết thứ lớp các địa mà phải sa vào ác kiến nên nói như vậy. Đại huệ! Thật ra không có ǵ sinh hay diệt; các địa lần lượt qua lại trong ba giới đều do tâm thấy, nhưng kẻ phàm ngu không hiểu rơ nên ta và chư phật mới nói như vậy. Đại huệ! Thanh văn, Duyên giác cho đến Bồ tát ở Bát địa, v́ pháp lạc tam muội làm say mê hôn ám, chưa hiểu rơ tất cả chỉ do tâm hiện, bị tự tướng cọng tướng ràng buộc che lấp tâm, dính mắc hai vô ngă, tưởng đó là Niết bàn, không phải trí tuệ vắng lặng tịch diệt. Đại huệ! Các Bồ tát đại hữu t́nh khi thấy sự vui của Tam muội tịch diệt, th́ liền nhớ đến bản nguyện đại bi, tu tập đầy đủ mười nguyện vô tận; v́ lẽ ấy họ không nhập Niết bàn ngay; v́ nhập Niết bàn th́ không sinh quả, ĺa năng thủ sở thủ; liễu đạt duy tâm, nơi hết thảy pháp không phân biệt, không sa vào tâm, ư, ư thức, vào các chấp trước tính, tướng của pháp ngoài. Tuy nhiên không phải là họ không khởi các chính nhân Phật pháp, tùy theo việc làm của trí tuệ mà khởi như vậy, được địa tự chứng của Như lai. Đại huệ! Thí như người chiêm bao thấy ḿnh t́m hết cách để sang sông, nhưng chưa sang th́ đă tỉnh ngủ. Tỉnh rồi suy nghĩ về những việc đă thấy, tự hỏi không biết đấy là thật hay vọng? Rồi lại tự nhủ rằng : "Không thật cũng không vọng, như thế chỉ là những tập khí phân biệt của thấy nghe hay biết tích tụ lại, ĺa có và không, chỉ là những sự việc hiện trong ư thức lúc chiêm bao mà thôi." Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh cũng vậy, từ sơ địa cho đến thất địa, cho đến vào bát địa được vô phân biệt, thấy hết thảy pháp như huyễn như mộng, ĺa năng thủ sở thủ, thấy công năng rộng lớn của tâm và tâm sở, siêng tu phật pháp, ai chưa chứng th́ khiến được chứng, ĺa các vọng tưởng phân biệt của tâm, ư, ư thức, chứng "vô sinh nhẫn". Niết bàn mà Bồ tát chứng được ấy không phải là hoại diệt. Đại huệ! Trong đệ nhất nghĩa không có thứ lớp cũng không tương tục, xa ĺa hết thảy cảnh giới phân biệt, ấy gọi là pháp tịch diệt. 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài tụng: 

Các trụ cùng phật địa 

Duy tâm không ảnh tượng 

Đây là điều chư Phật 

Đă đang và sẽ nói 

Bảy địa đâu c̣n tâm 

Bảy địa không ảnh tượng 

Chín và mười c̣n trụ 

Trên đó chỉ ta được. 

Tự chứng và thanh tịnh 

Đây là địa của ta 

Thắng xứ của Ma hê (mahesvara) 

Sắc cứu cánh (Akanisthha) trang nghiêm 

Thí như lửa lớn tụ 

Ánh sáng nó bùng phát 

Hóa hiện ra ba cơi 

Vui vẻ mà trong mát 

Có thế giới đang hóa 

Nơi đấy nói các thừa 

Đều là địa Như lai 

Thập địa cũng là sơ 

Sơ cũng là bát địa 

Cửu địa là đệ thất 

Thất địa lại như bát 

Đệ nhị là đệ tam 

Đệ tứ là đệ ngũ 

Đệ tam là đệ lục 

Không tướng đâu thứ lớp. 

 

 

 

CHƯƠNG V

NHƯ LAI THƯỜNG HAY VÔ THƯỜNG 

 

Bấy giờ Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật rằng: 

Bạch Thế tôn! Đức Như lai Ứng chính đẳng giác là thường hay vô thường? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Đức Như lai Ứng chính đẳng giác không thường, cũng không vô thường. V́ sao? V́ cả hai quan niệm ấy đều lỗi. Sao là lỗi? Đại huệ! Nếu nói Như lai là thường, th́ bị lỗi năng tác; hết thảy ngoại đạo nói năng tác là thường. Nếu Như lai là vô thường, th́ bị lỗi sở tác, đồng với các uẩn có tướng (qualifying) và sở tướng (qualified), rốt cuộc sẽ đoạn diệt thành không có. Thế mà Như lai th́ thật không đoạn diệt. Đại huệ! Nếu Như lai cũng vô thường như tất cả các vật được tạo tác như b́nh, áo v.v.. th́ hóa ra bao nhiêu sự tu phước trí đều thành không, vô ích. Lại nữa, nếu vậy các pháp được tạo đều là Như lai cả, v́ nhân không khác nhau. Cho nên Như lai không thường không vô thường. Lại, này Đại huệ! Như lai không phải thường; nếu là thường, th́ như hư không không đợi nhân mới thành. Đại huệ! Thí như hư không không thường không vô thường. V́ sao? V́ ĺa các lỗi thường, vô thường, một, khác, cùng, không cùng (bothness, not-bothness - câu bất câu) v.v.. Lại nữa Đại huệ! Như lai không thường, nếu là thường, th́ tức không sinh, đồng như sừng thỏ, sừng ngựa, sừng cá, sừng rắn v.v.. 

Tuy nhiên, này Đại huệ! Trong một nghĩa khác th́ có thể nói Như lai là thường. V́ sao? V́ trí hiện chứng là thường pháp. Chứng trí là thường nên Như lai cũng thường. Đại huệ! Tự tính của pháp, chỗ ở của pháp, và ngôi vị của pháp (pháp tính pháp trụ pháp vị) mà chư Phật chứng được, dù Như lai có hiện ra đời hay không, pháp ấy vẫn thường trụ không dời đổi, ở nơi các pháp sở đắc của hết thảy nhị thừa ngoại đạo, chứ không phải là không có ǵ. Tuy nhiên đấy không phải điều phàm ngu biết được. Đại huệ! Như lai ấy là do pháp tính nội chứng thanh tịnh mà có tên gọi ấy, không phải do tập quán hư vọng về tâm, ư, ư thức, uẩn giới xứ mà có. Hết thảy ba cơi đều do hư vọng phân biệt sinh, Như lai không do hư vọng phân biệt sinh. Đại huệ! Nếu có hai (duality) th́ có thường và vô thường. Nhưng Như lai không hai, v́ chứng hết thảy pháp không sinh; cho nên không thường không vô thường. Đại huệ! cho đến có một chút nào ngôn thuyết khởi, đều sa vào lỗi thường hoặc vô thường. Bởi thế nên trừ tiệt hai cái "biết" phân biệt, chớ để chút nào c̣n sót. 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài kệ: 

Xa ĺa thường vô thường 

Mà hiện thường vô thường 

Thường quán Phật như thế 

Không khởi sinh ác kiến 

Nếu thường hoặc vô thường 

Tu tập đều vô ích 

Để trừ giác phân biệt 

Không nói thường vô thường 

Cho đến lập thuyết ǵ 

Hết thảy đều lầm loạn 

Nếu thấy do tự tâm 

Th́ không c̣n tranh căi. 

 

 

 

CHƯƠNG VI

SÁT NA PHẨM 

 

Bấy giờ Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật: 

Bạch Thế tôn! Xin v́ con nói tướng sinh diệt của uẩn, giới, xứ. Nếu không có ngă th́ ai sinh, sai diệt? V́ các phàm phu bám nơi sinh diệt, không cầu hết khổ, không chứng Niết bàn. 

Phật dạy: 

Đại huệ! Hăy nghe kỹ. Ta sẽ nói cho ông. Này Đại huệ! Trong Như lai tạng có nhân thiện lẫn bất thiện, có thể tạo ra đời sống ở tất cả các cơi, như người đóng tuồng biến hiện các cơi, ĺa ngă ngă sở, v́ không biết thế nên ba duyên (cha, mẹ, và nghiệp) ḥa hợp mà có quả sinh. Ngoại đạo không hiểu, chấp là có tác giả. Những ǵ do tập khí hư ngụy từ vô thỉ tích tụ lại gọi là tạng thức, sinh ra thất thức là chỗ ở của vô minh, như biển lớn bỗng nổi ba đào mà thể tướng của nó (nước) vẫn liên tục thường trú, không gián đoạn. Tạng thức cũng thế, bản tính thanh tịnh ĺa lỗi vô thường, ĺa lư luận về ngă, c̣n bảy thất kia: ư, ư thức v.v.. th́ niệm niệm sinh diệt; lấy vọng tưởng làm nhân, cảnh tướng làm duyên ḥa hiệp mà sinh, không hiểu sắc v.v.. do tự tâm hiện, chấp trước danh tướng sinh khởi những lạc thọ khổ thọ. Danh tướng ràng buộc đă do tham mà sinh ra, lại sinh khởi tham hoặc làm nhân, hoặc làm duyên. Khi các thủ căn (sự chấp trước) diệt không c̣n tương tục sinh những phân biệt khổ lạc, th́ hành giả hoặc được diệt định hoặc được tứ thiền, hoặc khéo thâm nhập các chân lư giải thoát, bèn vọng sinh tưởng ḿnh đă giải thoát; mà kỳ thật chưa xả chưa chuyển được cái gọi là tạng thức ở trong Như lai tạng. Nếu không có tạng thức th́ 7 thức kia đều diệt. V́ sao? V́ tạng thức là nhân và duyên sinh ra các thức kia. Nhưng đây không phải là cảnh giới mà hàng tu hành theo ngoại đạo nhị thừa biết được; v́ họ chỉ biết tính "nhân vô ngă" chỉ giữ tự tướng cọng tướng của uẩn giới xứ. Nếu thấy được 5 pháp, 3 tự tính của Như lai tạng, các pháp đều vô ngă, tùy thứ lớp các địa lần lần chuyển đổi tạng thức đến chỗ tịch diệt, th́ sẽ không bị ác kiến ngoại đạo lay chuyển, an trú "bất động địa", được 10 thứ pháp lạc tam muội. Nhờ năng lực tam muội của chư Phật gia tŕ, hành giả quán sát các pháp bất tư ngh́ của Phật và nguyện lực xưa kia của ḿnh, không trú nơi thật tế (biên giới của thực tại) và pháp lạc tam muội, được trí tự chứng, không giống như nhị thừa ngoại đạo; được 10 con đường dẫn đến gịng thánh, được thân ư sinh, ĺa các hành nghiệp. Bởi thế, này Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh muốn được thắng pháp, phải nên thanh tịnh Như lai tạng gọi là tạng thức. Đại huệ! Nếu không có Như lai tạng tên là tạng thức đó th́ tất không có sinh diệt. Cho nên người tu hành tuy thấy pháp lạc của sự an trú trong cảnh nội giới mà vẫn không xả bỏ, dơng mănh tinh tấn. Đại huệ! Tạng thức Như lai tạng ấy bản tính thanh tịnh, chỉ v́ bị khách trần nhiễm ô mà thành bất tịnh. Hết thảy nhị thừa ngoại đạo ức đoán mà khởi kiến chấp không thể biện chứng được. Như lai th́ thấy rơ ràng phân minh ở nơi đó, như thấy trái am ma lật ở trong ḷng tay (àmalaka). Đại huệ! Ta v́ Thắng man Phu nhân (Sŕmàlàdev́) cùng các Bồ tát Thâm diệu tịnh trí (sksmanipunavisudhabudhi-bodhisattva) mà nói Như lai tạng tên Tạng thức cùng 7 thức đồng khởi, khiến hàng Thanh văn thấy rơ pháp vô ngă. Này Đại huệ! Cảnh giới nói cho Thắng man phu nhân nghe là cảnh giới thật, không phải cảnh của nhị thừa ngoại đạo. Đại huệ! Tạng thức Như lai tạng này là cảnh giới Phật, cũng là chỗ đi của những tịnh trí Bồ tát như ông, những người hiểu biết theo nghĩa lư. Đây không phải là chỗ hiểu của hết thảy ngoại đạo nhị thừa chấp trước văn tự. Cho nên ông cùng các Bồ tát đại hữu t́nh ở nơi thức tạng của Như lai tạng nên siêng năng quán sát, chớ có mới nghe qua bèn tưởng là đủ rồi. 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài tụng: 

Như lai tạng sâu xa 

Gắn liền với bảy thức 

Hai thứ chấp trước sinh 

Hiểu rơ liền xa ĺa 

Do vô thỉ huân tập 

Như bóng hiện trong tâm 

Nếu quán sát như thật 

Th́ tướng cảnh không có 

Kẻ ngu nh́n ngón chỉ 

Thấy ngón không thấy trăng 

Kẻ chấp trước văn tự 

Không thấy lư của ta 

Tâm như người đạo diễn 

Mạt na kẻ làm hề 

Sáu thức kia bầu bạn 

Tạo tấn tuồng thế gian. 

Khi ấy Đại huệ Bồ tát bạch Phật: 

Bạch Thế tôn! Xin v́ con nói các sai biệt của 5 pháp, 3 tự tính, 8 thức cùng 2 vô ngă. Con cùng các Bồ tát đại hữu t́nh biết rơ điều ấy rồi, dần tu các địa, đầy đủ các pháp Phật, đạt được quả vị tự chứng của Như lai. 

Phật dạy: 

Ông hăy lắng nghe, Ta sẽ nói. Này Đại huệ! 5 pháp, 3 tự tính, 8 thức, 2 vô ngă ấy nghĩa là: danh (màna), tướng (mimitta), phân biệt (vikalpa), chính trí (sanyagjnàna), như như (tathatà). Nếu người tu hành quán sát pháp này, th́ được vào cảnh giới tự chứng của Như lai, xa ĺa các kiến chấp thường đoạn, hữu vô v.v.., được pháp lạc tam muội sâu xa. Đại huệ! Kẻ phàm ngu không hiểu 5 pháp, 3 tự tính, 8 thức, 2 vô ngă, nơi cảnh do tâm hiện thấy có ngoại vật mà khởi phân biệt. Thánh nhân không thế. 

Đại huệ bạch Phật: 

- Bạch Thế tôn! V́ sao không hiểu mà khởi phân biệt? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Kẻ phàm ngu không biết danh chỉ là cái giả lập, tâm theo đó lưu động thấy các tướng, chấp ngă, ngă sở, nhiễm trước đối với sắc, che lấp chướng ngại thánh trí, khởi lên tham sân si, tạo tác ác nghiệp như tầm kéo kén, vọng tưởng tự trói buộc ḿnh, đọa vào các nẻo của biển lớn sinh tử, như bánh xe đạp nước tuần hoàn không dứt, không biết pháp như huyễn như ảo tượng như trăng trong nước, chỉ do tự tâm hiện, do vọng phân biệt khởi, ĺa năng thủ sở thủ cùng sinh, trú, diệt. (Nhưng kẻ phàm ngu lại) cho rằng do tự tại, thời tiết, vi trần, thắng tính mà sinh, v́ họ chạy theo danh, tướng. Đại huệ! Trong đây "tướng" có nghĩa là cái do nhăn thức thấy gọi là sắc, do nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ư thức mà có gọi là thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tất cả đó ta gọi là tướng; nghĩa là phân biệt đây là voi, ngựa xe, bộ hành, nam nữ v.v.. chứ không ǵ khác; làm rơ cái tướng của chúng. Ấy gọi là phân biệt. "Chính trí" là quán sát thấy rơ tính và tướng chỉ do hỗ tương đối đăi mà có, không thật, chỉ là khách, nên thức tâm không khởi v́ không đoạn không thường, không theo chỗ của ngoại đạo nhị thừa. Thế gọi là chính trí. Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh dùng chính trí ấy quán sát danh tướng không hữu không vô, xa ĺa hai ác kiến biên chấp là thêm và bớt. Danh tướng và thức xưa nay không khởi, ta nói pháp ấy là "như như". Đại huệ! Bồ tát đại hữu t́nh an trú nơi như như được "vô chiếu hiện cảnh" (state of imagelessness), lên "hoan hỉ địa" (pramudità) ĺa các cơi của ngoại đạo, vào nơi pháp thuần thục của xuất thế pháp, biết hết thảy các pháp đều như huyễn, chứng pháp của Thánh trí tự chứng, ĺa kiến chấp ức đoán, như thế lần lượt đến "pháp vân địa", khi đến pháp vân rồi sẽ được đầy đủ các lực tam muội, tự tại, thần thông đầy đủ Như lai. Khi thành Như lai rồi, sẽ v́ chúng sinh mà hiện thân khắp nơi như trăng trong nước, tùy theo ưa muốn của chúng mà nói pháp, thân được thanh tịnh ĺa tâm, ư, thức, mang áo giáp mười thệ nguyện rộng lớn, đầy đủ thành tựu mười nguyện vô tận, ấy gọi là những điều Bồ tát đại hữu t́nh thâu hoạch được khi nhập "như như". 

Bấy giờ Đại huệ lại bạch Phật: 

Bạch Thế tôn, ba tự tính là ở trong năm pháp, hay là có tướng riêng của chúng? 

Phật nói: 

Đại huệ! Ba tính, tám thức, hai vô ngă đều ở trong năm pháp. Trong số đó, danh và tướng là tính vọng kế (parikalpita; false imagination), v́ vọng kế y nơi phân biệt tâm, tâm sở của danh tướng mà khởi lên đồng thời với danh tướng, như mặt trời và ánh sáng chiếu ra là tính duyên khởi. Chính trí và như như không thể hoại, nên gọi là tính viên thành (parinishpanna). Đại huệ! Khi phát sinh chấp trước đối với những pháp do tự tâm hiện, th́ tám thức phân biệt khởi. Tướng sai biệt của các pháp đều không thực, chỉ là tính vọng kế (tưởng tượng). Nếu bỏ được hai thứ ngă chấp, th́ trí nhị vô ngă (nhân vô ngă và pháp vô ngă) liền sinh. Đại huệ! Tất cả thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Như lai, các cấp bực của thánh trí tự chứng, cùng tất cả phật pháp đều bao gồm trong năm pháp này. Lại nữa, này Đại huệ! Trong năm pháp- tướng, danh, phân biệt, như như, chính trí- th́ tướng nghĩa là những ǵ thấy được, như màu sắc, h́nh trạng v.v.. mỗi mỗi sai khác. Do các tướng ấy mà lập nên những tên gọi như cái b́nh là b́nh, không ǵ khác, gọi là danh. Bày ra các tên gọi, chỉ rơ các tướng tâm và tâm sở, ấy gọi là phân biệt. Tên gọi và tướng rốt ráo đều không, chỉ do vọng tâm phân biệt, quán sát như thế cho đến khi "cái biết" diệt, ấy gọi là như như. Đại huệ! Tướng (characthistics) của như như là chân thật, quyết định, rốt ráo, căn bản, tự tính, khả đắc. Ấy là tướng như như. Ta cùng các Phật tùy thuận (theo chúng sinh mà có) chứng nhập, như thật tướng của nó mà khai thị diễn nói. Nếu ai theo đó giải ngộ được, ĺa chấp đoạn, thường, không sinh phân biệt, nhập cảnh giới tự chứng, ra khỏi cảnh giới của ngoại đạo nhị thừa, ấy gọi là chính trí. Đại huệ! Năm pháp, ba tính, tám thức, hai vô ngă này, tất cả Phật pháp đều bao gồm trong ấy. Đại huệ! Trong những pháp này ông nên lấy trí mà khéo thông, và khuyên người khác thông đạt. Thông đạt rồi th́ nhất định không bị kẻ khác lay chuyển. 

Bấy giờ Thế tôn nói bài tụng: 

Năm pháp ba tự tính 

Cùng với tám thứ thức 

Và hai thứ vô ngă 

Bao quát hết đại thừa 

Danh, tướng cùng phân biệt 

Gồm trong hai tự tính 

Chính trí và như như 

Ấy là tướng viên thành. 

Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật rằng: 

Bạch Thế tôn! Như trong kinh nói, chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại số nhiều như cát sông Hằng. Ấy nghĩa là ǵ? Nên như lời mà hiểu, hay có ư nghĩa ǵ khác? 

Phật dạy Đại huệ: 

Không nên hiểu theo ngôn từ. Đại huệ! Chư Phật ba đời không phải số như cát sông Hằng. V́ sao? Sự tối thắng của Như lai siêu việt thế gian, không ǵ có thể sánh, không thí dụ ǵ có thể đạt tới, chỉ lấy ít phần làm thí dụ mà thôi. Ta v́ hàng phàm phu ngoại đạo tâm ưa chấp trước thường, vô thường, ác kiến tăng trưởng sinh tử luân hồi, muốn chúng chán ghét xa ĺa, phát sinh hy vọng thù thắng mà nói rằng: Phật dễ thành dễ gặp. Nếu nói Phật khó gặp như hoa Ưu đàm (udumbarapuspa) th́ những kẻ kia liền thối chí không siêng năng. Bởi lẽ đó mà ta nói phật ba đời nhiều như cát sông Hằng. Ta cũng có lần v́ những người thọ sự giáo hóa của ta mà nói Phật khó gặp như hoa Ưu đàm. Đại huệ! Chưa ai từng thấy hoa Ưu đàm cũng không ai sẽ thấy, nhưng Như lai th́ có người đă thấy và sẽ thấy. Đại huệ! Thí dụ như thế không nói lên được chính chân lư, chân lư là cảnh giới của thánh trí chứng được tự trong tâm ḿnh, thế gian không sánh được, vượt ngoài các thí dụ, hết thảy phàm ngu không tin nhận nỗi. Đại huệ! Như lai chân thật vượt qua các tướng do tâm, ư, ư thức quan niệm, không thể lập thí dụ về Như lai. Tuy nhiên đôi lúc cũng v́ chúng mà nói rằng Như lai nhiều như cát sông Hằng cũng không mâu thuẫn. Đại huệ! Thí như cát sông Hằng bị cá, voi, ngựa dẫm đạp mà không sinh phân biệt, thường thanh tịnh không dơ, Thánh trí của Như lai cũng như cát sông Hằng, năng lực thần thông tự tại của Như lai cũng như cát ấy, dù bị bọn cá ngoại đạo đến nhiễu loạn Phật vẫn không khởi niệm phân biệt. V́ sao? V́ bản nguyện (pùrvapranihitatva) của Như lai là lấy tam muội lạc để an khắp chúng sinh, như cát sông Hằng không ghét yêu không phân biệt. Đại huệ! Như cát sông Hằng, có đặc tính của đất, đến thời kiếp tận, tất cả đất đai đều bị thiêu hủy nhưng địa đại không bỏ tự tính, v́ địa đại thường sinh đồng thời với hỏa đại. Những người ngu nói địa đại bị thiêu hủy nhưng kỳ thật không thiêu, v́ hỏa là nhân của địa. Pháp thân của Như lai cũng thế, như cát sông Hằng, không bao giờ hoại diệt. Đại huệ, cũng như cát sông Hằng không có hạn lượng, ánh sáng của Như lai cũng vậy, v́ muốn thành tựu vô lượng chúng sinh, nên chiếu khắp đại hội Phật. Đại huệ! Thí như cát sông Hằng ở luôn trong tự tính "cát" không biến thành các vật khác, Như lai cũng vậy, ở trong thế gian không sinh không diệt, v́ cái nhân để thọ sinh đi các cơi đều bị doạn diệt. Đại huệ! như cát sông Hằng lấy đi không thấy bớt bỏ vào không thấy thêm, chư Phật cũng thế, trí phương tiện khiến chúng sinh thành thục không tăng không giảm. V́ sao? V́ pháp thân của Như lai vốn không thân. Đại huệ! Cái ǵ có thân th́ có hoại diệt. Pháp thân không thân nên không hoại diệt. Đại huệ! Như cát sông Hằng, dù có khổ công ép để lấy dầu suốt đời cũng không được, Như lai cũng thế, tuy v́ chúng sinh mà phải chịu các khổ bức bách, vẫn không bao giờ khởi sân nhuế, không bỏ tướng pháp giới, không bỏ hương vị của pháp, không bỏ bổn nguyện ban bố hạnh phúc cho chúng sinh, v́ Phật có đầy đủ đại từ, đại bi. Nếu ta không khiến cho tất cả chúng sinh vào Niết bàn th́ tự ta cũng không vào Niết bàn. Đại huệ! như cát sông Hằng chảy theo nước, không phải nơi không có nước, Như lai cũng vậy, các pháp Như lai nói ra không có ǵ là không thuận theo gịng Niết bàn, v́ thế mà nói chư Phật Như lai như cát sông Hằng. 

Đại huệ! "Như lai" nói pháp không theo các đường; "đường" có nghĩa là hoại diệt, biên giới sơ khởi (pùrvakoti: bản tế) của sinh tử không thể biết. Đă không biết được th́ làm sao nói "đường". Này Đại huệ! "thú" có nghĩa là đoạn diệt, kẻ phàm ngu không biết. 

Đại huệ Bồ tát lại bạch Phật: 

Nếu biên giới sơ khai (bản tế) của sinh tử không thể biết được, th́ làm sao chúng sinh ở trong sinh tử giải thoát được? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Khi nhân của tập khí hư dối từ vô thỉ bị hoại diệt, biết rơ cảnh ngoài chỉ do tâm hiện, khi phân biệt được chuyển y, đấy gọi là giải thoát, chứ không phải là diệt. Cho nên không thể nói không có biên tế (endlessness). Đại huệ! "Không biên tế" chỉ một tên khác của phân biệt. Đại huệ! ĺa tâm phân biệt, th́ không có chúng sinh. Khi lấy trí quán sát các pháp trong ngoài, th́ thấy tri cùng sở tri đều vắng lặng. Đại huệ! Hết thảy pháp đều do tự tâm phân biệt thấy, v́ không hiểu rơ nên tâm phân biệt khởi, khi hiểu rơ th́ tâm phân biệt diệt. 

Bấy giờ Thế tôn lại nói bài tụng: 

Quán sát các Đạo sư 

Ví như cát sông Hằng 

Không hoại cũng không đi 

Người ấy tất thấy Phật 

Ví như cát sông Hằng 

Ĺa tất cả các lỗi 

Mà thường tùy theo gịng 

Phật thể cũng như vậy. 

Bấy giờ Đại huệ Bồ tát đại hữu t́nh lại bạch Phật rằng: 

Bạch Thế tôn! Xin giảng nói cho con tướng sát na hoại của hết thảy pháp. Những pháp nào gọi là có sát na? 

Phật đáp: 

Hăy nghe kỹ, ta sẽ nói. Đại huệ! Hết thảy pháp ấy là : thiện pháp (kusala), bất thiện pháp (akusala), hữu vi pháp (samsktra), vô vi pháp (asamsktra), thế gian pháp, xuất thế gian pháp, hữu lậu pháp, vô lậu pháp (anàsrava), hữu thọ pháp (upàtta), vô thọ pháp (anupàtta). Đại huệ! Nói tóm lại, năm thủ uẩn do nhân là tập khí của tâm, ư, ư thức mà tăng trưởng, kẻ phàm ngu ở nơi đây phân biệt là thiện, bất thiện. Bậc thánh hiện chứng pháp lạc tam muội gọi là thiện vô lậu pháp. Lại nữa, này Đại huệ! Thiện và bất thiện ấy là tám thức. Tám thức ấy là ǵ? Ấy là Như lai tạng gọi là Tạng thức, mạt na thức, ư thức và năm thức căn. Đại huệ! Năm thức cùng đi với ư thức, những tướng sai biệt thiện bất thiện xoay chuyển nối tiếp nhau không dứt, vô dị thể (alaya) sinh ra, sinh rồi liền diệt, v́ không hiểu cảnh do tự tâm hiện nên khi diệt lại có một hệ thống 5 thức khác sinh khởi tiếp theo; ư thức hợp với năm thức ấy mà thu vào các h́nh tướng sai biệt, không giây nào dừng nghỉ, ta nói đấy là pháp sát na. Đại huệ! Như lai tạng gọi là tạng thức cùng đi với các tập khí của Mạt na và các thức kia, ấy là sát na pháp. Nhưng vô lậu tập khí không phải là sát na pháp. Đây không phải là điều những người theo sát na luận phàm phu có thể hiểu được. Những kẻ kia không biết vừa là sát na vừa không là sát na, nên chấp các pháp vô vi (unmade - asamsktra) cũng hoại diệt như những pháp khác, đọa vào đoạn kiến. Đại huệ! chính năm thức tự chúng không bị lưu chuyển, không phải là nhân khổ lạc, cũng không là nhân Niết bàn. Như lai tạng th́ cùng với nhân (tạo nghiệp) mà thọ khổ, vui có sinh diệt, bị bốn tập khí làm mê hoặc ngăn che. Nhưng kẻ phàm ngu bị phân biệt xông đầy tâm thức không hiểu được nên sinh kiến chấp là sát na khởi. Đại huệ! Như vàng, kim cương, xá lợi của Phật, có tính chất đặc biệt không thể tổn hoại. Nếu các pháp chứng đắc có tính sát na diệt, th́ thánh nhân lẽ ra không c̣n là thánh nhân. Nhưng sự thật là bậc thánh không bao giờ mất thánh cách. Như vàng, kim cương, dù trải qua hết kiếp vẫn không giảm cân lượng. V́ sao kẻ phàm ngu không nhận rơ chỗ thâm mật của lời ta nói, lại sinh tưởng sát na đối với tất cả pháp? 

Đại huệ Bồ tát bạch phật rằng: 

Bạch Thế tôn! Thế tôn thường dạy nếu đầy đủ sáu pháp ba la mật, sẽ thành chính giác. Sao gọi là sáu pháp? Sao gọi là đầy đủ? 

Phật dạy: 

Đại huệ! Có ba thứ ba la mật khác nhau, ấy là thế gian, xuất thế gian, và xuất thế gian thượng thượng. Đại huệ! Thế gian ba la mật là phàm phu chấp ngă, ngă sở, chấp thủ nhị biên, cầu được thân ở các cơi, tham sắc thanh hương vị xúc, nên tu các hạnh ba la mật: bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, thành tựu được thần thông, sinh vào cơi Phạm thế. Đại huệ! Xuất thế gian ba la mật là Thanh văn Duyên giác chấp trước Niết bàn, mong cầu hỷ lạc cho tự thân mà tu các ba la mật. Đại huệ! Xuất thế gian thượng thượng ba la mật là, Bồ tát đại hữu t́nh đối với hai pháp của tự tâm, biết rơ chỉ do phân biệt khởi, nên không sinh vọng tưởng, chấp trước, không ôm giữ sắc tướng. V́ muốn lợi lạc chúng sinh, Bồ tát thường tu bố thí Ba la mật. Đối với các cảnh giới không sinh phân biệt, ấy là tu thi la (śla), ba la mật. Thực hành nhẫn nhục không lúc nào khởi phân biệt, biết rơ tự tính năng thủ sở thủ, gọi là sằn đề ba la mật. Đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm, siêng tu không biếng nhác, tùy thuận chân lư mà hiểu, không sinh phân biệt, ấy gọi là tỳ lê da ba la mật (tinh tấn). Không sinh phân biệt, không khởi kiến chấp Niết bàn theo ngoại đạo, là thiền ba la mật. Dùng trí quán sát mọi pháp, tâm không khởi phân biệt, không sa vào nhị biên, chuyển các thức sở y thành thanh tịnh (a revulsion takes place at the basis) mà không hoại nghiệp trước (while previous karma is not destroyed), được cảnh giới nội chứng của thánh trí, gọi là bát nhă ba la mật. Khi ấy Thế tôn lại nói bài tụng: 

Ngu phân biệt hữu vi 

Không, vô thường, sát na 

Nghĩa sát na phân biệt 

Như sông, đèn, hạt giống 

Hết thảy pháp không sinh 

Tịch tịnh không sở tác 

Các tự tính đều ĺa 

Ấy gọi là sát na 

Sinh không dừng liền diệt 

Không nói cho phàm ngu 

Pháp vô gián tương tục 

Phân biệt các cơi khởi 

Vô minh chính là nhân 

Tâm thức do đó sinh 

Khi sắc c̣n chưa đến 

Trung gian trú ở đâu 

Vô gián tương tục diệt 

Mà có tâm khác khởi 

Khi (tâm) không trú sắc 

Duyên vào đâu mà sinh 

Nếu duyên pháp mà khởi 

Nhân ấy tất hư vọng 

Nhân vọng, thể không thành 

Sao lại sát na diệt? 

Chính thọ của bậc tu 

Kim cương, Xá lợi Phật 

Cùng với Quan âm cung (abhàsvara) 

Là những thứ bất hoại 

Trí Như lai viên măn 

Chỗ tỳ kheo chứng đắc 

Các pháp tính thường trú 

Sao lại thấy sát na? 

Càn thành, các tướng huyễn 

V́ sao không sát na? 

Đại chủng không thật tính 

Sao lại nói năng tạo?

 

            Minh Quang posted October 29, 2005

[Home] [Up] [Kinh Lăng Già 1] [Kinh Lăng Già 2] [Kinh Lăng Già 3] [Kinh Lăng Già 4] [Kinh Lăng Già 5] [Kinh Lăng Già 6] [Kinh Lăng Già 7]