Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Kinh Giải Thâm Mật

HT. Thích Trí Quang dịch giải

(chỉ giữ phần chính văn, bỏ phần lược giải)

 

Mục Lục 

Phẩm một: Mở Đầu
Phẩm hai: Thắng Nghĩa
Phẩm ba: Tâm Thức
Phẩm bốn: Tự Tánh
Phẩm năm: Vô tánh
Phẩm sáu: Du Dà
Phẩm bảy: Địa Độ

Phẩm tám: Phật Sự

 

Ghi Sau Khi Duyệt Giải Thâm Mật

Giải thâm mật và Nhiếp luận gần gần như nhau. Nhưng rơ ràng Giải thâm mật nói đặc biệt về bản thể siêu việt, về du dà chỉ quán, nhất là về 3 vô tánh và về Phật ẫ th́ không đâu sánh bằng.

Mồng một tháng 5.2537.

Trí Quang

Phần Dẫn Nhập

(1) Giải thâm mật là bộ kinh được đại luận Du dà, các cuốn 75-78, trích dẫn toàn văn, trừ phẩm một (Chính 30/713-736). Tháng 3 năm 51 tuổi, dương lịch 646, ngài Huyền tráng khởi dịch Du dà, năm sau dịch Giải thâm mật, tháng 3 năm sau nữa dịch xong Du dà. Giải thâm mật của ngài Huyền tráng dịch được gọi tắt là Đường dịch.

Trước đó, dương lịch 453 (hoặc 443), ngài Cầu na bạt đà la đă dịch 2 phẩm bảy và tám, đề Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh. Dương lịch 515, ngài Bồ đề lưu chi dịch trọn bộ, đề Thâm mật giải thoát kinh, bộ này được gọi là Ngụy dịch. Dương lịch 561, ngài Chân đế dịch phẩm một mà chia nhỏ làm 4 phẩm, lại sớ giải thành 4 cuốn (t́m chưa thấy, chỉ thấy Viên sớ trích dẫn). Các bản dịch trên đây đều nằm trong Chính 16/665-720, riêng Đường dịch c̣n có trong Chính 30/713-736 (luận Du dà).

Tài liệu để có ghi chú trên đây là Vạn 34/299; Chính 49/94, 45, 42; Phật học nghiên cứu, bài 10 và 18 (phụ lục 3); Thế giới đại sự biểu của Từ nguyên. Ghi chú trên đây cho thấy Ngụy dịch và Đường dịch đều hoàn chỉnh. Nhưng Đường dịch hoàn hảo hơn, bởi v́ dịch chủ là ngài Huyền tráng, dịch kinh này là bộ kinh căn bản của Duy thức học mà, trong Phật giáo văn hệ Trung hoa, ngài là vị sơ tổ.

Sớ giải Giải thâm mật th́ bản tôi học là của đại sư Khuy cơ, bài tựa nói trích từ tác phẩm sớ giải Du dà mà khắc in riêng ra. Tiếc rằng hiện tôi không có bản này. Ḍ t́m cũng chưa thấy tác phẩm sớ giải Du dà nói trên. C̣n bản sớ giải mà tôi hiện có là của đại sư Viên trắc. Đối với ngài Huyền tráng, đại sư là người sóng đôi mà khá mâu thuẫn với đại sư Khuy cơ, một vài truyện kư tương truyền như vậy. Đại sư Viên trắc sớ giải Giải thâm mật, nếu không phải trong lúc ngài Huyền tráng c̣n tại thế th́ sau đó cũng không lâu. Trong sớ giải, đại sư trích dẫn lời ngài Huyền tráng khá nhiều. Bản sớ giải này gồm có 10 cuốn, nay chỉ thiếu cuốn chót, 9 cuốn hiện c̣n trong Vạn 34 và 35. Bản sớ giải này tôi gọi tắt là Viên sớ. Nhưng xin cảnh giác người đọc là chính văn Giải thâm mật của Viên sớ, qua Vạn 34 và 35 in lại, th́ khá sai sót, nên phải ḍ lại chính văn ấy trong Chính 16/688-711 và 30/713-736.

Bản dịch giải của tôi lấy Đường dịch làm chính văn, lấy Viên sớ làm tài liệu tham chiếu.

(2) Giải thâm mật, Phạn tự là Sandhi-nirmocara, dịch âm là San địa niết mô chiết na. San địa có nghĩa sâu kín (thâm mật), đốt xương (cốt tiết hay tiết), nối nhau (tương tục). Niết mô chiết na là lư giải (giải), giải thoát. V́ những ư nghĩa nguyên thể và biến thể ấy mà các tên được dịch như đă thấy ở đoạn trên. Tựu trung, Đường dịch th́ rơ và hay hơn cả. C̣n sự thâm mật mà kinh này giúp ta lư giải th́ sẽ thấy trong đoạn 3 dưới đây.

(3) Giải thâm mật có 5 cuốn 8 phẩm. Cuốn 1 có phẩm một: mở đầu (tự) phẩm hai: thắng nghĩa (thắng nghĩa đế tướng) phẩm ba: tâm thức (tâm ư thức tướng); cuốn 2 có phẩm bốn: tự tánh (nhất thế pháp tướng) phẩm năm: vô tánh (vô tự tánh tướng); cuốn 3 có phẩm sáu: du dà (phân biệt du dà); cuốn 4 có phẩm bảy: địa độ (địa ba la mật đa); cuốn 5 có phẩm tám: Phật sự (Như lai thành sở tác sự).

Tất cả 8 phẩm này Viên sớ chia làm 2 phần: mở đầu (phẩm một) và chính thuyết (phẩm hai đến tám). Phần chính thuyết có 3 mục: 1, nói về chân lư (cảnh) gồm có 4 phẩm hai đến năm; 2, nói về phương pháp (hành) gồm có 2 phẩm sáu và bảy; 3, nói về thành quả (quả) là phẩm tám. Trong mục 1, chia 4 phẩm làm 2: phẩm hai và phẩm ba nói về chân và tục, phẩm bốn và phẩm năm nói về có và không.

Phần tôi, tôi xét có thể nói nội dung Giải thâm mật cũng tương tự với Lăng dà. Lăng dà, một bộ kinh căn bản khác của Duy thức học, nói về cái "Tâm của Phật thuyết" bằng 2 phần: nói cái Tâm ấy siêu việt như thế nào, nói cái Tâm siêu việt ấy là thế nào. Kinh này rơ ràng cũng vậy: phẩm hai nói Tâm siêu việt như thế nào, phẩm ba đến tám nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Lại xét Nhiếp luận th́ toàn văn có 3 phần là cảnh hành quả. Phần nói về cảnh có 2 phần: phần căn bản là bản thức, phần biểu hiện là ba tánh. Giải thân mật càng rơ ràng cũng vậy: phẩm ba nói về bản thức, phẩm bốn và năm nói về 3 tự tánh và 3 vô tánh. Cách nói này cho thấy bản thức là căn bản của các pháp nên gọi duy thức. Tư tưởng duy thức như vậy tương đối cổ hơn, nhưng đơn giản và sâu sắc hơn.

V́ xét như vậy, nên khác với Viên sớ, tôi chia 7 phẩm phần chính thuyết của Giải thâm mật làm 2 mục lớn: nói Tâm siêu việt như thế nào, nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Trong mục lớn thứ 2 cũng chia làm ba phần nhỏ: các phẩm ba đến năm nói Tâm ấy là cảnh sở quán, các phẩm sáu và bảy nói Tâm ấy là hạnh năng quán, phẩm tám nói Tâm ấy là quả sở đắc.

Với nội dung này, Giải thâm mật không những làm căn bản cho Duy thức, mà c̣n làm tổng kết cho Đại thừa.

23.10.2532

http://buddhismtoday.com/viet/kinh/dt/017-giaithammat1.htm

Chân thành cảm ơn quư cư sĩ Nguyễn Văn Củng, Đoàn Viết Hiệp và Nguyễn Anh Tuấn đă phát tâm chuyển tác phẩm này từ dạng Help File, VPS font sang dạng Word, VNI font. Thích Nhật Từ 3-5-2000

 

 

Phẩm một: Mở Đầu

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Thế tôn (1) ở trong đại cung điện (1B) , nơi (2) được cấu trúc bằng bảy chất liệu quí báu rực rỡ hơn hết, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp vô biên quốc độ, nơi có vô số khu vức được trang sức tuyệt diệu và vị trí xen nhau, nơi mà h́nh lượng tràn đầy một cách vô giới hạn và khó ước tính, nơi mà h́nh lượng ấy siêu việt lĩnh vực ba cơi, nơi được tạo thành bởi loại thiện căn tối thượng và siêu việt thế gian, nơi lấy tâm thức cực trong sạch và cực tự tại mà làm bản thể, nơi đức Thế tôn đóng đô, nơi các đại bồ tát (3) vân tập, nơi vô số tám bộ thường xuyên tùy tùng, nơi sống (4) bằng sự vui thích mùi vị chánh pháp quảng đại, nơi xuất phát mọi sự ích lợi chân thật cho chúng sinh, nơi dứt tuyệt phiền năo, tai nạn, buộc ràng và dơ bẩn, nơi tách rời các loại ma (5) , nơi được sự trang hoàng của Phật, một sự trang hoàng vượt quá mọi sự trang hoàng, nơi lấy đại niệm, đại tuệ và đại hạnh mà làm đường đi, nơi lấy sự chỉ vĩ đại và sự quán tinh tế mà làm cỗ xe, nơi lấy sự không vĩ đại, sự vô tướng vĩ đại và sự vô nguyện vĩ đại mà làm cửa vào, nơi kiến thiết trên hoa sen chúa làm bằng ngọc lớn và trang trí bởi vô số lượng công đức (6) .

C̣n đức Thế tôn th́ tuệ giác cực kỳ trong sạch (7) : hiện hành bất nhị (8) , đạt đến vô tướng (9) , đứng vào chỗ đứng của các đức Thế tôn (10) , thể hiện tính b́nh đẳng của các Ngài, đến chỗ không c̣n chướng ngại (11) , giáo pháp không thể khuynh đảo, tâm thức không bị cản trở, cái được thiết lập không thể nghĩ bàn, biết rơ như nhau đối với mọi việc quá khứ hiện tại và vị lai, thân h́nh bủa ra khắp các thế giới, các pháp th́ thông suốt, các hạnh th́ toàn hảo, trí biết không c̣n nghi hoặc, thân hiện không có phân biệt, là tuệ giác mà tất cả Bồ tát cầu mong, chứng được cái thân đồng nhất của chư Phật mà đứng ở bờ bến tối thượng bên kia, thực hiện một cách không c̣n hỗn tạp về giải thoát và diệu trí của đức Thế tôn, toàn chứng cảnh Phật không có chính giữa cũng không có bên cạnh, cùng tận pháp giới, khắp không gian, và suốt th́ gian.

Cùng ở với đức Thế tôn có chúng đại thanh văn thuần hóa tất cả; toàn là con Phật; tâm khéo giải thoát; trí khéo giải thoát; giới khéo thanh tịnh; hướng cầu cái vui của chánh pháp; nghe chánh pháp rất nhiều, nghe th́ nắm giữ trong trí, và cái nghe như vậy được dồn chứa măi; khéo nghĩ cái được nghĩ, khéo nói cái được nói, khéo làm cái được làm (12) ; tuệ giác nhanh, tuệ giác chóng, tuệ giác sắc, tuệ giác thoát ra, tuệ giác quyết trạch siêu việt, tuệ giác lớn, tuệ giác rộng (13) , tuệ giác không ai đồng đẳng, thành tựu những phẩm chất quí báu như vậy của tuệ giác; hoàn hảo ba thứ minh trí; đạt được cái vui của chánh pháp ngay trong hiện tại và rất là bậc nhất; là ruộng phước vừa sạch vừa lớn; hoàn thiện không thiếu sự yên tĩnh của cử động; hoàn măn không vơi sự ôn ḥa của đức nhẫn; khéo léo phụng hành giáo huấn của đức Thế tôn (14) .

Lại có chúng đại bồ tát từ các cơi Phật hội lại ở đây, toàn là những vị đứng trong đại thừa, đi trong đại thừa, đối với chúng sinh th́ ḷng rất b́nh đẳng, tách rời mọi sự phân biệt là có thể phân biệt và không thể phân biệt (15) , chế ngự các loại ma và thù địch, tách rời ư nghĩ của Thanh văn và Duyên giác, sống bằng sự vui thích mùi vị chánh pháp quảng đại, vượt qua tất cả năm sự sợ hăi (16) , thuần nhất bước vào địa vị không c̣n thoái chuyển, thể hiện địa vị làm ngưng khổ năo bức bách cho chúng sinh. Danh hiệu các vị thượng thủ là đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư (17) , đại bồ tát Như lư thỉnh vấn, đại bồ tát Pháp dũng, đại bồ tát Thiên thanh tịnh tuệ, đại bồ tát Quảng tuệ, đại bồ tát Đức bản, đại bồ tát Thắng nghĩa sinh, đại bồ tát Quan tự tại, đại bồ tát Từ thị, đại bồ tát Mạn thù (18) ...

 

Phẩm hai: Thắng Nghĩa (19)

 

Vào lúc bấy giờ, ở trước đức Thế tôn, đại bồ tát Như lư thỉnh vấn hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư: Tối thắng tử, nói các pháp bất nhị (20) th́ các pháp là những ǵ? tại sao lại bất nhị? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư trả lời đại bồ tát Như lư thỉnh vấn: Thiện nam tử, các pháp đại khái có hai, một là hữu vi, hai là vô vi. Trong đây, hữu vi không phải hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi, (nên nói là bất nhị).

Đại bồ tát Như lư thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư: Tối thắng tử, như thế nào gọi là hữu vi không phải hữu vi vô vi, vô vi không phải vô vi hữu vi? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư trả lời đại bồ tát Như lư thỉnh vấn: Thiện nam tử, nói hữu vi th́ đó là cái đức Bổn sư giả thiết; nếu là cái đức Bổn sư giả thiết th́ cái ấy biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả (21) ; nếu là cái biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả th́ cuối cùng chỉ là bao cách biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả chứ không phải chân thật, v́ vậy mà không phải là hữu vi (22) . Nói vô vi th́ cũng sa vào ngôn ngữ (23) ; ngoài hữu vi vô vi mà nói ǵ chút ít đi nữa th́ cũng là như thế (24) . Thế nhưng không phải không sự thể mà có nói phô; sự thể ấy là ǵ, là các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà nói là hữu vi (25) .

Thiện nam tử, nói vô vi th́ đó cũng là cái đức Bổn sư giả thiết; nếu là cái đức Bổn sư giả thiết th́ cái ấy biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả; nếu là cái biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả th́ cuối cùng chỉ là bao cách biến kế chấp trước và ngôn ngữ diễn tả chứ không phải chân thật, v́ vậy mà không phải là vô vi (26) . Nói hữu vi th́ cũng sa vào ngôn ngữ (27) ; ngoài vô vi hữu vi mà nói ǵ chút ít đi nữa th́ cũng là như thế (28) . Thế nhưng không phải không sự thể mà có nói phô; sự thể ấy là ǵ, là các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh); rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà nói là vô vi.

Lúc ấy đại bồ tát Như lư thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói là vô vi? Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư trả lời đại bồ tát Như lư thỉnh vấn: Thiện nam tử, như nhà ảo thuật, hay đồ đệ của nhà ảo thuật, đứng giữa ngă tư, gom cỏ lá ngói gạch, và những vật liệu cùng việc, làm ra những ảo trạng tượng binh, mă binh, xa binh, bộ binh, ma ni, chân châu, lưu ly, loa bối (29) , bích ngọc, san hô, kho tàng tiền của, kho tàng thóc gạo... Những kẻ thuộc loại ngu đần, hiểu sai, không trí thức, th́ thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những ǵ ḿnh thấy nghe thật là tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo..., lại y như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại. C̣n những người thuộc loại không ngu đần, hiểu đúng, có trí thức, th́ thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những ǵ ḿnh thấy nghe toàn không thật tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo..., thế nhưng có những ảo trạng mê hoặc thị giác, nên tưởng đây là bản thân con voi và đây là chi tiết trên bản thân ấy, cho đến tưởng đây là bản thân kho tàng thóc gạo và đây là chi tiết trên bản thân ấy (29B) ; họ không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa.

Tương tự như vậy, những kẻ thuộc loại ngu phu, thuộc loại dị sinh (30) , chưa được tuệ giác siêu việt thế gian của các vị thánh giả, th́ không thể thấu hiểu pháp tánh tách rời ngôn ngữ của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi, nghĩ rằng cái ḿnh thấy nghe được đó quyết định thật là hữu vi vô vi, lại đúng như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại. C̣n những người không thuộc loại ngu phu, đă thấy chân lư của thánh giả, đă được tuệ giác siêu việt thế gian của thánh giả, th́ thấu hiểu một cách đúng như sự thật về pháp tánh tách rời ngôn ngữ của các pháp, nên thấy nghe các pháp hữu vi vô vi rồi nghĩ rằng cái ḿnh thấy nghe được đó quyết định không thật hữu vi vô vi, thế nhưng có hành tướng (31) của sự phân biệt (32) như ảo trạng mê hoặc tuệ giác (33) , nên có ư tưởng bản thân hữu vi vô vi, có ư tưởng chi tiết nơi bản thân hữu vi vô vi; nghĩ như vậy nên không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa.

Ấy vậy, Thiện nam tử, trong sự thể này các vị thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác nên giả thiết ngôn từ mà nói là hữu vi, nói là vô vi.

Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ư muốn lặp lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Pháp tánh bất nhị

tách rời ngôn ngữ

Thế tôn nói

th́ rất sâu xa,

không phải ngu phu

thể hiểu biết.

Với pháp tánh ấy,

những kẻ ngu phu

th́ bị mê hoặc

sự ngu dốt,

nên thích nắm lấy

hai pháp y cứ (34) ,

vận dụng ngôn từ

luận đủ cách.

Họ thành những kẻ

thuộc nhóm bất định,

hay c̣n hơn nữa.

thuộc nhóm tà định,

nên đă trôi lăn

trong cái khổ

của sự sống chết

cực kỳ lâu dài;

nay lại trái nghịch

đối với tuệ giác

cùng với ngôn luận

rất là chính xác,

nên trong vị lai

họ phải sinh vào

loài ḅ loài dê

các loài tương tự.

Bấy giờ đại bồ tát Pháp dũng thưa Phật: Kính bạch Thế tôn, phía đông cơi này, qua bảy mươi hai hằng sa thế giới hệ, có thế giới hệ tên Đủ tiếng khen lớn, đức Thế tôn giáo chủ hiệu Tiếng khen rộng lớn. Trước đây con từ cơi Phật ấy mà đến cơi này. Tại cơi Phật ấy, con từng thấy một nơi có bảy mươi bảy ngàn ngoại đạo, gồm cả các bậc thầy của họ, cùng ngồi với nhau. Để nghĩ về sắc thái của thắng nghĩa các pháp, họ chung nhau bàn luận, cân nhắc, xem xét. Suy tầm khắp cả mà rốt cuộc họ không biết được thắng nghĩa của các pháp, chỉ có những cái biết phức tạp, mâu thuẫn, bất định, nên họ chống nhau, căi nhau, miệng lưỡi xuất ra giáo với lao mà đâm thọc nhau, quấy phá nhau, rồi họ giải tán. Lúc ấy con nghĩ riêng như vầy, sự xuất thế của các đức Thế tôn thật rất hiếm có, bởi v́ nhờ sự xuất thế ấy mà đối với cái thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư (35) vẫn có những người thấu suốt chứng ngộ.

Đại bồ tát Pháp dũng kính bạch như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói; đối với thắng nghĩa siêu việt tầm tư, Như lai đă chánh biến giác, chánh biến giác rồi Như lai nói rơ cho người.

Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa th́ thánh giả tự chứng ngộ từ bên trong, c̣n đối tượng tầm tư th́ dị sinh chuyền cho nhau mà hiểu biết; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm . Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa th́ tuệ giác vô tướng lĩnh hội, c̣n tầm tư th́ chỉ biết đối tượng hữu tướng; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm . Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa th́ không thể nói phô, c̣n tầm tư th́ chỉ biết bằng nói phô; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm . Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa th́ tuyệt hết mọi sự biểu thị, c̣n tầm tư th́ chỉ biết bằng sự biểu thị; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm . Pháp dũng, Như lai nói thắng nghĩa th́ tuyệt hết mọi sự tránh luận (35B) , c̣n tầm tư th́ chỉ biết bằng sự tránh luận; thế nên, Pháp dũng, do điều này mà ông nên biết thắng nghĩa siêu việt lĩnh vực tầm tư.

Pháp dũng, nên nhận thức rằng, tựa như có kẻ suốt đời đă quen mùi vị cay đắng, th́ đối với mùi vị của mật và đường, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao th́ gian khẳng định dục vọng, lửa dục nung đốt, th́ đối với cái vui siêu thoát tinh tế do từ bên trong đă loại bỏ ngũ dục (35C) , kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao th́ gian khẳng định ngôn từ, ưa thích ngôn từ hoa dạng của thế gian, th́ đối với cái vui lặng thinh thánh thiện do sự yên tĩnh từ bên trong, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ trong bao th́ gian khẳng định sự biểu thị của thấy nghe hay biết (36) , ưa thích những sự biểu thị có tính thế gian (36B) , th́ đối với niết bàn toàn hảo do hủy diệt mọi sự biểu thị và cái thân ngũ uẩn, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Hoặc như những kẻ mà trong bao th́ gian khẳng định về ngă sở, chiếm hữu và tránh luận, ưa thích mọi sự tránh luận của thế gian, th́ đối với sự không ngă sở, chiếm hữu và tránh luận của nhân loại ở đại lục Bắc câu lô, kẻ ấy không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu. Tương tự như vậy, Pháp dũng, những kẻ tầm tư th́ đối với thắng nghĩa siêu việt cái biết của tầm tư, họ không thể tầm tư, so sánh, tin hiểu.

Để lặp lại ư nghĩa đă nói, lúc ấy đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây.

Chứng ngộ từ trong,

tướng lĩnh hội,

không thể nói phô,

tuyệt hết biểu thị,

đ́nh chỉ tránh luận,

thắng nghĩa như vậy

siêu việt hết thảy

sắc thái tầm tư.

Lúc bấy giờ đại bồ tát Thiện thanh tịnh tuệ thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, Ngài thật kỳ diệu, cho đến Ngài thật khéo nói, ấy là Ngài nói thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu, khó thấu, vượt qua đặc tính đồng nhất hay dị biệt đối với các hành. Bạch đức Thế tôn, chính tại cơi này, con từng chứng kiến một nơi có các vị Bồ tát đồng đẳng tu hành chính xác về địa vị Thắng giải hành (37) cùng ngồi với nhau, chung nhau nghĩ bàn thắng nghĩa đối với các hành (38) là một hay khác nhau. Trong đó, một số nói thắng nghĩa với các hành hoàn toàn là một; một số nói không phải thắng nghĩa với các hành hoàn toàn là một, mà là tuyệt đối khác nhau; một số nghi hoặc, do dự, nói các vị ấy ai thật ai dối, ai đúng ai sai, khi một số nói thắng nghĩa với các hành là một, một số nói thắng nghĩa với các hành khác nhau. Bạch đức Thế tôn, chứng kiến như vậy, con nghĩ riêng, rằng các thiện nam tử này ngây thơ, không sáng, không khéo và không đúng; đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu và siêu việt nhất dị đối với các hành, họ không thấu hiểu.

Đại bồ tát Thiện thanh tịnh tuệ kính bạch như vậy rồi, đức Thế tôn dạy ngài: Thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói; các Thiện nam tử ấy ngây thơ, không sáng, không khéo và không đúng; đối với thắng nghĩa rất nhỏ, rất sâu và siêu việt nhất dị đối với các hành, họ không thấu hiểu. Lư do là v́, đối với các hành, không phải khi nhận thức như vậy mà gọi là thấu hiểu hay chứng ngộ thắng nghĩa.

(Trước hết), Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một th́ đáng lẽ hiện nay tất cả dị sinh đă thấy đế lư, đă được niết bàn yên ổn, đă chứng bồ đề tối thượng; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ đáng lẽ người đă thấy đế lư không thể trừ khử các hành, không trừ khử các hành th́ không thể giải thoát tướng phược (39) , không giải thoát tướng phược th́ không thể giải thoát trọng phược (40) , không giải thoát hai phược ấy th́ không thể được niết bàn yên ổn, cũng không thể chứng bồ đề tối thượng. (Nhưng), v́ hiện nay các loại dị sinh không phải đă thấy đế lư, không phải đă được niết bàn yên ổn, không phải đă chứng bồ đề tối thượng, nên cho thắng nghĩa với các hành là một th́ phi lư, nói thắng nghĩa với các hành là một th́ do đạo lư này mà ông nên biết họ nói không đúng; (mặt khác), v́ hiện nay không phải những người thấy đế lư không thể trừ khử các hành mà là trừ khử được, không phải không thể giải thoát tướng phược mà là giải thoát được, không phải không thể giải thoát trọng phược mà là giải thoát được, giải thoát được hai phược nên cũng được niết bàn yên ổn và chứng bồ đề tối thượng, nên cho thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ phi lư, nói thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ do đạo lư này mà ông nên biết họ nói không đúng.

Thứ nữa, Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một th́ đáng lẽ các hành là tạp nhiễm thắng nghĩa cũng tạp nhiễm; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ đáng lẽ không phải cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa (41) . (Nhưng), v́ hiện nay thắng nghĩa không phải là tạp nhiễm, (mặt khác), v́ cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa, nên cho thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau th́ đều phi lư, nói thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau th́ do đạo lư này mà ông nên biết họ nói không đúng.

Sau nữa, Thiện thanh tịnh tuệ, nếu thắng nghĩa với các hành là một th́ đáng lẽ thắng nghĩa là phi sai biệt các hành cũng phi sai biệt, đáng lẽ hành giả tu quán, thấy nghe hay biết các hành rồi sau đó không c̣n t́m biết thắng nghĩa; nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ đáng lẽ không phải cái được hiển lộ bởi các hành vô ngă vô tánh chính là thắng nghĩa, đáng lẽ tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập (42) . (Nhưng), v́ hiện nay các hành là sai biệt chứ không phải phi sai biệt, v́ hành giả tu quán, thấy nghe hay biết các hành rồi sau đó c̣n t́m biết thắng nghĩa, (mặt khác), v́ chính cái được hiển lộ bởi các hành vô ngă vô tánh gọi là thắng nghĩa, v́ không phải tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập, nên cho thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau th́ đều phi lư, nói thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau th́ do đạo lư này mà ông nên biết họ nói không đúng.

Thiện thanh tịnh tuệ, như sắc trắng nơi loa bối, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với loa bối. Như sắc trắng nơi loa bối, sắc vàng nơi vàng cũng vậy. Như khúc nhạc nơi âm thanh đàn hầu, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với âm thanh đàn hầu. Như hơi thơm nơi trầm đen, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với trầm đen. Như vị cay nơi hạt tiêu, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với hạt tiêu. Như vị cay nơi hạt tiêu, vị bùi nơi trái ha lê cũng vậy. Như sự láng mịn nơi lụa tơ tằm, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với lụa tơ tằm. Như váng sữa nơi sữa chín, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với sữa chín. Như sự vô thường nơi các hành, sự khổ năo nơi hữu lậu, sự vô ngă nơi các pháp, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với các hành, hữu lậu và các pháp. Sự thác loạn và tạp nhiễm nơi tham, không dễ ǵ nói là một hay khác nhau với tham; như nơi tham, nơi sân và nơi si cũng vậy. Tương tự như vậy, Thiện thanh tịnh tuệ, không thể qui định thắng nghĩa với các hành là một hay khác nhau.

Thiện thanh tịnh tuệ, đối với thắng nghĩa siêu việt một khác các hành như vậy, rất nhỏ và cực kỳ rất nhỏ, rất sâu và cực kỳ rất sâu, khó biết và cực kỳ khó biết, Như lai đă thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác rồi, Như lai nói rơ cho người.

Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn muốn lặp lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Thắng nghĩa các hành (43)

siêu việt một khác,

phân biệt một khác

biết không đúng.

Chúng sinh th́ bị

tướng phược trọng phược (44) ;

siêng tu chỉ quán

mới giải thoát được.

Lúc ấy đức Thế tôn hỏi trưởng lăo Thiện hiện: Thiện hiện, trong chúng sinh giới, trưởng lăo biết bao nhiêu người có tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác định sự hiểu biết của ḿnh (45) ? bao nhiêu người không tăng thượng mạn mà xác định sự hiểu biết của ḿnh? Trưởng lăo Thiện hiện thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, trong chúng sinh giới, con biết chỉ có một số người không tăng thượng mạn mà xác định sự hiểu biết của ḿnh, nhưng có vô số người có tăng thượng mạn, do tăng thượng mạn chi phối mà xác định sự hiểu biết của ḿnh. Bạch đức Thế tôn, có một lần con ở chỗ thanh vắng trong rừng cây lớn. Bấy giờ có nhiều vị Bí sô cũng ở trong rừng ấy, gần con. Các vị Bí sô này, trong phần sau của ban ngày, lần lượt hội lại, căn cứ sự hiện quán có thủ đắc mà nói các pháp, xác định sự hiểu biết của ḿnh. Tựu trung, một số do thủ đắc về uẩn: thủ đắc đặc tính của uẩn, thủ đắc sự phát sinh của uẩn, thủ đắc sự tận diệt của uẩn, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của uẩn, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh. Như một số do thủ đắc về uẩn, một số do thủ đắc về xứ và một số do thủ đắc về duyên khởi th́ cũng như vậy. Một số do thủ đắc về thực: thủ đắc đặc tính của thực, thủ đắc sự phát sinh của thực, thủ đắc sự tận diệt của thực, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của thực, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh. Một số do thủ đắc về đế: thủ đắc đặc tính của đế, thủ đắc sự biến tri về đế, thủ đắc sự vĩnh đoạn về đế, thủ đắc sự tác chứng về đế, thủ đắc sự tu tập về đế, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh. Một số do thủ đắc về giới: thủ đắc đặc tính của giới, thủ đắc chủng loại của giới, thủ đắc đa dạng của giới, thủ đắc sự tận diệt của giới, thủ đắc sự tác chứng về sự tận diệt của giới, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh. Một số do thủ đắc về niệm trú : thủ đắc đặc tính của niệm trú, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của niệm trú, thủ đắc sự tu tập về niệm trú, thủ đắc sự chưa phát sinh th́ làm cho phát sinh của niệm trú, thủ đắc sự đă phát sinh th́ làm cho kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rộng ra của niệm trú, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh. Như một số do thủ đắc về niệm trú, những số do thủ đắc về chính đoạn, do thủ đắc về thần túc, do thủ đắc về căn, do thủ đắc về lực, do thủ đắc về giác chi, th́ cũng như vậy. Một số do thủ đắc về tám chi thánh đạo: thủ đắc đặc tính của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự năng trị và sự sở trị của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự tu tập về tám chi thánh đạo, thủ đắc sự chưa phát sinh th́ làm cho phát sinh của tám chi thánh đạo, thủ đắc sự đă phát sinh th́ làm cho kiên cố, bội phần tu tập cao lên và rôểng ra của tám chi thánh đạo, nên xác định sự hiểu biết của ḿnh (46) . Bạch đức Thế tôn, con chứng kiến như vậy th́ nghĩ riêng như vầy, các vị trưởng lăo này căn cứ sự hiện quán có thủ đắc mà nói các pháp, xác định sự hiểu biết của ḿnh như thế, th́ biết các vị toàn là tăng thượng mạn, bị tăng thượng mạn chi phối, nên không thể thấu hiểu đặc tính phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị của thắng nghĩa. V́ thế nên đức Thế tôn thật kỳ diệu, cho đến đức Thế tôn thật khéo nói, ấy là Ngài nói thắng nghĩa rất nhỏ và cùng cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất sâu, khó biết và cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị. Bạch đức Thế tôn, các vị Bí sô tu học trong chánh pháp mà c̣n khó thấu hiểu đặc tính phổ biến nhất vị của thắng nghĩa, huống chi những người ngoại đạo.

Bấy giờ đức Thế tôn bảo trưởng lăo Thiện hiện: đúng như vậy, trưởng lăo Thiện hiện; đối với thắng nghĩa rất nhỏ và cùng cực rất nhỏ, rất sâu và cùng cực rất sâu, khó biết và cùng cực khó biết, phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị, Như lai đă thể hiện chánh biến giác. Chánh biến giác rồi, Như lai nói rơ cho người.

(Trước hết), Thiện hiện, Như lai đă nói cái thanh tịnh sở duyên (47) nơi toàn thể năm uẩn chính là thắng nghĩa; Như lai đă nói cái thanh tịnh sở duyên nơi toàn thể mười hai xứ, mười hai duyên khởi, bốn thực, bốn đế, mười tám giới, bốn niệm trú, bốn chính đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và tám thánh đạo, chính là thắng nghĩa. Cái thanh tịnh sở duyên ấy, nơi toàn thể năm uẩn, Nó là đồng nhất tính vị, không có dị biệt; như nơi toàn thể năm uẩn, th́ nơi toàn thể mười hai xứ, cho đến nơi toàn thể tám thánh đạo, Nó cũng là như vậy, đồng nhất tính vị, không có dị biệt. Thế nên, Thiện hiện, do đạo lư này mà trưởng lăo hăy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể, đồng nhất tính vị.

Thứ nữa, Thiện hiện, các vị Bí sô tu quán, thấu hiểu chân như thắng nghĩa vô ngă nơi một uẩn, th́ không cần t́m cầu chân như thắng nghĩa ấy riêng biệt nơi các uẩn khác, nơi mười hai xứ cho đến nơi tám thánh đạo. Và chính cái trí thích ứng với chân như thắng nghĩa bất nhị này làm căn cứ mà thẩm cứu tiến chứng chân như thắng nghĩa phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị (48) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lư này mà trưởng lăo hăy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị.

Sau nữa, Thiện hiện, như năm uẩn th́ triển chuyển khác nhau, như mười hai xứ cho đến tám thánh đạo th́ cũng triển chuyển khác nhau, nếu chân như thắng nghĩa vô ngă của toàn thể các pháp ấy mà cũng khác nhau, th́ chân như thắng nghĩa này đáng lẽ cũng có nhân tố, do nhân tố xuất sinh; nếu do nhân tố xuất sinh th́ đáng lẽ là hữu vi, nếu là hữu vi th́ đáng lẽ không phải thắng nghĩa, nếu không phải thắng nghĩa th́ đáng lẽ phải t́m cầu thắng nghĩa nào khác nữa. (Nhưng), Thiện hiện, do chân như thắng nghĩa vô ngă không có nhân tố, không phải nhân tố xuất sinh, cũng không phải hữu vi, mà đích là thắng nghĩa, (nên) chứng ngộ thắng nghĩa ấy rồi th́ không c̣n t́m cầu thắng nghĩa nào khác nữa, mà (thấy) chỉ có thường xuyên, vĩnh viễn, Như lai xuất thế hay không xuất thế, pháp tánh các pháp vẫn an lập, pháp giới các pháp vẫn an trú (49) . Thế nên, Thiện hiện, do đạo lư này mà trưởng lăo hăy nhận thức thắng nghĩa là phổ biến toàn thể và đồng nhất tính vị.

Thiện hiện, tựa như trong toàn thể h́nh sắc khác nhau, đa dạng và đa số, hư không vẫn không h́nh sắc, không phân biệt, không biến đổi, mà là phổ biến và nhất vị. Tương tự như vậy, nơi toàn thể các pháp khác đặc tính và khác sắc thái, thắng nghĩa vẫn là phổ biến và nhất vị.

Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn muốn lặp lại ư nghĩa đă nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

Chính cái thắng nghĩa

phổ biến nhất vị

Như lai nói là

không có khác nhau.

Nếu có kẻ nào

phân biệt khác nhau,

kẻ ấy u mê

thượng mạn chi phối.

 

 

Phần ghi chú

 

Ghi Chú (1)

Đức Thế tôn: bản dịch này dùng chữ này để dịch hầu hết những chữ gọi đức Phật. Hầu hết những chữ Ngài tự xưng th́ dùng chữ Như lai.  

Ghi Chú (1B)

Đại cung điện: coi ghi chú 6 .  

Ghi Chú (2)

Nơi: chữ này, ở đây và những chỗ dưới đây, là tham chiếu Ngụy dịch mà dịch.  

Ghi Chú (3)

Đại bồ tát: Ở đây chỉ Bồ tát 10 địa.  

Ghi Chú (4)

Sống: Chính văn là tŕ, dịch rơ là giữ cho sống c̣n.  

Ghi Chú (5)

Các loại ma: phiền năo ma, uẩn ma, tử ma và thiên ma.  

Ghi Chú (6)

Nơi kiến thiết ... vô số lượng công đức: Hoa sen chúa, chỗ khác nói là Liên hoa đài tạng, c̣n đại cung điện là Hoa tạng thế giới, và đó là tha thọ dụng độ của Phật.

Ghi Chú (7)

Tuệ giác cực kỳ trong sạch: câu này là phẩm chất tổng quát trong 21 sự thù thắng của Phật, 20 câu tiếp theo là phẩm chất chi tiết.  

Ghi Chú (8)

Bất nhị: nghĩa đen là không hai. Hai là chỉ cho hết thảy khái niệm đối hiện và đối lập lẫn nhau. Nói cái này là cây bút th́ có nghĩa tất cả cái khác là phi cây bút ấy: bút và phi bút là 2 khái niệm đối hiện, nói cách khác, khái niệm là biểu hiện sự đối hiện ấy. Khái niệm, như vậy, là gốc gác mà cũng là hiện thân của sự thác loạn. Khái niệm, như vậy, tính chất của nó tự siêu việt lấy nó: đó gọi là bất nhị. Bất nhị ở đây là không hiện hành sinh tử cũng không hiện hành niết bàn.  

Ghi Chú (9)

Vô tướng: ở đây là chân như hay vô trú niết bàn.  

Ghi Chú (10)

Chỗ đứng của các đức Thế tôn: ở đây là tâm đại bi.  

Ghi Chú (11)

Không c̣n chướng ngại: không c̣n phiền năo chướng và sở tri chướng.

Ghi Chú (12)

Khéo nghĩ... được làm: là cả 3 nghiệp đều tùy thuận tuệ giác.  

Ghi Chú (13)

Tuệ giác nhanh... tuệ giác rộng: nhanh là hiểu nhanh pháp và giới của Phật thuyết, chóng là nhanh mà nhiều, sắc là hiểu nhanh và nhiều mà nhỏ và sâu, thoát ra là cái hiểu ấy làm cho thoát khỏi sinh tử, quyết trạch siêu việt là cái hiểu ấy dẫn ra niết bàn, lớn là biện thuyết vô cùng tận, rộng là quán triệt sâu rộng.  

Ghi Chú (14)

Tổng cọng có 15 đức tính: 14 đức tính đầu là chi tiết, là quả, 1 đức tính chót là tổng quát, là nhân.

Ghi Chú (15)

Tách rời... phân biệt: ở đây có nghĩa không phân biệt về th́ gian tính và siêu th́ gian tính ẫ tức là sự tinh tiến đại.  

Ghi Chú (16)

Vượt qua tất cả 5 sự sợ hăi: sợ không có phương tiện để sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ đường dữ, sợ oai công chúng hay cá nhân.  

Ghi Chú (17)

Giải thâm nghĩa ư: Giải thậm thâm nghĩa mật ư.  

Ghi Chú (18)

Mạn thù: Mạn thù thất lợi.  

Ghi Chú (19)

Thắng nghĩa: nói đủ là Thắng nghĩa đế tướng (sắc thái của chân lư tuyệt đối). Thắng nghĩa đế cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế (chân lư bậc nhất), chân đế (chân lư chân thật); đối lại là thế tục đế (chân lư phổ thông), cũng gọi là thế đế hay tục đế (chân lư giả thiết). Ở đây, chân lư tuyệt đối chỉ cho pháp tánh (Tâm hay Như).  

Ghi Chú (20)

Bất nhị: coi lại ghi chú 8 . Ở đây, bất nhị là pháp tánh phi hữu vi phi vô vi.  

Ghi Chú (21)

Nếu là... diễn tả: chấp và nói th́ mới nghe là chấp và nói. Nói như vậy chỉ là thêm chấp.  

Ghi Chú (22)

Những câu này nói pháp tánh phi hữu vi là hữu vi.  

Ghi Chú (23)

Câu này nói pháp tánh phi hữu vi là vô vi.  

Ghi Chú (24)

Câu này nói pháp tánh phi hữu vi là hữu vi vô vi.  

Ghi Chú (25)

Thánh giả nói là tùy người mà nói, là nói theo chân lư phổ thông, phương tiện dẫn người vào chân lư tuyệt đối.  

Ghi Chú (26)

Những câu này nói pháp tánh phi vô vi là vô vi.  

Ghi Chú (27)

Câu này nói pháp tánh phi vô vi là hữu vi.  

Ghi Chú (28)

Câu này nói pháp tánh phi vô vi là vô vi hữu vi.

Ghi Chú (29)

Loa bối: vỏ ốc quí, bên trong lóng lánh, xưa dùng làm tiền tiêu, hoặc khảm vào đồ cho đẹp.  

Ghi Chú (29B)

Nên tưởng... bản thân ấy: bản thân và chi tiết, chính văn là thân và sai biệt (mà đáng lẽ phải là tự tánh và sai biệt), là chỉ cho mỗi hiện tượng và những trừu tượng nơi mỗi hiện tượng ấy.  

Ghi Chú (30)

Dị sinh: những kẻ khác với thánh giả.  

Ghi Chú (31)

Hành tướng: sự diễn biến; ở đây là đối tượng, ấn tượng (của sự phân biệt).  

Ghi Chú (32)

Phân biệt: cựu dịch là vọng tưởng (và có thể là vọng niệm hay niệm). Theo đại luận Du dà mà Vạn 34/331B trích dẫn, phân biệt có 8 thứ và sinh 3 sự. Theo đó th́ có thể nói phân biệt bao gồm quan niệm (trong đó có khái niệm) và ư niệm. Ngài Huyền tráng c̣n nói phân biệt là vô kư dị thục tuệ (cái biết bẩm sinh, bản năng) hoặc chính là tầm tư (tư duy, tư tưởng).  

Ghi Chú (33)

Thế nhưng... tuệ giác: câu này gồm pháp và dụ mà nói. Nói rơ th́ phải là: thế nhưng có hành tướng của sự phân biệt làm cho tuệ giác bị mê hoặc, như ảo trạng mê hoặc thị giác.

Ghi Chú (34)

Hai pháp y cứ: là nhị biên luận mà nói theo ở đây là hữu vi vô vi.

Ghi Chú (35)

Tầm tư: hay tầm cầu, là sự tầm tứ (t́m xét). Coi lại ghi chú 32 .  

Ghi Chú (35B)

Tránh luận: trương ngă kiến ra mà căi nhau.

Ghi Chú (35C)

Loại bỏ ngũ dục: dịch rơ và đủ là loại bỏ (sự đam mê) sắc thanh hương vị xúc (thích ư).  

Ghi Chú (36)

Thấy nghe hay biết: nói chung mọi sự nhận thức của các giác quan.  

Ghi Chú (36B)

Tính thế gian: ở đây là biến động và dẫn ra đam mê, phiền lụy.

Ghi Chú (37)

Địa vị Thắng giải hành: là vô số kiếp thứ nhất, gồm 10 tín, 10 trú, 10 hành, 10 hướng và 4 da hành. Danh hiệu địa vị này có 4: nguyện lạc, tín hành, thắng giải hành và ư lạc. Địa vị này khẳng định về chân như được dạy cho, chứ chưa chứng ngộ chân như ấy.  

Ghi Chú (38)

Các hành: ở đây chỉ cho các pháp hữu vi; các pháp ấy đặc tính là diễn biến trong th́ gian, nên gọi là các hành.

Ghi Chú (39)

Tướng phược: sự kềm chế bởi ảo tượng (tướng phần hữu lậu).  

Ghi Chú (40)

Trọng phược: sự kềm chế bởi ảo giác (kiến phần hữu lậu: tham sân vân vân).  

Ghi Chú (41)

Cọng tướng của các hành gọi là thắng nghĩa: các hành có tự tướng và cọng tướng (đặc tính riêng và đặc tính chung). Tự tướng ở đây là sắc uẩn là chất ngại cho đến thức uẩn là liễu biệt. Cọng tướng ở đây là chân như vô ngă: chân như ấy là thắng nghĩa.  

Ghi Chú (42)

Nếu thắng nghĩa với các hành khác nhau th́... đáng lẽ tạp nhiễm và thanh tịnh cùng lúc dị biệt mà song lập: nhiễm là các hành, tịnh là thắng nghĩa. Nhiễm đang c̣n th́ tịnh chưa hiện, tịnh đă hiện th́ nhiễm phải mất. Nói thắng nghĩa với các hành khác nhau th́ đáng lẽ nhiễm tịnh cùng lúc có thể cùng tồn tại.

Ghi Chú (43)

Thắng nghĩa các hành: chính văn là hành giới thắng nghĩa. Giới là giới tính mà cũng là thể tính, nên chính văn ấy có nghĩa các hành với thắng nghĩa, cũng có nghĩa thắng nghĩa của các hành.  

Ghi Chú (44)

Chúng sinh th́ bị tướng phược trọng phược: chúng sinh th́ bị kềm chế bởi các hành.

Ghi Chú (45)

Có tăng... của ḿnh: chưa chứng biết thắng nghĩa mà tự cho đă chứng biết.  

Ghi Chú (46)

Ḍ th́ thấy đoạn này kể đối tượng của hiện quán hữu sở đắc gồm có: đầu tiên là 5 uẩn, 12 xứ, 12 duyên khởi, rồi 4 thực, 4 đế, 18 giới, sau đó là 37 giác phần: 4 niệm trú, 4 chính đoạn, 4 thần túc, 5 căn, 5 lực, 7 giác chi và 8 thánh đạo.

Ghi Chú (47)

Thanh tịnh sở duyên: đối tượng trong sáng do tuệ giác trong sáng nhận thức. Hiển dương luận 16 nói thắng nghĩa chính là thanh tịnh sở duyên, v́ duyên theo đối tượng ấy th́ được sự thanh tịnh của Tâm (Vạn 34/356B dẫn).  

Ghi Chú (48)

Và chính... tính vị: nghĩa là không phải những sự hiện quán có thủ đắc theo nhị biên mà có thể thẩm cứu tiến chứng chân như bất nhị.  

Ghi Chú (49)

Pháp tánh... an trú: pháp tánh và pháp giới đều là biệt danh của chân như. Pháp tánh an lập: chân như là bản thể xác lập. Pháp giới an trú: chân như là thực thể bất biến.

 

Minh Quang posted December 6, 2005

 

[Home] [Up] [Kinh Giải Thâm Mật 4] [Kinh Giải Thâm Mật 3] [Kinh Giải Thâm Mật 2]