Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết

Cưu-Ma-La-Thập dịch Hán

HT. Thích Huệ Hưng dịch Việt

LỜI GIỚI THIỆU

Từ xưa chư Phật, Bồ Tát ra đời giáo hóa chúng sanh, với ḷng bi nguyện thâm thiết đều muốn cho tất cả thoát ly cảnh giới triền phược khổ năo, đồng hưởng cảnh thanh tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là ḿnh phải được thanh tịnh như trong kinh nói "TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ĐỘ TỊNH".

Sở dĩ thân Phật rực rỡ, cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẳn có, cũng như chư Phật, không hai không khác, nhưng v́ từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày được đó thôi.

Bộ Kinh "DUY - MA - CẬT" này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật, Bồ Tát thị hiện chỉ rơ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng Nhị thừa sửng sốt, không thể lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nổi, không thể dùng lời nói luận bàn đến được.

Giáo lư Tối Thượng Thừa này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp.

Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm phiên dịch ra quốc văn, v́ thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất bản.

Nhận thấy pháp Tối Thượng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu hành nào muốn t́m phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ĐƯỜNG                     
Mùa Hạ Năm Tân Măo - 1951
Sa môn: LÊ PHƯỚC B̀NH

 

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh "DUY MA CẬT" cũng có tên gọi: Kinh "BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT". Kinh này nói rơ cảnh giới của Đại Bồ Tát chứng nhập.

Bồ Tát thường chẳng những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng sinh.

Ngài DUY MA CẬT chính là vị Đại Bồ Tát ở cơi Bất Động, v́ trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến cơi Ta bà này.

Muốn hiển bản tánh "B́nh Đẳng Chơn Thật Không Hai" của chúng sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phương pháp phá chấp: có, không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo.

Đọc vào kinh ta nhận thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật đạo. Có thật hành Phật đạo mới trở về bản tánh "b́nh đẳng không hai" và đầy đủ diệu dụng giải thoát.

Đạo Phật là đạo chú trọng thật hành, không phải lư thuyết suông.

Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rơ rành mạch cả lư thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt để.

Đời đang đắm ch́m trong biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ ǵ chỗ hiểu chưa cùng tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới "bất tư nghị" mà vội cống hiến cho bạn đọc một pho sách chưa từng có.

Vậy có chỗ nào sơ sót mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ!

Dịch giả cẩn chí.

LỆ NGÔN

I. Kinh này có phân ra thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển và số mục của các phẩm.

II. Về phẩm II và III, tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bồ Tát trên mỗi đoạn cho dễ t́m khi quí vị muốn xem.

III.   Ở sau có phụ phần chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải nữa.

IV. Kinh này không phải là kinh khóa tụng hằng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm tŕ tụng cũng được nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm "Thấy Phật A Súc", phẩm "Pháp cúng dường" và phẩm "Chúc lụy" có nói rơ. Khi tụng kinh này cũng phải y theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các kinh khác vậy.

Kính dâng Giác LinhBổn Sư Ḥa Thượng hiệu CHÁNH THÀNHCHÙA VẠN AN chứng giám

Đệ tử: HUỆ HƯNG

 

 

I. PHẨM PHẬT QUỐC (4)

Chính tôi được nghe, một thuở kia, đức Phật (Thích Ca) ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng tám ngh́n chúng Đại Tỳ Kheo, ba vạn hai ngh́n Bồ Tát, là những vị có tiếng tăm, đều đă thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ ǵn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn  sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không  để dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đă thanh tịnh; trọn ĺa năm món che ngăn (10) và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lư vô ngại giải thoát; niệm định tổng tŕ (12) b́nh đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các hạnh bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương tiện lợi ḿnh lợi người thảy đều đầy đủ. Đă được đến bực vô sở đắc 13) mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn) (14) hay tùy thuận diễn nói pháp luân bất thối (15), khéo hiểu rơ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh, oai đức bao trùm đại chúng (16), không c̣n sợ sệt chi cả.

Các Ngài dùng công đức trí tuệ trau sửa ḷng ḿnh, lấy tướng tốt trang nghiêm thân h́nh, sắc tượng dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi Tu di (17), ḷng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi khắp, mưa nước cam lồ, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt.

Các Ngài đă thâm nhập lư duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không có hạn lượng và đă quá hạng lượng.

Các Ngài tự ḿnh nhóm góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rơ nghĩa lư sâu mầu của các pháp, biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập lực (20) vô úy (21) thập bát bất cộng (22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân trong năm đường (23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Đại Y Vương (24) khéo trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Đă thành tựu vô lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cơi Phật. Người nào được nghe danh thấy h́nh đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng phí, các công đức như thế, đă hoàn toàn viên măn.

Danh hiệu các Ngài là: Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Đại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thủ Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện Âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dơng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Đế Vơng Bồ Tát, Minh Vơng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Điễn Đức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi Âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phạm Vơng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Độ Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát, cả thảy như thế ba vạn hai ngh́n Ngài.

Lại có một vạn vị Thi Khí (25) Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại có một vạn hai ngh́n vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội. Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma Hầu la dà (27) v.v... đều đến trong pháp hội. Lại có các vị Tỳ kheo (28) Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, (29) Ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp hội.

Bấy giờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm ngh́n đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên ṭa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng.

Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưởng giả tử (32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lộng bảy báu (33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rồi mỗi vị đều đem lọng báu của ḿnh hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấy hiệp thành một cây trùm khắp cơi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34) mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó.

Lại nữa, các núi Tu di, Mục chơn lân đà, Đại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi, bể lớn, sông, rạch ḍng, ng̣i, nguồn suối, cùng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cung các vị tôn thần, nơi cơi Tam thiên đại thiên thế giới này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng bảy báu ấy.

Khi đó tất cả Đại chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nh́n dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc bài kệ khen rằng:

Mắt trong, dài rộng như sen xanh,

Tâm sạch đă tột các thiền định,

Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng,

Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy.

Đă thấy Đại thánh dùng thần biến,

Khắp hiện mười phương không lường cơi.

Trong đấy các Phật diễn nói pháp,

Nơi đây tất cả đều thấy nghe.

Pháp lực của Phật vượt quần sanh

Thường dùng Pháp tài thí tất cả,

Hay khéo phân biệt các Pháp tướng,

Đối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động.

Đă được tự tại cùng các Pháp

Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương.

Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không

V́ do nhân duyên các Pháp sanh,

Không ta, không tạo, không thọ giả,

Những việc lành dữ cũng chẳng mất.

Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37)

Đặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác,

Đă không tâm ư, không thọ hành (39)

Mà xô dẹp hết các ngoại đạo.

Ba lần chuyển Pháp (40) cơi đại thiên,

Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh,

Trời người đắc đạo đó là chứng,

Tam bảo v́ thế hiện trong đời.

Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh

Thọ rồi không lui, thường vắng lặng,

Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương,

Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường.

Khen chê chẳng động như Tu di

Đồng bực thương xót kẻ lành dữ,

Tâm hạnh b́nh đẳng như hư không,

Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.

Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này

Cơi Tam thiên tôi hiện trong đó,

Thiên cung, Long thần kia nương ở,

Càn thát cả thảy với Dạ xoa.

Mọi vật trong đời đều thấy rơ,

V́ thương Phật hiện tướng biến này,

Thấy việc ít có chúng khen ngợi,

Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43)

Đại thánh chỗ nương của mọi loài,

Ḷng sạch trong đó thảy vui vẻ,

Đều thấy Thế Tôn ở trước ḿnh,

Đó là thần lực Pháp bất cộng. (44)

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu,

Đều cho rằng Phật đồng tiếng ḿnh,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng,

Khắp được thọ hành đều lợi ích,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,

Có người kinh sợ hoặc vui mừng,

Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán,

Đó là thần lực Pháp bất cộng.

Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn,

Lạy đấng đă đặng không chỗ sợ,

Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng,

Lạy đấng Đạo sư (45) của muôn loài.

Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược, (46)

Lạy đấng đă đến nơi bờ kia,

Lạy đấng hay vượt các thế gian,

Lạy đấng trọn ĺa đường sanh tử.

Biết hết chúng sanh tướng đến lui

Khéo nói các Pháp được giải thoát,

Như hoa sen trong đời chẳng nhiễm,

Thường khéo vào nơi hạnh không tịch. (47)

Rơ các Pháp tướng (48) không ngăn ngại,

Lạy đấng không nương tợ hư không.

Lúc đó Trưởng giả tử Bảo Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Năm trăm vị Trưởng giả tử nầy đều đă phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe cơi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh độ" (quốc độ thanh tịnh).

Phật bảo: "Hay thay Bảo Tích! Ông lại v́ các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hăy lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rơ".

Lúc ấy Bảo Tích cùng 500 vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe.

Phật dạy rằng: "Này Bảo Tích! Tất cả chúng sanh là cơi Phật của Bồ Tát. V́ sao? - Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà lănh lấy cơi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà lănh lấy cơi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà lănh lấy cơi Phật; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà lănh lấy cơi Phật.  V́ sao thế? - V́ Bồ Tát lănh lấy cơi Phật thanh tịnh đều v́ muốn lợi ích chúng sanh. Ví như: Có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống, tùy ư được thành công, nếu xây dựng giữa hư không quyết không thành tựu được; Bồ Tát cũng thế, v́ thành tựu chúng sanh nên nguyện lănh lấy cơi Phật - Nguyện lănh lấy cơi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy.

Bảo Tích, ông nên biết! -  Trực tâm  (49) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không a dua vạy, sanh sang nước đó. Thâm tâm  (50) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Đề tâm  (51) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó. Bố thí  là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Tŕ giới   là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành, (52) hạnh nguyện đầy đủ, sanh sang nước đó. Nhẫn nhục  là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức sanh sang nước đó. Thiền định  là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ  là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước đó. Tứ vô lượng tâm  (54) là Tịnh độ của Bồ Tát; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước đó. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm  (57) là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, được cơi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cơi nước không có ba đường ác (58) và 8 nạn (59) Tự ḿnh giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác  là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cơi nước không có tên phạm giới cấm. Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh (60) lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến thuộc không chia rẽ, khéo giải ḥa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có lợi ích, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó.

Như thế, Bảo Tích! Bồ Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy chỗ thâm tâm mà ư được điều phục, tùy chỗ ư được điều phục mà làm được như lời nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu chúng sanh mà cơi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cơi Phật thanh tịnh mà nói Pháp được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này! Bồ Tát nếu muốn được cơi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ tâm thanh tịnh mà cơi Phật được thanh tịnh".

Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng: "Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cơi Phật phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát, tâm ư lẽ nào không thanh tịnh, sao cơi Phật này không thanh tịnh như thế?".

Phật biết ông suy nghĩ vậy liền bảo rằng:

- Ư ông nghĩ sao? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng phải thế. Đó là tại người mù, không phải lỗi ở mặt trời và mặt trăng.

- Xá Lợi Phất! Cũng thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cơi nước của Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai - Này Xá Lợi Phất! Cơi nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi.

Bấy giờ ông Loa Kế Phạm Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng:

 "Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cơi Phật đây là không thanh tịnh. V́ sao? - V́ tôi thấy cơi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại". (61)

Ông Xá Lợi Phất nói:

- Sao tôi thấy cơi này toàn g̣ nỗng, hầm hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế?

Ông Loa Kế Phạm Vương thưa rằng:

- Đấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cơi này không thanh tịnh đó thôi - Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều b́nh đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật th́ mới thấy được cơi Phật này thanh tịnh.

Khi ấy Phật lấy ngón chơn nhấn xuống đất, tức th́ cơi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm ngh́n thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cơi Vô Lượng Công đức bảo trang nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Đại chúng ngợi khen chưa từng có và đều thấy ḿnh ngồi trên ṭa sen báu.

Phật bảo Xá Lợi Phất:

- Ông hăy xem cơi Phật đây trang nghiêm thanh tịnh.

Ông Xá Lợi Phất thưa:

- Dạ, bạch Thế Tôn! Từ trước đến giờ con chưa từng thấy chưa từng nghe. Nay cơi nước của Phật đều hiện rơ trang nghiêm thanh tịnh.

Phật bảo:

- Này Xá Lợi Phất! Cơi nước của ta thường thanh tịnh như thế! Nhưng v́ muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cơi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cơi này công đức trang nghiêm.

Trong khi Phật hiện ra cơi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn ngh́n người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bấy giờ Phật thâu nhiếp thần túc (62) lại, cơi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai ngh́n người và Trời cầu Thanh văn thừa đều nhận rơ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa ĺa trần cấu (64) đặng pháp nhăn thanh tịnh (65) tám ngh́n vị Tỳ kheo không c̣n chấp thọ các pháp, kiết lậu (66) đă hết, tâm ư được giải thoát.

 

1.-   Kinh: Nói đủ là "Khế kinh", nghĩa là "pháp thường" khế hiệp chơn lư cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh.

2.-  Duy Ma Cật: Tên một vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là "Tịnh Danh".

3.-  Bất khả tư nghị giải thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ "Giải thoát" đây là xa ĺa tất cả phiền năo nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên măn tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà c̣n chướng ngại với cảnh pháp... Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rơ.

4.- Phật quốc: Cơi nước của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cơi nước của Phật A Di Đà, Ta bà là cơi nước của Phật Thích Ca.

5.- Tỳ Da Ly: Tàu dịch là Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở về Trung Ấn Độ.

6.- Am La: Tàu dịch là "nan phân biệt", nghĩa là thứ trái cây này từ khi c̣n sống đến khi chín chỉ có một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín.

7.-  Sư tử rống: Dụ Phật, Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền năo mê lầm của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng th́ tất cả các thú đều khiếp sợ chạy trốn.

8.-   Sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư.

9.-  Ba nghiệp: 1)Thân nghiệp, 2)Khẩu nghiệp, 3)Ư nghiệp.

10.- Năm món che ngăn: 1)Tham dục; 2)Sân nhuế; 3)Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được; 4)Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động; 5)Nghi pháp: Đối việc ǵ cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán. Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được.

11.- Mười điều ràng buộc: 1) Vô tàm: có tội lỗi mà không biết hổ; 2) Vô quư: có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn; 3) Tật: thấy người hiền đức giàu sang sanh ḷng ghen ghét; 4) Xan: bỏn sẻn không bố thí; 5) Hối: ăn năn những tội lỗi đă làm; 6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thân tâm; 7) Điệu cử: Tâm niệm xao động; 8)Hôn trầm: thần thức hôn mê không rơ biết chi cả; 9)Sân hận: đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi; 10) Phú: che giấu tội ác.

12.- Niệm định tổng tŕ: Niệm tức là Tuệ; Tổng Tŕ: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ, trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng tŕ.

13.- Vô sở đắc: Là đối với hữu sở đắc mà nói. Nghĩa là không c̣n trụ trước một pháp nào cả, dầu trí chứng và cảnh chứng cũng không thấy có.

14.- Vô sanh pháp nhẫn: Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ ǵn; là nói dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lư bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong "Đại Trí Độ luận", quyển 50 nói: "Đối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn"

15.- Pháp luân bất thối: Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ Tát đă chứng được "bất thối" rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối.

16.- Đại chúng: Là một nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra c̣n bao nhiêu bậc Hiền, Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi là Đại chúng.

17.- Tu Di: Tàu dịch là Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu vàng, bạc, lưu ly, pha lê rất xinh đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao.

18.- Lư Duyên khỉ: Tất cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khỉ. V́ tỏ ngộ lư duyên khỉ, nhận rơ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có không đều ĺa, mới là thâm nhập lư duyên khỉ.

19.- Hải đạo sư: Là người rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào biển để t́m ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc.

20.- Thập lực: Mười trí lực của Phật. 1) Trí lực của Phật biết rơ những điều hợp lư và trái lư. 2) Biết rơ nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trong ba đời. 3) Biết rơ các pháp thiền định giải thoát tam muội. 4) Biết rơ từng bực cao thấp các căn tánh của chúng sanh. 5) Biết rơ những ưa muốn sai khác của chúng sanh. 6) Biết rơ tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian. 7) Biết rơ chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền Thánh, thế gian và xuất thế gian. 8) Biết rơ tánh danh khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh. 9) Biết rơ sự sống chết qua, các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu  Niết  bàn  của  các Hiền Thánh. 10) Tự biết ḿnh đă dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không c̣n sanh tử triền phược nữa.

21.- Vô úy: Bốn món vô úy: 1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian; 2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết; 3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo; 4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thể diệt hết các khổ. Bốn điều này Phật đối giữa Đại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là "Vô úy".

22.- Thập bát bất cọng: Mười tám (18) pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa và  Bồ  Tát.  1) Thân không lỗi. 2) Miệng không lỗi. 3) Niệm không lỗi. 4) Không có tâm tưởng  khác.  5) Không  có   tâm  bất  định.     6) Không có tâm không biết. 7) Sự muốn không giảm. 8)Tinh tấn không giảm. 9) Niệm không giảm. 10) Huệ không giảm. 11) Giải thoát không giảm. 12) Giải thoát tri kiến không giảm. 13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 15) Tất cả ư nghiệp theo trí tuệ mà hành động. 16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại, 17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại. 18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.

23.- Năm đường: Trời, người,  địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

24.- Đại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Đức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa ĺa tất cả khổ năo, như ông Thầy thuốc hay khéo trị lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là "Đại y vương".

25.- Thi khí: Tên vị vua cơi trời Đại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cơi Sơ thiền của Sắc giới.

26.- Tứ thiên hạ: Bốn châu thiên hạ. 1) Đông thắng thần châu. 2) Nam thiệm bộ châu. 3) Tây ngưu hóa châu. 4) Bắc cu lô châu.

27.- Thiên, long thần v.v...: Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ.  1) Thiên: chư Thiên;  2) Long: là rồng; 3) Dạ xoa: loài quỉ bay đi rất mau; 4) Càn thát bà: thần âm nhạc; 5) A tu la: thần chiến đấu, Tàu dịch là Phi thiên; có phước như Trời mà đức kém hơn  Trời;  6) Ca lâu na:   chim  đại    bàng; 7) Khẩn na la: thần pháp nhạc; 8) Ma hầu la dà: thần măng xà.

28.- Tỳ kheo: Tiếng Phạn "Bhiksu", các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Đàn ông gọi là Tỳ kheo, c̣n đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới).

29.- Ưu bà tắc: Tàu dịch là cận sự nam. Cận sự: nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới.

30.- Ưu bà di: Tàu dịch là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ

31.- Ṭa sư tử: Pháp ṭa của Phật; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là "ṭa sư tử"; v́ Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ.

32.- Trưởng giả tử: Con ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ. Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói: "Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật, hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả".

33.- Bảy báu: Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mă năo.

34.-Tam thiên Đại thiên thế giới: Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu thế giới, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới, là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế giới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là "Tam thiên Đại thên thế giới".

35.- Dùng tịch độ chúng: Tức dùng đạo lư Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ chúng sanh.

36.- Đệ nhứt nghĩa: Tượng trưng chơn lư cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là "đệ nhứt", có lư do như thật gọi là "nghĩa". Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong kinh Pháp Hoa nghĩa sớ, quyển 4 nói: "Cái đạo nhứt thật, lư cùng tột không chi hơn là "đệ nhứt". Có nguyên do như thật gọi là "Nghĩa".

37.- Phật thọ: Tức là cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Đạo thọ hay là Bồ đề thọ.

38.- Cam lồ diệt: Cam lồ dụ cho Niết bàn;chứng đặng Niết bàn, dứt ḍng sanh tử, gọi là "Cam lồ diệt".

39.- Không tâm ư, không thọ hành: là không c̣n tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ, thi vi động tác.

40.- Ba lần chuyển pháp: Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế cho 5 thầy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của Phật dạy hay dẹp trừ phiền năo của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác, cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiễm của chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là "Chuyển pháp luân". Lại có nghĩa là chuyển ba món: hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhă, Giải thoát, Pháp thân gọi là ba lần chuyển pháp.

41.- Pháp hải: Biển pháp, Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả.

42.- Nhơn bảo: Phật là đấng báu quí hơn hết trong cơi trời và cơi người

43.- Tam giới tôn: Đức Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cơi, tất cả nhơn thiên đều cung kính tôn trọng nên gọi là "Tam giới tôn"

44.- Pháp bất cộng: Cũng như thập bát bất cộng, có giải ở số 22.

45.- Đạo sư: Bậc dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát.

46.- Kiết phược: Các phiền năo ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền năo cũng gọi là "kiết phược".

47.- Không tịch: Không các tướng là "Không". Không khởi diệt là "tịch". Rổng rang xa ĺa tất cả tướng, không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh "không tịch".

48.- Pháp tướng: Tướng trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 2 nói: "Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng".

49.- Trực tâm: Tâm chơn thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như.

50.- Thâm tâm: Tâm mong cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày, bền chắc, không thể dứt mất.

51.- Bồ đề tâm: Tâm cầu đạo lư chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác.

52.- Mười điều lành: Thuận lư khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ: 1) Sát sanh, 2) Trộm cắp, 3) Tà dâm, 4) Nói dối, 5) Nói lời thêu dệt, 6) Nói hai lưỡi, 7) Nói lời độc ác, 8) Tham, 9) Sân, 10) Si, mà thật hành những điều: phóng sanh, bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời ḥa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến.

53.- Ba mươi hai tướng tốt: 1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên; 2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào);  3) Tṛng mắt đen trắng phân minh; 4) Lông nheo  dài đẹp  như của  Long  vương; 5)  Gương  mặt  tṛn  trịa như  mặt   trăng   rằm; 6) Răng đủ 40 cái;   7) Răng nhỏ đều  khít khao; 8) Răng trắng trong tinh sạch; 9) Lưỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc; 10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa; 11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra;  12) Thân   ḿnh  nở nang tṛn suông; 13) Nam căn ẩn kín; 14) Hai bên hông đầy đặn; 15) Hai tay dài quá gối; 16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông; 17) Ngón tay dài và vót; 18) Vế như vế của Lộc vương; 19) Lưng hai bàn chân no tṛn; 20) Ḷng bàn chân bằng  phẳng; 21) Gót chân tṛn trịa; 22) Ḷng bàn chân có chỉ xoáy tṛn rơ ràng như bánh xe ngh́n cọng; 23) Kẽ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới; 24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai ḷng bàn tay, hai ḷng bàn chân, hai vai và yết hầu);   25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp; 26) Lông và tóc đều xoáy tṛn về phía hữu; 27) Da mịn màng trơn láng; 28) Màu da như màu vàng ṛng tử kim; 29) Thân h́nh cao lớn hơn mọi người; 30) H́nh tướng đoan nghiêm; 31) Thân h́nh ngay thẳng vững vàng; 32) Thường có ánh sáng sắc vàng ṛng chiếu ra một tầm.

54.- Tứ vô lượng tâm: Cũng gọi là tứ đẳng tâm. 1) Từ: ḷng ban vui cho chúng sanh; 2) Bi: ḷng cứu khổ chúng sanh; 3) Hỷ: ḷng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui; 4) Xả: ḷng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên. Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi b́nh đẳng nên gọi là đẳng.

55.- Tứ nhiếp pháp: 1) Bố thí nhiếp: Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lư; 2) Ái ngữ nhiếp: Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lư; 3) Lợi hành nhiếp: Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơi thân, khẩu, ư làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lư. 4) Đồng sự nhiếp: Bồ Tát dùng pháp nhăn thấy rơ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân h́nh thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lư.

56.- 37 phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ư túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rơ ở sau.

57.- Hồi hướng tâm: Hồi: Hồi chuyển. Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi ḷng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chứng chơn như thật tế; 2) Chỗ sở cầu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.

58.- Ba đường ác: 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.

59.- Tám nạn: 1) Địa ngục,  2) Ngạ quỉ,   3) Súc sanh, 4) Trường thọ thiên, 5) Bắc cu lô châu, 6) Đui, điếc, ngọng, liệu, 7) Thế trí biện thông, 8) Sanh trước Phật hay sau Phật. Sở dĩ gọi là tám nạn, là v́ ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.

60.- Phạm hạnh: Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.

61.- Cung trời Tự tại: Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cơi Sắc giới.

62.- Thần túc: Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng.

63.- Hữu vi: Các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.

64.- Trần cấu: Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa ĺa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cơi.

65.- Pháp nhăn thanh tịnh: Thấy rơ được lư chơn thật của các pháp; tiểu thừa chứng được sơ quả, do đă xa ĺa trần cấu kiến hoặc, thấy rơ thật lư pháp tứ đế. Đại thừa chứng được Vô sanh pháp nhẫn vào bực Sơ địa.

66.- Kiết lậu: Các phiền năo kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là "kiết lậu". Kiết lậu đă hết, v́ dứt trừ ḷng ái nhiễm mê đắm không c̣n chấp thọ các pháp nên tâm ư được giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).

 

 

II. PHẨM PHƯƠNG TIỆN  (1)

 

Thuở ấy, trong thành lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng giả tên là DUY MA CẬT, đă từng cúng dường vô lượng các đức Phật, sâu trồng cội lành, đặng vô sanh Pháp nhẫn, biện tài vô ngại, du hí thần thông (2) chứng các môn tổng tŕ (3) đặng sức vô úy, hàng phục ma oán, thấu rơ Pháp môn (4) thâm diệu, khéo nơi trí độ, thông đạt các Pháp phương tiện, thành tựu đại nguyện, biết rơ tâm chúng sanh đến đâu, hay phân biệt rành rẽ các căn lợi độn, ở lâu trong Phật đạo, ḷng đă thuần thục, quyết định nơi Đại thừa. Những hành vi đều khéo suy lường, giữ ǵn đúng oai nghi của Phật, ḷng rộng như bể cả, chư Phật đều khen ngợi. Hàng đệ tử, Đế Thích, Phạm Vương, vua ở thế gian v.v... thảy đều kính trọng.

V́ muốn độ người, nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện làm thân Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, có của cải nhiều vô lượng để nhiếp độ các hạng dân nghèo; giữ giới thanh tịnh để nhiếp độ các kẻ phá giới; dùng hạnh điều ḥa nhẫn nhục để nhiếp độ các người  giận dữ; dùng đại tinh tiến để nhiếp độ các kẻ biếng nhác; dùng nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm ư tán loạn; dùng trí tuệ quyết định để nhiếp độ những kẻ vô trí; tuy làm người bạch y (5) cư sĩ mà giữ ǵn giới hạnh thanh tịnh của sa môn, tuy ở tại gia mà không đắm nhiễm ba cơi (6), thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh; hiện có quyến thuộc; nhưng ưa sự xa ĺa; dù mặc đồ quí báu, mà dùng tướng tốt để nghiêm thân; dù có uống ăn mà dùng thiền duyệt (7) làm mùi vị. Nếu khi đến chỗ cờ bạc, hát xướng th́ ông lợi dụng cơ hội để độ người; dù thọ các Pháp ngoại đạo nhưng chẳng tổn hại ḷng chánh tín; tuy hiểu rơ sách thế tục mà thường ưa Phật Pháp; cung kính tất cả mọi người làm trên hết trong sự cúng dường; nắm giữ chánh Pháp để nhiếp độ kẻ lớn người nhỏ; tất cả những việc trị sanh (buôn bán làm ăn) hùn hiệp, dù được lời lăi của đời, nhưng chẳng lấy đó làm vui mừng. Dạo chơi nơi ngă tư đường cái để lợi ích chúng sanh; vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả; đến chỗ giảng luận dẫn dạy cho Pháp Đại thừa; vào nơi học đường dạy dỗ cho kẻ đồng mông; vào chỗ dâm dục để chỉ bày sự hại của dâm dục; vào quán rượu mà hay lập chí. Nếu ở trong hàng Trưởng giả, là bực tôn quư trong hàng Trưởng giả,giảng nói các Pháp thù thắng; nếu ở trong hàng cư sĩ, là bực tôn quí trong hàng cư sĩ, dứt trừ ḷng  tham đắm cho họ; nếu ở trong ḍng Sát đế lợi (8), là bậc tôn quư trong ḍng Sát đế lợi, dạy bảo cho sự  nhẫn nhục; nếu ở trong ḍng Bà la môn (9), là bực tôn quí trong ḍng Bà la môn, khéo trừ ḷng ngă mạn của họ; nếu ở nơi Đại thần,là bực tôn quí trong hàng Đại thần,dùng chánh pháp để dạy dỗ;nếu ở trong hàng Vương tử, là bực tôn quí trong hàng Vương tử, chỉ dạy cho ḷng trung hiếu; nếu ở nơi nội quan (10), là bậc tôn quư trong hàng nội quan, khéo dạy dỗ các hàng cung nữ; nếu ở nơi thứ dân, là bực tôn quí trong hàng thứ dân,  chỉ bảo làm việc phước đức; nếu ở nơi trời Phạm thiên (11), là bực tôn quí trong Phạm thiên, dạy bảo cho trí tuệ thù thắng; nếu ở nơi trời Đế thích (12), là bực tôn quí trong Đế thích, chỉ bày cho Pháp vô thường; nếu ở nơi trời Tứ thiên vương hộ thế (13), là bực tôn quí trong Tứ thiên vương hộ thế, hằng ủng hộ  chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma Cật dùng cả thảy vô lượng phương  tiện như thế làm cho chúng sanh đều được lợi ích.

Ông dùng phương tiện hiện thân có bịnh. Do ông có bịnh nên các vị Quốc Vương, Đại thần, Cư sĩ, Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số ngh́n người đều đến thăm bịnh. V́ những người đến thăm bịnh, ông nhơn dịp thân bịnh mới rộng nói Pháp: "Nầy các Nhân giả! Cái huyễn thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ năo bịnh hoạn. Các Nhân giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ, th́ cái thân này như đống bọt không thể cầm nắm, thân này như bóng nổi không thể c̣n lâu; thân này như ánh nắng dợn giữa đồng, do ḷng khát ái sanh, thân này như cây chuối không bền chắc; thân này như đồ huyễn thuật, do nơi điên đảo mà ra; thân này như cảnh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có; thân này như bóng của h́nh, do nghiệp duyên hiện; thân này như vang của tiếng, do nhân duyên thành; thân này như mây nổi, trong giây phút tiêu tan; thân này như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ, niệm niệm không dừng; thân này không chủ, như là đất; thân này không có ta, như là lửa; thân này không trường thọ, như là gió; thân này không có nhân, như là nước; thân này không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành; thân này vốn không, nếu ĺa ngă và ngă sở; thân này là vô tri, như cây cỏ, ngói, đá; thân này không có làm ra (vô tác) (14), do gió nghiệp chuyển lay; thân này là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn; thân này là  giả dối, dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan ră; thân này là tai họa, v́ đủ các thứ bịnh hoạn khổ năo; thân này như giếng khô trên g̣, v́ nó bị sự già yếu ép ngặt; thân  này không chắc chắn, v́ thế nào nó cũng phải chết; thân này như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ (15) v́ do ấm (16), giới (17), nhập (18) hợp thành.

Các Nhân giả! Hăy nên nhàm chán cái thân này, chớ tham tiếc nó. Phải nên ưa muốn thân Phật. V́ sao? - V́ thân Phật là Pháp thân (19), do vô lượng công đức trí tuệ sanh; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (20) sanh; do từ bi hỉ xả (21) sanh; do Bố thí, Tŕ giới, Nhẫn nhục, Nhu ḥa, Cần  hành, Tinh tấn, Thiền định, Giải thoát tam muội (22), Đa văn,  Trí tuệ các Pháp Ba la mật (23) sanh; do Phương tiện sanh; do Lục thông (24), Tam minh (25) sanh; do 37 phẩm trợ đạo (26) sanh, do Chỉ quán (27) sanh; do Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập  bát bất cộng (28) sanh; do đoạn tất cả pháp bất thiện, tu các pháp thiện sanh; do chơn thật sanh, do không buông lung sanh; do vô lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai.

Này các Nhân giả! Muốn được thân Phật, đoạn tất cả bịnh chúng sanh th́ phải phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (29).

Như vậy, Trưởng giả Duy Ma Cật v́ những người đến thăm bịnh, mà nói Pháp làm cho vô số ngh́n người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

 

1.- Phương tiện: Phương là phương pháp, tiện là tiện dụng; phương pháp đem ra dùng thích hợp căn cơ của mỗi chúng sanh, mỗi thời đại, mỗi quốc độ nên gọi là phương tiện.

2.- Du hí thần thông: Phật và Bồ Tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của ḿnh, nên gọi là du hư. Lại có nghĩa: Bồ Tát đă lịch thiệp các pháp thần thông, do từ chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi ngăn ngại, chẳng phải như thần thông của nhà ngoại đạo, nhị thừa do tu luyện mà có, c̣n bị ngại, nên gọi là du hí thần thông.

3.- Tổng tŕ: Tiếng Phạn gọi là Đà la ni, Tàu dịch là Tổng tŕ, tức là chỉ cho công năng giữ ǵn các pháp lành khiến cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn món: 1) Pháp Đà la ni: với các Pháp Phật dạy nghe giữ ǵn không quên. 2) Nghĩa Đà la ni: với nghĩa các pháp giữ ǵn không quên. 3) Chú Đà la ni: do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không lường. 4) Nhẫn Đà la ni: an trú nơi thật tướng của các pháp. Trong luận Phật Địa, quyển thứ 5 có nói: Đà La ni là sức tăng thượng của niệm tuệ hay giữ ǵn vô lượng Phật pháp.

4.-   Pháp môn: Giáo pháp của Phật nói ra là phép tắc khuôn mẫu cho thế gian. Các bậc Hiền, Thánh nương vào đó mà được nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện nói "... dùng chữ pháp môn tỏ bày Phật đạo".

5.-   Bạch y: Danh từ xưng gọi người thế tục, v́ người thế tục ưa thích mặc y phục trắng nên gọi là "Bạch y".

6.-   Ba cơi: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới.

7.-   Thiền duyệt: Sự vui thích trong cảnh thiền định. Khi nhập vào cảnh thiền định được nhàn tịnh, thư thới làm cho vui thích tâm thần.

8.-   Sát Đế Lợi: (Ksatriya) tàu dịch là Điền chủ, gịng vua ở xứ Ấn Độ. Một họ trong bốn họ: 1)Sát đế lợi, 2)Bà la môn, 3)Tỳ xá, 4)Thủ đà.

9.-   Bà la môn: (Brahmana) Tàu dịch là Tịnh hạnh, một gịng họ tu hạnh trong sạch, thờ trời Đại phạm thiên, ở xứ Ấn độ.

10.-  Nội quan: Quan Bộ lại trong cung cấm nhà vua

11.- Phạm thiên: Hoặc Đại phạm thiên vương là vua cơi trời sơ thiền nơi Sắc giới. Cơi sơ thiền có 3 từng trời: 1) Phạm chúng, 2) Phạm phụ, 3) Đại phạm, đă xa ĺa sự dục nhiễm ở cơi Dục giới, thân tâm yên tịnh trong sạch nên gọi là Phạm thiên.

12.- Đế Thích: Là vị trời chủ tể cơi Đao Lợi Thiên trên chót núi Tu Di. Từng trời này có 33 cơi mà vị Đế Thích ở cơi chính giữa thống lănh 32 cơi kia

13.- Tứ Thiên Vương hộ thế: Bốn vị ở bốn phía ngang lưng chừng núi Tu Di, làm vị ngoại tướng giúp đỡ trời Đế Thích coi sóc dân gian, mỗi vị ủng hộ mỗi châu thiên hạ nên gọi là Tứ Thiên Vương hộ thế: 1) Tŕ quốc thiên vương ở phương đông; 2) Tăng trưởng thiên vương ở phương nam; 3) Quảng mục thiên vương ở phương tây; 4) Đa văn thiên vương ở phương bắc

14.- Vô tác: Không có thi vi tạo tác, là ư nói cái thân do nhân duyên hiệp thành, không có chủ tể nên nó không tự động tác chuyển vận được.

15.- Như chốn không tụ: Như chỗ tụ lạc (xóm làng) trống không, vắng vẻ có bọn giặc cướp nương ở, hoặc chỗ đồng trống có ác quỉ nhóm họp, là chỗ đáng ghê sợ, đáng nhàm chán không thể nương ở được. Thân con người cũng như thế, do tứ đại hợp thành là đống không trơn, lại là ổ chứa nhóm tội lỗi, chịu mọi sự thống khổ bịnh hoạn già chết ép ngặt, nên đáng nhàm chán xa ĺa cũng như chốn không tụ kia.

16.- Ấm: Năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

17.- Giới: 18 giới: 6 căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư; 6 trần: sắc, thinh, hương vị, xúc, pháp; 6 thức: nhăn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ư thức.

18.- Nhập: 12 nhập: sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, xung nhập với 6 căn: nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ư.

19.- Pháp thân: Là pháp giới tánh hay là chơn như. Thân có nghĩa là nhóm họp, nên Pháp thân là chỗ sở y chứa nhóm tất cả công đức Pháp tánh. Lại đức Phật lấy pháp tánh chơn như làm thân, nên gọi là pháp thân.

20.- Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến: Năm món này gọi là ngũ phần Pháp thân: 1) Thân, khẩu, ư xa ĺa tất cả tội lỗi gọi là giới. 2) Chơn tâm đứng lặng ĺa tất cả vọng niệm gọi là Định. 3) Chơn trí sáng suốt chiếu tỏ các pháp gọi là Tuệ. 4) Thân tâm giải thoát không bị triền phược gọi là giải thoát. 5) Biết ḿnh thật giải thoát gọi là giải thoát tri kiến. Người tu hành nhờ giới, định, tuệ làm nhơn mà chứng được thể giải thoát, giải thoát tri kiến của Pháp thân là quả, nên gọi là ngũ phần pháp thân.

21.- Từ, bi, hỉ, xả: Xem số 5 về phần chú thích ở phẩm trước.

22.- Tam muội: Tàu dịch là Định Tâm, định trụ một cảnh, xa ĺa những sự loạn động.

23.- Ba la mật: (Paramita) Tàu dịch có ba nghĩa: 1)Cứu cánh. 2) Đáo bỉ ngạn. 3) Độ vô cực. Danh từ Ba la mật này là do đại hạnh của các vị Bồ Tát mà đặt tên. Chính ḿnh thật thành đại hạnh và giáo hóa cho người đến chỗ rốt ráo nên gọi "sự cứu cánh". Nương theo đại hạnh của Bồ Tát được từ bờ sanh tử bên này tới bờ Niết bàn bên kia, nên gọi "đáo bỉ ngạn". Nhờ đại hạnh mà được các pháp rộng răi sâu xa không bờ bến, nên gọi "Độ vô cực".

24.- Lục thông: Sáu món thần thông: 1) Thiên nhăn thông: con mắt thấy xa đến cả đại thiên thế giới, những vật nhỏ nhít như vi trùng, những vật có chất ngại, cản trở đều thấy được hết, thấy rơ các chúng sanh trong nhiều kiếp lâu xa, chết ở cơi nào, sanh về cơi nào đều thấy rơ rệt.

2) Thiên nhĩ thông: lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, nhẫn đến tiếng rung động hết sức nhỏ, những tiếng nói của các loại đều nghe được hết.

3) Tha tâm thông: hiểu biết được tâm niệm tư tưởng của tất cả chúng sanh.

4)Túc mạng thông: biết rơ những kiếp trước của ḿnh và của chúng sanh không điều ǵ ngăn ngại.

5) Thần túc thông: được các pháp thần thông biến hóa tự tại.

6) Lậu tận thông: trừ sạch hết thảy phiền năo.

25.- Tam minh: 1)Túc mạng minh: biết được những việc sống chết đời trước của ḿnh và của tất cả chúng sanh.

2)Thiên nhăn minh: biết được những việc sống chết đời sau của ḿnh và của tất cả chúng sanh.

3)Lậu tận minh: biết được những sự khổ hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch hết các phiền năo.

26.- Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: 4 pháp niệm xứ; 4 pháp chánh cần; 4 pháp như ư túc; 5 căn; 5 lực; 7 pháp giác chi; 8 pháp đạo phần, 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả nên gọi là trợ đạo

4 pháp niệm xứ: niệm là tâm năng quán (tâm hay quán sát), xứ là cảnh sở quán (cảnh bị quán sát). V́ chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối trị:

1) Quán thân bất tịnh: Quán sát thân này là vật nhơ bẩn.

2) Quán thọ là khổ: Quán sát sự thọ lănh của thân tâm là khổ.

3) Quán tâm vô thường: Quán sát tâm thức luôn luôn sanh diệt không thường trụ.

4) Quán sát vô ngă: Quán sát các pháp không có chủ tể.

4 pháp chánh cần: 1) Đoạn những ác pháp đă sanh; 2) Đoạn những ác pháp chưa sanh; 3) Làm cho các pháp lành tăng trưởng; 4) Làm cho các pháp lành chưa sanh được sanh.

4 pháp như ư túc: 1) Dục như ư túc: có tâm ham muốn tu tập các pháp lành th́ được như ư. 2)Niệm như ư túc: quán sát cảnh ǵ mà nhứt tâm chuyên chú vào đó th́ được như ư, 3) Tinh tấn như ư túc: do tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như ư, 4) Tư duy như ư túc: do suy nghĩ mà tu tập được kết quả.

5 căn: 1) Tín căn: tin theo chánh đạo và trợ đạo. 2) Tinh tấn căn: là sự dơng mănh tu theo thiện pháp; 3) Niệm căn: ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo; 4) Định căn: nhiếp tâm theo chánh đạo; 5) Huệ căn: nhờ có định mà chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào.

5 lực: Cũng như ngũ căn nhưng v́ thật hành theo ngũ căn th́ căn lành có sanh, song gốc ác chưa phá hết nên phải gia công tu tập thêm khiến cho thiện căn tăng trưởng. Khi thiện căn thành thục, các ác pháp không c̣n, nên gọi là ngũ lực.

7 pháp giác chi: Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay ngụy. Chi là ngành, nghĩa là 7 pháp này có chi phái khác nhau không xen lẫn nhau nên gọi là 7 pháp giác chi hay là 7 pháp giác phần:

1) Trạch pháp giác chi: dùng trí tuệ quan sát các pháp, giản trạch rơ ràng chơn ngụy.

2) Tinh tấn giác chi: dơng mănh chuyên tâm tu tập các pháp chơn chánh, (Không làm theo những khổ hạnh sai lầm của ngoại đạo) luôn luôn không gián đoạn.

3) Hỉ giác chi: Khởi tâm vui mừng khi ngộ được chơn pháp. Mừng này chẳng phải như những lối mừng theo các việc thường t́nh điên đảo hư vọng, mà là mừng được an trụ nơi pháp chơn chánh.

4) Trừ giác chi: đoạn trừ phiền năo thô trọng làm cho thân tâm nhẹ nhàng thư thới, xa ĺa các pháp hư giả, tăng trưởng công đức chơn thiên.

5) Xả giác chi: ĺa bỏ tất cả pháp chơn, vọng, ḷng rổng rang b́nh đẳng không tưởng đến.

6) Định giác chi: nhứt tâm an trụ một cảnh, xa ĺa vọng tưởng tán loạn.

7) Niệm giác chi: thường ghi nhớ pháp tu rơ ràng khiến cho định, tuệ b́nh đẳng. Lúc tâm hôn trầm nhớ ngay đến ba chi giác: trạch pháp, tinh tấn, hỉ giác mà quán sát các pháp cho khỏi hôn trầm. Lúc tán loạn vu vơ, nghĩ ngay đến ba chi: "Trừ giác" để trừ sạch các lỗi về thân miệng; "Xả giác" để xả tiêu cái trí quán sát; "Định giác" để vào nơi chánh định thu nhiếp cái tâm tán loạn, cho khỏi xao động vu vơ.

8 pháp đạo phần: 1) Chánh kiến: sự hiểu biết chơn chánh, 2) Chánh tư duy: sự suy nghĩ chơn chánh, 3) Chánh ngữ: nói những lời chơn chánh không hư vọng, 4) Chánh nghiệp: hành động chơn chánh, 5) Chánh mạng: lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng; 6) Chánh tinh tấn: tu theo giới, định, tuệ một ḷng tinh chuyên không gián đoạn, 7) Chánh niệm: ghi nhớ những pháp chơn chánh, 8) Chánh định: thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh.

27.- Chỉ quán: Tiếng Phạn là Xa ma tha Tỳ bác xá na, Tàu dịch là chỉ quán hay là định tuệ, tịch chiếu, minh tịnh. Chỉ: là ngăn dứt tư tưởng vọng niệm, đoạn trừ giác quán sai lầm, đối với đế lư không lay động. Quán: là trí quán sát phân biệt, hiểu rơ danh tướng các pháp nhơn duyên sanh diệt, khế hội vào lư chơn như.

28.- Thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng: đă giải nơi phẩm trước.

29.- Vô thượng chánh đẳng chánh giác: Chỗ giác ngộ của Phật không c̣n ai hơn nữa gọi là Vô thượng, xa ĺa tà vọng gọi là Chánh, ngộ được chơn lư nên gọi là Giác. Phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.

 

 

III. PHẨM ĐỆ TỬ (1)

 

XÁ LỢI PHẤT (2)

Lúc bấy giờ, Trưởng giả Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng:

- Nay ta bịnh nằm ở giường, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu không đoái ḷng thương xót!

Phật đă biết ư ông, liền bảo Xá Lợi Phất rằng:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Xá Lợi Phất bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: "Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cơi mà không hiện thân ư, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định (3) mà hiện các oai nghi, mới là ngồi yên lặng; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi yên lặng; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng, không đoạn phiền năo mà vào Niết bàn (4) mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy".

Bạch Thế Tôn, lúc ấy con nghe nói những lời đó rồi, im lặng không trả lời đặng, nên con không dám đến thăm bịnh ông.

MỤC KIỀN LIÊN (5)

Phật bảo Đại Mục Kiền Liên:

- Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Mục Kiền Liên bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: "Này Ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, ĺa chúng sanh cấu (6); Pháp không có ngă, ĺa ngă cấu, Pháp không có thọ mạng, ĺa sanh tử; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng; Pháp ĺa các tướng, không phải cảnh bị duyên; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ; Pháp không nói năng, ĺa giác quán (7); Pháp không h́nh tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không; Pháp không ngă sở (8), ĺa ngă sở; Pháp không phân biệt, ĺa các thức; Pháp không chi so sánh, không có đối đăi; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên, Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp; Pháp tuỳ nơi như, không có chỗ tùy; Pháp trụ thật tế (9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không động được; Pháp không lay động, không nương sáu trần (10); Pháp không tới lui, thường không dừng (trụ); Pháp thuận "không", tùy "vô tướng", ứng "vô tác" (11); Pháp ĺa tốt xấu; Pháp không thêm bớt; Pháp không sanh diệt; Pháp không chỗ về; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư; Pháp không cao thấp: Pháp thường trụ không động; Pháp ĺa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư?

Vả chăng người nói Pháp, không nói, không dạy, c̣n người nghe, cũng không nghe không được. Ví như nhà huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi độn, khéo nơi tri kiến không bị ngăn ngại, lấy tâm đại bi ngợi khen Pháp Đại thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật, chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp".

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy rồi, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con không được biện tài như thế, nên không dám lănh đến thăm bịnh ông.

 

ĐẠI CA DIẾP (12)

Phật bảo Đại Ca Diếp:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ca Diếp bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. Là v́ sao? - Con nhớ lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng:  - Này Ngài Đại Ca Diếp! Có ḷng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp! Ở Pháp b́nh đẳng nên đi khất thực theo thứ lớp. V́ không ăn mà đi khất thực; v́ phá tướng ḥa hiệp mà bốc cơm ăn; v́ không nhận mà nhận món ăn của người; v́ tưởng "không tụ" mà vào làng xóm; có thấy sắc cũng như người đui; có nghe tiếng cũng như vang; có ngửi mùi cũng như gió; lúc nếm vị không phân biệt; chạm các vật như trí chứng (13); biết các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh, trước vốn không sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp! Nếu có thể không bỏ bát tà (14) mà vào bát giải thoát (15), dùng tướng tà mà vào Chánh Pháp, dùng một bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực hiền thánh rồi sau mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền năo, không phải rời phiền năo, không phải vào định ư (16), không phải ra định ư, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn, người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp! Nếu ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.

Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy tỏ ngộ được điều chưa từng có, càng sâu khởi tâm cung kính tất cả các vị Bồ Tát. Con lại nghĩ rằng: "Kẻ danh gia này có biện tài trí tuệ mới được như thế! Ai nghe mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Từ ấy đến nay, con chẳng c̣n đem hạnh Thanh Văn (17) Bích Chi Phật (18) để khuyên dạy người, v́ thế nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông".

TU BỒ ĐỀ (19)

Phật bảo Tu Bồ Đề:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Tu Bồ Đề bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng: "Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Đối với cơm b́nh đẳng, th́ các Pháp cũng b́nh đẳng, các Pháp b́nh đẳng th́ cơm cũng b́nh đẳng, đi khất thực như thế mới nên lănh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si cũng không chung cùng với nó, không hoại thân ḿnh mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch (20) mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế (21)  cũng không phải không thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải thánh nhơn, không phải không thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề không thấy Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo (22) kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử, San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử, A Kỳ Đa Xư Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhă Đề Tử là thầy của Ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề! Nếu Ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, không được khỏi nạn, đồng với phiền năo, ĺa Pháp thanh tịnh, Ngài được vô tránh tam muội (23), tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho Ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường ác (24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có ḷng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn".

- Bạch Thế Tôn! Lúc đó con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói ǵ, cũng không biết lấy lời chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói: Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ! Ư Ngài nghĩ sao? Như Phật biến ra một người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc này hỏi Ngài, chừng ấy Ngài có sợ chăng? - Con đáp: "Không sợ!". Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói: "Tất cả các Pháp như tướng huyễn hóa, Ngài không nên có tâm sợ sệt. V́ sao? - V́ tất cả lời nói năng không ĺa tướng huyễn hóa, chí như người trí không chấp văn tự, nên không sợ. V́ sao thế? - Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy".

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy rồi, hai trăm Thiên Tử được Pháp nhăn thanh tịnh. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

PHÚ LÂU NA (25)

Phật bảo Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Phú Lâu Na bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó ông Duy Ma Cật đến bảo con: "Thưa Phú Lâu Na! Ngài nên nhập định trước để quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới nên nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rơ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh. Ngài không biết được căn nguyên của chúng sanh, chớ nên dùng Pháp Tiểu thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có t́ vết, chớ làm cho họ có t́ vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú Lâu Na! Những vị Tỳ Kheo này đă phát tâm Đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lăng, nay tại sao lại lấy Pháp Tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng Tiểu thừa trí tuệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi, độn của chúng sanh.

Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật liền nhập tam muội (chánh định) làm cho những vị Tỳ Kheo đó biết được kiếp trước của ḿnh đă từng ở nơi 500 đức Phật vun trồng các cội đức, hồi hướng về đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, liền đó rỗng suốt trở lại đặng bổn tâm (Đại thừa). Khi ấy các vị Tỳ Kheo cúi đầu đảnh lễ nơi chơn ông Duy Ma Cật, ông liền nhân đó nói pháp làm cho tất cả không c̣n thối lui nơi đạo Vô Thượng Bồ Đề".

Con nghĩ hàng Thanh Văn như con không quán được căn cơ của người, không nên nói Pháp. V́ thế con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

MA HA CA CHIÊN DIÊN (26)

Phật bảo Ma Ha Ca Chiên Diên:

- Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ca Chiên Diên bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con diễn nói lại nghĩa ấy, là những nghĩa vô thường (27), khổ (28), không (29), vô ngă (30), và tịch diệt (31).

Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng:

- "Thưa Ngài Ca Chiên Diên! Ngài chớ nên đem tâm hạnh sanh diệt mà nói Pháp thật tướng (32).

 Ngài Ca Chiên Diên! Các Pháp rốt ráo không sanh, không diệt là nghĩa "vô thường"; năm ấm rỗng không, không chỗ khởi là nghĩa "khổ"; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa "không"; ngă và vô ngă không hai, là nghĩa "vô ngă"; Pháp trước không sanh, nay cũng không diệt, là nghĩa "tịch diệt".

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy xong, các Tỳ Kheo kia tâm được giải thoát. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

A NA LUẬT (33)

Phật bảo A Na Luật:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

 A Na Luật bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại lúc trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con cúi đầu làm lễ và hỏi: "Thưa Ngài A Na Luật! Thiên nhăn của Ngài thấy xa được bao nhiêu?". Con liền đáp: "Nhơn giả, tôi thấy cơi Tam thiên Đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy trái Am ma lặc (34) trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con: "Thưa Ngài A Na Luật! Thiên nhăn của Ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy? Nếu như làm ra tướng th́ khác ǵ ngũ thông (35) của ngoại đạo, nếu không làm ra tướng th́ là vô vi, lẽ ra không thấy?" Bạch Thế Tôn! Lúc ấy con nín lặng.

Các vị Phạm thiên nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liền làm lễ hỏi ông rằng: "Bạch Ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhăn?" (36).

Trưởng giả Duy Ma Cật đáp: "Có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhăn, thường ở tam muội, thấy suốt các cơi Phật không có hai tướng".

Khi ấy Nghiêm Tịnh Phạm vương cùng quyến thuộc năm trăm Phạm Vương đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật rồi bỗng nhiên biến mất. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

ƯU BA LY (37)

Phật bảo Ưu Ba Ly:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Ưu Ba Ly bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng: "Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rơ chỗ nghi hối cho chúng tôi được khỏi tội ấy". Con liền y theo pháp, giải nói cho hai vị.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến nói với con: "Thưa Ngài Ưu Ba Ly, Ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo này, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn ḷng họ. V́ sao? - V́ tội tánh kia không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật nói: "Tâm nhơ nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế ấy. Các Pháp cũng thế không ra ngoài chơn như. Như Ngài Ưu Ba Ly, khi tâm tướng được giải thoát th́ có tội cấu chăng?" Con đáp : "Không". Ông Duy Ma Cật nói: "Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế! Thưa Ngài Ưu Ba Ly! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch; chấp ngă là nhơ, không chấp ngă là sạch. Ngài Ưu Ba Ly! Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa này gọi là giữ luật, người nào rơ nghĩa này gọi là khéo hiểu".

Lúc đó hai vị Tỳ Kheo khen rằng: "Thật là bực thượng trí! Ngài Ưu Ba Ly này không thể sánh kịp. Ngài là bực giữ luật hơn hết mà không nói được".

Con đáp rằng: "Trừ đức Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo thuyết biện tài (38) của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ của ông thông suốt không lường".

Khi ấy, hai vị Tỳ kheo dứt hết nghi hối, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và phát nguyện rằng: "Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy". V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

LA HẦU LA (39)

Phật bảo La Hầu La:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

La Hầu La bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lúc trước kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly đến chỗ con cúi đầu làm lễ hỏi rằng: "Thưa Ngài La Hầu La, Ngài là con của Phật v́ đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Vương (40) mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích ǵ?". Con liền đúng theo Pháp mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng: "Thưa La Hầu La! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. V́ sao? - Không lợi, không công đức, mới thật là xuất gia. Về Pháp hữu vi (41) có thể nói là có lợi, có công đức, c̣n xuất gia là pháp vô vi (42), trong Pháp vô vi không lợi, không công đức - La Hầu La! Vả chăng xuất gia là không kia, không đây cũng không ở chính giữa; ly sáu mươi hai món kiến chấp (43), ở nơi Niết bàn, là chỗ nhận của người trí, chỗ làm của bực Thánh, hàng phục các ma, khỏi ngũ đạo (44) sạch ngũ nhăn (45) đặng ngũ lực (46), lập ngũ căn (47), không làm năo người khác, rời các tạp ác (48) dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy; không bị ràng buộc, không ngă sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong ḷng, ưa hộ trợ ư người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia".

Khi ấy, ông Duy Ma Cật bảo các Trưởng giả tử: "Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất gia. V́ sao? - Phật ra đời khó gặp".

Các Trưởng giả tử nói:

- Thưa Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy: "Cha mẹ không cho, không được xuất gia".

Ông Duy Ma Cật nói:

- Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề (49), đó chính là xuất gia, đó chính là đầy đủ Giới Pháp.

Bấy giờ ba mươi hai vị Trưởng giả tử đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

A NAN (50)

Phật bảo A Nan:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

A Nan bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. Là v́ sao? - Nhớ lại lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa ḅ, con cầm bát đến đứng trước cửa nhà người đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con: "Này A Nan! Làm ǵ cầm bát đứng đây sớm thế?".

Con đáp: "Cư sĩ, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa ḅ, nên tôi đến đây xin sữa."

Ông Duy Ma Cật nói: "Thôi thôi! Ngài A Nan chớ nói lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang (51), các ác đă dứt, các lành khắp nhóm, c̣n có bịnh ǵ, c̣n có năo ǵ? - Im lặng bước đi, Ngài A Nan! Chớ phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy, chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh độ phương khác đến đây nghe được lời ấy! Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu c̣n không tật bịnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư? Hăy đi Ngài A Nan! Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm Chí nếu nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng: " Sao gọi là Thầy, bịnh của ḿnh không cứu nổi mà cứu được bịnh người khác ư? " Nên lén đi mau, chớ để cho người nghe! Ngài A nan! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp Thân (52), không phải thân tư dục (53). Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cơi, thân Phật là vô lậu (54), các lậu đă hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế c̣n có bịnh ǵ?".

- Bạch Thế Tôn! Lúc đó con thật quá hổ thẹn không lẽ con gần Phật mà nghe lầm ư? Con liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng: "A Nan! Đúng như lời Cư sĩ đă nói, chỉ v́ Phật ứng ra đời ác đủ năm món trược (55) nên hiện ra việc ấy, để độ thoát chúng sanh thôi. A Nan! Hăy đi lấy sữa chớ có thẹn". Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật trí tuệ biện tài dường ấy, cho nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

Như vậy, năm trăm vị đại đệ tử mỗi người đều đối trước Phật tŕnh bày chỗ bổn duyên (56) của ḿnh, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những lời của ông Duy Ma Cật và đều nói: "Không kham lănh đến thăm bịnh ông".

 

1.- Đệ tử: Em, con, nghĩa là theo đạo thầy tṛ, thời Thầy coi tṛ như em, nên dùng theo cách đối với người em và cư xử. Tṛ thờ Thầy như cha, nên lấy theo đạo lư con người mà phụng sự Thầy. Thầy tṛ đối đăi với nhau nên xưng là "Đệ tử".

Lại có nghĩa: Giác ngộ sau Phật gọi là em (Đệ). Trí giác ngộ nhờ Phật phát sinh gọi là con (tử). Hai chữ "Đệ tử", ở đây chuyên chỉ cho hàng Thanh Văn. Dẫu biết rằng Phật là Đạo sư trong ba cơi, cha lành của bốn loài, thời ai chẳng phải là đệ tử của Phật. Nhưng v́ hàng Thanh Văn là những bậc xuất gia, theo Phật nghe pháp, hiểu biết, ngộ đạo chứng quả, nhiếp về số chúng tăng giữ ǵn ngôi Tam Bảo, làm mô phạm cho ba cơi, hằng theo hầu Phật châu du giáo hóa khắp nơi. Chẳng phải như hàng tại gia, tuy tin Phật mà c̣n phụng sự quân thân, hàng Bồ Tát dù khế hợp Phật đạo, mà lại tùy cơ tùy chỗ ứng hiện giáo hóa không định, nên trong kinh thường gọi Đệ tử là riêng chỉ cho hàng Thanh Văn vậy.

2.- Xá Lợi Phất: (Sariputra) Tàu dịch là "Thu tử", nghĩa là con bà "Thu Lộ". Ông là người trí tuệ cao siêu, biệt tài mẫn thiệp. Khi ông c̣n ở trong bụng mẹ, đă xui cho mẹ biện luận giỏi hơn người cậu là Cu Si La (Kansthla). Đến khi ông lên 8 tuổi đă có tài diễn thuyết, cả 16 nước không ai nghị luận bằng. Sau ông theo học đạo Phật, mới bảy ngày đă thông hiểu các Pháp, nên gọi là Trí tuệ đệ nhất.

3.- Diệt tận định (Nirodbasamapatti) cũng gọi Diệt thọ tưởng định: nghĩa là diệt hết 6 thức tâm vương và tâm sở không c̣n khởi hiện hạnh. Hàng nhị thừa từ quả thứ ba sắp lên, tạm tưởng nhập Niết bàn thời nhập định này, thuộc về thánh quả chớ chẳng phải như vô tâm định của ngoại đạo.

4.- Niết Bàn (Nirvana) cũng gọi là Nê hoàn. Tàu dịch Diệt độ: Nghĩa là dứt hết phiền năo nghiệp chướng vượt khỏi ṿng sanh tử. Lại dịch lại Viên tịch: Đức đầy đủ khắp trần sa là "Viên", bặt dứt nghiệp chướng khổ lụy, gọi là "Tịch". Cũng chỉ cho bản tánh tịch tịnh, rời tất cả pháp sanh diệt khổ lụy.

5.- Mục Kiền Liên (Mua Dgralyayana) : Tàu dịch: họ Thái Thúc. Ban sơ ông tu theo ngoại đạo đă lâu mà không công hiệu ǵ, sau nhờ ông Xá Lợi Phất thuật lại bài kệ Nhân duyên cho ông nghe, liền tỏ ngộ; theo Phật tu hành chứng quả Thanh Văn, đặng phép Thần thông bậc nhất.

6.- Chúng sanh cấu: Các tâm chấp ngă, chấp có chúng sanh. Trên bản thể chơn pháp không có chúng sanh, nếu chấp có chúng sanh thành nhơ chơn pháp, nếu ngộ được chơn pháp không có chúng sanh, thời cái nhơ chấp trước kia không c̣n nữa.

7.- Giác quán: Cũng gọi là Tầm Từ: Suy nghĩ bằng cách tâm niệm vội vàng thô động gọi là giác. Suy nghĩ chín chắn bằng tâm nhỏ nhiệm gọi là quán. Hai món này làm chướng ngại rối loạn cho tâm định, lại làm nguyên nhân phát khởi ra lời nói năng. Nếu ĺa Giác Quán th́ không c̣n lời nói năng.

8.- Ngă sở: Ngă: Ta, là lối ngoại đạo, phàm phu chấp chính thân ta có một chủ tể hằng c̣n, hay ngoài thân có đấng chủ tể thường c̣n cùng khắp, thọ dụng tất cả và hay sanh vạn vật.

Ngă sở: vật sở hữu, phụ thuộc của Ngă (ta), ngă là chủ của vạn vật, vạn vật là sở hữu của ngă. Đây là do t́nh chấp có ngă mới có ngă sở.

9.- Thực tế: Cùng cực thật lư của bản thể vũ trụ, Pháp tánh chơn như.

10.- Sáu trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

11.- Không, Vô tướng, Vô tác: Gọi là tam không, 3 môn này đều nói về Lư Không, cũng gọi là Tam tam muội. 1. Không tam muội: Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngă và ngă sở.

2. Vô tướng tam muội: Xa ĺa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và tướng Nam, tướng Nữ.

3. Vô tác tam muội: Đối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không c̣n sự tạo tác

12.- Đại Ca Diếp: Tàu dịch là Ẩm Quang, nghĩa là hào quang chói sáng trùm hết các ánh sáng khác. Nguyên kiếp trước ông chung đậu vàng với người ta và ra công thếp tượng Phật, nhờ công đức ấy, nên đời đời cảm đặng cái báo thân sắc vàng ánh chói. Khi gặp Đức Phật ra đời giáo hóa, ông nguyện theo tu hành, sau lănh thọ đặng chánh pháp. Trong hàng Đại đệ tử, ông là đức hạnh bực nhất, cũng là khổ hạnh bực nhứt nữa.

13.- Như trí chứng: Tức là khi Thật trí chứng chơn lư thành tựu đạo quả, toàn thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm; ư nói thân chạm lănh các vật tốt, xấu, êm ấm v.v... cũng không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.

14.- Bát tà: 1. Tà kiến, 2. Tà tư duy, 3. Tà ngữ, 4. Tà nghiệp, 5. Tà mạng, 6. Tà phương tiện, 7. Tà niệm, 8. Tà định. Trái với Bát chánh đạo thời gọi là Bát tà.

15.- Bát giải thoát: Cũng là bát bội xả. Nghĩa là tám pháp thiền định này có công năng xa ĺa, trái bỏ tất cả phiền năo được giải thoát những sự triền phược trong ba cơi.

1. Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc: V́ muốn diệt trừ ḷng tham đắm, người tu hành trước phải quán thân ḿnh là vật nhơ nhớp, nhưng v́ c̣n ḷng tham đối với thân người, nên cũng phải quán cái thân người khác cũng như thế.

2. Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc: Mới diệt được sắc tướng trong thân nhưng ḷng tham dục đối với người ở cơi Dục khó đoạn hết, nên cũng c̣n quán tướng người khác bất tịnh.

3. Tịnh bội xả thân tác chứng: Đến đây không c̣n tham trước tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội xả). Tâm đă sáng suốt th́ vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội xả).

4. Hư không xứ bội xả: Người tu hành diệt được ḷng tham muốn sắc thân bất tịnh của ḿnh và của người, được nhứt tâm duyên "Không" cùng với "Không" tương ứng, tức nhập được định "Vô biên hư không xứ".

5. Thức xứ bội xả: Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức. Lúc nhập định này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa.

6. Vô sở hữu xứ bội xả: Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở hữu xứ. Lúc nhập định này, tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không c̣n ái trước nữa.

7. Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả: Do xả vô sở hữu xứ định, nhứt tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này, y nơi năm uẩn đều không thật, nên tâm sanh nhàm chán.

8. Diệt thọ tưởng bội xả: V́ nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả rồi th́ thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là Bát giải.

16.- Định ư: Tức tịnh tâm. Tu thiền định xa ĺa ư tán loạn.

17.- Thanh Văn: Hàng đệ tử Tiểu thừa y theo chánh giáo của Phật dạy, tu tập pháp Tứ đế, đoạn Kiến hoặc và Tư hoặc, chứng chánh quả. Có 4 bực 1. Tu đà hoàn (Dự lưu quả). 2. Tư đà hàm (Nhứt lai quả). 3. A na hàm (Bất lai quả). 4. A la hán (Vô sanh quả).

18.- Bích Chi Phật: Thuộc về trung thừa có 2 hạng: 1.Độc Giác: ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn lành sẵn có, ngó thấy cảnh tang thương, hoa tàn lá úa v.v... ngộ lư vô thường, phát tâm xuất ly dục trần, tự tu tập pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi ṿng sanh tử trong tam giới: 2. Duyên Giác: Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán 12 nhơn duyên chứng quả vô sanh (Đồng bực A La Hán của Thanh Văn).

19.- Tu Bồ Đề: (Shabuti) Tàu dịch là Không Sanh. Bực Đại A La Hán tỏ ngộ lư chơn không, bực nhứt trong hàng Thanh Văn.

20.- Ngũ nghịch: 1. Giết cha; 2. Giết mẹ; 3. Giết A La Hán; 4.Phá ḥa hợp của chúng Tăng; 5. Làm cho thân Phật chảy máu.

21.- Tứ Đế: 1. Khổ đế: tất cả cảnh khổ trong ba cơi như sanh, già, bịnh, chết v.v... 2. Tập đế: Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền năo tham, sân, si v.v... chứa nhóm kết thành. 3. Diệt đế: Tịch diệt Niết bàn; dứt hết phiền năo nguyên nhân thống khổ, khỏi hẳn sanh tử an vui vắng lặng. 4. Đạo đế: Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn phiền năo, chứng Thánh quả.

22.- Lục sư ngoại đạo: Sáu ông Thầy chủ trương học thuyết ngoại đạo: 1. Phú Lan Na, chủ trương thuyết đoạn diệt; 2. Mạt Già Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh; 3. San Xà Gia, chủ trương thuyết không tu hành; 4. A Kỳ Đa, chủ trương khổ hạnh; 5. Ca Na, chủ trương thuyết ngụy biện; 6.Ni Càn Đà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Độ giáo bây giờ.

23.- Vô tránh tam muội: Là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn chánh định của hàng Thanh Văn. Môn định này do v́ liễu ngộ lư không, nên bỉ, ngă đều quên, không làm tổn năo chúng sanh, lại hay khiến chúng sanh không khởi phiền năo.

24.- Ba đường ác: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.

25.- Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử: (Purnamaitrayaniputra) Tàu dịch là Măn Từ Tử, nghĩa là con của ông Măn (cha) bà Từ (mẹ). Ông có tài thuyết pháp bực nhứt trong hàng Thanh Văn.

26.- Ma Ha Ca Chiên Diên: (Maha Katyayana) Tàu dịch Văn Sức, nghĩa là nói năng dịu dàng, biện luận rành rẽ. Ông là người có biện tài bực nhứt trong hàng Tỳ kheo.

27.- Vô thường: Tất cả pháp trong đời sanh diệt dời đổi phút chốc không dừng gọi là Vô thường. Trong Trí Độ Luận về quyển 23 nói: "Tất cả pháp hữu vi đều vô thường v́ chập chập sanh diệt, v́ thuộc nhơn duyên vậy".

28.- Khổ: Những việc bức năo thân tâm gọi là khổ, như sanh, già, bịnh, chết v.v...

29.- Không: Các pháp do nhân duyên sanh ra, t́m xét cùng tột không có thật thể, nên gọi là không.

30.- Vô ngă: Thân thể chỉ do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể thường nhứt. Các pháp đều do nhân duyên sanh cũng không có ngă thể thường nhứt. Trong kinh Kim Cang nói: người thông suốt được pháp vô ngă, Như Lai gọi là Chơn Bồ Tát.

31.- Tịch diệt: Tiếng Phạn gọi là Niết Bàn. Lư thể tịch tịnh ĺa tất cả tướng gọi là Tịch Diệt.

32.- Thật tướng: Tướng chân thật không giả dối, tức là chỉ cho bản thể vạn hữu trong vũ trụ. Bản thể ấy có khi gọi là Pháp tánh, Chơn như hay Thật tướng. Danh từ tuy khác mà thể là một.

33.- A Na Luật: (Aniruddha) cũng gọi A Nậu Lầu Đà, Tàu dịch là Như Ư. Nghĩa là kiếp trước ông có cúng dường một vị Phật Bích Chi, nên đời đời cảm đặng quả báo phú túc, chỗ cầu đều măn nguyện. Khi ông mới nhập đạo, tánh hay ưa ngủ, bị Phật quở trách ông tự hổ, tinh tấn tu tập thức luôn bảy ngày đêm đến nỗi hai mắt không thấy đường, nhờ Phật dạy tu pháp "Kim cang tam muội" nên sau ông đặng Thiên nhăn bực nhứt.

34.- A Ma Lặc: Thứ trái cây h́nh giống trái Binh Lang (trái cau) ăn nó trừ được bịnh phong lănh.

35.- Ngũ thông: 1. Thiên nhăn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5.Thần túc thông.

36.- Chơn thiên nhăn: Là mắt của Phật, Phật hằng ở trong định, vạn tượng đều hiện trước mắt, chưa từng không thấy, mà chưa từng có thấy, nên nó không có hai tướng.

37.- Ưu Ba Li: (Upali) Tàu dịch là Cận Chấp, nghĩa là nói lúc Phật làm Thái tử, ngài Ưu Ba Ly làm quan đại thần, thân cận giúp cho Thái tử, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La Hán, ngài là bực giữ luật thứ nhứt.

38.- Nhạo thuyết biện tài: Bồ Tát do nội trí phát sáng hay tùy thuận căn tánh chúng sanh ưa nghe pháp mà diễn nói một cách viên dung vô ngại.

39.- La Hầu La: (Rahula) Tàu dịch là Phú Chướng, nghĩa là bị ngăn chướng ở trong thai mẹ 6 năm mới sanh ra, ông là con của Phật Thích Ca. Khi bà Da Du Đà La sanh ông ra, nhằm lúc thần A tu la lấy tay che khuất mặt trời, v́ thế nên đặt tên ông là La Hầu La. Trong kinh Nhân Duyên nói: Trong 10 người đệ tử lớn của Phật, ông La Hầu La là mật hạnh bực nhứt. Đến hội Pháp Hoa, ông được thọ kư sau sẽ thành Phật Phật hiệu là "Đạo thất Bảo Hoa Như Lai".

40.- Chuyển Luân Vương: Có bốn: 1. Thiết Luân Vương (cai trị một châu thiên hạ). 2. Đồng Luân Vương (cai trị 2 châu thiên hạ). 3. Ngân Luân Vương (cai trị 3 châu thiên hạ). 4. Kim Luân Vương (cai trị 4 châu thiên hạ). V́ phước nghiệp đời trước, nên khi làm vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra, vua ngồi xe đó đi tuần hay dẹp giặc trong cơi ḿnh cai trị nên gọi là Chuyển Luân Thánh Vương

41.- Hữu vi: Các pháp có tạo tác sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.

42.- Vô vi: Vi là thi vi tạo tác, vô vi là cái không có thi vi tạo tác, lại không bị bốn tướng Sanh, Trụ, Dị, Diệt cai quản, tức là bản thể chơn lư.

43.- Sáu mươi hai món kiến chấp: Đối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp sai lầm: 1. Chấp sắc lớn ngă nhỏ, ngă ở trong sắc; 2. Chấp ngă lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngă; 3. Ngoài sắc chấp ngă riêng; 4. Ngă tức là Sắc. Sắc ấm như thế th́ các ấm kia cũng thế, cọng thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành 60 kiến, thêm hai phần căn bản là Đoạn kiến và Thường kiến, thành 62 món tà kiến. V́ rừng kiến chấp sai lầm ấy, nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.

44.- Ngũ đạo: Năm đường: Trời, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.

45.- Ngũ nhăn: 1. Nhục nhăn: Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấy trong, v́ bị sắc chất ngăn ngại; 2. Thiên nhăn: Mắt của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm, v́ không có sắc chất làm ngăn ngại; 3. Huệ nhăn: mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả đều không; 4. Pháp nhăn: mắt của Bồ Tát. Bồ Tát v́ độ sanh dùng Pháp nhăn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những món phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng; 5. Phật nhăn: Mắt của Phật, do trí tuệ viên măn cứu cánh của Phật có đủ bốn con mắt trước nhưng có phần đặc biệt hơn, như: Người thấy rất xa, Phật lại thấy rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc ǵ mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ư mà đều thấy nghe tất cả.

46.- Ngũ căn: 1. Tín căn; 2.Tấn căn; 3. Niệm căn; 4.Định căn; 5. Huệ căn (đă giải nơi 2 phẩm trong phần 37 phẩm trợ đạo số 26).

47.- Ngũ lực: Tức tu năm căn trên được tăng trưởng có thế lực phá trừ 5 chướng: 1. Tín lực: tín căn tăng trưởng, phá các ḷng tin sai lầm mù quáng; 2. Tấn lực: tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của thân tâm; 3. Niệm lực: niệm căn tăng trưởng phá được các niệm sai lầm tà vạy; 4. Định lực: định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn động; 5. Huệ lực: huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3 cơi.

48.- Tạp ác: Các việc không lành của tâm tạp nhiễm gây tạo. Hai chữ tạp ác đây, ư nói, dù làm mọi việc phước thiện mà tâm tạp nhiễm tán loạn cũng gọi là tạp ác. Chỉ dứt trừ vọng tưởng đến đạo lư cứu cánh Niết Bàn mới gọi là ĺa các tạp ác.

49.- Vô thượng Bồ đề: Tức trí giác tuyệt đối, cũng như chữ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có giải ở trước.

50.- A Nan: Nói đủ A Nan Đà (Anada), Tàu dịch là Khánh Hỷ, ông là con chú bác với Phật Thích Ca, học rộng, nhớ nhiều là bực đa văn thứ nhứt trong hàng Thanh Văn đệ tử.

51.- Kim cang: Một chất rất cứng chắc không chi phá vỡ nó được, mà nó lại hay phá vỡ các thứ cứng khác.

52.- Pháp thân: Có 3 thứ: 1. Pháp Hóa sanh thân, tức là thân Kim cang, 2. Ngũ phần pháp thân (đă giải nơi phẩm 2) 3. Thật tướng của các pháp, đồng hợp thành thân Phật!

53.- Tư dục thân: Thân h́nh do tư tưởng ái dục đợi duyên ḥa hiệp sanh ở trong 3 cơi.

54.- Vô lậu: Không c̣n rơi lọt, tức từ các bực Thánh trong hàng Thanh Văn, Bồ Tát tu hành đă dứt hết phiền năo, tự tâm thanh tịnh giải thoát, không c̣n nghiệp chướng rơi lọt vào trong ba cơi sanh tử nữa nên gọi là vô lậu.

55.- Năm món trược: 1. Kiếp trược: thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược dưới đây: 2. Kiến trược: sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vậy, chính là những món "Lợi sử" vậy. 3. Phiền năo trược: tham sân lừng lẫy, si mê điên đảo v.v... chính là những món "Độn sử" vậy. 4. Chúng sanh trược: sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt. 5. Mạng trược: thọ mạng ngắn ngủi.

56. Bổn duyên: Do lai duyên sự của ḿnh.

 

 

IV. PHẨM BỒ TÁT   (1)

 

BỒ TÁT DI LẶC  (2)

Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ Tát Di Lặc:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Di Lặc bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại lúc trước con nói hạnh "bất thối chuyển" (3), cho vị Thiên Vương ở cơi trời Đâu Suất và quyến thuộc của người, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng: "Ngài Di Lặc! Thế Tôn thọ kư (4) cho Ngài một đời sẽ được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đó là đời nào mà Ngài được thọ kư? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ thời quá khứ đă qua. Nếu là đời vị lai thời vị lai chưa đến. Nếu là đời hiện tại thời hiện tại không dừng (trụ)". Như lời Phật nói: "Này Tỳ Kheo! Như ông ngay bây giờ cũng sanh, cũng già, cũng chết !". Nếu dùng vô sanh (5) mà được thọ kư, th́ vô sanh tức là chánh vị (6), ở trong chánh vị cũng không thọ kư, cũng không được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thế nào Di Lặc được thọ kư một đời ư? Là từ "Như" sanh mà được thọ kư, hay là từ "Như" diệt mà được thọ kư? Nếu từ Như sanh mà được thọ kư, mà Như không có sanh. Nếu từ Như diệt được thọ kư, mà Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều Như, tất cả Pháp cũng Như, các Thánh Hiền cũng Như, cho đến Di Lặc cũng Như. Nếu Di Lặc được thọ kư, tất cả chúng sanh cũng phải được thọ kư - V́ sao? V́ Như không hai không khác. Nếu Di Lặc được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tất cả chúng sanh cũng đều được. V́ sao? - Tất cả chúng sanh chính là tướng Bồ Đề (7). Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả chúng sanh cũng phải diệt độ. V́ sao? - Chư Phật biết tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng, chính là tướng Niết bàn, chẳng c̣n diệt nữa. Cho nên Di Lặc, chớ dùng Pháp đó dạy bảo các Thiên tử, thật không có chi phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng không có chi thối lui. Ngài Di Lặc! Phải làm cho các vị Thiên tử này bỏ chỗ kiến chấp phân biệt Bồ Đề. V́ sao? Bồ Đề không thể dùng thân được, không thể dùng tâm được. Tịch diệt là Bồ Đề, v́ diệt các tướng; chẳng nhận xét là Bồ Đề, v́ ly các duyên; chẳng hiện hạnh là Bồ Đề, v́ không ghi nhớ; đoạn là Bồ Đề, bỏ các kiến chấp; ly là Bồ Đề, ĺa các vọng tưởng; chướng là Bồ Đề, ngăn các nguyện (8); bất nhập là Bồ Đề, không tham đắm; thuận là Bồ Đề, thuận chơn như; trụ là Bồ Đề trụ pháp tánh; đến là Bồ Đề, đến thật tế; bất nhị (9) là Bồ Đề, ly ư pháp; b́nh đẳng là Bồ Đề, đồng hư không; vô vi là Bồ Đề, không sanh, trụ, diệt; tri là Bồ Đề, rơ tâm hạnh chúng sanh; không hội là Bồ Đề, các nhập không nhóm (10); không hiệp là Bồ Đề, rời tập khí phiền năo; không xứ sở là Bồ Đề, không h́nh sắc; giả danh là Bồ Đề, danh tự vốn không như, huyễn hóa là Bồ Đề, không thủ xả; không loạn là Bồ Đề, thường tự vắng lặng; thiện tịch là Bồ Đề, tánh thanh tịnh; không thủ là Bồ Đề, rời phan duyên; không khác là Bồ Đề, các Pháp đồng đẳng; không sánh là Bồ Đề, không thể ví dụ; vi diệu là Bồ Đề, các Pháp khó biết.

- Bạch Thế Tôn! Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, hai trăm vị Thiên tử chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

ĐỒNG TỬ QUANG NGHIÊM (11-12)

Phật bảo Đồng tử Quang Nghiêm:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Quang Nghiêm bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại ngày trước con ở trong thành lớn Tỳ Da Ly vừa ra, lúc đó ông Duy Ma Cật mới vào thành, con liền chào và hỏi rằng: "Cư sĩ, từ đâu đến đây?".

Ông đáp: "Tôi từ Đạo tràng (13) đến".

Con hỏi: "Đạo tràng là ǵ?".

Ông đáp: "Trực tâm là Đạo tràng, v́ không hư dối; phát hạnh là đạo tràng, làm xong các việc; thâm tâm là đạo tràng, thêm nhiều công đức; Bồ Đề tâm là đạo tràng, v́ không sai lầm; bố thí là đạo tràng, không mong phước báu; tŕ giới là đạo tràng, được nguyện đầy đủ; nhẫn nhục là đạo tràng, đối chúng sanh tâm không chướng ngại; tinh tấn là đạo tràng, không biếng trễ; thiền định là đạo tràng, tâm điều nhu (14); trí tuệ là đạo tràng, thấy rơ các Pháp; từ là đạo tràng, đồng với chúng sanh; bi là đạo tràng, nhẫn chịu sự khổ nhọc; hỉ là đạo tràng, ưa vui Chánh Pháp; xả là đạo tràng, trừ ḷng thương ghét; thần thông là đạo tràng, thành tựu Pháp lục thông, giải thoát là đạo tràng, hay trái bỏ; phương tiện là đạo tràng, giáo hóa chúng sanh; tứ nhiếp là đạo tràng, nhiếp độ chúng sanh; đa văn (15), là đạo tràng, đúng theo chỗ nghe mà thật hành; phục tâm là đạo tràng, chánh quán (16) các Pháp; ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng, bỏ Pháp hữu vi; tứ đế là đạo tràng, chẳng dối lầm thế gian; duyên khởi là đạo tràng, từ vô minh cho đến lăo, tử, đều không hết; các phiền năo là đạo tràng, biết là vô ngă; tất cả Pháp là đạo tràng, biết các Pháp vốn không; hàng ma là đạo tràng, không lay động; tam giới là đạo tràng, không chỗ đến; sư tử rống là đạo tràng, không sợ sệt; thập lực, vô úy, bất cộng pháp là đạo tràng, không các lỗi; tam minh là đạo tràng, không c̣n ngại; một niệm biết tất cả Pháp là đạo tràng, thành tựu nhứt thiết chủng trí (17). Như vậy Thiện nam tử! Nếu Bồ Tát đúng theo các Pháp ba la mật mà giáo hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm, hoặc nhứt cử nhứt động, phải biết đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi Phật Pháp vậy".

Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, năm trăm vị Thiên nhơn đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

BỒ TÁT TR̀ THẾ. (18)

Phật bảo Bồ Tát Tŕ Thế:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Bồ Tát Tŕ Thế bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? - Nhớ lại lúc trước, con ở nơi tịnh thất, bấy giờ Ma Ba tuần (19) đem một muôn hai ngh́n Thiên nữ giống như trời Đế Thích, trổi nhạc đờn ca đi đến chỗ con ở, Ma cùng với quyến thuộc cúi đầu làm lễ dưới chân con, chấp tay cung kính đứng sang một bên. Trong ư con cho là trời Đế Thích nên bảo rằng: "Lành thay, mới đến Kiều Thi Ca (20)! Dù là có phước chớ nên buông lung. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để cầu cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu pháp bền chắc (21)".

Ma vương nói với con: "Thưa Chánh sĩ (22)! Xin Ngài nhận một muôn hai ngh́n Thiên nữ này để dùng hầu hạ quét tước". Con nói rằng: "Nầy Kiều Thi Ca! Ông đừng cho vật phi pháp này, tôi là kẻ Sa môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi". - Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cật đến nói với con: "Đây chẳng phải là Đế Thích, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy!"... Ông lại bảo Ma rằng: "Các vị Thiên nữ nầy nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ". Ma sợ hăi nghĩ rằng: "Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng?" - Ma muốn ẩn h́nh mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa hư không có tiếng rằng: "Này Ba Tuần! Hăy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma Cật th́ mới đi được. Ma v́ sợ hăi, nên miễn cưỡng cho".

Khi ấy ông Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng:

- Ma đă đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói pháp để cho phát ư đạo, và bảo rằng"Các ngươi đă phát ư đạo, có Pháp vui để tự vui chớ nên vui theo ngũ dục (23) nữa".

Thiên nữ hỏi: "Thế nào là Pháp vui?".

Đáp: "Vui thường tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường tăng; vui ĺa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không; vui giữ ǵn đạo ư; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu ḥa; vui siêng nhóm căn lành, vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Đề; vui hàng phục các Ma; vui đoạn phiền năo; vui thanh tịnh cơi nước Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức; vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời (24); vui gần bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng học mà ḷng không chướng ngại; vui giúp đỡ ác tri thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng Pháp đạo phẩm. Đó là Pháp vui của Bồ Tát".

Khi ấy Ma Ba Tuần bảo các Thiên nữ rằng: "Ta muốn cùng các ngươi đồng trở về Thiên cung".

Các Thiên nữ đáp: "Ông đă đem chúng tôi cho cư sĩ, chúng tôi có pháp vui, chúng tôi vui lắm, không c̣n muốn vui theo ngũ dục nữa".

Ma liền thưa với ông Duy Ma Cật rằng: "Xin Ngài nên xả các Thiên nữ này; người đem tất cả vật của ḿnh để bố thí cho kẻ khác, đó mới là Bồ Tát".

Ông Duy Ma Cật nói: "Ta đă xả rồi, ngươi hăy đem đi".

Như thế, ta đă làm cho tất cả chúng sanh đặng phát nguyện đầy đủ.

Lúc ấy các Thiên nữ hỏi ông Duy Ma Cật rằng: " - Chúng tôi làm thế nào ở nơi cung ma?".

Ông Duy Ma Cật đáp: "Này các chị, có Pháp môn tên là "Vô tận đăng", các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng, sáng măi không cùng tận. Như thế đó các chị! Vả lại một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm ngh́n chúng sanh phát tâm Bồ Đề, đạo tâm của ḿnh cũng chẳng bị tiêu mất, tùy nói Pháp ǵ đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là "Vô tận đăng". Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn "Vô Tận Đăng" nầy làm cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng, Chánh Giác, đó là báo ơn Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh".

Bấy giờ các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật rồi theo Ma Ba Tuần trở về Thiên cung, bỗng nhiên biến mất không c̣n thấy nữa.

- Bạch Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật có thần lực tự tại và trí tuệ biện tài như thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông.

TRƯỞNG GIẢ TỬ THIỆN ĐỨC. (25)

Phật bảo Trưởng giả tử Thiện Đức:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Thiện Đức bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không kham lănh đến thăm bịnh ông. V́ sao? Nhớ lại thuở trước, con lập ra hội đại thí ở nhà cha con, hạn trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả vị Sa môn, Bà la môn, cùng hàng ngoại đạo, kẻ nghèo khó, hèn hạ, cô độc và kẻ ăn xin. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến trong hội nói với con rằng: "Này Trưởng giả tử! Vả chăng hội đại thí không phải như hội của ông lập ra đâu, phải làm hội Pháp thí (26) chớ lập ra hội tài thí này làm ǵ?

Con nói: "Thưa Cư sĩ! Sao gọi là hội Pháp thí?".

Ông đáp: "Hội Pháp thí là đồng thời cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau đó là hội Pháp thí".

Con hỏi: "Thế là nghĩa ǵ?".

Cư sĩ đáp: "Nghĩa là v́ đạo Bồ Đề, khởi từ tâm; v́ cứu chúng sanh, khởi tâm đại bi; v́ muốn giữ ǵn chánh pháp, khởi tâm hoan hỉ; v́ nhiếp trí tuệ, làm theo tâm xả; v́ nhiếp tâm tham lẫn, khởi bố thí ba la mật, v́ độ kẻ phạm giới khởi tŕ giới ba la mật, v́ không ngă (27) pháp (28), khởi nhẫn nhục ba la mật; v́ rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn ba la mật; v́ tướng Bồ Đề, khởi thiền định ba la mật; v́ nhứt thiết trí, khởi trí tuệ ba la mật; v́ giáo hóa chúng sanh mà khởi ra "Không"; chẳng bỏ Pháp hữu vi mà khởi "Vô tướng"; thị hiện thọ sanh mà khởi "vô tác"; hộ tŕ Chánh Pháp, khởi sức phương tiện; v́ độ chúng sanh, khởi pháp tứ nhiếp; v́ kính thờ tất cả, khởi pháp trừ khinh mạn; đối thân, mạng và tài sản, khởi ba pháp bền chắc; trong pháp lục niệm (29) khởi ra pháp nhớ tưởng; ở sáu pháp ḥa kính (30), khởi tâm chất trực; chơn chánh thật hành thiện pháp, khởi sự sống trong sạch; v́ tâm thanh tịnh hoan hỷ, khởi gần bực Thánh hiền; v́ chẳng ghét người dữ, khởi tâm điều phục; v́ pháp xuất gia, khởi thâm tâm; v́ đúng theo chỗ nói mà làm khởi đa văn; v́ pháp vô tránh, khởi ở chỗ yên lặng; v́ đi tới Phật huệ, khởi ra ngồi yên lặng (tọa thiền); v́ mở ràng buộc cho chúng sanh, khởi tâm tu hành; v́ đầy đủ tướng tốt và thanh tịnh cơi Phật, khởi sự nghiệp phước đức; v́ muốn biết tâm niệm tất cả chúng sanh đúng chỗ nên nói pháp, khởi ra nghiệp trí; v́ biết tất cả pháp không lấy không bỏ, vào môn nhứt tướng (31), khởi ra nghiệp huệ; v́ đoạn tất cả phiền năo, tất cả chướng ngại, tất cả bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo. Như vậy Thiện nam tử! Đó là hội pháp thí. Nếu Bồ Tát trụ nơi hội pháp thí đó, là vị đại thí chủ, cũng là phước điền cho tất cả thế gian".

- Bạch Thế Tôn! Khi ông Duy Ma Cật nói pháp ấy, trong chúng Bà la môn hai trăm người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Lúc đó tâm con đặng thanh tịnh, ngợi khen chưa từng có, cúi đầu đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật. Con liền mở chuỗi Anh lạc giá đáng trăm ngh́n lượng vàng dâng lên, ông không chịu lấy. Con nói: "Thưa Cư sĩ! Xin Ngài hăy nạp thọ, tùy ư Ngài cho!". Ông Duy Ma Cật liền lấy chuỗi Anh lạc chia làm hai phần, một phần đem cho người ăn xin hèn hạ nhứt trong hội, c̣n một phần đem dâng cho đức Nan Thắng Như Lai. Tất cả chúng trong hội đều thấy cơi nước Quang Minh và đức Nan Thắng Như Lai, lại thấy chuỗi Anh lạc ở trên đức Phật kia biến thành bốn trụ đài quí báu, bốn mặt đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau.

Khi ấy, ông Duy Ma Cật hiện thần biến xong, lại nói rằng: "Nếu người thí chủ dùng tâm b́nh đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, ḷng đại bi b́nh đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy".

Trong thành những người ăn xin hèn hạ bực nhất thấy thần lực như vậy và nghe lời nói kia, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. V́ thế, nên con không kham lănh đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Như thế, các Bồ Tát đều tuần tự đến trước Phật tŕnh bày chỗ bổn duyên của ḿnh, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những lời ông Duy Ma Cật và đều nói: "Không kham lănh đến thăm bịnh ông".

 

1.-   Bồ tát: Nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa (Bodhisatra) Tàu dịch là Giác hữu t́nh, nghĩa là tự ḿnh đă giác ngộ, lại hay giác ngộ cho chúng sanh.

Bồ Tát có 3 bực: A) Những người mới phát tâm tu hành cầu pháp Đại thừa, tu hạnh Bồ Tát, là Bồ Tát mới phát tâm.

B) Những người học đạo Đại thừa đă lâu đời, chứng đặng bực Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Thập địa, là bực Bồ Tát tu lâu.

C) Bồ Tát chứng bực Đẳng giác (Kề Phật gọi là Bổ xứ Bồ Tát).

2.-  Di Lặc: (Maitreya) Tàu dịch là Từ Thị, là họ, tên là A Dật Đa. Ngài tu hạnh từ tâm không ai sánh bằng, sau sẽ ra đời nối đức Phật Thích Ca mà thuyết pháp độ sanh gọi là Bổ xứ Bồ Tát.

3.-  Bất thối chuyển: Theo Đại thừa pháp tướng có 3 bực: 1) Vị bất thối: Từ khi phát tâm tin chắc lư Đại thừa, trải muôn kiếp tu nhơn vào bực Thập trụ rồi không c̣n thối đọa trong đường sanh tử nữa. 2) Hạnh bất thối: Đă vào bực Sơ Địa, nơi hạnh lợi tha không c̣n lui sụt. 3) Niệm bất thối: Từ bực Bát địa nhẫn lên đặng Diệu trí vô công dụng, mỗi niệm mỗi niệm thẳng vào biển quả chơn như, không c̣n một niệm nào thối chuyển.

4.-   Thọ kư: Đức Phật đối với chúng sanh phát tâm Đại thừa trao cho lời kư về sau ở nơi kiếp nào, sẽ thành Phật hiệu là ǵ, cơi nước tên chi, và trụ thế bao lâu, độ sanh bao nhiêu.

5.-   Vô sanh: Chơn lư Niết bàn không sanh không diệt.

6.-   Chánh vị: Tức thật tướng thường trú. Niết bàn của Tiểu thừa cũng gọi là chánh vị; chính là quả vị để tu chứng.

7.-   Bồ đề tướng: Cái tướng không tướng là tướng Bồ đề

8.-   Chướng nguyện: Chơn như đạo lư không có sự mong muốn nên ngăn tất cả sự nguyện cầu.

9.-   Bất nhị:Không hai; Ư và Pháp là hai mà Bồ đề là vô tâm ư th́ c̣n có pháp ǵ nữa, nên nói là không hai.

10.- Các nhập không nhóm: 6 nhập trong và ngoài, tức 6 căn và 6 trần xung nhập nhau. Tự tánh nó vốn không, nên nói là không nhóm

11.- Quang nghiêm: Là dùng trí tuệ quang minh và phước đức quang minh trang nghiêm Pháp thân thanh tịnh, gọi là Quang nghiêm

12.- Đồng tử: Chẳng luận là tuổi trẻ mới gọi là Đồng tử, mà những vị tu hành từ nhỏ tới già trọn không phạm dâm dục, không mất hạnh thanh tịnh đều được gọi là Đồng tử.

13.- Đạo tràng: Là chỗ của đức Phật thành đạo như: ṭa Kim Cang; hoặc chỗ cúng dường đức Phật, chỗ tu tập ngồi thiền, nơi chùa chiền cho đến những hạnh pháp tu hành đắc đạo như trực tâm, thâm tâm v.v... cũng gọi là Đạo tràng.

14.- Điều nhu: Đối trị phiền năo làm cho mềm đi.

15.- Đa văn: Rộng nghe Phật pháp, y theo chỗ nghe mà thật hành gọi là Đa văn.

16.- Chánh quán: Quán hiệp đúng như lời kinh Phật dạy là chánh quán, nếu quán khác là tà quán.

17.- Nhứt thiết chủng trí: Trí của Phật biết rơ tất cả đúng như thật.

18.- Tŕ Thế Bồ Tát: Là vị Bồ Tát giữ ǵn Phật pháp, đem giáo hóa chúng sanh trong đời.

19.- Ba tuần: Tàu dịch là: Ác giả, sát giả, tên thứ Ác ma có ác ư, làm các việc ác, thường muốn làm dứt mất huệ mạng của người tu hành.

20.- Kiều Thi Ca: Là họ của trời Đế Thích, tên là Thích Đề Hoàn Nhơn.

21.- Tu pháp bền chắc: Có 3 pháp bền chắc là ở nơi thân mạng và của cải đều quên bỏ, mà tu hành theo chánh đạo, sẽ được cái thân bất hoại, mạng vô cùng, của vô tận, dù cho trời đất cháy tan, kiếp số có cùng tận, mà 3 món ây đều không tận, nên nói là bền chắc.

22.- Chánh sĩ: Tiếng Phạn là Bồ Tát, dịch là Chánh Sĩ, nghĩa là bực cầu chánh đạo tu hạnh Đại thừa.

23.- Ngũ dục: Năm món làm khởi tâm ham muốn của người : 1) Sắc, 2) Thinh, 3) Hương, 4) Vị, 5) Xúc. Lại có chỗ nói: 1) Của cải, 2) Sắc đẹp, 3) Uống ăn, 4) Danh dự, 5) Ngủ nghỉ.

24.- Vui ba môn giải thoát, không vui phi thời: Ba môn 1) Không, 2) Vô tướng, 3) Vô tác. Ba thừa đều noi theo tu tập gọi là môn, cởi mở sự ràng buộc gọi là giải thoát. Tu hành chưa đến chỗ cùng tột, giữa chừng muốn thủ chứng như hàng Nhị thừa, đó là Phi Thời. Hàng Bồ Tát không muốn như thế nên nói là không vui phi thời.

25.- Trưởng giả tử Thiện Đức: Là vị trưởng giả có căn lành đầy đủ, cội đức trồng sâu nên xưng là Thiện Đức.

26.- Pháp thí: Thí có 3 cách: 1) Tài thí: là dùng của cải bố thí cho người; 2) Tâm thí: dùng tâm từ, tâm b́nh đẳng ban sự vui cho người, 3) Pháp thí: Nói pháp độ người làm những việc lợi ích chúng sanh hiện tại và vị lai.

27.- Ngă: Phần tác động chủ tể.

28.- Pháp: Phần thể chất, h́nh tượng, nghĩa lư, vũ trụ.

29.- Lục niệm: 1) Niệm Phật: tưởng niệm đấng thực hiện sự thực, 2) Niệm Pháp: tưởng niệm sự thực; 3) Niệm Tăng: tưởng niệm người thực hành sự thực; 4) Niệm giới: tưởng niệm công đức giới pháp và sự giữ giới; 5) Niệm thí: tưởng niệm sự bố thí; 6) Niệm thiên: tưởng niệm sanh về cơi chư Thiên. Thiên có 3: 1) Tam giới thiên: cơi Dục, Sắc và Vô Sắc; 2) Tịnh thiên: cảnh giới của Nhị thừa sanh về. 3) Đệ nhứt nghĩa thiên: cảnh giới của Bồ Tát sanh về.

30.- Sáu pháp ḥa kính: 1) Thân ḥa kính: Thân nghiệp đồng cung kính nhau. 2) Khẩu ḥa kính: Khẩu nghiệp đồng ngợi khen khuyên nhủ nhau. 3) Ư ḥa kính: Tâm ư đồng tín mến nhau. 4) Giới ḥa kính: Đồng giữ một giới pháp. 5) Kiến ḥa kính: Chỗ hiểu biết đồng giải bày cho nhau. 6) Lợi ḥa kính: Đồng chia các món cúng dường.

31.- Nhứt tướng: Thể tánh chơn thật b́nh đẳng, không có tướng sai khác, nên gọi là Nhứt tướng.

 

V. PHẨM VĂN THÙ SƯ LỢI  (1) Thăm bịnh

 

Lúc bấy giờ, Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:

- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Bực thượng nhơn kia khó bề đối đáp, v́ ông ấy rất thâm đạt thật tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rơ thấu phương pháp tu tŕ của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của Chư Phật, hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều đặng rốt ráo. Tuy thế, con xin vưng thánh chỉ của Phật đến thăm bịnh ông.

Lúc ấy, trong Đại chúng các hàng Bồ Tát và hàng Đại đệ tử, Đế Thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương đều nghĩ rằng: "Hôm nay hai vị đại sĩ: Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật cùng nhau đàm luận tất nói pháp mầu". Tức thời, tám ngh́n Bồ Tát, năm trăm Thanh Văn và trăm ngh́n Thiên nhơn đều muốn đi theo.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi cùng các Bồ Tát, Đại đệ tử và các hàng Thiên nhơn cung kính đoanh vây đi vào đại thành Tỳ Da Ly.

Lúc ấy, Trưởng giả Duy Ma Cật thầm nghĩ: "Nay đây Ngài Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng đồng đến viếng thăm". Ông liền dùng sức thần thông làm cho trong nhà trống rỗng, không có vật chi và cũng không có người thị giả nào, chỉ để một chiếc giường cho ông nằm bịnh.

Ngài Văn Thù Sư Lợi vào nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật chi, chỉ có một ḿnh ông nằm trên giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng:

- Quí hóa thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến! Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:

- Phải đấy, Cư sĩ! Nếu đă đến tức là không đến, nếu đă đi tức là không đi. V́ sao? Đến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu, hễ có thấy tức là không thấy. Thôi việc ấy hăy đễ đó. - Cư sĩ bịnh có chịu nổi được không? Điều trị có bớt không? Bịnh không đến nỗi tăng ư? Thế Tôn ân cần hỏi thăm chi xiết. Bịnh Cư sĩ nhơn đâu mà sanh, sanh đă bao lâu, phải thế nào mới mạnh được?...

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Từ nơi si mà có ái, bịnh tôi sanh. V́ tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh. Nếu tất cả chúng sanh không bịnh, th́ bịnh tôi lành. V́ sao? - Bồ Tát v́ chúng sanh mà vào đường sanh tử, hễ có sanh tử thời có bịnh, nếu chúng sanh khỏi bịnh th́ Bồ Tát không có bịnh. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một người con, hễ người con bịnh, th́ cha mẹ cũng bịnh, nếu bịnh của con lành, cha mẹ cũng mạnh. Bồ Tát cũng thế! Đối với tất cả chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bịnh, Bồ Tát cũng bịnh, chúng sanh lành, Bồ Tát cũng lành - Ngài lại hỏi bịnh ấy nhơn đâu mà sanh? - Bồ Tát có bịnh là do ḷng đại bi.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi:

- Cư sĩ! Nhà này v́ sao trống không và không có thị giả?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Cơi nước của chư Phật cũng đều không.

- Lấy ǵ làm không?

- Lấy không làm không.

- Đă không, cần ǵ phải không?

- V́ không phân biệt, nên không.

- Không, có thể phân biệt được ư?

- Phân biệt cũng không.

- Không, phải t́m nơi đâu?

- Phải t́m trong sáu mươi hai món kiến chấp (2).

- Sáu mươi hai món kiến chấp phải t́m nơi đâu?

- Phải t́m trong các pháp giải thoát của chư Phật.

- Pháp giải thoát của chư Phật phải t́m nơi đâu?

- Phải t́m nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh (3).

Ngài lại hỏi v́ sao không thị giả? - Tất cả chúng ma và các ngoại đạo đều là thị giả của tôi. V́ sao? V́ các ma ưa sanh tử, mà Bồ Tát ở nơi sanh tử không bỏ. C̣n ngoại đạo ưa các kiến chấp, mà Bồ Tát ở nơi các kiến chấp không động.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi:

- Bịnh của Cư sĩ tướng trạng thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bịnh của tôi không h́nh, không tướng, không thể thấy được.

- Bịnh ấy hiệp với thân hay hiệp với tâm?

- Không phải hiệp với thân, v́ thân tướng vốn ĺa; cũng không phải hiệp với tâm, v́ tâm như huyễn.

- Địa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, trong bốn đại bịnh về đại nào?

- Bịnh ấy không phải địa đại, cũng không ĺa địa đại; thủy, hỏa, phong đại cũng như thế. Nhưng bịnh của chúng sanh là từ nơi tứ đại mà khởi, v́ chúng sanh bịnh nên tôi có bịnh.

Khi ấy Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật:

- Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bịnh như thế nào?

 Ông Duy Ma Cật đáp:

- Nói thân vô thường, không nói nhàm chán thân. Nói thân có khổ, không nói ưa thích Niết bàn. Nói thân vô ngă mà khuyên dạy dắt d́u chúng sanh. Nói thân không tịch, không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, không nói vào nơi quá khứ (4) Lấy bịnh ḿnh mà thương bịnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi ḷng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bịnh chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bịnh như thế để cho được hoan hỷ.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi:

- Cư sĩ! Bồ Tát có bịnh phải điều phục tâm ḿnh như thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bồ Tát có bịnh phải nghĩ thế này: ta nay bịnh đây đều từ các món phiền năo, điên đảo vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bịnh đó. V́ sao? V́ tứ đại ḥa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng không ngă. Lại nữa, bịnh này khởi ra đều do chấp ngă (5), v́ thế ở nơi ngă không nên sanh ḷng chấp đắm. Đă biết gốc bịnh, trừ ngay ngă tưởng (6) và chúng sanh tưởng (7), phải khởi pháp tưởng (8). Nên nghĩ rằng: "Thân này chỉ do các pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt?". Bồ Tát có bịnh muốn trừ diệt pháp tưởng phải nghĩ rằng: "Pháp tưởng này cũng là điên đảo, điên đảo tức là bịnh lớn, ta nên xa ĺa nó" - Thế nào là xa ĺa? Ĺa ngă và ngă sở - Thế nào là ĺa ngă và ngă sở? Là ĺa hai pháp - Thế nào là ĺa hai pháp? Là không nghĩ các pháp trong, ngoài (9), mà thật hành theo b́nh đẳng - Sao gọi b́nh đẳng? Là ngă b́nh đẳng, Niết bàn b́nh đẳng. V́ sao? Ngă và Niết bàn hai pháp này đều không - Do đâu mà không? V́ do văn tự nên không. Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa b́nh đẳng đó, th́ không có bịnh chi khác, chỉ c̣n có bịnh Không, mà bịnh Không cũng không nữa. Vị Bồ Tát có bịnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp cũng không diệt thọ mà thủ chứng (10), (như Nhị thừa). Dù thân có khổ, nên nghĩ đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đă điều phục được tâm ta, cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trừ bịnh (chấp) mà không trừ pháp, dạy cho dứt trừ gốc bịnh - Sao gọi là gốc bịnh? Nghĩa là có phan duyên, do có phan duyên mà thành gốc bịnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cơi - Làm thế nào đoạn phan duyên? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc th́ không có phan duyên - Sao gọi là vô sở đắc? Nghĩa là ly hai món chấp - Sao gọi là hai món chấp? Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài (11); ly cả hai đó là vô sở đắc - Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đó là Bồ Tát có bịnh, điều phục tâm ḿnh để đoạn các khổ: già, bịnh, chết là Bồ Đề của Bồ Tát. Nếu không như thế chỗ tu hành của ḿnh không được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dơng, c̣n vị nào trừ cả già, bịnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát - Bồ Tát có bịnh nên nghĩ thêm thế này: "Như bịnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bịnh của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có". Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh nếu có khởi ḷng đại bi ái kiến (12) th́ phải bỏ ngay. V́ sao? Bồ Tát phải trừ dứt khách trần phiền năo (13) mà khởi đại bi, chớ đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu ĺa được ái kiến th́ không có tâm nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không c̣n bị sự ràng buộc, lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói: "Nếu ḿnh trói mà mở trói cho người khác, không thể được; nếu ḿnh không bị trói mới mở trói cho người khác được". V́ thế, Bồ Tát không nên khởi những sự ràng buộc - Sao gọi là ràng buộc? Sao gọi là giải thoát? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ th́ buộc, có phương tiện huệ th́ giải, không huệ phương tiện th́ buộc, có huệ phương tiện th́ giải. Sao gọi không có phương tiện th́ buộc? Bồ Tát dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp "Không, vô tướng, vô tác" mà điều phục lấy ḿnh, đó là không có phương tiện huệ th́ buộc - Sao gọi có phương tiện huệ th́ giải? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp "không, vô tướng, vô tác", điều phục lấy ḿnh, không nhàm chán mỏi mệt, đó là có phương tiện huệ th́ giải - Sao gọi là không có huệ phương tiện th́ buộc? Bồ Tát trụ nơi các món phiền năo, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện th́ buộc - Sao gọi có huệ phương tiện th́ giải? Là xa ĺa các thứ phiền năo, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đó là có huệ phương tiện th́ giải - Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bịnh đấy phải quán sát các pháp như thế (quán phi chơn, phi hữu...). Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngă, đó là "huệ". Dù thân có bịnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ích chúng sanh không nhám mỏi, đó là "phương tiện". Lại nữa quán thân: thân không rời bịnh, bịnh chẳng rời thân, bịnh này, thân này, không phải mới, không phải cũ, đó là "huệ". Dù thân có bịnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là "phương tiện".

Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bịnh nên điều phục tâm ḿnh như thế, mà không trụ trong đó, cũng không trụ nơi tâm không điều phục. V́ sao? Nếu trụ nơi tâm không điều phục là pháp của phàm phu, nếu trụ nơi tâm điều phục là pháp của Thanh Văn, cho nên Bồ Tát không nên trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục, ĺa hai pháp ấy là hạnh Bồ Tát. Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết bàn mà không diệt độ hẳn là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền thánh là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ Tát. Tuy vượt khỏi hạnh ma mà hiện các việc hàng phục ma là hạnh Bồ Tát. Cầu nhứt thiết trí, không cầu sái thời (14) là hạnh Bồ Tát. Dù quán các pháp không sanh mà không vào chánh vị (chơn như) là hạnh Bồ Tát. Quán mười hai duyên khởi (15) mà vào các tà kiến là hạnh Bồ Tát. Nhiếp độ tất cả chúng sanh mà không mê đắm chấp trước là hạnh Bồ Tát. Ưa xa ĺa mà không nương theo sự dứt đoạn thân tâm là hạnh Bồ Tát. Tuy ở trong ba cơi mà không hoại pháp tánh là hạnh Bồ Tát. Tuy quán "không" mà gieo trồng các cội công đức là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tướng mà cứu độ chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô khởi (16) mà khởi tất cả hạnh lành là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành sáu pháp ba la mật (17) mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành sáu pháp thần thông mà không dứt hết lậu hoặc (18) (phiền năo) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn tâm vô lượng mà không tham đắm sanh về cơi Phạm Thế (Phạm thiên) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành thiền định, giải thoát tam muội, mà không theo thiền định thọ sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn pháp niệm xứ mà không hoàn toàn ĺa hẳn thân, thọ, tâm, pháp là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn pháp chánh cần mà không rời thân tâm tinh tấn là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn pháp như ư túc mà đặng thần thông tự tại là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành năm căn mà phân biệt rành rẽ các căn lợi độn của chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành năm lực mà ưa cầu thập lực của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bảy pháp giác chi mà phân biệt rơ rệt trí tuệ của Phật là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành tám pháp chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành các pháp chỉ quán trợ đạo mà trọn không thiên hẳn nơi tịch diệt (Niết bàn) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành các pháp bất sanh bất diệt, mà dùng tướng hảo trang nghiêm thân ḿnh là hạnh Bồ Tát. Dù hiện oai nghi theo Thanh Văn, Duyên Giác mà không rời Phật pháp là hạnh Bồ Tát. Dù tùy theo tướng hoàn toàn thanh tịnh của các pháp mà tùy theo chỗ sở ứng hiện thân là hạnh Bồ Tát. Dù quán sát cơi nước của chư Phật trọn vắng lặng như hư không mà hiện ra rất nhiều cơi Phật thanh tịnh là hạnh Bồ Tát. Dù chứng đặng quả Phật, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn mà không bỏ đạo Bồ Tát là hạnh Bồ Tát vậy.

Khi ông Duy Ma Cật nói những lời ấy rồi, cả đại chúng đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi, trong đó tám ngh́n vị Thiên tử đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

1.-  Văn Thù Sư Lợi: (Manjusri) Tàu dịch là Diệu Đức, nghĩa là đầy đủ ba đức lớn; 1)Tín, 2)Hạnh, 3)Trí. Ngài chứng đặng thật trí, liễu ngộ Phật tánh, thông đạt chỗ huyền bí của các pháp, nên đứng đầu trong hàng môn sanh của Phật.

2.-   62 món kiến chấp: Đă giải ở phẩm III số 43.

3.-  T́m nơi tâm hạnh của chúng sanh: Ư nói giải thoát triền phược đồng một chơn tánh, nên không phải ngoài vọng có chơn, ngoài phàm phu triền phược mà có chư Phật giải thoát.

4.-  Vào nơi quá khứ: Ư nói an ủi vị Bồ Tát có bịnh ăn năn lỗi trước, nhưng không nói lỗi ấy có thật tánh thường c̣n đi vào nơi quá khứ, v́ muốn phá trừ các tướng chấp thường kia.

5.-  Chấp ngă: Quan niệm thân tâm là thật.

6.-  Ngă tưởng: Vọng tưởng so đo suy nghĩ cho thân tâm có cái chủ tể thường c̣n chơn thật.

7.-  Chúng sanh tưởng: Vọng tưởng cố chấp cho chúng sanh là thực có.

8.-  Pháp tưởng: Tưởng niệm các pháp do nhơn duyên hợp thành, không tự chủ, không thật có.

9.-  Pháp trong và ngoài: Là căn, trần, hay tâm, cảnh.

10.- Diệt thọ thủ chứng: Nhập diệt tận định, dứt hết các tâm niệm tư tưởng xúc, thọ để chứng lấy cảnh Niết bàn an vui. Tức lối cầu chứng của hàng Nhị thừa, v́ thấy cảnh vật phiền tạp, chúng sanh vô số điên đảo khó bề giáo hóa chuyển đổi được, nên lánh vào cảnh giới an lặng riêng vui.

11.- Chấp trong và chấp ngoài: Trong là vọng tưởng, ngoài là các pháp. Cả hai đều là hư vọng giả dối, nên trọn không chỗ đặng.

12.- Đại bi ái kiến: Là thấy có chúng sanh khổ sanh tâm ái trước, mà khởi ḷng đại bi ra sức tế độ. Đó là các hàng Bồ Tát quyền thừa chưa dứt trừ phiền năo, c̣n mê sự mê lư, mà vận ḷng từ bi ra cứu độ chúng sanh nên c̣n chấp tướng người bị độ, ḿnh hay độ, thường sanh ra tư tưởng nhàm chán mỏi mệt.

13.- Khách trần phiền năo: Phiền năo tánh cách nó không chơn thật thường hằng, khi khởi khi diệt, cũng như người khách thường qua lại đó đây, không phải thường an trú như chủ gia; lại nó như bụi trần thường xao động luôn, không đứng lặng như hư không, gọi là khách trần phiền năo.

14.- Không cầu sái thời: Chưa được nhứt thiết trí mà cầu chứng bản thể trung đạo là cầu sái thời, nếu trái lại là không sái thời cầu.

15.- Mười hai duyên khởi: Tức là 12 nhơn duyên phối hợp sanh khởi các pháp: 1) Vô minh: không rơ được bổn tánh, 2) Hành: Hành nghiệp là những nghiệp lực phiền năo trong tâm niệm. 3) Thức: chỉ cho A lại da thức. 4) Danh sắc: các cảm giác tư tưởng về phần tâm và các căn về h́nh sắc. 5) Lục nhập: Sáu căn nhập với sáu trần, 6) Xúc: Sáu căn xúc đối sáu trần. 7) Thọ: Lănh nạp những cảnh tốt xấu khổ vui; 8) Ái: Tham mến những vật tốt đẹp. 9) Thủ: Đắm trước tham cầu những cảnh ngũ trần: 10) Hữu: v́ sự tham cầu nên tạo những nghiệp nhân, thiện, ác, phải chịu quả báo trong ba cơi. 11) Sanh: Do nghiệp nhân thiện, ác, nên phải thọ sanh trong sáu đường. 12) Lăo tử: Sau khi thọ sanh, thân ngũ ấm lần lần già chết.

16.- Vô khởi: Cũng gọi là Vô sanh. Quán các pháp như huyễn như hóa, không có cái nhơn sanh khởi.

17.- Sáu pháp Ba la mật: 1) Bố thí, 2) Tŕ giới, 3)Nhẫn nhục, 4) Tinh tấn, 5) Thiền định, 6) Trí tuệ.

18.- Lậu hoặc: Các phiền năo mê lầm làm cho rơi lọt trong 3 cơi.

 

 Xem tiếp Phẩm thứ 6

 

            From: www.buddhismtoday.com

 

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]