Chùa Hải-Đức in Jacksonville

[Home] [Up] [Điểm Sách] [Sutras] [Dharma Talks] [GĐPT] [Sinh Hoạt] [Our Activities] [Pháp Thoại audio mp3] [Tin Tức Phật Giáo] [Thuyết Pháp] [Thơ Văn] [Ngoại Điển] [Phật Học] [Tụng Kinh] [Nghi Lễ - Rituals]

Chùa Tịnh Luật, Waller, Texas

PHẬT LỊCH 2548, TL. 2004

Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn

Bồ tát Di Lặc tạo luận

Hán Dịch: Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm.

Việt dịch: Tỳ kheo Thích Pháp Chánh

Hiệu đính: Tổ Nghiên Dịch Đại Tạng Chùa Tịnh Luật, Texas

--- o0o ---

 

Lời Tựa 

Quyển Bồ Tát Giới Bổn được trích lục từ phẩm Giới Ba La Mật, phần Bồ Tát Địa của bộ Du Già Sư Địa Luận. Tương truyền, ngài Vô Trước, vị tổ khai sáng Duy Thức Tông (hay Du Già Tông) ở Ân Độ, khi nghiên cứu về Bát Nhă đă khởi nhiều nghi vấn, ngài bèn nhập Nhật Quang Định, mỗi đêm xuất thần lên cung trời Đâu Suất hỏi pháp Bồ tát Di Lặc, và ngài Di Lặc đă giảng bộ Du Già Sư Địa Luận này.

Bồ Tát Giới Bổn này có hai bản dịch. Bản thứ nhất do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào đời Lương, khoảng năm 420 tại đất Cô Tang, gọi là Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn, gồm bốn giới trọng và bốn mươi mốt giới khinh. Bản thứ hai do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường, khoảng năm 660 tại Trường An, gọi là Du Già Bồ Tát Giới, gồm bốn giới trọng và bốn mươi ba giới khinh. Hai bản dịch này hoàn toàn tương đồng, chỉ trừ hai điểm khác biệt. Điểm khác biệt thứ nhất là điều giới thứ tám của bản Địa Tŕ được phân làm hai điều giới thứ tám và thứ chín của bản Du Già, và điều giới thứ hai mươi sáu của bản Địa Tŕ được phân làm hai điều giới thứ hai mươi bảy và hai mươi tám của bản Du Già. Điểm khác biệt thứ hai là điều giới thứ chín của bản Du Già khai triển thêm nhiều chi tiết mà trong bản Địa Tŕ không có.

Bản Bồ Tát Địa Tŕ (hay Du Già) này là bản giới luật chính yếu của trường phái Du Già (Yogacara) do ngài Vô Trước khai sáng. Tương truyền, các hành giả của trường phái này chuyên tu thiền định và rất nghiêm tŕ giới luật. Điều rất tiếc là quyển giới bổn này khi truyền đến Trung quốc đă không gây được ảnh hưởng mạnh, lư do là v́ tại Trung quốc, từ đời Diêu Tần trở đi, do ảnh hưởng rộng lớn của ngài La Thập, mỗi khi nói đến giới luật Bồ tát, mọi người đều liên tưởng đến giới Bồ tát Phạm Vơng. Cho nên từ xưa đến nay, tại Trung quốc cũng như tại Việt nam, mỗi khi truyền giới Bồ tát cho hàng tại gia hay xuất gia, mọi người đều theo nghi thức Phạm Vơng mà truyền thọ, Măi đến đời ngài Thái Hư Đại sư, quyển Bồ tát giới tại gia mới được mọi người biết đến. Đồng thời với ngài Thái Hư, có nhóm của Âu Dương Cánh Vô cực lực phát huy giáo nghĩa Duy Thức, và nhờ đó mọi người mới bắt đầu chú ư đến quyển giới bổn Địa Tŕ (hay Du Già) này.

Người dịch tuy sức học có hạn, nhưng nhận thấy quyển giới bổn Bồ tát này là một pháp bảo trân quư, không thể tự ḿnh an nhiên thọ dụng mà không công bố để những người hữu duyên cũng có được cơ hội thưởng thức pháp vị vô thượng, do đó đă không quản tài hèn sức mọn, mạo muội dịch ra Việt văn. Sau đó lại may mắn và vinh hạnh được chư Tăng chùa Tịnh Luật, Texas, rũ ḷng từ bi hiệu đính và xuất bản. Người dịch xin kính dâng ḷng tri ân sâu xa đến những bậc thiện tri thức đă ân cần trợ giúp để bản dịch này sớm được ra mắt quư vị đồng đạo. Nếu bản dịch này c̣n sơ sót ǵ, đây hoàn toàn là do sự sơ suất và yếu kém của người dịch. Ngưỡng mong các vị cao minh từ bi hoan hỷ chỉ chánh.

Mùa xuân năm Giáp thân 2004

Tường Quang Tự

Tam Thánh Học Phật Uyển

Tỳ kheo Thích Pháp Chánh

 cẩn thức

 

Nghi Thức

Địa Tŕ Bồ Tát Giới

 

I. Tán Lư Hương

 

Lư hương sạ nhiệt,

Pháp giới mông huân,

Chư Phật hải hội tất diêu văn,

Tuỳ xứ kiết tường vân,

Thành ư phương ân,

Chư Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát. ( Ba lần)

 

(Đại chúng đứng yên, người tụng giới lên pháp ṭa xong, bèn mời đại chúng cùng an toạ. Kế đến, người tụng giới đọc bài kệ khai kinh. Người tụng giới đọc trước, đại chúng họa theo.)

 

II. Kệ Khai Kinh

 

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngă kim kiến văn đắc thọ tŕ,

Nguyện giải Như lai chân thực nghĩa.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (Ba lần)

 

(Người tụng giới bắt đầu tụng giới văn, đại chúng im lặng lắng nghe.)

 

III. Lời Tác Bạch

 

Kính bạch đại chúng. Tôi, Bồ tát pháp danh: ................... Đại chúng đă đề cử tôi tụng giới, nhưng tôi e có sự lầm lẫn trong khi tụng. Kính mong đại chúng từ bi chỉ bảo.

 

IV. Tựa Tụng Giới

 

Xin đại chúng lắng nghe:

Quy mạng Lô Xá Na,

Mười phương Kim Cương Phật,

Đảnh lễ đức Di lặc,

Sẽ hạ sanh thành Phật.

Nay tụng ba tụ giới,

Bồ tát đều cùng nghe,

Giới như đèn sáng lớn,

Soi sáng đêm tối tăm.

Giới như gương báu sáng,

Chiếu rơ tất cả pháp,

Giới như ngọc Ma ni,

Rưới của giúp kẻ nghèo.

Thoát khổ mau thành Phật,

Chỉ giới này hơn cả,

V́ thế nên Bồ tát,

Phải tinh tấn giữ ǵn.

 

Chư đại chúng! Nửa tháng đă qua, già chết gần kề, Phật pháp sắp diệt. Đại chúng muốn được đạo quả, phải nên nhất tâm nỗ lực tinh tấn. Chư Phật đều do nhất tâm nỗ lực tinh tấn mới chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề, huống chi những người đang tu tập các pháp lành khác. Các vị nhân lúc c̣n khỏe mạnh, cần nỗ lực tu tập pháp lành, chẳng nên đợi đến lúc già yếu. Lúc ấy th́ c̣n vui thú nỗi ǵ?

Ngày nay đă qua,

Mạng sống giảm lần

Như cá cạn nước,

Nào có vui chi.

 

IV Yết Ma.

 

Hỏi: Chúng đă tụ tập đầy đủ chưa?

Đáp: Chúng đă tụ tập đầy đủ.

Hỏi: Có hoà hợp chăng?

Đáp: Hoà hợp.

Hỏi: Chúng tụ tập để làm ǵ?

Đáp: Để Bố tát thuyết giới.

Hỏi: Người chưa thọ giới Bồ tát và người không thanh tịnh đă ra chưa?

Đáp: Trong đây không có người chưa thọ giới Bồ tát và người không thanh tịnh. (Nếu có th́ bảo họ ra, rồi đáp rằng: Người chưa thọ giới Bồ tát và không thanh tịnh đă ra.)

Hỏi: Có bao nhiêu vị Bồ tát khiếm diện, thuyết dục và thanh tịnh. (Nếu có th́ người nhận dục bước ra phía trước thuyết dục. Tác bạch: Đại chúng lắng nghe. Tôi, Bồ tát pháp danh ................. có nhận dục cho Bồ tát pháp danh ............. v́ ................. không đến Bố tát. Bồ tát pháp danh ............... dữ dục và thanh tịnh.)

 

VI. Bốn Giới Trọng.

 

Đại chúng! Bốn pháp Ba La Di này là pháp Ma đắc lặc già của Bồ tát. Nay sẽ tuyên nói.

 

1/ Giới khen ḿnh chê người:

Nếu Bồ tát v́ tham cầu lợi dưỡng, tự khen ngợi đức hạnh của ḿnh, hủy nhục, chê bai người khác th́ phạm vào pháp Ba La Di.

 

2/ Giới bỏn sẻn của cải, Phật pháp:

Nếu Bồ tát có tiền của, nhưng v́ bỏn sẻn, thấy kẻ nghèo khổ không nơi nương tựa đến xin tài vật mà không sinh ḷng thương xót, bố thí những vật họ đang cần; hoặc có người t́m đến hỏi pháp nhưng lại bỏn sẻn không nói th́ phạm vào pháp Ba La Di.

 

3/ Giới sân hận không thọ nhận sự sám hối.

Nếu Bồ tát v́ sự giận dữ đă dùng lời hung ác chửi rủa mà vẫn chưa nguôi giận, lại dùng gậy gộc, gạch đá, khủng bố tàn hại đối phương, biểu lộ sự sân hận đến cực điểm. Đối phương tỏ ư biết lỗi, dùng lời nhỏ nhẹ, cầu xin tha thứ, nhưng không nhận sự tạ lỗi của họ mà ôm ḷng oán hận không nguôi th́ phạm vào pháp Ba La Di.

 

4/ Giới huỷ báng, làm loạn chánh pháp.

Nếu Bồ tát hủy báng pháp tạng của Bồ tát, diễn nói pháp tương tự với Chánh pháp, ngoan cố chấp trước vào pháp tương tự này, hoặc tự ḿnh nhận thức, hoặc nghe theo lời xúi giục của người khác th́ phạm vào pháp Ba La Di.

 

Các Bồ tát! Tôi đă tụng bốn pháp Ba La Di. Nếu có vị nào sanh tâm phiền năo tăng thượng, dù chỉ phạm vào một pháp cũng mất giới thể của Bồ tát, cần phải thọ lại.

Nay xin hỏi trong đại chúng đây có thanh tịnh không? (Ba lần)

Các Bồ tát! Trong đây thanh tịnh, v́ im lặng. Việc này nên nhận biết như vậy.

 

VII. Bốn Mươi Mốt Giới Khinh

 

Các Bồ tát! Sau đây là các điều giới Đột Kiết La, là pháp Ma đắc lặc già của Bồ tát.

 

1/ Giới không cúng dường tam bảo.

Nếu Bồ tát, thọ tŕ luật nghi giới, trong một ngày đêm hoặc đối với đức Phật khi c̣n tại thế, hoặc đối với tháp miếu của Phật; hoặc đối với pháp, kinh điển; hoặc tạng Tu đa la, tạng Ma đắc lặc già của Bồ tát; hoặc đối với Tỳ kheo Tăng; hoặc đối với các đại Bồ tát trong mười phương mà không cúng dường ít nhiều, tối thiểu là một lạy; hoặc không dùng một bài kệ khen ngợi công đức của Tam Bảo, hoặc tâm không thanh tịnh dù chỉ một niệm, th́ phạm vào tội Đột Kiết La. Nếu phạm v́ không cung kính, lười biếng, nhút nhát th́ phạm do tâm nhiễm ô. Nếu phạm v́ lơ đăng hay lầm lẫn th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Các vị đó đă chứng nhập "Tịnh Tâm Địa", hoặc các vị Tỳ kheo đă chứng được "Ḷng tin không hoại", các vị ấy thường thường như pháp cúng dường Phật, Pháp, Tăng.

 

2/ Giới tham tiền của.

Nếu Bồ tát tâm c̣n nhiều ham muốn không biết hạn lượng, tham lam tiền bạc của cải th́ phạm vào tội Đột kiết la do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đang nỗ lực đoạn trừ tâm tham, tuy đă dùng nhiều phương cách đối trị nhưng v́ phiền năo quá nặng, tâm tham vẫn tiếp tục hiện hành.

 

3/ Giới không tôn kính bạn pháp.

Nếu Bồ tát thấy bậc tôn trưởng có đức hạnh, hoặc những người bạn pháp đáng kính mà sinh tâm kiêu mạn, sân hận, không cung kính, không nhường chỗ ngồi; mặc dù họ có chào hỏi, thỉnh cầu nói pháp, đều không trả lời th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát, hoặc lơ đăng, hoặc tính hay quên, hoặc nhầm lẫn th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Có bệnh nặng, hoặc thần kinh thác loạn, hoặc đang ngủ mà đối phương tưởng là đang thức bèn đến chào hỏi, thỉnh cầu nói pháp, nên không trả lời; hoặc đang nghe các bậc Đại Đức thuyết pháp hay giải đáp vấn đề; hoặc tự ḿnh thuyết pháp, nghe pháp hay giải đáp vấn đề; hoặc đang ở giữa đám đông nghe thuyết pháp hay giải đáp vấn đề; hoặc muốn giữ ư cho đối phương; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục, làm cho đối phương xa ĺa pháp ác, tu tập pháp lành; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng; hoặc muốn giữ ư cho đám đông.

 

4/ Giới không đi ứng cúng.

Nếu Bồ tát có người thỉnh đến nhà họ, hoặc đến chùa khác, hoặc đến nhà người khác để cúng dường quần áo, thức ăn, các loại đồ dùng, nhưng Bồ Tát v́ tâm sân hận, kiêu mạn, không nhận lời mời, không chịu đi ứng cúng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đang bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc tinh thần thác loạn; hoặc chỗ thỉnh ở quá xa; hoặc dọc đường có nhiều hiễm nạn, hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương làm cho họ xa ĺa nẽo ác quay về đường lành, hoặc trước đó đă thọ thỉnh, hoặc đang tu pháp lành không muốn gián đoạn, hoặc muốn được nghe pháp chưa từng nghe, hay những điều nghĩa lư lợi ích, luận nghị quyết định, hoặc biết người thỉnh chỉ muốn giả vờ để làm ḿnh phiền năo, hoặc không muốn làm người khác khởi tâm đố kỵ, hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng

 

5/ Giới không thọ nhận sự bố thí.

Nếu Bồ tát có người đem các báu vật như: Vàng bạc, trân châu, ma ni, lưu ly v.v... đến bố thí cho Bồ Tát, nhưng v́ tâm sân hận, kiêu mạn, Bồ Tát từ chối không thọ nhận th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô, bởi v́ đă xả bỏ chúng sanh. Nếu như lười biếng, nhút nhát mà không thọ nhận th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Thần kinh thác loạn; hoặc biết nếu thọ nhận, sẽ sinh tâm tham luyến; hoặc biết nếu thọ nhận, thí chủ sẽ sinh ḷng hối tiếc; hoặc biết nếu thọ nhận, thí chủ sẽ sinh tâm nghi hoặc; hoặc biết nếu thọ nhận, thí chủ sẽ trở nên nghèo khó khổ sở; hoặc biết vật bố thí là vật của Tam Bảo; hoặc biết vật bố thí là vật trộm cắp; hoặc biết sau khi thọ nhận, sẽ gặp nhiều khổ năo, chẳng hạn như: Bị giết, bị giam, bị quở trách, bị xử phạt, bị đoạt của, bị đàm tiếu.

 

6/ Giới không bố thí pháp.

Nếu Bồ tát có chúng sinh đến muốn được nghe pháp, nhưng v́ sân hận, bỏn sẻn, đố kỵ, không chịu nói pháp cho họ, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Ngoại đạo t́m lỗi mà đến hỏi; hoặc đang bị bệnh nặng; hoặc thần kinh thác loạn; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, giống như phần trên đă nói qua; hoặc đang tu tập pháp thiện chưa được thấu triệt; hoặc biết đối phương không có tâm cung kính hay có cử chỉ vô lễ; hoặc biết đối phương căn cơ ám độn, nghe pháp thâm sâu vi diệu sinh ḷng sợ hăi; hoặc biết đối phương nghe xong sẽ tăng trưởng tà kiến; hoặc biết đối phương nghe xong sẽ thoái thất đạo tâm; hoặc biết đối phương nghe xong sẽ đem nói lại cho kẻ ác.

 

7/ Giới không dạy người khác sám hối.

Nếu Bồ tát, đối với những chúng sanh hung ác phạm giới, sinh ḷng sân hận, hoặc tự ḿnh bỏ rơi, hay cản trở làm cho người khác bỏ rơi họ không chịu dạy bảo, hướng dẫn th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu lười biếng, nhút nhát, hoặc vô ư cản trở, làm cho người khác bỏ rơi, không chịu dạy bảo, hướng dẫn họ th́ phạm do tâm không nhiễm ô. Tại sao? V́ Bồ Tát nên khởi ḷng từ bi đối với kẻ ác hơn là đối với người thiện.

Những trường hợp không phạm như: Thần kinh thác loạn, hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, giống như phần trên đă nói qua; hoặc giữ ư cho người khác; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng.

 

8/ Giới không đồng học với thanh văn.

Như đức Như Lai trong pháp Ba La Đề Mộc Xoa chế định những điều giá tội, v́ muốn bảo hộ chúng sanh, làm cho người chưa tin Phật pháp phát khởi ḷng tin, đă có ḷng tin làm cho tăng trưởng th́ Bồ tát phải cùng học với Thanh văn. Tại sao? V́ hàng Thanh văn thọ tŕ giới luật, tuy chú trọng đến việc tự độ, vẫn không sao lăng những việc lợi ích cho người khác, làm cho người chưa tin phát khởi ḷng tin, đă có ḷng tin làm cho tăng trưởng, huống chi Bồ tát là người muốn độ tất cả chúng sinh thành Phật.

C̣n những điều gía tội mà đức Như lai đă chế định cho hàng Thanh văn như: Ít muốn, ít làm, ít phương tiện v.v... th́ Bồ tát sẽ không cùng học với Thanh văn. Tại sao? V́ hàng Thanh văn chỉ lo tự độ, không nghĩ đến việc độ người khác, cho nên cần phải an trụ trong pháp ít muốn, ít làm, ít phương tiện. Trái lại Bồ tát vừa tự độ và độ cho người khác nên không cần phải tuân theo các pháp ít muốn, ít làm, ít phương tiện này. Bồ tát v́ chúng sanh, nên đến các cư sĩ xin trăm ngàn tấm y, nếu như thí chủ cho phép ḿnh tùy ư lấy, th́ nên xem xét khả năng của họ mà thọ nhận. Đối với b́nh bát, hoặc chỉ sợi mà tự ḿnh xin và yêu cầu thợ dệt không phải thân thích dệt, mền gối, tọa cụ, trăm ngàn lượng vàng bạc, nếu v́ chúng sinh thọ nhận cất chứa th́ cũng như trên. Như thế, những điều gía tội cấm chế Thanh văn, quy định họ an trụ trong pháp ít muốn, ít làm, ít phương tiện th́ các Bồ tát không cùng học với họ. Các Bồ tát thọ tŕ luật nghi giới muốn lợi ích chúng sinh, mà v́ tâm đố kỵ, sân hận, an trụ trong các pháp ít muốn, ít làm, ít phương tiện, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà an trụ trong các pháp ít muốn, ít làm, ít phương tiện, th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

 

9/ Giới sống bằng tà mệnh.

Nếu Bồ Tát sống bằng pháp tà mệnh, không có tâm hổ thẹn, không chịu xả bỏ thói quen xấu như: thân miệng không thành thực: hoặc hiện thân tướng; hoặc lớn tiếng chê bai mắng nhiếc; hoặc dùng lợi để mưu cầu lợi dưỡng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đang muốn đoạn trừ thói quen xấu này, tuy dùng nhiều phương pháp để trừ diệt, nhưng v́ phiền năo quá mạnh mà thói quen sống theo tà mệnh vẫn c̣n tiếp tục.

 

10/ Giới háo động đùa cợt.

Nếu Bồ Tát tính t́nh háo động, không quen sự yên tĩnh th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lơ đăng, hoặc nhầm lẫn th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Tuy dùng nhiều phương pháp để đoạn trừ thói quen háo động, nhưng vẫn chưa đoạn trừ được, hoặc v́ muốn làm cho người khác dứt tâm hiềm khích, hận thù; hoặc có người đối với Bồ tát khởi tâm hiềm thù, v́ muốn giảm trừ sự việc đó, nên hiện tướng đùa cợt; hoặc thấy người đang ưu sầu khổ năo, muốn làm cho họ khuây khỏa mà hiện tướng đùa cợt; hoặc v́ nhiếp phục, giúp đỡ, dứt trừ thói quen đùa cợt của những người có tính ấy, mà hiện tướng giống như họ; hoặc có người nghi ngờ Bồ tát hiềm thù, phản nghịch, Bồ tát bèn hiện tướng đùa cợt để chứng tỏ sự vô tư của ḿnh.

 

11/ Giới nói điên đảo pháp Bồ tát.

Nếu Bồ tát nói như vầy: "Bồ tát không nên mong cầu Niết bàn, nên xả bỏ Niết bàn, không nên sợ phiền năo, không nên quyết tâm nhàm ĺa sanh tử. V́ sao? Bồ tát nên nhận chịu sự sanh tử dài lâu ba A tăng kỳ kiếp để cầu Vô thượng Bồ đề." th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. V́ sao? Sự mong cầu Niết bàn, nhàm chán sanh tử của hàng Thanh văn, trăm ngàn vạn lần, cũng không bằng của Bồ Tát; Thanh văn chỉ cầu tự lợi, trái lại Bồ tát luôn muốn quảng độ chúng sanh. Các bậc Bồ tát tu tập tâm không nhiễm ô, vượt hẳn A La Hán, ở trong sanh tử thành tựu các sự nghiệp hữu lậu, mà vẫn có thể xa ĺa các phiền năo.

 

12/ Giới không pḥng hộ sự hiềm nghi, huỷ báng.

Nếu Bồ tát, không dự pḥng những sự chê bai hủy báng đưa đến do sự bất tín, và cũng không cố gắng t́m cách giải trừ, hoặc nếu như thực sự có lỗi mà không t́m cách giải trừ sự chê bai phỉ báng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu không có lỗi, nhưng cũng không t́m cách giải trừ sự chê bai phỉ báng th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Ngoại đạo hay những kẻ ác huỷ báng; hoặc khi đi khất thực, tu hành những thiện pháp, mà bị người khác sanh tâm hủy báng; hoặc đối phương đang sân hận, điên cuồng mà sinh tâm huỷ báng.

 

13/ Giới không điều phục chúng sinh.

Nếu Bồ Tát xét thấy chúng sinh phải nên dùng những lời quở trách, nghiêm khắc hầu làm lợi ích cho họ, nhưng v́ sợ họ buồn phiền, sầu năo mà không dám quở trách, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Biết sự quở trách không lợi ích ǵ mà chỉ làm cho họ tăng thêm buồn phiền, sầu năo.

 

14/ Giới trả đủa lại sự sân hận, đánh đập.

Nếu Bồ tát, bị người khác mắng chửi, sân hận, đánh đập, hủy báng th́ liền mắng chửi, sân hận, đánh đập, hủy báng lại th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễn ô.

 

15/ Giới không tạ lỗi đúng pháp.

Nếu Bồ tát xâm phạm người khác, hoặc tuy không xâm phạm nhưng bị đối phương hiểu lầm là xâm phạm, trong những trường hợp này phải lập tức tạ lỗi đúng pháp. Nếu v́ hiềm hận, hoặc khinh mạn đối phương mà không chịu tạ lỗi th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu như lười biếng, nhút nhát mà không tạ lỗi th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, hoặc đối phương bắt buộc ta phải làm điều phi pháp mới nhận sự tạ lỗi, hoặc biết đối phương là người thích gây sự, hoặc biết sự tạ lỗi chỉ làm cho họ càng thêm giận dữ, hoặc biết đối phương tính t́nh ôn ḥa nhẫn nhục không có tâm hiềm hận, hoặc ngại đối phương sinh ḷng hổ thẹn nên không tạ lỗi.

 

16/ Giới không thọ nhận sự tạ lỗi.

Nếu Bồ tát bị người khác xâm phạm, nhưng họ đă tạ lỗi đúng phép, thế nhưng Bồ tát lại khởi tâm hiềm hận v́ muốn làm cho đối phương sầu năo, bèn không chịu nhận sự tạ lỗi th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không nhận sự tạ lỗi của họ, th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đă nói qua; hoặc đối phương tạ lỗi không đúng phép lại có thái độ bất b́nh nên không nhận sự tạ lỗi.

 

17/ Giới hiềm hận người khác.

Nếu Bồ Tát đối với người khác khởi tâm hiềm hận không chịu xả bỏ th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Tuy muốn trừ sự hiềm hận, đă dùng nhiều phương pháp đối trị mà phiền năo vẫn tiếp tục hiện hành, như phần trên đă nói qua.

 

18/ Giới v́ tâm tham mà nuôi dưỡng đệ tử.

Nếu Bồ tát nuôi dưỡng đệ tử v́ muốn họ cung phụng, hầu hạ ḿnh th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

 

19/ Giới ham ngủ nghỉ.

Nếu Bồ tát tính t́nh lười biếng, ham ưa ngủ nghỉ không biết giờ giấc, không biết hạn lượng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Bị bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đi xa về mệt mỏi; hoặc đang cố gắng đoạn trừ thói quen ngủ nghỉ, nhưng vẫn chưa đoạn trừ được, như phần trên đă nói qua.

 

20/ Giới bàn luận chuyện thế sự.

Nếu Bồ tát c̣n ham thích bàn luận chuyện thế sự không kể giờ giấc th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ đăng trí, nhầm lẫn mà quên giờ giấc th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Thấy đối phương tụ tập bàn tán v́ muốn giữ ư cho họ nên tạm thời lắng nghe; hoặc v́ tạm thời trả lời câu hỏi của đối phương về những chuyện lạ hiếm có.

 

21/ Giới không nghe lời chỉ bảo của sư trưởng.

Nếu Bồ tát muốn cầu tu định, v́ tâm hiềm hận, kiêu mạn, không chịu nghe lời chỉ bảo của sư trưởng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không nghe lời chỉ bảo th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Bị bệnh, hoặc không có sức lực, hoặc biết sư trưởng giảng nói điên đảo, hoặc tự ḿnh học rộng nghe nhiều đă biết rơ phương pháp, hoặc trước kia đă nghe qua phương pháp tu tập.

 

22/ Giới sinh khởi tâm ngũ cái.

Nếu Bồ tát sinh khởi tâm ngũ cái mà không chịu tỉnh giác th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đang nỗ lực trừ tâm ngũ cái nhưng chưa trừ được và phiền năo vẫn c̣n như phần trên đă nói qua.

 

23/ Giới chấp chặt vào pháp thiền định thế gian.

Nếu Bồ tát thấy pháp thiền định thế gian mà cho là có công đức th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đang nỗ lực trừ kiến giải sai lầm này, nhưng vẫn chưa trừ được như phần trên đă nói qua.

 

24/ Giới hủy báng pháp thanh văn.

Nếu Bồ tát có kiến giải hoặc lập luận như sau: "Bồ tát không nên nghe, không nên thọ nhận, không nên học hỏi giáo pháp của Thanh văn; Bồ tát cần giáo pháp của Thanh văn làm ǵ?" th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Tại sao? V́ Bồ tát c̣n nghe pháp của ngoại đạo, huống hồ là những lời Phật dạy!

Những trường hợp không phạm như: Đang học pháp tạng của Bồ tát, chưa rảnh học tập giáo pháp của Thanh văn.

 

25/ Giới bỏ Đại thừa học Tiểu thừa.

Nếu Bồ tát không t́m phương tiện học tập giới pháp của Bồ tát mà lại bỏ phế, quay sang chuyên tâm học tập giáo pháp Thanh văn th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm không nhiễm ô.

 

26/ Giới không học tập Phật pháp.

Nếu Bồ Tát đối với những điều Phật dạy bỏ phế không chịu học, lại quay sang học tà luận của ngoại đạo, sách vở của thế gian; hoặc Bồ tát đă học rành sách vỡ thế gian, tà luận của ngoại đạo, rồi sinh ra đắm nhiễm không rời, không xem chúng như cặn bả, độc dược th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Trí tuệ cao siêu, có thể học tập Phật pháp rất nhanh chóng; hoặc đă học Phật pháp dài lâu, hiện vẫn chưa quên; hoặc đă quán sát đầy đủ Phật pháp, chứng được trí bất động; hoặc trong mỗi ngày, dùng hai phần thời gian học tập Phật pháp, một phần thời gian học tập sách vở thế gian.

 

27/ Giới không tin Phật pháp thâm sâu.

Nếu Bồ tát nghe nghĩa lư thâm sâu, chân thực của giáo pháp Bồ tát, hoặc nghe chư Phật, chư Bồ tát có vô lượng thần lực, không tin nhận, phỉ báng như sau: "Những điều này không lợi ích, không phải do Phật nói, không thể đem lại an lạc cho chúng sanh." th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Đây là v́ tâm suy tưởng không chân chánh mà hủy báng, hoặc nghe theo lời xúi giục của người khác mà hủy báng, nên đối với nghĩa lư thâm sâu đệ nhất của giáo pháp Bồ tát không sinh khởi sự hiểu biết chân thực. Đối với giáo pháp thâm sâu của Bồ tát phải nên sinh ḷng tin, tâm không gian dối rằng: "Tôi là người hoàn toàn sai lầm, đui mù không trí tuệ. Đức Như lai là bậc có tuệ nhăn, ngài tuỳ thuận chúng sanh mà giảng nói pháp đệ nhất nghĩa. Đối với chúng sanh có căn cơ thấp, đức Như lai sẽ có phương tiện khác để giáo hoá, làm sao tôi có thể sinh tâm hủy báng được?" Bồ tát phải tự ư thức sự vô tri của ḿnh, đối với giáo pháp mà đức Như lai thấy được, biết được, phải nên chánh niệm quán sát, đem ḷng tin chân chánh tùy thuận theo, th́ không phạm.

 

28/ Giới khen ḿnh chê người.

Nếu Bồ tát v́ tâm tham lam, giận dữ, tự khen công đức ḿnh, hoặc hủy báng, nhục mạ người khác th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Khinh chê phỉ báng ngoại đạo, xưng dương Phật pháp; hoặc dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đă nói qua; hoặc làm cho người chưa tin Phật pháp sinh khởi ḷng tin, đă có ḷng tin làm cho tăng trưởng.

 

29/ Giới v́ kiêu mạn không đi nghe pháp.

Nếu Bồ tát, nghe có chỗ giảng thuyết, hay thảo luận Phật pháp, nhưng v́ kiêu mạn, sân hận mà không đi nghe th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không đi nghe, th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Có nghe cũng không hiểu; hoặc bị bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc biết người giảng pháp chỉ nói chuyện điên đảo; hoặc muốn giữ ư với người giảng pháp; hoặc đă nghe qua nhiều lần và đă hiểu rơ ư nghĩa; hoặc học rộng nghe nhiều; hoặc đă nghe rồi đang suy tư nghĩa lư; hoặc đang như lời thuyết giảng mà thực hành; hoặc đang tu thiền định, không muốn gián đoạn; hoặc căn cơ ám độn không hiểu, không thể thọ tŕ những lời giảng dạy. Trong những trường hợp này không đi nghe không phạm.

 

30/ Giới khinh thường người giảng pháp.

Nếu Bồ Tát khinh thường người giảng pháp, không sinh tâm cung kính, cười chê hủy báng, cho rằng người giảng pháp chỉ chấp trước vào mặt chữ, không hiểu rơ ư nghĩa chân thực th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

 

31/ Giới không làm việc chung.

Nếu Bồ tát, thọ tŕ luật nghi giới, thấy những người khác làm việc, v́ tâm sân hận không chịu tham gia chẳng hạn như: Hoạch định công tác; hoặc cùng đi trên một lộ tŕnh; hoặc kinh doanh đúng pháp; hoặc canh tác; hoặc ḥa giải sự tranh chấp; hoặc trong những buổi hội vui, hoặc làm việc từ thiện th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không tham gia th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Bị bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đối phương đủ sức tự lo lấy; hoặc đối phương có nhiều người phụ giúp; hoặc việc làm của họ phi pháp bất nghĩa; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đă nói qua; hoặc đă hứa giúp người khác; hoặc đối phương đang oán hận ḿnh; hoặc đang tu tập pháp lành không muốn tạm gián đoạn; hoặc tính t́nh ám độn; hoặc muốn giữ ư cho đám đông; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng. Trong những trường hợp này đều không phạm

 

32/ Giới không chăm sóc người bệnh.

Nếu Bồ tát thấy người bệnh hoạn, v́ tâm sân hận mà không đến chăm sóc hỏi han, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không chăm sóc hỏi han, th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đă dặn bảo người có sức lực chăm sóc ; hoặc biết người bệnh có bà con quyến thuộc có thể chăm sóc cho họ; hoặc người bệnh có sức lực, có thể tự chăm sóc; hoặc bệnh họ thường phát tác; hoặc họ bị bệnh kinh niên; hoặc đang tu tập pháp môn thù thắng không muốn gián đoạn; hoặc đang tu tập nhưng v́ căn tánh ám độn chưa thể hiểu rơ, chưa thể thọ tŕ, tâm chưa an định; hoặc trước đă hứa chăm sóc người bệnh khác. Trong những trường hợp này đều không phạm. Trường hợp gặp người nghèo khổ cũng tương tự như vậy.

 

33/ Giới không khuyên can kẻ khác.

Nếu Bồ tát thấy chúng sanh đang tạo nghiệp ác đời này hoặc đời sau, v́ tâm hiềm hận không chịu nói lẽ phải cho họ biết để họ sửa đổi, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Không có trí tuệ; hoặc không có sức lực; hoặc đă dặn bảo người khác giảng giải cho họ biết; hoặc biết đối phương sẽ tự sửa đổi; hoặc biết đối phương đang gần gủi thiện tri thức; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương, như phần trên đă nói qua; hoặc biết nếu nói sự thật đối phương không sửa đổi lại c̣n oán hận; hoặc nếu nói sự thật họ sẽ trả đủa bằng những lời ác độc; hoặc họ sẽ hiểu lầm mà làm ngược lại ư ḿnh muốn nói; hoặc đối phương hoàn toàn không có tâm kính trọng; hoặc biết đối phương tính t́nh ngang ngược không biết phục thiện.

 

34/ Giới không báo ơn.

Nếu Bồ tát thọ ơn người khác không biết báo đáp lại, hoặc bằng, hoặc hơn, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không báo đáp th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Tuy muốn báo đáp nhưng không đủ khả năng; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương; hoặc muốn báo đáp nhưng đối phương không thọ nhận.

 

35/ Giới không an ủi người hoạn nạn.

Nếu Bồ tát, thấy chúng sanh đang gặp sự khó khăn đối với họ hàng quyến thuộc, hoặc đối với vấn đề tiền bạc sinh kế, v́ tâm hiềm hận không giúp đở họ giải quyết vấn đề khó khăn, giải trừ sự lo lắng th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không giúp đở th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như trong điều giới "Không làm việc chung" đă nói qua.

 

36/ Giới không bố thí tài vật.

Nếu Bồ tát có người đến xin thức ăn, quần áo v.v... v́ tâm sân hận không chịu bố thí th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: không có tài vật để bố thí; hoặc đối phương đ̣i hỏi những vật phi pháp, những vật vô ích; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương; hoặc biết đối phương là kẻ phạm pháp v́ tuân hành luật pháp quốc gia nên không bố thí; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng.

 

37/ Giới không chăm sóc đệ tử đúng như pháp.

Nếu Bồ tát nuôi dưỡng đệ tử, v́ tâm sân hận không chịu dạy bảo họ đúng như pháp, không chịu tùy lúc đến các Bà la môn, cư sĩ cầu xin y phục, thức ăn, mền chiếu, thuốc men, pḥng nhà để cung cấp cho đệ tử th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không chăm sóc th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Muốn dùng phương tiện này để điều phục đệ tử, như phần trên đă nói qua; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng; hoặc có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc đă dặn bảo người khác chăm sóc; hoặc đệ tử có đủ sức lực, có nhiều người giúp đở, có thể tự cầu xin những vật cần dùng; hoặc đệ tử thọ tŕ và hiểu rơ những điều đă dạy; hoặc ngoại đạo trá h́nh làm đệ tử đến nghe trộm pháp, không thể điều phục. Trong những trường hợp này không chăm sóc cho họ không phạm.

 

38/ Giới không tuỳ thuận người khác.

Nếu Bồ tát, v́ tâm hiềm hận không chịu tùy thuận người khác th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát mà không tuỳ thuận th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Đối phương muốn làm những việc phi pháp; hoặc có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng; hoặc đối phương tuy làm đúng pháp, nhưng có thể phát động nhiều người khác làm việc phi pháp; hoặc v́ muốn điều phục ngoại đạo; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương.

 

39/ Giới không tuỳ hỷ công đức.

Nếu Bồ tát biết rơ chúng sanh thực có công đức, v́ tâm hiềm hận không nói cho người khác biết; hoặc nghe có người khen ngợi người ấy, không chịu tùy hỷ tán đồng, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Biết đối phương không muốn khen ngợi bèn giữ ư cho họ; hoặc có bệnh; hoặc không có sức lực; hoặc muốn dùng phương tiện này để điều phục đối phương như phần trên đă nói qua; hoặc tuân theo lời huấn thị của chư Tăng; hoặc biết khen ngợi có thể làm cho đối phương sinh khởi phiền năo, vui mừng quá mức, sanh tâm kiêu mạn. V́ muốn giảm trừ những tệ hại này nên không nói, không khen; hoặc việc làm của đối phương h́nh như có công đức nhưng thật sự không có công đức; hoặc lời nói của họ có vẽ như lời tốt nhưng thực sự không phải lời nói tốt; hoặc muốn bẻ gảy tà kiến của ngoại đạo; hoặc là đang đợi cho đối phương nói xong, làm xong rồi mới khen ngợi.

 

40/ Giới không điều phục chúng sanh.

Nếu Bồ tát thấy có chúng sanh cần phải quở trách, cần phải điều phục, cần phải trừng phạt, trục xuất, nhưng v́ tâm thiên vị mà không quở trách, hoặc tuy quở trách mà không điều phục, hoặc tuy điều phục mà không trừng phạt, trục xuất th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm nhiễm ô. Nếu v́ lười biếng, nhút nhát, buông lung mà không làm th́ phạm do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Biết đối phương ương ngạnh không thể điều phục, không thể nói lời phải, không thể dạy bảo, thường hay khởi tâm hiềm hận; hoặc muốn đợi cơ hội; hoặc sợ v́ xử phạt mà dấy lên sự xung đột, tranh chấp, kiện tụng; hoặc phá vở sự ḥa hợp trong Tăng đoàn; hoặc biết đối phương không có tính gian dối, có tâm hổ thẹn, biết từ từ cải đổi. Trong những trường hợp này không quở trách, trừng phạt th́ không phạm.

 

41/ Giới không dùng thần lực nhiếp thọ chúng sinh.

Nếu Bồ tát thành tựu các pháp thần thông, đối với người cần hàng phục th́ phải hàng phục, đối với người cần nhiếp thọ th́ phải nhiếp thọ, để cho họ nỗ lực tu hành, hầu có thể trả ơn thí chủ, nếu như không dùng thần thông để hàng phục hoặc nhiếp thọ, th́ phạm vào tội Đột Kiết La do tâm không nhiễm ô.

Những trường hợp không phạm như: Biết rằng dùng thần thông đối phương càng trở nên chấp trước; hoặc sẽ làm cho ngoại đạo hủy báng Phật pháp, tăng trưởng tà kiến; hoặc làm cho đối phương sợ hăi phát cuồng, hay tăng thêm sự sợ hăi thống khổ. Trong những trường hợp này không thi thố thần thông th́ không phạm.

 

Các Bồ tát! Tôi đă tụng các điều giới Đột Kiết La. Nếu có vị nào phạm vào mỗi điều giới, phải làm pháp sám hối. Nếu không sám hối, sẽ làm chướng ngại cho sự tŕ giới của Bồ tát.

Nay xin hỏi trong đại chúng đây có thanh tịnh không? (Ba lần)

Các Bồ tát! Trong đây thanh tịnh, v́ im lặng. Việc này nên nhận biết như vậy.

Các Bồ tát! Tôi đă tụng bốn pháp Ba La Di, cùng các pháp Đột Kiết La của Bồ tát. Đây là Ma đắc lặc già do đức Di lặc diễn nói: Nhiếp luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới và nhiếp chúng sanh giới. Những giới pháp này có thể sinh khởi Bồ tát hạnh, có thể thành tựu Bồ tát đạo.

Các Bồ tát! Nếu muốn phát tâm cầu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, phải nên khéo hộ tŕ giới pháp này.

Những người hộ tŕ giới pháp này không nên sinh ư tưởng là thời tượng pháp hay mạt pháp.V́ sự tŕ giới nghiêm cẩn sẽ làm cho thời tượng pháp chói sáng, và làm cho chánh pháp vĩnh viễn không bị tận diệt. Như thế tâm sẽ an định, tự ḿnh sẽ thành tựu Phật đạo. Bồ tát thường phải chuyên cần giáo hóa chúng sanh không biết nhàm mỏi. Sau khi hoàn thành những nghiệp lành, sẽ sớm viên thành Phật quả.

 

VIII. Kệ Kết Thúc

 

Người trí nhiều nhẫn, tuệ,

Thọ tŕ giới pháp này,

Lúc chưa thành Phật đạo,

Được hưởng năm điều lợi:

Một là thập phương Phật,

Thương tưởng hộ tŕ luôn;

Hai là lúc lâm chung,

Chánh niệm ḷng an vui;

Ba là sanh chỗ nào,

Cùng Bồ tát làm bạn;

Bốn là những công đức,

Giới độ đều thành tựu;

Năm, đời này, đời sau,

Đủ giới và phước tuệ.

Đây là hạnh chư Phật,

Chỗ người trí quán xét.

Kẻ trước tướng chấp ngă,

Không thể được pháp này,

Người trầm không trệ tịch,

Cũng không gieo giống được.

Muốn phát tâm Bồ đề,

Trí tuệ chiếu thế gian,

Phải nên quán sát kỹ,

Thật tướng của các pháp:

Không sanh cũng không diệt,

Không thường cũng không đoạn,

Chẳng đồng cũng chẳng khác,

Chẳng đến cũng chẳng đi.

Trong thể nhất tâm ấy,

Siêng tu tập trang nghiêm.

Phải tuần tự học tập,

Công hạnh của Bồ tát,

Đối hữu Học, vô Học,

Chớ mống tâm phân biệt,

Đây là đệ nhất đạo,

Cũng gọi là pháp Đại thừa.

Hết thảy lỗi hí luận,

Từ đây đều dứt sạch.

Vô thượng trí của Phật,

Điều do đây mà thành.

V́ thế nên phật tử,

Phải phát tâm dũng mănh,

Nghiêm tŕ giới của Phật,

Tṛn sạch như minh châu.

Chư Bồ tát quá khứ,

Đă từng học giới này,

Hàng vị lai sẽ học,

Hàng hiện tại đang học,

Đây là đường Phật đi,

Là chỗ Phật khen ngợi,

Tôi đă tụng giới rồi,

Nguyện phước đức vô lượng,

Hồi hướng cho chúng sanh,

Đồng đến Nhất thiết trí,

Nguyện ai nghe pháp này,

Đều được thành Phật đạo

 

IX. Lời Cảm Tạ Đại Chúng

 

Cảm tạ đại chúng đă đề cử tôi tụng giới, nhưng v́ ba nghiệp bất chuyên, cho nên đọc tụng có nhiều vấp váp, khiến cho đại chúng ngồi lâu mỏi mệt, sinh khởi buồn phiền, kính xin đại chúng từ bi hoan hỷ.  

(Người tụng giới rời pháp ṭa trở về vị trí của ḿnh. Đại chúng bắt đầu tụng phần hồi hướng và tam quy y.)

 

X. Hồi Hướng

 

Tụng giới công đức thù thắng hạnh,

Vô biên thắng phước giai hồi hướng,

Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,

Tốc văng Vô Lượng Quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền năo,

Nguyện đắc trí tuệ chơn minh liễu,

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,

Thế thế thường hành Bồ tát đạo.

Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung,

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,

Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức,

Phổ cập ư nhất thiết,

Ngă đẳng dữ chúng sanh,

Giai cộng thành Phật đạo.

 

XI. Tam Quy Y

 

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như hải.

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lư đại chúng, nhất thiết vô ngại.


 

Bồ tát Di Lặc tạo luận

Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm dịch Hán văn

Bắc Thiên Mục Ngẫu Ích Sa môn Trí Húc soạn

Tỳ kheo Thích Pháp Chánh dịch và phụ chú

 

[xem tiếp phần giảng Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] 

 

            Minh Quang posted June 30, 2007

[Home] [Up] [Kinh Chánh-Pháp-Hoa, mục lục] [Kinh A Di Đà] [Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân] [Kinh Hoa Nghiêm - Trí Tịnh dịch] [Kinh Địa Tạng] [Kinh Tứ Thập Nhị Chương] [Kinh Vu Lan Bồn] [Kinh Di Giáo] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa] [Công Phu Khuya] [Kinh Quán Vô Lượng Thọ] [Kinh A Di Đà nghĩa] [Kinh Thiện Sanh] [Bích Nham Lục] [Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật] [Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn] [Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận] [Kinh Ngọc] [Thập Nhị Môn Luận - Thích Thanh Từ] [Kinh A Di Đà Yếu Giải] [Kinh Dược Sư - Thích Huyền Dung] [Kinh Địa Tạng bản dịch ở Bắc Việt] [Kinh Vô Lượng Thọ - Tuệ Đăng] [Kinh Lăng Già - TN Trí Hải] [Kinh Bát Chu Tam Muội] [Kinh Lăng Già - Tuệ Khai] [Kinh Thắng Man - Thanh Từ] [Kinh Giải Thâm Mật 1] [Kinh Pháp Bảo Đàn1] [Kinh Hư Không Tạng Bồ Tát] [Kinh Duy Ma Cật 1] [Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm] [Chứng Đạo Ca - Vĩnh Giác] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn] [Địa Tŕ Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu] [Bồ Tát Giới - Thích Trí Quang] [Kinh Lục Độ Tập - Đại Tạng Kinh 152] [Kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm Lược Sớ] [Mục Lục Càn Long Đại Tạng Kinh] [Kinh Đại An Ban Thủ Ư] [Luận A Tỳ Đàm Về Việc Thành Lập Thế Giới] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Minh Định dịch] [Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Tuệ Hải dịch] [Luận Đại Thừa Khởi Tín - Mă Minh - Lê Đ́nh Thám dịch] [Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội - Chân Hiền Tâm dịch giải] [Kinh Dược Sư - Tuệ Nhận dịch]